Công tác giải quyết khiếu nại, và tố cáo thực tiễn tại thanh tra thành phố cần thơ

  • Số trang: 74 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 16 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT ---- LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC ĐỀ TÀI: CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, VÀ TỐ CÁO THỰC TIỄN TẠI THANH TRA THÀNH PHỐ CẦN THƠ Giảng viên hướng dẫn: SVTH: VI THANH HUY Ths. Võ Duy Nam MSSV: B110117 Bộ môn: Luật Hành Chính LỚP: Luật hành chính 2 – K37 Cần Thơ, Tháng 4/2014 Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ MỤC LỤC *** Trang PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 3 PHẦN NỘI DUNG ......................................................................................................... 5 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TRA GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO ................................................................................................................. 5 1.1. KHÁI NIỆM KHIẾU NẠI, TỐ CÁO........................................................................ 5 1.1.1. Khái niệm Khiếu nại ....................................................................................... .5 1.1.2. Khái niệm tố cáo .............................................................................................. 7 1.1.3. Phân biệt Khiếu nại và Tố cáo .......................................................................... 9 1.1.4. Nguồn gốc hình thành Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo ..................................... 11 1.2. CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, VÀ TỐ CÁO CỦA NGÀNH THANH TRA NHÀ NƯỚC ......................................................................................... 16 1.2.1. Khái niệm chung về thanh tra ......................................................................... 17 1.2.2. Khái niệm thanh tra nhà nước ......................................................................... 17 1.2.3. Lịch sử hình thành tổ chức thanh tra Nhà nước ............................................. 18 1.2.4. Ý nghĩa của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ........................................20 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÌNH TỰ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, VÀ TỐ CÁO ........................................................................... 22 2.1. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI .................................................................................................... 22 2.1.1. Trình tự, thủ tục khiếu nại .............................................................................. 22 2.1.2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại ............................................................ 24 2.1.3. Thời hạn, thời hiệu giải quyết khiếu nại ......................................................... 28 2.1.4. Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết khiếu nại và của Luật sư, trợ giúp viên pháp lý ............................................................. 29 2.1.5. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại ................................................................... 32 2.1.6. Thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật ..................... 34 2.1.7. Về khiếu nại, giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khiếu nại hành chính thông thường ................................................................................ 35 2.2. TRÌNH TỰ THỦ TỤC TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO .............................. 39 GVHD: Võ Duy Nam 2 SVTH: Vi Thanh Huy Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ 2.2.1. Về đơn tố cáo .................................................................................................. 40 2.2.2. Về việc tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo ........................................................ 40 2.2.3. Thời hạn giải quyết tố cáo .............................................................................. 41 2.2.4. Thẩm quyền giải quyết tố cáo ......................................................................... 41 2.2.5. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo .................................... 47 2.2.6. Về xác minh nội dung tố cáo, kết luận nội dung tố cáo ................................. 49 2.2.7. Việc xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo của người giải quyết tố cáo ................. 51 2.2.8. Việc tố cáo tiếp, giải quyết vụ việc tố cáo tiếp ............................................... 51 2.2.9. Gửi kết luận nội dung tố cáo và công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo .............................................................................. 52 Chương 3: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TẠI THANH TRA THÀNH PHỐ CẦN THƠ ................................................................... 53 3.1. KHÁI QUÁT VỀ CƠ QUAN THANH TRA THÀNH PHỐ CẦN THƠ. .............. 53 3.1.1. Lịch sử hình thành cơ quan Thanh tra thành phố Cần Thơ. ........................... 53 3.1.2. Địa vị pháp lý và cơ cấu tổ chức của Thanh tra thành phố Cần Thơ. ........... 54 3.1.3. Chức năng, nhiệm vụ của Thanh tra thành phố Cần Thơ ............................... 55 3.2. TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA THANH TRA THÀNH PHỐ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ ........................................................ 58 3.2.1. Công tác tiếp dân ............................................................................................ 58 3.2.2. Tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo ................................................. 58 3.2.3. Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo ............................................................... 59 3.2.4. Giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, bức xúc kéo dài ............. 60 3.2.5. Tình hình giải quyết khiếu kiện và những khó khăn, vướng mắc liên quan đến các nông trường, trạm trại ........................................................................................ 60 3.2.6. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật khiếu nại, tố cáo .......................... 