Công nghệ trong ngành nông nghiệp việt nam

  • Số trang: 16 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

BÁO CÁO CÔNG NGHỆ TRONG NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NHÓM THỰC HIỆN: SEVEN - số thứ tự 7 (gồm 2 nhóm X-girls STT 7 và nhóm Sakưra STT 13) 1-Nguyễn Phương Thảo 2-Phạm Quỳnh Lê 3-Phùng Bích Thảo 4-Nguyễn Minh Trang 5-Ngô Phương Thúy 6-Tạ Thị Uyên 7-Võ Minh Thu 8-Tạ Tiểu Oanh 9- Nguyễn Lan Hương 10- Nguyễn Mai Phương 11- Nguyễn Phương Dung Anh1-cđ2 Anh 1-cđ2 Anh 2-cđ2 Anh 2-cđ2 Anh 3-cđ2 Nhật-cđ2 Nhật-cđ2 Nhật-cđ2 Nhật-cđ2 Nhật-cđ2 Nhật-cđ2 A/ MỤC ĐÍCH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI: Hiện nay Việt Nam có khoảng 8 triệu ha đất nông nghiệp, trong đó có 6,8 triệu ha trồng lúa. Diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người là 0,1 ha và đang có xu hướng giảm dần, do tăng số dân và quá trình đô thị hoá cũng như do tình hình ô nhiễm môi trường làm cho đất có chiều hướng nghèo kiệt đi. Nguồn nhân lực trẻ, khoẻ ở nông thôn là nguồn tài nguyên quý để phát triển nông nghiệp, nhưng chưa được khai thác có hiệu quả. Theo số liệu thống kê, có khoảng 6 triệu thanh niên thiếu việc làm. Nguy cơ thiếu dinh dưỡng, thất học, thất nghiệp, tội phạm gia tăng trong nông thôn khá rõ. Trong bối cảnh đó, việc nâng cao thu nhập của người nông dân, bảo đảm an ninh lương thực, sức khoẻ và môi trường là vấn đề bức bách, không thể giải quyết bằng các biện pháp thông thường, mà phải bằng con đường khoa học công nghệ. Phát triển công nghệ giúp ngành nông nghiệp phát triển cũng là giúp phát triển đời sống của người nông dân Việt Nam.Chính vì vậy , việc thực hiện chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp là một nhu cầu cấp thiết. Việt Nam sắp gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). WTO là một tổ chức có mục đích khuyến khích sự mua bán giữa các nước hội viên thông qua việc giảm thiểu hoặc loại bỏ những rào cản thương mại. Như vậy đây là một cơ hội tốt để Việt Nam hội nhập vào thị trường nông sản to lớn của thế giới. Để có được một vị trí nhất định trong thị trường lớn này , đòi hỏi nền nông nghiệp Việt nam cần được ứng dụng những công nghệ khoa học tiên tiến.Việc phát triển công nghệ trong nông nghiệp là một nhu cầu tất yếu và đáng được chúng ta quan tâm, tìm hiểu. B/ NỘI DUNG I/ Thành tựu công nghệ trong ngành nông nghiệp Việt Nam thời gian qua Công nghệ là khái niệm được sử dụng rất phổ biến hiện nay nhưng lại có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Theo Luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2003, Chương I, Điều 1 thì :” Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng , bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. Phát triển Khoa học và công nghệ trong ngành Nông nghiệp rất được Nhà nước và các cơ quan chức năng chú trọng trong thời gian qua. Ở nước ta, các cơ quan nghiên cứu đã hoàn thiện nhiều quy trình, tiến bộ kỹ thuật, công nhận hàng chục giống rau, hoa mới, thích hợp cho vụ sớm và trái vụ. Các nghiên cứu về giá thể sản xuất rau, hoa giống theo quy mô công nghiệp không dùng đất, sử dụng bạt che phủ đất và tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa cũng đã được thử nghiệm bước đầu cho kết quả tốt. Ngoài ra còn nhiều nghiên cứu khác thuộc lĩnh vực giống, bảo vệ thực vật, phân bón, thuỷ lợi, chăn nuôi bước đầu đã có những kết quả ứng dụng trong sản xuất. Nhiều công nghệ cao (công nghệ sinh học, vật liệu mới…) đã được các doanh nghiệp ứng dụng trong sản xuất. Một số khu Nông nghiệp công nghệ cao của Nhà nước, của các doanh nghiệp trong và ngoài nước đã hình thành và phát triển. Đặc biệt công nghệ sinh học là ngành công nghệ phục vụ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp thì Việt Nam cũng đã có những bước phát triển đáng kể như việc cho hoa nở trong ống nghiệm theo ý con người, việc nhân bản vô tính thành công trên động vật, việc sản xuất thành công hạt giống nhân tạo …và hàng loạt nguồn gen quý được khôi phục và phát triển. Bên cạnh những công nghệ, kỹ thuật học hỏi và được chuyển giao từ nhiều nước trên thế giới thì ngành Công nghệ nông nghiệp ở nước ta thời gian gần đây đã cho ra đời nhiều phát minh,sáng kiến về mọi mặt đã phục vụ hiệu quả cho nền Nông nghịêp nước nhà. Đối với ngành cơ khí Nông nghiệp trong những năm qua đã cho ra đời hàng loạt những công cụ, máy móc hiện đại cho năng suất cao và thay thế đáng kể cho sức lao động của con người. Điều đáng mững ở đây là những phát minh ấy không chỉ là của những nhà khoa học mà nó còn là sản phẩm của chính những người nông dân mà trình độ của họ chưa qua bậc phổ thông như: Ông Nguyễn Văn Khách, 46 tuổi, nông dân xã Tân Thành, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, đã bỏ ra nhiều thời gian nghiên cứu, tự thiết kế và chế tạo thành công chiếc máy phun tưới nước bán tự động đưa vào sử dụng tại vườn nhà… Sản phẩm Máy tỉa hạt có tên TH3 (viết tắt từ tỉa hạt - theo hàng - tổng hợp) của hai nông dân thị trấn Mộc Hóa (Long An) Tô Hồng Quân và Đặng Văn Tiễn Ông Nguyễn Văn Sành ở xã Nam Trung, huyện Nam Sách, Hải Dương đã chế tạo thành công máy thái hành tự động có năng suất bằng 20 lao động thủ công. Anh Nguyễn Kim Chính ở thôn Đại Ân, xã Cát Nhơn (Phù Cát) cải tiến hoàn hảo chiếc máy cắt lúa hiệu FUTU 1 (do Công ty Phụ tùng máy 1 - thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên sản xuất) đem lại hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp. Từ cải tiến này, anh đã đoạt giải khuyến khích trong cuộc thi "Sáng tạo kỹ thuật nhà nông toàn quốc" lần thứ nhất năm 2004-2005. Ông Lâm Văn Thắng (nông dân xã Tiên Thuận, Bến Cầu, Tây Ninh) và anh Trần Quốc Trung (em ruột anh Trần Quốc Hải - “Hai Lúa” chế tạo máy bay trực thăng) đã chế tạo thành công máy diệt rầy nâu, muỗi bướm. Nguyễn Văn Cơ, một nông dân chính gốc ở xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị vừa chế tạo ra là một chiếc máy hút bùn cho ao tôm đầu tiên của miền trung. Ông Nguyễn Đức Hoàng (ngụ Bình An I, An Hòa, Châu Thành, An Giang), một nông dân 40 tuổi, học chưa hết lớp 6 trình làng chiếc máy gặt đập liên hợp vừa cắt, vừa tuốt ra hạt lúa. … Hàng năm, nước ta đẵ bước vào thử nghiệm hàng triệu giống cây trồng mới cho năng suất cao, sức chống chọi với sâu bệnh và khí hậu lớn đã phần nào cải thiện được đời sống của người nông dân. II/ Thành tựu công nghệ trong ngành nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Vào WTO, thị trường Việt Nam rộng mở, thuế suất nhập khẩu nhiều mặt hàng nông sản, thuỷ sản đã giảm dần theo lộ trình, sự bảo hộ của Nhà nước cho nông nghiệp cũng hạn chế theo cam kết WTO. Việt Nam cũng phải mở cửa thị trường nông sản như các thành viên khác. Hàng nông sản các nước với chất lượng và độ sạch cao hơn, giá cả cạnh tranh... cũng đã thâm nhập vào các siêu thị Việt Nam.. Đó là thịt bò Mỹ, Ốt-xtrây-lia-a, quả tươi Trung Quốc, gạo Thái Lan, lúa mỳ, sữa và các sản phẩm sữa châu Âu... Tuy số lượng hàng nông sản ngoại nhập chưa nhiều, nhưng cũng tăng khá: 10 tháng đầu năm 2007 giá trị nhập khẩu lúa mỳ tăng 44%, sữa và sản phẩm sữa tăng 19,5%, dầu mỡ thực vật tăng 68,2%, thức ăn gia súc tăng 51,5% so cùng kỳ 2006. Do có nông sản ngoại nhập nên sản phẩm nông nghiệp sản xuất trong nước gặp khó khăn hơn trong cuộc cạnh tranh với hàng ngoại ngay trên “sân nhà”. Nhận thức được thách thức đó, tư duy của một bộ phận hộ nông dân, trang trại đã có bước chuyển biến bước đầu theo lộ trình gia nhập WTO. Tư duy sản xuất nông nghiệp sạch, chất lượng cao, chi phí thấp để tăng sức cạnh tranh trên thị trường đã bước đầu thay thế tư duy năng suất cao, sản lượng nhiều bằng mọi giá của các năm trước. Bằng chứng là vùng đồng bằng sông Cửu Long đã chủ trương giảm, thậm chí bỏ lúa vụ 3, chất lượng thấp để chuyển sang vụ lúa đông xuân chất lượng cao hơn phù hợp với nhu cầu thị trường. Vùng cà phê Tây Nguyên cũng chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá, gắn sản xuất với chế biến và thị trường xuất khẩu. Phong trào nuôi thuỷ sản thâm canh và bán thâm canh, đảm bảo sản phẩm không có dư lượng kháng sinh được rộng mở ở các vùng để đáp ứng thị trường xuất khẩu. Các vùng sản xuất tập trung sản phẩm sạch như: chè Thái Nguyên, Suối Giàng, trái cây, rau trồng theo kỹ thuật công nghệ cao, chăn nuôi lợn thịt hướng nạc... bước đầu có bước chuyển biến tích cực nên sản phẩm xuất khẩu năm qua đã tăng khá nhanh so với khi chưa vào WTO. Nhờ đó, các mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam bước đầu đã đáp ứng được yêu cầu tăng chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, giá cả thấp hơn để tăng sức cạnh tranh trên thị trường. III/ Hiện trạng phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam Nông nghiệp công nghệ cao đã đạt được khá nhiều thành tựu trong năm vừa qua nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng khoa học kỹ thuật nước ngoài sao cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Ở nước ta, các cơ quan nghiên cứu đã hoàn thiện nhiều quy trình, tiến bộ kỹ thuật, công nhận hàng chục giống rau, hoa mới, thích hợp cho vụ sớm và trái vụ. Các nghiên cứu về giá thể sản xuất rau, hoa giống theo quy mô công nghiệp không dùng đất, sử dụng bạt che phủ đất và tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa cũng đã được thử nghiệm bước đầu cho kết quả tốt. Ngoài ra còn nhiều nghiên cứu khác thuộc lĩnh vực giống, bảo vệ thực vật, phân bón, thuỷ lợi, chăn nuôi bước đầu đã có những kết quả ứng dụng trong sản xuất. Nhiều công nghệ cao (công nghệ sinh học, vật liệu mới…) đã được các doanh nghiệp ứng dụng trong sản xuất. Một số khu Nông nghiệp công nghệ cao của Nhà nước, của các doanh nghiệp trong và ngoài nước đã hình thành và phát triển. Khu Nông nghiệp công nghệ cao tại Hà Nội và Hải Phòng, do chúng ta nhập khẩu “trọn gói” từ nhà màng, thiết bị bên trong cho đến kỹ thuật canh tác. Việc đánh giá hiệu quả toàn diện các mô hình này cần sớm được tiến hành cụ thể và chi tiết. Tuy nhiên, có một số vấn đề mà chúng ta cần cân nhắc: Việc nhập trọn gói như vậy sẽ rất đắt và phụ thuộc; các khu Nông nghiệp công nghệ cao này đều thiếu cán bộ có trình độ giỏi về công nghệ. Qua việc xây dựng và vận hành khu Nông nghiệp công nghệ cao của Hà Nội và Hải Phòng có thể rút ra một số bài học: Khi xây dựng cần hết sức quan tâm tới điều kiện tự nhiên như đất đai, mực nước ngầm, nguồn nước tưới, giao thông; lưu ý trong khi quản lý và khai thác mô hình. Thực tế cho thấy có rất nhiều vấn đề chúng ta phải nghiên cứu cho quy trình canh tác trong nhà lưới, nhà màn (quản lý và xử lý giá thể, quản lý và xử lý dịch hại, quản lý và điều tiết tưới tiêu, làm mát, kể cả việc quản lý về dinh dưỡng...). Vì hai khu Nông nghiệp công nghệ cao trên là nhập trọn gói các quy trình kỹ thuật, trang thiết bị máy móc... nên khi đưa vào điều kiện Việt Nam còn nhiều bất cập (mưa, nắng, bão, mùa vụ, tập quán tiêu thụ, dịch bệnh phát sinh, bảo dưỡng, duy tu các trang thiết bị...). Trong lĩnh vực chăn nuôi, tại thành phố Hồ Chí Minh, Công ty Bò sữa đã đầu tư chuồng trại khá hoàn chỉnh, có hệ thống phun sương, chuồng ép có khả năng tự động 50% để gieo tinh nhân tạo, khám thai, điều trị phẫu thuật; xây dựng đồng cỏ thâm canh 300 ha, 4 hố ủ chua có sức chứa 3.000 tấn thành phẩm, khu vắt sữa gồm 6 máy (công suất 15 con /máy). Xu hướng nâng quy mô chăn nuôi lên thành trang trại tập trung và ứng dụng công nghệ cao trong chăn nuôi bò sữa là một hình thức chuyển dịch cơ cấu và chuyển dịch cấu trúc trong bản thân ngành chăn nuôi đang được hình thành và phát triển tại thành phố. IV/ Một số điểm mạnh và điểm yếu của nông nghiệp Việt Nam hiện nay trong lĩnh vực công nghệ Một số ưu điểm nổi bật : Các vùng sản xuất nông sản hàng hoá quy mô lớn, chuyên canh và thâm canh cao như lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, cây ăn trái ở đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ; cây cà phê và cao su ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, cây chè ở miền núi phía Bắc, thuỷ sản ở Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long đã có bước chuyển đổi quy trình sản xuất theo hướng không chạy theo năng suất, số lượng mà quan tâm hơn đến chất lượng, độ sạch và chi phí sản xuất để tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Chính các vùng sản xuất hàng hoá lớn tập trung đó đã cung cấp nông sản hàng hoá và xuất khẩu cho cả nước và là dấu hiệu của nền nông nghiệp hàng hoá lớn đã và đang hình thành. Sau một năm vào WTO, nhận thức của các ngành, các cấp về nông nghiệp đã có bước chuyển tích cực theo hướng quan tâm nhiều hơn, đầu tư tập trung hơn cho các khâu sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản để tăng hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho nông dân. Hàng loạt cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với nông nghiệp đã được ban hành hỗ trợ nông nghiệp phù hợp với cam kết WTO. Đó là chính sách miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp trong mức hạn điền, bỏ thuỷ lợi phí, giảm các khoản đóng góp cho nông dân, khuyến khích ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và chế biến nông sản, nhất là công nghệ sinh học và công nghệ sau thu hoạch, nông nghiệp công nghệ cao vùng ven thành phố lớn. Theo cam kết WTO, mức và đối tượng đầu tư cho nông nghiệp được điều chỉnh tập trung vào những lĩnh vực mà WTO khuyến khích như mở rộng hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; ứng dụng khoa học kỹ thuật mới, đào tạo nghề cho nông dân, công nghệ sau thu hoạch.. Nông nghiệp Việt Nam đã mang dáng dấp của một nền sản xuất hàng hoá có những nét hiện đại, đáp ứng tương đối đầy đủ các yêu cầu của thị trường. Mặc dù từ tháng 11 năm 2006 đến nay, thiên tai, bão lũ lớn xảy ra liên tiếp trên phạm vi cả nước, sâu bệnh, dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng gia súc, lợn tai xanh... tàn phá nặng nề, gây hậu quả nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản; giá cả phân bón vật tư nông nghiệp tăng cao, nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn tiếp tục phát triển theo hướng bền vững, tốc độ tăng trưởng khá cao. Theo Tổng cục Thống kê, tốc độ tăng trưởng khu vực này năm 2007 vẫn đạt 4,3%, trong đó nông nghiệp tăng 2,8%, lâm nghiệp tăng 1,1% và thuỷ sản tăng 9,8%, cao hơn năm 2006. Sản phẩm nông nghiệp sản xuất trong nước 1 năm qua vẫn đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia trong mọi tình huống. Nông sản hàng hoá vẫn đáp ứng đầy đủ nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến như mía đường, rau quả, lúa gạo, chè. Các hợp đồng xuất khẩu đã ký kết với khách hàng được thực hiện từ đầu năm theo đúng cam kết WTO. C ó được điều đó là do khoa học kỹ thuật ở Việt Nam hiện đã đáp ứng khá đầy đủ các yêu cầu của nền nông nghiệp hàng hoá gắn với xuất khẩu. Công nghệ sinh học, tưới tiêu, làm đất, phân bón, bảo quản, sau thu hoạch... ngày càng tiến bộ và đã góp phần tích cực vào thâm canh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi theo yêu cầu thị trường. Cùng với những mặt ưu điểm, nông nghiệp Việt Nam còn những mặt hạn chế: Sau 1 năm vào WTO, vốn đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế. Tính chung 10 tháng đầu năm 2007, cả nước mới thu hút được 1,66 tỉ USD đầu tư vào khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản, chiếm 1,47% tổng vốn FDI,tăng không đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Điều đó cho thấy tác động của WTO vào thu hút vốn FDI ở khu vực này chưa có gì khởi sắc. Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài có công nghệ hiện đại vẫn chưa được các nhà đầu tư quan tâm. Nhiều lợi thế chưa được khai thác hợp lý. Lợi thế của nông nghiệp Việt Nam là chi phí lao động thấp so với các nước khác trong khu vực. Lợi thế này nếu được phát huy sẽ là yếu tố giảm giá thành nông sản, tăng sức cạnh tranh trên thị trường sau khi gia nhập WTO. Bên cạnh chi phí vật chất, chi phí lao động sống lại rất thấp do giá trị ngày công trong nông thôn không cao, thu nhập của lao đông nông nghiệp nói chung thấp. Tiềm năng đất đai cũng là thế mạnh của nông nghiệp Việt Nam nhưng chưa được khai thác hợp lý. Diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, lại giảm dần do đô thị hoá và công nghiệp hoá. Sản xuất nhỏ lẻ theo quy mô hộ gia đình nông dân cá thể, phổ biến là tự cung tự cấp, rất khó khăn cho cơ giới hoá và thuỷ lợi hoá nên tỷ suất hàng hoá còn thấp. Sản xuất nông nghiệp chưa gắn chặt với chế biến và thị trường tiêu thụ. Chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng nông nghiệp chưa cao, chưa tương xứng với vị trí và tiềm năng đất đai, nguồn nước, lao động. Sản xuất lúa là ngành chủ lực của nông nghiệp cả nước nhưng sau 1 năm gia nhập WTO vẫn phát triển không đồng đều. Trong khi năng suất, sản lượng và chất lượng lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng tăng khá nhanh thì 6 vùng còn lại đều tăng chậm và giảm trong năm 2007. Cơ cấu giống lúa vẫn còn mang nặng tính truyền thống, chậm chuyển đổi sang sản xuất hàng hoá. Chất lượng lúa gạo tuy có tiến bộ song về cơ bản vẫn còn khoảng cách xa với yêu cầu thị trường. Số lượng và tỷ lệ diện tích gieo cấy các giống lúa gạo chất lượng cao, gạo thơm còn quá ít. Ngay cả gạo thơm Việt Nam sản xuất cũng có nhược điểm là giữ mùi không lâu. Lúa hè thu ở đồng bằng sông Cửu Long có sản lượng lớn lại thu hoạch vào mùa mưa, nhưng tỷ lệ được phơi sấy năm mới chỉ đạt 31% do đó chất lượng không cao. Tỷ lệ thất thoát trong và sau thu hoạch còn lớn 10-13%. Tình hình sản xuất các nông sản khác cũng tương tự. Đa số các khu Nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) vẫn phải sử dụng các hạt giống của những công ty bán và chuyển giao công nghệ. Các giống trong nước chưa có kết quả tốt, chưa xác định được bộ giống phù hợp để chủ động trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Sản phẩm có chất lượng, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm có giá bán không cao, do vậy chưa khuyến khích được sản xuất phát triển. Đầu tư cơ sở vật chất (nhà kính, nhà lưới, giàn che...) giá thành cao nên nhiều doanh nghiệp khó chấp nhận. Nhiều thiết bị, công nghệ nhập tỏ ra chưa phù hợp với điều kiện ở nước ta. Điều kiện cách ly chưa tuyệt đối đã ảnh hưởng rất lớn tới năng suất cây trồng. Tình trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức để phục vụ sản xuất, việc sử dụng các kỹ thuật khai thác gây phá huỷ tự nhiên vẫn diễn ra thường xuyên chưa được kiểm soát ,đe doạ sự đa dạng sinh học và các nguồn gen quý. Các giống cây và con ngoại lai trước khi nhập về chưa được xem xét nghiên cứu kỹ, gây ra thiệt hại cho các giống địa phương như ốc bươu vàng, bèo Nam Mỹ… Chưa xác định được định mức kinh tế - kỹ thuật cho từng loại cây trồng trong từng thời vụ cụ thể. Sản xuất còn nhỏ lẻ, chưa có vùng chuyên canh sản xuất cung cấp khối lượng nông sản lớn, khả năng cạnh tranh của sản phẩm còn thấp. Giá thành sản xuất tăng, dịch bệnh diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của người chăn nuôi. Đặc biệt trong đợt rét đậm rét hại lịch sử tại miền Bắc đầu năm 2008 vừa qua, do sự chủ quan của người nông dân và sự thiếu chính xác, cụ thể của công tác dự báo thời tiết mà tính đến ngày 18/2/2008 đã có hơn 52000 con gia súc bị chết, 146.150 ha lúa, 9.500 ha mạ bị hỏng hoàn toàn vì rét, thiệt hại lên tới 400 tỷ đồng. Nếu trước đó người dân mua bảo hiểm cho gia súc thì ngân sách Nhà nước đã không phải hỗ trợ nhiều, nhưng việc này còn rất xa lạ với ng ười nông dân và chưa có mô hình bảo hiểm nào như vậy tiêu biểu trong thời gian qua. Một số nguyên nhân của những bất cập trong sản xuất nông nghiệp sau 1 năm Việt Nam gia nhập WTO là: - Quy hoạch sản xuất không xuất phát từ điều tra thị trường nên chưa có vùng chuyên canh, thâm canh phù hợp với yêu cầu sản xuất nông sản hàng hoá lớn. Việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn nặng tính tự phát và chưa có sự ràng buộc giữa người sản xuất với người tiêu thụ. - Sản xuất quá manh mún, quy mô quá nhỏ theo hộ gia đình nên rất khó khăn cho áp dụng tiến bộ kỹ thuật thâm canh, thu mua, chế biến và tiêu thụ nông sản. - Sự bất cập giữa sản xuất tăng nhanh về số lượng nhưng chất lượng không tăng, không gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm - Chưa xây dựng được hệ thống dự báo thị trường, hệ thống tiêu chuẩn chất lượng hiện tại không phù hợp với các thị trường xuất khẩu chủ yếu. Việc sản xuất chủ yếu vẫn là tự phát, thiếu sự phối hợp với cơ quan dự báo thời tiết, không quan tâm đến nhu cầu thị trường…. V/ Cơ hội và thách thức Trong bối cảnh hội nhập WTO, nông nghiệp nước ta có thể có thêm nhiều cơ hội phát triển, nhưng cũng có không ít những tác động ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định của nông nghiệp, ảnh hưởng đến an ninh lương thực:  Cơ hội. Gia nhập WTO đem lại nhiều cơ hội cho Việt Nam. Trước hết chúng ta có nhiều thuận lợi hơn cho việc tiếp cận thị trường nông sản thế giới (có kim ngạch tới 548 tỷ USD/năm) do hưởng lợi từ mức thuế suất thấp, nhiều hàng rào phi thuế quan sẽ được bãi bỏ, thị trường xuất khẩu sẽ ngày càng được ổn định. Việc đẩy mạnh xuất khẩu sẽ đem lại cơ hội đổi mới công nghệ sản xuất, chế biến nông sản, từ đó mà nâng cao được năng lực cạnh tranh của các sản phẩm. Tiếp cận thị trường nhiều hơn , ta dễ dàng nắm bắt