61 3.2.7. Thực hiện Quyết định 858/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Đề án Đổi mới công tác tiếp công dân ............................................................................................. 61 3.2.8. Một số công tác khác ...................................................................................... 62 3.3. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỐ CÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ. ............................................................................................. 64 3.3.1. Về công tác giải quyết khiếu nại..................................................................... 64 3.3.2. Về công tác giải quyết tố cáo .......................................................................... 65 3.4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO ......................................................................................................................... 68 PHẦN KẾT LUẬN ....................................................................................................... 73 GVHD: Võ Duy Nam 3 SVTH: Vi Thanh Huy Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ở nước ta, từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác giải quyết khiếu nại tố cáo của của công dân, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp, các ngành trong hoạt động quản lý Nhà nước. Bước vào công cuộc đổi mới, nhiều cơ chế chính sách, pháp luật và các điều kiện kinh tế - xã hội được đổi mới, thì tình hình khiếu kiện của dân có xu hướng gia tăng về số lượng, phức tạp về tính chất, thậm chí đã xuất hiện nhiều điểm nóng gây ảnh hưởng không tốt đến an ninh trật tự và tình hình kinh tế xã hội ở một số địa phương trong cả nước. Đây là những vấn đề nhạy cảm, đòi hỏi phải giải quyết một cách thận trọng, chặt chẽ và toàn diện. Luật Khiếu nại năm 2011, Luật tố cáo năm 2011 ra đời đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc thể chế hóa quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được hiến pháp ghi nhận, cũng như thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng một Nhà nước của dân, do dân, vì dân, phát huy quyền dân chủ của nhân dân. . Luật Khiếu nại năm 2011, Luật tố cáo năm 2011 ra đời cũng nhằm đáp ứng những đòi hỏi bức xúc của thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay. Qua thời gian hơn hai năm có hiệu lực thi hành, Luật Khiếu nại năm 2011, Luật tố cáo năm 2011 đã bộc lộ những bất cập giữa lý luận và thực tiễn. Luật chưa phản ánh được sự đa dạng của khiếu nại, tố cáo như: tình trạng khiếu nại, tố cáo đông người; trình tự giải quyết khiếu nại, tố cáo đông người;chế tài trách nhiệm chưa rõ ràng, chưa cụ thể và chưa có tính khả thi; công tác quản lý và xử lý khiếu nại tố cáo của công dân còn nhiều lúng túng; tình trạng đùn đẩy, né tránh, ngại va chạm, thiếu trách nhiệm chưa được khắc phục triệt để, tình trạng lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo kéo dài không có điểm dừng; việc tổ chức tiếp dân ở nhiều cơ quan, đơn vị, cơ sở còn hình thức; quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong một số trường hợp còn bị vi phạm, có lúc, có nơi khá nghiêm trọng,... Tất cả những điều đó đang xói mòn đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay. Trên thực tế, kinh nghiệm quản lý đất nước từ thời xa xưa cho thấy: Nhân dân là cội nguồn, nhân dân quyết định sự hưng vong của xã tắc, bởi thế, không bao giờ được xem nhẹ ý nguyện của nhân dân.Từ cơ sở đó, người viết quyết định chọn đề tài "Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Cử nhân Luật của mình. 2. Mục đích nghiên cứu GVHD: Võ Duy Nam 4 SVTH: Vi Thanh Huy Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ Mục đích của luận văn: làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân. Từ đó đưa ra những phương hướng và giải pháp sát thực để hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, nhằm góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân. 3. Phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp đại học, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các qui định pháp luật về quyền khiếu nại của công dân đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính và quyền tố cáo của công dân trong pháp luật hiện hành cụ thể là Luật khiếu nại năm 2011, Luật tố cáo năm 2011. 4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn vận dụng các phương pháp triết học Mác- Lê nin: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử, đồng thời có sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh, khảo sát thực tiễn trong quá trình giải quyết các vấn đề đặt ra của đề tài. 5. Kết cấu của Luận văn Chương 1: Cơ sở lý luận chung về thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo Chương 2: Quy định của pháp luật về trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại, và tố cáo Chương 3: Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và giải pháp hoàn thiện công tác giải quyết khiếu nại tố cáo tại thanh tra thành phố cần thơ (giai đoạn 2012-2013). GVHD: Võ Duy Nam 5 SVTH: Vi Thanh Huy Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TRA GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 1.1. KHÁI NIỆM KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 1.1.1. Khái niệm Khiếu nại Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận tại điều 74 của Hiến pháp năm 1992. Đó là hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội như là một phản ứng của con người trước một quyết định, một hành vi nào đó mà người khiếu nại cho rằng quyết định hay hành vi đó là không phù hợp với các quy tắc, chuẩn mực trong đời sống cộng đồng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Dưới góc độ pháp lý, khiếu nại được hiểu là: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” (Khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại năm 2011). Từ khái niệm có thể thấy: khiếu nại là đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu tác động trực tiếp của quyết định hành chính hay hành vi hành chính hoặc là đề nghị của cán bộ, công chức chịu tác động trực tiếp của quyết định kỷ luật đối với cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại Đề nghị này xuất phát từ nhận thức chủ quan của người khiếu nại khi họ cho rằng quyền và lợi ích chính đáng của mình bị xâm phạm bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có thể kết luận là có sự vi phạm hay không sau khi đã xem xét một cách khách quan và thận trọng nội dung vụ việc cùng những tài liệu và chứng cứ có liên quan. Như vậy, khiếu