được nhu cầu của khách hàng trên thế giới. Chúng ta có thể dự báo được thị trường cho hàng xuất khẩu dài hạn trong tương lai, góp phần tạo thuận lợi cho việc hoạch định các chính sách về đầu tư và phát triển sản xuất công - nông nghiệp trong đó bao gồm chính sách về công nghệ. Nông dân sẽ biết được từng lộ trình cắt giảm thuế xuất khẩu, khi nào mặt hàng nào có thuế bằng 0% để định hướng phát triển theo tinh thần cạnh tranh về chất lượng và giá cả. Thêm vào đó người nông dân nước ta cũng sẽ được lợi từ việc chuyển đổi các bí quyết công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Đầu tư nước ngoài sẽ gia tăng, đem vào công nghệ mới của các tập đoàn đa quốc gia, tiên tiến để thúc đẩy ngành chế biến nông sản, nhờ đó giúp mở mang những vùng đất hoang hóa, sản xuất những sản phẩm nông nghiệp độc đáo mà những công ty này đang có thị trường, đưa hàng nông sản Việt Nam ra thị trường thế giới nhiều hơn. Nông dân nghèo canh tác ở các vùng khó khăn sẽ có cơ may phát triển nhờ có những giống mới do các công ty quốc tế áp dụng công nghệ sinh học tạo ra, hoặc tiếp cận dễ dàng hơn với nguồn máy móc vật tư phân bón phong phú, rẻ và chất lượng của thế giới phục vụ cho sản xuất. Mặc dù chúng ta ph ải cắt giảm trợ cấp nông sản xuất khẩu, nhưng một số loại trợ cấp vẫn được bảo lưu. Trừ việc trợ cấp cho xuất khẩu hàng nông sản gạo, cafe, hạt tiêu... chúng ta lại có quyền hỗ trợ n ông dân ở mức lớn. Mức hỗ trợ nông nghiệp có thể lên đến 10% giá trị nông sản là maximum. Ví dụ, hàng nông sản mỗi năm làm ra 12 tỷ đô la. Thì chúng ta sẽ có một khoản tiền tương đương với 1,2 tỷ đô la để hỗ trợ cho nông nghiệp. Ngoài ra còn có quyền dành ngân sách 4.000 tỷ đồng để hỗ trợ hàng năm. Như vậy là có khoảng 20,000 tỷ đồng để hỗ trợ nông dân mỗi năm. Bao gồm: hỗ trợ giống, vốn, chính sách khuyến nông, vận tải, xây dựng các mô hình phát triển nông nghiệp. Việc nhà nước phát triển hạ tầng nông thôn thì nhà nước vẫn không hề cấm, WTO không hạn chế m à còn tranh thủ được sự hỗ trợ của các định chế tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc Tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)...  Thách thức. 1. Cạnh tranh khốc liệt trong và ngoài nước, đòi hỏi về an toàn và chất lượng ngày càng tăng Một khi gia nhập WTO, thị trường Việt Nam sẽ phải mở cửa cho hàng nông nghiệp nước ngoài ồ ạt tràn vào. Vì có sự lựa chọn, cộng với kiến thức của người tiêu thụ ngày càng cao, thị trường - đặc biệt thị trường xuất khẩu - sẽ đòi hỏi những tiêu chuẩn mới vừa cao về vệ sinh thực phẩm và chất lượng, vừa nghiêm khắc về chế độ nuôi trồng và tính bền vững trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Sự cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt, trong khi đó người nông dân hiện nay khi sản xuất không quan tâm đến việc đáp ứng những tiêu chuẩn của thị trường mà hoàn toàn sản xuất theo hướng tự phát vì cái lợi trước mắt, dẫn đến tình trạng hàng nông sản xuất khẩu bị gửi trả lại như thị trường Nhật Bản với sản phẩm tôm đông lạnh. Một ví dụ chúng ta có thể học tập là tại châu úc, Bộ Nông nghiệp New South Wales đã hợp tác với thị trường (siêu thị, chợ đầu mối), nhà sản xuất (nông gia) và giới tiêu thụ để soạn thảo những hệ thống ‘bảo đảm chất lượng’ (Quality Assurance) đáp ứng yêu cầu cho cả ‘ba nhà’. Các hệ thống này đã soạn ra qui trình sản xuất nông nghiệp tốt GAP (Good Agriculture Practice) hoặc qui trình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao (Best Practice) áp dụng hiệu quả vào các ngành sản xuất như ‘Freshcare’ cho rau quả, ‘GrainCare’ cho ngũ cốc, ’Cattlecare’ cho thú nuôi và ‘FlockCare’ cho thịt tươi. Nhờ hệ thống ‘bảo đảm chất lượng’ này mà nhiều nước trên thế giới đã công nhận nông sản Úc là ‘An toàn và Tươi ngon’ (Clean & Green). Với tổng sản lượng lương thực chỉ khoảng 25 tỷ USD/năm, Úc đã đạt một kim ngạch xuất khẩu thần kỳ, đến 70-80%, đem về cho đất nước một ngoại tệ lên đến 18-20 tỷ USD/năm 2. Nguy cơ lạc hậu về công nghệ: Việc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp đang diễn ra rầm rộ, đem lợi ích thực sự đến cho nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước có nền KHKT cao. Sự phát triển này đồng thời lại đẩy một số nước khác - đa số là các nước nghèo đói Á Phi - vào cảnh lạc hậu. Việt Nam phải mau chóng kiểm tra và ứng dụng các kỹ thuật nông nghiệp công nghệ cao để tăng nội lực cho nông nghiệp nước nhà, đồng thời quảng cáo cho khâu tiếp thị khi xuất khẩu. 3. Tăng khả năng lây lan dịch bệnh do hàng hoá nông sản luân lưu ồ ạt khắp nơi. Nếu không có chế độ kiểm dịch nghiêm khắc, đặc biệt chú ý khâu kiểm dịch ở phi trường (Việt Nam có đến gần 3,5 triệu du khách vào năm 2005, Thời báo Kinh tế Việt Nam), dịch bệnh sẽ lây lan rất nhanh, trở thành một quốc nạn, ảnh hưởng trầm trọng đến nền kinh tế quốc dân. Thực tế cho thấy dịch bệnh thường xảy ra ở các nước nghèo vì đã không có một hệ thống kiểm dịch hiệu quả, làm cho việc xuất khẩu nông sản càng thêm khó khăn. Nhìn lại tình trạng kiểm dịch trong điều kiện cúm gia cầm H5N1 hiện nay của VIệt Nam thì thấy đây quả là một thách thức lớn 4. Một số thách thức trong việc phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp công nghệ cao: Nguồn nhân lực chưa được đào tạo cơ bản, chưa có tác phong làm việc trong môi trường công nghiệp. Các giống trong nước chưa