nại là quyền, là hành vi của các chủ thể như cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân, còn hoạt động giải quyết khiếu nại là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, chỉ được thực hiện bởi người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Quyền khiếu nại của công dân xuất hiện trong mối liên hệ với quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Quá trình công dân thực hiện quyền khiếu nại chính là quá trình cung cấp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền các tài liệu, chứng cứ về sự vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân từ phía cơ quan và người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước. GVHD: Võ Duy Nam 6 SVTH: Vi Thanh Huy Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ Bởi người khiếu nại không được sử dụng quyền lực nhà nước trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại nên họ không thể tự mình khôi phục lại những quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, do đó họ phải đề nghị cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiến hành giải quyết khiếu nại của họ theo thủ tục mà pháp luật quy định. Các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại một mặt sử dụng những tài liệu, chứng cứ tiếp nhận từ người khiếu nại; mặt khác thu thập, xác minh thêm thông tin, tài liệu từ những nguồn khác để làm căn cứ cho việc giải quyết khiếu nại một cách chính xác. Theo Khoản 2 Điều 2 Luật khiếu nại năm 2011 chủ thể của việc khiếu nại bao gồm công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức. Cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng được quyền khiếu nại, tuy nhiên công dân Việt Nam là chủ thể sử dụng quyền khiếu nại thường xuyên và tích cực nhất. Chủ thể thực hiện quyền khiếu nại phải là người có năng lực hành vi đầy đủ và phải tự mình thực hiện quyền khiếu nại. Việc uỷ quyền cho người khác chỉ thực hiện trong những trường hợp do pháp luật quy định như trong trường hợp công dân là người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức hoặc làm chủ được hành vi của mình thì thông qua người đại diện theo pháp luật để thực hiện quyền khiếu nại. Và khi thực hiện việc khiếu nại, người đại diện phải có giấy tờ để chứng minh với có quan nhà nước có thẩm quyền về việc đại diện hợp pháp của mình. Còn trường hợp người ốm đau, già yếu, người có nhược điểm về thể chất hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì có thể ủy quyền cho người đại diện là cha mẹ, vợ chồng, anh chị em ruột, con đã thành niên hoặc người khác để thực hiện việc khiếu nại. Việc ủy quyền khiếu nại phải lập thành văn bản có xác nhận của Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp xã nơi người ủy quyền hoặc người được ủy quyền cư trú. Cơ quan thực hiện quyền khiếu nại thông qua người đại diện hợp pháp là thủ trưởng cơ quan đó. Thủ trưởng cơ quan có thể ủy quyền cho người đại diện theo quy định của pháp luật để thực hiện quyền khiếu nại. Người được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện việc khiếu nại theo đúng nội dung được ủy quyền. Tổ chức thực hiện quyền khiếu nại thông qua người đứng đầu tổ chức. Pháp luật thừa nhận sự ủy quyền của người đứng đầu tổ chức cho người đại diện theo pháp luật để thực hiện quyền khiếu nại. Về đối tượng của khiếu nại, theo Luật khiếu nại năm 2011 bao gồm: quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật cán bộ, công chức. Quyết định hành chính là đối tượng khiếu nại được hiểu là: “quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính”1. Như vậy, quyết định hành chính là đối tượng của 1 Khoản 8 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011. GVHD: Võ Duy Nam 7 SVTH: Vi Thanh Huy Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ khiếu nại hành chính chỉ bao gồm quyết định hành chính cá biệt, được thể hiện thành văn bản và do cơ quan hành chính, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành. Tuy nhiên trong thực tiễn, quyết định hành chính do người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước khác ban hành cũng là đối tượng khiếu nại, mặc dù chưa được quy định trong Luật khiếu nại, tố cáo (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác). Chẳng hạn, Toà án nhân dân ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự phiên toà hoặc các quyết định liên quan tới việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức cũng là đối tượng khiếu nại… Việc xác định một quyết định hành chính có phải đối tượng khiếu nại hay không, không chỉ giúp người khiếu nại thực hiện quyền khiếu nại đúng pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà còn giúp cho cơ quan giải quyết khiếu nại giải quyết nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật. Hành vi hành chính là đối tượng khiếu nại được hiểu là: “hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi thực hiện nghĩa vụ, công vụ theo quy định của pháp luật” (Khoản 9, Điều 2). Hành vi đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhưng đã xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Chẳng hạn, việc cơ quan công chứng từ chối công chứng trước yêu cầu công chứng hợp pháp của công dân thì hành vi không thực hiện nhiệm vụ của cơ quan công chứng là đối tượng khiếu nại. Quyết định kỷ luật cũng là đối tượng của khiếu nại, được hiểu là: “quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật như khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức” (Khoản 10, Điều 2). Những quyết định này không bao gồm quyết định kỷ luật đối với người lao động làm công ăn lương theo quy định của Bộ luật lao động, quyết định kỷ luật trong cơ quan, đơn vị thuộc lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân cũng như quyết định kỷ luật của các tổ chức chính trị tổ chức chính trị-xã hội… 1.1.2. Khái niệm tố cáo Khái niệm tố cáo được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau. “Tố cáo” là một từ Hán - Việt, thông thường, tố cáo là báo cho người khác biết về hành vi vi phạm của người nào đó. Theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam của Nhà Xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh (tái bản năm 2006, tác giả: GS. Nguyễn Lân) thì “tố” là vạch tội, “cáo” là báo cho người khác biết, tố cáo là vạch tội của người nào cho mọi người biết. Dưới góc độ pháp lý, tố cáo được hiểu là việc công dân theo thủ tục pháp luật quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. GVHD: Võ Duy Nam 8 SVTH: Vi Thanh Huy Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ Cùng với khiếu nại, quyền tố cáo của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật khiếu nại, tố cáo và nhiều văn bản pháp luật khác. Khái niệm tố cáo có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ pháp lý, tố cáo được hiểu: “là việc công dân theo thủ tục do Luật tố cáo quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”2. Như vậy, công dân dù bị ảnh hưởng trực tiếp hay không bị ảnh hưởng bởi hành vi vi phạm pháp luật là đối tượng của việc tố cáo đều có quyền thực hiện việc tố cáo khi biết được có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong đời sống xã hội. Công dân có thể cung cấp các thông tin về hành vi vi phạm pháp luật cho các cơ quan nhà nước, nhưng khác với tố cáo ở chỗ là tố cáo luôn được gửi tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo một trình tự thủ tục do pháp luật quy định và người tố cáo luôn là chủ thể xác định, có những quyền, nghĩa vụ được quy định trong Luật khiếu nại, tố cáo. Khi công dân thực hiện quyền tố cáo thì giữa họ với cơ quan nhà nước sẽ phát sinh những quan hệ pháp luật nhất định và họ phải chịu trách nhiệm về những thông tin mà mình cung cấp. Nội dung tố cáo của công dân rất đa dạng và phức tạp; có tố cáo về những việc làm trái pháp luật của cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ; có những tố cáo về những sai phạm trong công tác quản lý của các cơ quan, trong đó có cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Ngoài ra, công dân có thể tố cáo các hành vi vi phạm về đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức… Tổng hợp lại, đối tượng của tố cáo là hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Quy định này đã chỉ rõ hành vi bị tố cáo không chỉ là hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại mà còn bao gồm cả những hành vi vi phạm pháp luật đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Từ đó, có thể thấy trách nhiệm của Nhà nước ta trong việc quản lý đất nước, không chỉ là khắc phục những hành vi gây thiệt hại mà trước đó phải phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm có thể xảy ra, tránh những thiệt hại cho xã hội. Như vậy, khi thực hiện quyền tố cáo là công dân đã thực hiện quyền làm chủ của mình trong việc xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước làm cho bộ máy nhà nước ngày càng phát huy hiệu quả trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội; hay nói rõ hơn thực hiện quyền tố cáo chính là việc tỏ rõ trách nhiệm của công dân không chỉ trong việc giám sát hoạt động quản lý của Nhà nước để xây dựng bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh mà còn đối với cả việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước để đây thực sự là những “người đại biểu của nhân dân”, góp phần ngăn chặn, 2 Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo. GVHD: Võ Duy Nam 9 SVTH: Vi Thanh Huy Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ tiến tới loại trừ những hành vi quan liêu, hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu quần chúng của một bộ phận cán bộ công chức nhà nước. Tuy nhiên, công dân thực hiện quyền tố cáo thường bị đặt vào tình thế bất lợi, thường bị hành hung, đe dọa, ức hiếp, trả thù. Chính bởi vậy mà trong những năm qua Luật khiếu nại, tố cáo đã nhiều lần được sửa đổi, bổ sung, quy định đầy đủ, chi tiết và chặt chẽ hơn về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo và người có thẩm quyền giải quyết tố cáo, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền công dân của mình. Tóm lại, quyền khiếu nại và quyền tố cáo là những quyền chính trị cơ bản của công dân, là phương tiện bảo đảm cho việc thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội. Đồng thời đó cũng là nguồn thông tin quan trọng về tình trạng pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước, nó góp phần củng cố mối liên hệ giữa nhà nước và công dân. 1.1.3. Phân biệt Khiếu nại và Tố cáo Khiếu nại và tố cáo đều là các quyền chính trị cơ bản của công dân, thường được quy định trong cùng một điều luật hay trong cùng một văn bản. Tuy nhiên giữa khiếu nại và tố cáo có những đặc điểm khác nhau cả về nội dung và cách thức giải quyết. Quá trình thực thi pháp luật khiếu nại, tố cáo đã chỉ ra không ít trường hợp còn chưa phân biệt rõ ràng, chính xác thế nào là khiếu nại, thế nào là tố cáo nhất là khi đơn thư của công dân có nội dung chứa đựng cả việc khiếu nại và việc tố cáo thì vấn đề thụ lý và giải quyết còn nhiều lúng túng. Đây là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh những nhầm lẫn, thiếu sót, thậm chí là sai lầm trong việc xử lý đơn thư, tiến hành xác minh, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân khiến người dân phải khiếu nại nhiều lần hoặc tố cáo sai sự việc. Do vậy, việc phân biệt khiếu nại và tố cáo có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của mình đúng pháp luật và giúp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo nhanh chóng, kịp thời, chính xác và đỡ mất thời gian, công sức, tránh được nhầm lẫn, sai sót trong khi giải quyết khiếu nại, tố cáo. - Trước hết, về chủ thể: Theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo sửa đổi, bổ sung năm 2005, chủ thể của hành vi khiếu nại là cơ quan nhà nước, tổ chức, công dân, cá nhân và tổ chức nước ngoài (hoặc đại diện hợp pháp của họ) có quyền lợi bị xâm hại bởi một quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính. Cán bộ, công chức từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống có quyền khiếu nại quyết định kỷ luật đối với họ. Nói rõ hơn, chủ thể của hành vi khiếu nại phải là người bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc. Trong khi đó, chủ thể của hành vi tố cáo chỉ có thể là cá nhân, tức là chỉ bao gồm công dân và người nước ngoài. Cá nhân thực hiện hành vi tố cáo có thể chịu tác động trực tiếp hoặc không chịu tác động của hành vi vi phạm pháp luật. Bởi vậy, khi tham gia vào quá trình giải quyết khiếu GVHD: Võ Duy Nam 10 SVTH: Vi Thanh Huy Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ nại, tố cáo thì pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của chủ thể khiếu nại, tố cáo cũng khác nhau. Nếu chủ thể khiếu nại thực hiện không đúng pháp luật quyền khiếu nại của mình thì họ sẽ mất cơ hội được yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Còn nếu chủ thể tố cáo thực hiện quyền của mình không đúng quy định của pháp luật như tố cáo nặc danh, mạo danh thì tố cáo của họ không được giải quyết. - Thứ hai, về đối tượng: Trong khi đối tượng của khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống, những quyết định và hành vi này phải có tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại. Thì đối tượng của tố cáo rộng hơn rất nhiều, công dân có quyền tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Có nghĩa là hành vi vi phạm pháp luật là đối tượng của tố cáo có thể tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo có thể không. Chính sự khác nhau này đã dẫn đến sự khác nhau về thẩm quyền, thủ tục giải quyết, về quyền và nghĩa vụ của chủ thể thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo…Cụ thể: + Về thẩm quyền, khiếu nại được giải quyết lần đầu tại chính cơ quan có thẩm quyền ra quyết định hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật là đối tượng của hành vi khiếu nại. Trong trường hợp đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu sẽ tiếp tục thực hiện quyền khiếu nại của mình lên cấp trên trực tiếp của cấp đã có thẩm quyền giải quyết hoặc khởi kiện tại Tòa án. Còn đối với giải quyết tố cáo thì tại Điều 59 Luật khiếu nại, tố cáo có nêu rõ: “Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người thuộc cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết. Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết”. Như vậy, khác với thẩm quyền giải quyết khiếu nại, người đứng đầu cơ quan, tổ chức nào đó là chủ thể giải quyết tố cáo không có thẩm quyền giải quyết đối với đơn tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của chính bản thân mình. Họ chỉ có quyền giải quyết những đơn tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người thuộc cơ quan, tổ chức mà mình quản lý trực tiếp. + Về trình tự giải quyết, có thể chỉ ra một điểm khác nhau giữa khiếu nại, tố cáo là vấn đề thời hiệu. Đối với khiếu nại: “thời hiệu được tính là 90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính”. (Điều 31 Luật khiếu nại, tố cáo). Còn đối với khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ công chức thì thời hiệu được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định kỷ luật.“ Trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có trở ngại đó không được tính vào thời hiệu khiếu nại”. (Điều GVHD: Võ Duy Nam 11 SVTH: Vi Thanh Huy Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ 31 Luật khiếu nại, tố cáo). Đối với tố cáo, pháp luật hiện hành không quy định về thời hiệu tố cáo. - Thứ ba, về mục đích: Nếu như mục đích của khiếu nại là nhằm bảo vệ và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hoặc người có thẩm quyền. Thì mục đích của tố cáo không chỉ dừng ở việc bảo vệ và khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo mà cao hơn thế nữa là nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước. Tóm lại: “việc phân biệt hai khái niệm khiếu nại và tố cáo sẽ góp phần quan trọng trong việc xây dựng cơ chế, thiết chế thực hiện quyền công dân và cũng là cơ sở để cá thể hóa trách nhiệm, từ đó xác định thẩm quyền và xây dựng trình tự giải quyết khiếu nại và tố cáo ngày càng đơn giản, gọn nhẹ, nhanh chóng, tiết kiệm và hợp lí hơn”3. 1.1.4. Nguồn gốc hình thành Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo Khiếu nại, và tố cáo có vai trò to lớn trong việc giữ gìn ổn định trật tự xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng. Do đó, mặc dù trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước, Nhà nước ta luôn khẳng định tố cáo là một quyền của công dân và được ghi nhận trong những văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao như Hiến pháp, Luật, Sắc lệnh... * Nguồn gốc hình thành Luật khiếu nại, Luật Tố cáo. - Sắc lệnh số 64/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Cộng hoà về thành lập Ban Thanh tra đặc biệt Có thể khẳng định đây là văn bản pháp luật đầu tiên có nội dung liên quan đến giải quyết tố cáo, mặc dù trong văn bản này chỉ có khái niệm khiếu nại chứ không đề cập đến tố cáo mà dùng thuật ngữ phản ánh, nhưng việc thành lập và quy định các quyền hạn của Ban thanh tra trong Sắc lệnh thì thấy rằng Ban thanh tra có nhiệm vụ giám sát hoạt động của Bộ máy Nhà nước, có quyền tiếp nhận và giải quyết các thư phản ánh của người dân đối với việc làm vi phạm pháp luật của những người trong bộ máy chính quyền (mà hiện nay gọi là giải quyết tố cáo) “Nhiệm vụ của Ban Thanh tra đặc biệt là thường xuyên nghiên cứu và giải quyết các đơn thư khiếu nại, phản ánh của các tầng lớp nhân dân từ khắp các địa phương gửi lên Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh”. - Thông tư số 436-TTg ngày 13 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng Chính phủ quy định trách nhiệm, quyền hạn và tổ chức của các cơ quan chính quyền trong việc giải quyết các loại thư khiếu nại, tố giác (gọi tắt là thư khiếu tố) của nhân dân. 3 Giáo trình Thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo – Trường Đại học Luật Hà Nội. Nhà xuất bản Công an nhân dân Hà Nội 2006 GVHD: Võ Duy Nam 12 SVTH: Vi Thanh Huy Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ Thông tư này là văn bản pháp luật đầu tiên xuất hiện khái niệm “tố giác”, tuy nhiên nội dung văn bản không có sự phân biệt giữa khiếu nại và tố giác (Thông tư sử dụng thuật ngữ chung là khiếu tố), không phân định rõ thẩm quyền và thủ tục giải quyết khiếu nại, tố giác. Theo đó, Thông tư ghi nhận quyền hạn và trách nhiệm của nhân dân trong việc khiếu tố như sau: - Về quyền hạn: Nhân dân có quyền trực tiếp đến khiếu tố hoặc gửi thư khiếu tố đến các cơ quan Nhà nước, từ Uỷ ban Hành chính xã đến Chính phủ Trung ương để bày tỏ những thắc mắc và nguyện vọng của mình, phát giác những sai lầm, thiếu sót của cán bộ hoặc của các cơ quan Nhà nước. - Về trách nhiệm: “Không một người nào được lợi dụng quyền khiếu tố để cố ý xuyên tạc các chủ trương, chính sách, đả kích cán bộ và cơ quan, bôi nhọ chế độ của ta, chia rẽ nhân dân và chính quyền, nhân dân và bộ đội. Đối với những phần tử xấu cố ý xuyên tạc sự thật, vu khống cơ quan hoặc cá nhân cán bộ, cố ý bôi nhọ chế độ, cố ý làm giảm uy tín của cơ quan dân chủ nhân dân, chia rẽ nhân dân với chính quyền, với quân đội thì tuỳ trường hợp nặng hay nhẹ, tuỳ người ấy bị xúi giục hay chủ động mà phê bình, cảnh cáo hoặc bị truy tố trước pháp luật. * Quy định về khiếu nại, và tố cáo trong các bản Hiến pháp Hiến pháp năm 1959 Hiến pháp năm 1959 đã ghi nhận nhiều quyền công dân, trong đó có quyền tố cáo. Điều 29 Hiến pháp quy định “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước. Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh chóng”. Theo quy định này thì quyền tố cáo của công dân tập trung vào các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và cán bộ công chức Nhà nước, nhằm tránh tình trạng lợi dụng quyền hạn để tham nhũng, hách dịch, quan liêu, cửa quyền và sách nhiễu nhân dân. Hiến pháp năm 1980 Ngay sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước bước vào khôi phục và xây dựng nền kinh tế, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đối tượng của tố cáo đã được mở rộng hơn so với Hiến pháp năm 1959, theo đó Điều 73 quy định: “Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó”. Hiến pháp cũng định hướng sâu hơn về việc giải quyết tố cáo: Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý GVHD: Võ Duy Nam 13 SVTH: Vi Thanh Huy Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo. Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) Quyền tố cáo của công dân được ghi nhận tại Điều 74 Hiến pháp năm 1992, theo đó, công dân có quyền tố cáo bất cứ cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc cá nhân nào khi phát hiện những việc làm trái pháp luật của họ. Đồng thời Hiến pháp cũng mở ra chế định về tố cáo khi quy định: Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định. Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác. * Các văn bản Luật và dưới luật khác quy định về quyền khiếu nại, quyền tố cáo: - Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (Luật số 09/1998/QH10) - Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo năm 2004 và năm 2005 - Luật Khiếu nại năm 2011; - Luật Tố cáo năm 2011; - Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1981 và các văn bản hướng dẫn thi hành - Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991 và các văn bản hướng dẫn thi hành - Nghị định số 58/HĐBT về việc thi hành Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân - Nghị định số 38/HĐBT ngày 28 tháng 01 năm 1992 về việc thi hành Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân - Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo - Nghị định số 62/2002/NĐ-CP ngày 14 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/1999/NĐ-CP GVHD: Võ Duy Nam 14 SVTH: Vi Thanh Huy Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ - Nghị định số 53/2005/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật khiếu nại, tố cáo và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo - Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo - Thông tư số 60-UBTTr ngày 22/5/1971 của Uỷ ban Thanh tra hướng dẫn trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc xét và giải quyết đơn thư khiếu nại và tố cáo của công dân - Thông tư số 67-UBTTr-XKT ngày 29 tháng 3 năm 1973 của Uỷ ban Thanh tra hướng dẫn việc xét, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo ở cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương; Thông tư số 68-UBTTr/XKT ngày 29 tháng 3 năm 1973 của Uỷ ban Thanh tra hướng dẫn việc xét, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo ở cấp huyện; - Các Thông tư, Thông tư liên tịch do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành quy định hướng dẫn về tố cáo và giải quyết tố cáo - Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT/VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTP ngày 10 tháng 08 năm 2005 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Toà án nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng - Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo. -Thông tư số 06/2008/TT-BLĐTBXH ngày 07 tháng 5 năm 2008 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 04/2005/NĐ - CP ngày 11/01/2005 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về khiếu nại, tố cáo về lao động. - Thông tư số 01/2009/TTCP ngày 15 tháng 12 năm 2009 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết tố cáo. - Thông tư số 04/2010/TT-TTCP ngày 26 tháng 8 năm 2010 của Thanh tra Chính phủ quy định Quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn phản ánh, kiến nghị liên quan đến khiếu nại, tố cáo. - Thông tư liên tịch số 03/2011/TTLT-BNV-TTCP ngày 06 tháng 5 năm 2011 của Bộ Nội vụ, Thanh tra Chính phủ quy định khen thưởng cá nhân có thành tích xuất sắc trong tố cáo, phát hiện hành vi tham nhũng. - Chỉ thị số 06/CT ngày 11 tháng 02 năm 1985 về việc thực hiện Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân; Chỉ thị số 176/CT ngày 03 tháng 7 năm 1989 về kiểm điểm việc thi hành Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân GVHD: Võ Duy Nam 15 SVTH: Vi Thanh Huy Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ - Chỉ thị số 18/TTg ngày 15/01/1993 về công tác tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, Chỉ thị số 64/TTg ngày 25/01/1995 về tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân - Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 09/10/1998 về tăng cường hiệu lực giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân tại các cơ quan Trung ương và nhà riêng của các đồng chí Lãnh đạo Đảng và Nhà nước - Chị thị số 09-CT/TW ngày 06 tháng 3 năm 2002 của Ban Bí thư về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay - Chỉ thị số 36/2004/CT-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh và tăng cường trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo * Các văn bản pháp luật khác quy định về khiếu nại, và tố cáo Ngoài những văn bản pháp luật chung về khiếu nại, tố cáo, trong từng lĩnh vực quản lý hành chính, các cơ quan nhà nước đều ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn công tác giải quyết tố cáo, điển hình như: Nghị quyết số 30/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Quốc hội về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước; Nghị quyết số 715/2004/NQ-UBTVQH11 ngày 18 tháng 6 năm 2004 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về việc tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức gửi Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Nghị quyết số 2278/2007/QĐ-TTCP ngày 24 tháng 10 năm 2007 của Thanh tra Chính phủ ban hành quy chế lập, quản lý hồ sơ thanh tra, hồ sơ giải quyết khiếu nại, hồ sơ giải quyết tố cáo; Quyết định số 530/2006/QĐ-TLĐ ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành quy định về Công đoàn giải quyết và tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đồng thời, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước đều ban hành quy định