có kết quả tốt, chưa xác định được bộ giống phù hợp để chủ động trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Việc phát triển kinh tế tập thể còn chậm, chưa có những tổ chức hợp tác nông dân lớn nên việc đầu tư ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chế biến bảo quản nông sản còn hạn chế. Giá thành cao, sản xuất manh mún là yếu tố khiến ngành nông nghiệp không thể đáp ứng những đơn đặt hàng với số lượng lớn. Áp lực đô thị hoá tăng nhanh, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp. Nếu thu hút vào công nghệ cao, thì lao động nông thôn ít cơ hội. Nếu chọn khu vực nhiều lao động, thì công nghệ thấp. Do đó phải lựa chọn hai xu hướng. Hiện, sản lượng và tốc độ tăng trưởng do yếu tố vốn ngày càng tăng. Còn tốc độ tăng trưởng do năng suất lao động càng ngày càng tụt xuống. Phải làm sao để đóng góp của lao động vào tăng trưởng phải cao lên thay vì đóng góp do vốn là bài toán tăng trưởng. Các giống cây, con mới nhập vào nước ta bán rất đắt, bà con lại không thể tùy tiện nhân giống vì vấn đề bản quyền là những trở ngại lớn của ngành nông nghiệp 5. Cơ chế bảo hộ cho các đối tượng sở hữu công nghệ còn yếu, thể chế bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp chưa tạo đủ lòng tin cho các nhà đầu tư nước ngoài. Điều này liên quan đến hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật trong lĩnh vực CGCN. Hệ thống luật pháp liên quan đến lĩnh vực này đang trong quá trình hoàn thiện cho nên khó có thể nói đến tính chuẩn mực của các qui định pháp luật theo hướng tương thích với các nước trong khu vực và phù hợp với thông lệ quốc tế. 6. Khả năng sinh lợi của hoạt động CGCN trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn còn thấp do thị trường nông nghiệp và nông thôn chưa phát triển, tình trạng hàng nông sản được sản xuất ra khó tiêu thụ, bị “rớt giá” vẫn đang có tính chất phổ biến làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài. Nhà nước chưa có cơ chế điều tiết hoạt động sản xuất và cung ứng hàng nông sản phù hợp với nhu cầu của thị trường. Nền nông nghiệp và nông thôn Việt Nam đang chuyển dần từ một nền nông nghiệp và nông thôn tự cấp, tự túc sang nền nông nghiệp và nông thôn sản xuất hàng hóa, đổi mới cơ chế quản lý và từng bước chủ động hội nhập vào khu vực và thế giới nên sẽ gặp phải không ít những khó khăn trong quá trình chuyển đổi. 7. Chưa có chiến lược CGCN vào lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn hữu hiệu. Các đề xuất vẫn còn mang nặng tính định hướng hoặc các giải pháp đưa ra chưa phát huy tác dụng như mong muốn. Chẳng hạn, các giải pháp để phát triển năng lực nội sinh của công nghệ giống như kinh nghiệm của các nước đi trước chưa được phát huy tác dụng tốt. Công tác dự báo, dự đoán sự phát triển của công nghệ trong nông nghiệp và nông thôn Việt Nam để làm chỗ dựa cho việc hoạch định các chính sách chưa được coi trọng. 8. Phía đối tác nước ngoài không phải lúc nào cũng sẵn sàng chuyển giao cho Việt Nam các loại giống cây con mới hoặc các dây chuyền công nghệ mới trong sản xuất, chăm sóc, thu hoạch, chế biến, bảo quản, công tác thủy lợi.... 9. Vấn đề giải phóng mặt bằng, cải tạo đất cho các dự án nông nghiệp, vấn đề tái định cư cho nông dân ở những nơi sử dụng đất ở để triển khai dự án còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Nhận thức của các tầng lớp dân cư vẫn còn rất khác nhau trong việc thu hút vốn FDI và trong việc tiếp nhận công nghệ chuyển giao từ nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp do phần lớn các dự án liên quan đến nông nghiệp và nông thôn thường được đặt ở các vùng nông thôn, dân trí thấp, thu nhập thấp. Thông thường, những người nông dân ở các vùng này quan niệm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài vào làm ăn tại Việt Nam cũng đồng nghĩa với việc “tiếp tay” cho chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Vì thế, những người dân ở vùng có dự án triển khai không hoàn toàn ủng hộ sự hoạt động của dự án. Tình trạng “phép vua thua lệ làng” vẫn còn đọng lại ở không ít địa phương trong cả nước. Gia nhập WTO là một quá trình tất yếu đối với nền kinh tế Việt Nam, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp với không ít thuận lợi và khó khăn. Đã có nhiều giải pháp, chương trình hỗ trợ cho khu vực nông nghiệp, nông thôn được xây dựng nhưng vấn đề là nhanh chóng hiện thực hóa các chính sách, giải pháp trợ giúp cho người dân, doanh nghiệp để tăng cường năng lực sản xuất, cạnh tranh với sản phẩm nông nghiệp của các nền kinh tế khác. Khi đứng vững trên sân chơi WTO thì kinh tế nông nghiệp sẽ tiếp tục trở thành động lực chính thúc đẩy công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam. Ví dụ sinh động từ Trung Quốc cho thấy, trái ngược với dự báo của các chuyên gia kinh tế về một sự suy sụp trong ngành nông nghiệp nước này khi gia nhập WTO, một số ngành nông sản tăng vọt xuất khẩu, đe doạ cả nông sản Hoa Kỳ. Hiện Trung Quốc đang tiếp tục tăng cường đầu tư mạnh vào nông nghiệp về cơ sở hạ tầng, vốn, kỹ thuật, bãi bỏ thuế và giảm phí nhằm tạo ra một nền kinh tế nông nghiệp có sức cạnh tranh mạnh mẽ trong WTO. VI/ Định hướng phát triển nông nghiệp nông thôn trong thời gian tới: Để tiếp tục đưa nông nghiệp và nông thôn phát triển vững chắc trong quá trình hội nhập, Nghị quyết 09/2000/NQ - CP ngày 15 tháng 6 năm 2000 của Chính phủ Việt Nam đã nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn là nhằm mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá mạnh, đa dạng, có chất lượng, hiệu quả cao và bền vững dựa trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh; áp dụng khoa học công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng trong nước và khả năng cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường quốc tế; nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, lao động và nguồn vốn, nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân, thực hiện tốt các nhiệm vụ do Đại hội Đảng lần thứ IX đã đề ra. Các mục tiêu cụ thể tới năm 2010 - Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp :4 - 4,5 %/năm - Tốc độ tăng trưởng kinh tế nông thôn: 7,5 - 8 %/năm Đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, đáp ứng đủ nhu cầu đa dạng của nhân dân về các loại lương thực, thực phẩm, bao gồm cả cho đồng bào ở các vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Phát huy lợi thế so sánh đã tạo lập được, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả xuất khẩu, tới năm 2010, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản đạt từ 9 - 10 tỷ USD. Tận dụng khả năng sẵn có, kết hợp áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ để phát triển các loại cây trồng vật nuôi, ngành nghề thay thế nhập khẩu, nâng cao hợp lý mức độ tự túc, khai thác thị trường trong nước đối với các sản phẩm: bông, thuốc lá, dầu ăn, nguyên liệu giấy, sữa… Kế hoạch phát triển Nông nghiệp công nghệ cao đến 2015 Tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thủy sản; phát triển mạnh các cây, con chủ lực theo hướng Nông nghiệp công nghệ cao. Đẩy mạnh chương trình giống cây, giống con chất lượng cao, xây dựng và định hình các vùng sản xuất giống, hình thành hệ thống sản xuất giống hợp lý với sự tham gia của các tổ chức và cá nhân thuộc các thành phần kinh tế. Gắn nghiên cứu với ứng dụng và chuyển giao công nghệ, gắn chọn giống, tạo giống, bình tuyển giống với thị trường tiêu thụ, thông qua hình thức kiểm định công nhận giống. Từng bước hình thành trung tâm giống khu vực. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng khu Nông nghiệp công nghệ cao tại các tỉnh, thành phố có điều kiện. ứng dụng công nghệ cao trong các lĩnh vực trồng trọt như: Canh tác rau bằng kỹ thuật thuỷ canh và màng dinh dưỡng; sản xuất các loại hoa, cây cảnh và cây ăn trái sạch bệnh bằng công nghệ cấy mô, vi ghép… ứng dụng kỹ thuật trồng cây nhiều tầng để tận dụng không gian, sản xuất các loại nấm ăn và nấm dược liệu bằng công nghệ mới. Đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu và hoàn thiện các quy trình kỹ thuật trồng trọt, sơ chế và bảo quản, chế biến các nông sản bảo đảm chất lượng cao. VII/ Những kiến nghị và đề xuất Chính phủ Việt Nam đã đề ra chỉ tiêu xuất khẩu nông và lâm sản vào năm 2010 là 7 tỷ USD trong đó chỉ tiêu xuất khẩu rau quả là 600 triệu USD (Thời báo Kinh tế Việt Nam 29/6/2005 và 27/72005). Nếu biết rằng năm 2004 các nước Á châu đã sản xuất được 600 triệu tấn rau và 200 triệu tấn quả sẵn sàng cạnh tranh với Việt Nam, thì việc nhanh chóng đưa KHKT nông nghiệp Việt Nam ngang tầm thế giới là một tất yếu. Muốn được như vậy, rõ ràng Việt Nam cần phải có được một hệ thống chính sách phát triển công nghệ phù hợp với tình hình hiện nay và phải lôi kéo được sự yểm trợ của KHKT thế giới. Sau đây là một vài đề xuất để góp phần xây dựng chính sách công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam: ♦ Cần tiến hành tổng kết, đánh giá đầy đủ hơn về hoạt động CGCN trong nông nghiệp, rút ra những bài học thành công và chưa thành công để nâng cao hơn nữa những nhận thức về lợi ích và chi phí của hoạt động CGCN trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi. ♦ Nâng cao nhận thức của các tầng lớp dân cư về việc tiếp nhận công nghệ chuyển giao thông qua các dự án đầu tư nước ngoài. Điều này đòi hỏi công tác giáo dục, tuyên truyền về những lợi ích của hoạt động CGCN đối với từng cá nhân và cộng đồng cần được thực hiện rộng rãi và kiên trì hơn. Xây dựng các quỹ hỗ trợ, các giải thưởng tôn vinh những nhà khoa học có nhiều cống hiến cho sự phát triển côngngh ệ , tạo nhiều ưu đãi cho sinh viên theo học ngành này. ♦ Tổ chức các khoá tập huấn để nâng cao kiến thức tiếp nhận công nghệ chuyển giao trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ chế biến nông sản và phát huy năng lực nội sinh của công nghệ. Từng bước xây dựng đội ngũ các chuyên gia, các nhà khoa học có đủ khả năng phát triển các loại công nghệ được chuyển giao phù hợp với điều kiện đặc thù của Việt Nam. Đầu tư cây con giống mới, tổ chức hướng dẫn nông dân xây dựng các mô hình ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất Tổ chức các buổi tham quan các mô hình đạt hiệu quả, nhất là các mô hình của các nước tiên tiến, tạo điều kiện cho nông dân học tập, trao đổi những vấn đề có liên quan trong sản xuất. ♦Qui hoạch và chủ động xây dựng các khu nông nghiệp tập trung, các khu nông nghiệp công nghệ cao để tạo địa bàn cho việc tiếp nhận CGCN một cách thuận lợi đặc biệt là các loại công nghệ cao và đội ngũ nhân lực chất lượng cao. ♦Phát triển mạnh các hoạt động liên doanh, liên kết bổ sung những phần kiến thức về công nghệ trong