về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của bộ, ngành hoặc quy chế tiếp công dân, xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị trên địa bàn tỉnh, thành phố, như: Thông tư số 02/2011/TT-UBDT ngày 15/7/2011 quy định về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của Uỷ ban Dân tộc; Thông tư số 03/2010/TT-BTTTT ngày 14/01/2010 quy định về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông; Quyết định số 06/2007/QĐ-BTP ngày 27/6/2007 của Bộ Tư pháp ban hành Quy chế giải quyết khiếu nại, tố cáo của Bộ Tư pháp; Quyết định số 102/2006/QĐUBND ngày 02/9/2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh ban hành Quy chế tiếp công dân, xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh… Như vậy, hệ thống pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo ở Việt Nam nhìn chung rất đầy đủ và chi tiết, quyền tố cáo của công dân được Hiến pháp ghi nhận và được cụ thể hóa trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Luật khiếu nại, tố cáo; GVHD: Võ Duy Nam 16 SVTH: Vi Thanh Huy Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư của các Bộ, cơ quan ngang Bộ… trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết tố cáo được quy định trong tất cả các ngành, lĩnh vực của cuộc sống, bảo đảm công dân thực hiện quyền tố cáo của mình một cách đầy đủ. Tuy nhiên trên thực tế công tác giải quyết tố cáo còn nhiều hạn chế, hiệu quả giải quyết các vụ việc tố cáo chưa cao do các quy định về trách nhiệm giải quyết tố cáo còn chung chung nhiều đầu mối đã dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, người tố cáo chưa được bảo vệ đúng mức, còn bị đe doạ, trả thù, trù dập; các chế định về khiếu nại và tố cáo thường được quy định chung trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật, nhiều trường hợp cả người tố cáo và người có thẩm quyền giải quyết tố cáo vẫn chưa phân biệt được tố cáo và khiếu nại … Để thực hiện công cuộc cải cách hành chính nhà nước và phát huy quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền công dân, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tố cáo, Dự án Luật tố cáo đã được đưa vào Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII (2007 – 2011) tại Nghị quyết số 11/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Quốc hội. Trải qua quá trình soạn thảo, lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến của nhân dân, các bộ, ngành, đoàn thể, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội… ngày 25 tháng 8 năm 2010 Chính phủ đã trình Dự án Luật tố cáo, Luật Khiếu nại ra trước Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá XII (Tờ trình số 100/TTr-CP). Ngày 11 tháng 11 năm 2011 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 2 đã thông qua Luật khiếu nại, và Luật tố cáo đã được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam ký lệnh công bố và luật chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2012. 1.2. CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, VÀ TỐ CÁO CỦA NGÀNH THANH TRA NHÀ NƯỚC Hoạt động thanh tra là “giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng các quy định của pháp luật”. Luật Thanh tra quy định: “Mục đích thanh tra nhằm phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan , tổ chức, cá nhân”4. Với vai trò là công cụ quản lý nhà nước, hoạt động thanh tra phải chủ yếu giúp cho chủ thể quản lý nhà nước kiểm soát và bảo đảm cho các đối tượng quản lý chấp hành đúng chính sách, pháp luật chứ không phải chỉ là tìm ra vi phạm để xử lý. Để thực hiện được mục tiêu này, hoạt động thanh tra ngoài việc phát hiện, xử lý đối với những vi phạm, kiếm nghị việc khắc phục, điều chỉnh, hoàn thiện cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật còn phải có trách nhiệm hướng dẫn, giúp cơ quan, tổ chức, 4 Điều 2 Luật Thanh tra năm 2010. GVHD: Võ Duy Nam 17 SVTH: Vi Thanh Huy Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ doanh nghiệp, cá nhân thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Quy định này của Luật Thanh tra năm 2010 đã thể hiện rõ hơn mục đích hoạt động thanh tra theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới”. 1.2.1. Khái niệm chung về thanh tra Theo “Thuật ngữ pháp lý phổ thông”. Nhà xuất bản Pháp lý, 1986, thanh tra được coi là một biện pháp của kiểm tra và nhiệm vụ thanh tra được Ủy quyền cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm. - Theo “Từ điển tiếng Việt” xuất bản năm 1992 thì thanh tra là “kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. Theo tài liệu của Tổng thanh tra Pháp thì thuật ngữ thanh tra (inspection) bắt nguồn từ tiếng Latinh “In spectare” có nghĩa là nhìn vào bên trong. Theo đó, thanh tra là một thực tế đứng ngoài để kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các cơ quan, tổ chức; khác với sự kiểm tra, kiểm soát nội bộ của cơ quan, tổ chức đó. - Theo Từ điển Luật học thì “thanh tra là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định”. - Ngoài ra thanh tra còn được hiểu là sự xem xét, kiểm soát kiểm tra thường xuyên, định kỳ nhằm rút ra nhận xét, kết luận cần thiết để kiến nghị với các cơ quan Nhà nước khắc phục những nhược điểm, phát huy ưu điểm, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước. Hoạt động thanh tra do cơ quan nhà nước thực hiện. 1.2.2. Khái niệm thanh tra nhà nước - Thanh tra Nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật quy định5. Hoạt động thanh tra là chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước, là một trong ba yếu tố cấu thành nên sự lãnh đạo, quản lý đó là:Ban hành quyết định, tổ chức thực hiện quyết định; và thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quyết định. Thực chất thanh tra là việc xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét và kết luận phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa xử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế nhà nước, bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và công dân, bảo vệ lợi ích quốc gia. Theo điều 3 luật thanh tra 2010: “Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. 