nông nghiệp và nông thôn mà Việt Nam còn thiếu. Đồng thời cần chú trọng nhiều hơn đến việc khai thác các thế mạnh về thị trường tiêu thụ, kiến thức quản lý các loại dây chuyền công nghệ, tiếp nhận các loại tài liệu cũng như quá trình đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình khai thác và sử dụng công nghệ của đối tác nước ngoài để phát huy thế mạnh của Việt Nam. Quá trình này cần gắn với hoạt động nội địa hóa công nghệ một cách toàn diện. ♦Để ngành nông nghiệp của nước ta phát triển, bên cạnh sự đầu tư từ chính bản thân của từng cơ sở, cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ Nhà nước: - Tăng cường hợp tác giữa cơ quan nghiên cứu với các cơ sở sản xuất để ứng dụng và chuyển giao nhanh các kết quả nghiên cứu phục vụ sản xuất. - Sớm chuẩn hóa các tiêu chí, tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng và phương pháp giám định chất lượng - Nhà nước cần khuyến khích, hỗ trợ chế tạo thiết bị trong nước, đào tạo nhân lực, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm... - Cần đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, giảm thuế, có chính sách ưu đãi về thuê chuyên gia, thu hút chất xám, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển khu Nông nghiệp công nghệ cao. ♦ Gia tăng sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp bằng các biện pháp như cải cách hành chính, tăng cường hệ thống luật pháp trong nước cho phù hợp tiêu chuẩn của Hiệp định về Quyền sở hữu trí tuệ… ♦Chú trọng xây dựng hệ thống dự báo thị trường tốt, nâng cao trình độ gắn kết của sản xuất với thị trường, giữa người nông dân với cơ quan khí tượng thuỷ văn, các công trình thuỷ điện, xây dựng hệ thống cảnh báo thiên tai đến tận cơ sở cũng như chính sách bảo hiểm thiệt hại về cây con giống. ♦Nâng cao trình độ quản lý, cải tiến phương pháp, quy trình quản lý và kiểm dịch, giám sát sản xuất hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường. ♦Nhanh chóng huấn luyện và chuyển giao công nghệ cho nông nghiệp Việt Nam qua các chương trình hợp tác quốc tế và sử dụng hiệu quả các chương trình này. Nếu trong những năm qua Việt Nam đã quan tâm nhiều đến việc tăng năng suất. Thì nay phải quan tâm đến việc chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu sản xuất, ứng dụng đại trà các kỹ thuật nông nghiệp công nghệ cao để ‘bảo đảm chất lượng’ các dây chuyền sản xuất. Một khi thị trường tin tưởng nông sản Việt Nam đã được kiểm tra nghiêm túc về an toàn vệ sinh và chất lượng, lúc đó thương hiệu Việt Nam mới thực sự có giá trị, nông sản Việt Nam mới có cơ hội cạnh tranh trong nước và thâm nhập vào thị trường to lớn của thế giới. ♦Cần phải đào tạo các nhà khoa học nông nghiệp, cung cấp dịch vụ nông nghiệp công nghệ cao cho sản xuất nông trại, tư vấn về môi trường và chính sách phát triển nông nghiệp.Nghiên cứu về nông nghiệp bền vững cho các ngành lúa gạo, rau quả, chăn nuôi, thủy sản v.v... nhắm vào năng suất cao, chất lượng tốt, bảo đảm an toàn vệ sinh . ♦Cần sử dụng hiệu quả các chương trình hợp tác quốc tế: Việt Nam chúng ta đã có rất nhiều sự hợp tác, giúp đỡ từ nước ngoài. Chúng ta cần sử dụng một cách hiệu quả chương trình hợp tác quốc tế. Như Bộ Nông nghiệp New South Wales đã có nhiều chương trình hợp tác giúp Việt Nam huấn luyện chuyên viên, chuyển giao công nghệ để Việt Nam cải thiện ngành nông nghiệp, theo kịp đà phát triển của thế giới, sẵn sàng đối phó với hoàn cảnh mới khi gia nhập WTO. Với chương trình do chính phủ Úc tài trợ này, cần rà soát các kỹ thuật công nghệ cao của Úc để nghiên cứu, kiểm tra và ứng dụng hiệu quả tại Việt Nam. Các dự án do Việt Nam đề nghị phải được Bộ NN & PTNT hướng dẫn, sâu sát với thực tế và kết hợp với dự án đầu tư nông nghiệp của tỉnh, thành phố trong nước. Làm sao để tất cả dự án cùng hướng đến một mục đích chung là cải thiện được chất lượng và bảo đảm an toàn vệ sinh để nông sản Việt Nam có tính cạnh tranh cao. Hiện nay Việt Nam đã đạt được 10% thị trường gạo thế giới và có khả năng vượt đích 1 tỷ USD (Thời báo Kinh tế Việt Nam 1/8/2005). Nỗ lực đạt thêm 5% thị trường rau quả thế giới trong vòng 5 năm tới để đạt kim ngạch xuất khẩu 5 tỷ USD, là điều không phải Việt Nam không làm được nếu biết kết hợp nhuần nhuyễn các chương trình hợp tác quốc tế với đầu tư nông nghiệp trong nước. C/ KẾT LUẬN Khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh, bền vững đất nước. Ngành nông nghiệp Việt Nam muốn phát triển chắc chắn phải ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, nhất là trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay. Trong khuôn khổ báo cáo này, chúng tôi chỉ xin nêu lên vài nét nổi bật về công nghệ và chuyển giao công nghệ trong ngành nông nghiệp tại Việt Nam thời gian qua và những đề xuất kiến nghị góp phần xây dựng chính sách công nghệ cho thời gian tới. Mặc dù còn nhiều hạn chế,tồn tại và yếu kém nhưng nông nghiệp Việt Nam cũng đã có những thành tựu đáng tự hào trong việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất. Với những nguồn lực về con người và tự nhiên sãn có, cùng với quyết tâm và ý chí vươn ra biển lớn của cả dân tộc, Việt Nam chắc chắn sẽ thành công trong công cuộc hiện đại hoá nền nông nghiệp, góp phần vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa đất nước vững bước tiến lên Chủ nghĩa xã hội.
- Xem thêm -