5 Luật Thanh tra. GVHD: Võ Duy Nam 18 SVTH: Vi Thanh Huy Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ Như vậy, có thể hiểu rằng, khi nói đến khái niệm “thanh tra nhà nước” là nói đến bản chất của hoạt động thanh tra nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành; còn thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành là loại hình thanh tra. Việc phân biệt thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành dựa vào các yếu tố: chủ thể tiến hành thanh tra, đối tượng thanh tra và nội dung thanh tra. 1.2.3. Lịch sử hình thành tổ chức thanh tra Nhà nước * Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959 Ngay từ những ngày đầu giành độc lập, Đảng và nhà nước ta đã hết sức coi trọng công tác thanh tra và coi đó là một trong những hoạt động quan trọng của quản lý nhà nước. Nhằm tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thanh tra, ngày 23 tháng 11 năm 1945, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt. Bản sắc lệnh này là cơ sở pháp lý cho hoạt động của Ban thanh tra đặc biệt. Đồng thời cũng đặt viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng hệ thống pháp luật thanh tra. Căn cứ vào các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Sắc lệnh, Ban Thanh tra đặc biệt đã góp phần hết sức quan trọng vào công tác quản lý nhà nước, tạo ra mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, giữa lãnh đạo và quần chúng ổn định chính trị, tư tưởng của quần chúng nhân dân, động viên sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu kháng chiến. Mặc dù vậy, đến năm 1949 nhận thấy Ban thanh tra đặc biệt không còn phù hợp với giai đoạn lịch sử này, ngày 18 tháng 12 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 138b-SL lập Ban thanh tra Chính phủ trực thuộc phủ Thủ Tướng. Trong giai đoạn tiếp theo Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và chuyển sang Cách mạng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thực tiễn công tác quản lý nhà nưóc và việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng có nhiều đổi mới, do vậy ngày 28 tháng 3 năm 1956, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã ra Sắc lệnh số 26/SL thành lập Ban Thanh tra trung ưong. Tiếp theo đó ngày 1 tháng 4 năm 1956,Thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị định số 762/TTg quy định về công tác và lề lối làm việc của Ban Thanh tra trung ương của Chính phủ và ngày 26 tháng 12 năm 1956,Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 1194/TTg về việc thành lập Ban Thanh tra ở các liên khu, khu,thành phố và Tỉnh. * Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980 Sau năm 1959, nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc được coi là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta. Hiến pháp 1959 ra đời trở thành cơ sở pháp lý nền tảng cho việc xây dựng nhà nước và phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta. Hiến pháp 1959 ra đời trở thành cơ sở pháp lý nền tảng cho việc xây dựng nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội. Căn cứ vào hiến pháp, Luật tổ chức hội đồng Chính phủ, ngày 29 tháng 9 năm 1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 136/CP quyết định thành lập Ủy ban Thanh tra của Chính phủ thay cho Ban thanh tra trung ương của Chính phủ. Tiếp theo đó ngày 4 tháng 7 năm 1962, Ban bí thư trung ưương Đảng ra chỉ thị số 50/CT-TW về việc tăng cường GVHD: Võ Duy Nam 19 SVTH: Vi Thanh Huy Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực tiễn tại Thanh tra thành phố Cần Thơ công tác thanh tra việc chấp hành các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Chính phủ vào ngày 24 tháng 8 năm 1963, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 87/TTg về tăng cường công tác kiểm tra. Đây là những văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động của các cơ quan thanh tra nhà nưóc trong giai đoạn này và trên thực tế các văn bản này đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra nói chung và Thanh tra nhà nước nói riêng. Sau khi đất nước thống nhất, ngày 3/1/1977, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/CP kèm theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của Ủy ban Thanh tra Chính phủ, bao gồm 3 chương, trong đó quy định về chức năng nhiệm vụ quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban Thanh tra Chính phủ và thanh tra các ngành, các cấp. * Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992 Hiến pháp năm 1980 ra đời làm thay đổi nhiều vấn đề quan trọng của đất nước về hế độ chính trị, chế độ kinh tế, tổ chức bộ máy nhà nước . . . và các quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân. Việc ban hành Hiến pháp mới đòi hỏi phải sửa đổi bổ sung nhiều văn bản pháp luật. Đối với công tác thanh tra, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác này. Đồng thời đáp ứng sự đổi mới của của Hiến pháp 1980, ngày 15 tháng 2 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị quyết số 26/HĐBT về việc tăng cường tổ chức thanh tra và nâng cao hiệu lực thanh tra, trong đó nêu rõ về hệ thống tổ chức Thanh tra nhà nưóc và Thanh tra nhân dân, quy định cụ thể những nguyên tắc đặt cơ sở về nhận thức và về tổ chức thực hiện nhiệm vụ của ngành thanh tra trong tình hình mới. Trong giai đoạn này, tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp, nhất là từ năm 1989 đến năm 1990 chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu có nguy cơ sụp đổ. Trước bối cảnh đó, ngày 1 tháng 4 năm 1990, Pháp lệnh Thanh tra được ban hành. Pháp lệnh gồm 6 chương, 41 điều quy định về hệ thống tổ chức, nhiệm vụ quyền hạn của Thanh tra nhà nước; tổ chức thanh tra nhân dân và trình tự thủ tục thanh tra. * Giai đoạn từ năm 1992 đến khi có Luật thanh tra 2010 Thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta ngày càng đạt được những thành tựu to lớn, song trưuớc đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc đổi mới, xu thế hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới, đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nưóc nói chung và công tác thanh tra kiểm tra nói riêng. Ngày 15 tháng 6 năm 2004, Quốc hội thông qua Luật Thanh tra và căn cứ vào Luật này Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định quy định và hướng dẫn chi tiết Luật Thanh tra. Tổng thanh tra cũng ban hành nhiều thông tư, chỉ thị, quyết định hướng dẫn về công tác, tổ chức và nghiệp vụ thanh tra cho thanh tra các cấp các ngành. Việc Luật thanh tra ra đời thay thế Pháp lệnh thanh tra năm 1990 đã khẳng định tầm quan trọng của công tác thanh tra trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội. Luật thanh tra được ban hành bao gồm 5 chương, 70 điều quy định về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn hệ thống tổ chức thanh tra nhà nước và tổ chức hoạt động thanh tra nhân dân. GVHD: Võ Duy Nam 20 SVTH: Vi Thanh Huy
- Xem thêm -