Công khai và minh bạch các báo cáo tài chính - giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

  • Số trang: 100 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 60 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

T R Ư Ờ N G ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH FOREIGN TRHDE ÙNIVERSITy KHOA LUÂN TÓT NGHIẼP Đ Ề TÀI : CÔN'ĩ KHAI VỜ MINH BỢCH CÁC BÁO các TÀI CHÍNH-QIẢI Pháp NÂNG cao NÂNG Lực CANH TRANH cản DOANH NGHIỆP SINH VIÊN THỰC HIỆN : Đ ỗ THÚY HƯƠNG LỚP : A3K40QTKD GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: THS. NGUYỄN THỊ THU HẰNG HA NỘI - 2005 MỤC LỤC Trang LỜI NÓI Đ Ấ U Ì Chương ì: NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG VE BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP V À VIỆC C Ô N G KHAI MINH B Ạ C H C Á C B Á O C Á O TÀI C H Í N H DOANH NGHIỆP 4 ì. TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 4 Ì. Thế nào là báo cáo tài chính doanh nghiệp 4 2. Mục đích và ý nghĩa của các báo cáo tài chính doanh nghiệp 7 3. Nội dung của các báo cáo tài chính doanh nghiệp 9 li. CÔNG KHAI VÀ MINH BẠCH CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP l i Ì. Sự cân thiết phải công khai và minh bạch các báo cáo tài chính doanh nghiệp 11 2. Nội dung của việc công khai và minh bạch các báo cáo tài chính doanh nghiệp 13 2.1. Thế nào là công khai và minh bạch các báo cáo tài chính 13 doanh nghiệp 2.2. Mục đích và yêu cầu của việc công khai và minh bạch các báo cáo tài chính doanh nghiệp 15 2.3. Hạn chế của việc công khai và minh bạch các báo cáo tài chính doanh nghiệp 17 3. Nhu cầu thực tiễn về vấn đề công khai và minh bạch các báo cáo tài chính đặt ra đối vỦi các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay 19 HI. KINH NGHIỆM THỰC TIỄN CỦA MỘT số NƯỚC TRONG KHU Vực V À T H Ế GIỚI V Ề C Ô N G KHAI V À MINH BẠCH B Á O C Á O TÀI CHÍNH 22 Chương lì: THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỂ CÔNG KHAI VÀ MINH BẠCH C Á C B Á O C Á O TÀI C H Í N H C Ủ A C Á C DOANH NGHIỆP VIỆT N A M \ 29 ì. ĐẶC ĐIỂM CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY 29 1. Khái niệm về doanh nghiệp 29 2. Phân loại doanh nghiệp 31 3. Đặc điểm của các doanh nghiệp Việt Nam 34 l i . THỰC TRẠNG V Ề VẤN Đ Ề C Ô N G K H A I V À M I N H BẠCH C Á C B Á O C Á O T A I CHÍNH T Ạ I C Á C DOANH NGHIỆP VIỆT N A M 36 Ì. Quản lý của Nhà nước về vấn đề cõng khai và minh bạch các báo cáo tài chính doanh nghiệp 36 2. Quan điểm của các doanh nghiệp Việt Nam về vấn đề công khai và minh bạch các báo cáo tài chính 41 3. Thực trạng về vấn đề công khai và minh bạch các báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp Việt Nam 45 3.1. Doanh nghiệp Nhà nước 45 3.1.1. Thực trạng hoạt động sân xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước 45 3.1.2. Tình hình công khai và minh bạch báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Nhà nước 47 3.2. Doanh nghiệp cố phẩn 49 3.2.1. Vài nét về thị trường chầng khoán ở Việt Nam 49 3.2.2. Các doanh nghiệp cổ phần chưa niêm yết trên thị truồng chầng khoán 51 3.2.3. Các doanh nghiệp cổ phần niêm yết trên thị trường chầng khoán 52 3.3. Doanh nghiệp có vốn đẩu tưnước ngoài 57 3.3.1. Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 57 3.3.2. Tình hình công khai và minh bạch các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 58 3.4. Doanh nghiệp khác 59 3.4.1. Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp khác 59 3.4.2. Tình hình công khai và minh bạch các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp khác 61 HI. ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC CÔNG KHAI V À MINH BẠCH B Á O C Á O TÀI CHÍNH C Ủ A C Á C DOANH NGHIỆP VIỆT N A M 62 1. Nhận xét chung 62 2. Một số vấn đề còn tổn tại 64 3. Phân tích một số nguyên nhân cơ bân của thực trạng trên 66 MỘT số GIẢI PHÁP VÀ KIÊN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆC CÔNG KHAI VÀ MINH BẠCH BÁO C Á O TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 69 Chương HI: ì. C Á N C Ứ Đ Ê X U Ấ T K I Ế N NGHỊ V À GIẢI P H Á P 69 Ì. y êu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế 69 2. Định hưấng của Nhà nưấc 71 2. Một số thuận lợi và khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam về vấn đề công khai và minh bạch các báo cáo tài chính trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. 73 2.1. Những thuận lợi 73 2.2. Những khó khăn 74 li. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP 76 1. Một số kiến nghị đối vấi Nhà nưấc 76 1.1. Hoàn thiện và sửa đổi những yêu cầu về báo cáo tài chính đối với doanh nghiệp sao cho phù hợp với mọi loại hình doanh nghiệp .' '..76 1.2. Tạo ra môi trường kình doanh minh bạch 77 1.3. Yêu cầu kiểm toán thường niên hoặc định kỳ bựt buộc đối với các doanh nghiệp Việt Nam 77 1.4. Nhà nước phải có những giải pháp tích cực đề cải thiện và đẩy nhanh quá trình cổ phẩn hoa các doanh nghiệp Nhà nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này lên niêm yết trên thị trường chứng khoán 78 Ì .5. Phải có biện pháp thúc đẩy các doanh nghiệp lên niêm yết trên thị trường chứng khoán 79 1.6. Phải có quy định về công bố thông tin và có chế tài xử phạt phù hợp với thực tiễn doanh nghiệp và thị trường 79 1.7. Các trung tâm giao dịch chứng khoán cần phải hoàn thiện hơn nữa hệ thống và các kênh cung cấp thông tin về các công ty niêm yết đến các nhà đầu tư. 80 Ì .8. Các trung tăm giao dịch cẩn phải có giải pháp đảm bảo tính kịp thời của thông tin được công bố và bảo mật thông tin để đảm bào quyền lợi cho các nhà đầu tư và các doanh nghiệp niêm yết. ..80 2. Một số giải pháp đối vấi doanh nghiệp 81 2.1. Đối với doanh nghiệp Nhà nước 81 2.2. Đối với doanh nghiệp cổ phần 83 2.3. Đối với doanh KẾT LUẬN nghiệp có vốn đẩu tư nước ngoài 2.4. Đối với các doanh nghiệp khác 89 86 87 Ký Hiệu VIỄÍ TẮT BCTC Báo cáo tài chính DN Doanh nghiệp DNNN Doanh nghiệp Nhà nước TTCK Thị trường chứng khoán Ì LỜI NÓI ĐẦU Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà tăng trưởng và phát triển, nhiều lĩnh vực hoạt động đang rất thiếu và cần vốn đầu tư. Gia nhập K h u vực mậu dịch tự do A S E A N ( A F T A ) và Tổ chức thương mại t h ế giới ( W T O ) sẽ tạo điều kiện cho các dòng vốn nước ngoài chảy vào Việt Nam nhiều hơn. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, sự cạnh tranh ngày càng gay gủt giữa các công ty để thu hút vốn đầu tư đã gây ra không ít khó khăn cho các nhà đầu tư trong việc lựa chọn. Doanh nghiệp nào biết chú trọng xây dựng hình ảnh của mình thông qua việc cung cấp thông t i n đẩy đủ, chính xác và cập nhật sẽ được nhà đầu tư đánh giá cao hơn, từ đó cơ hội nhận được sự ủng hộ bằng hình thức góp vốn trực tiếp sẽ cao hơn. Chính vì vậy, việc cõng khai và minh bạch các báo cáo tài chính là điều hết sức cấn thiết để nâng cao giá trị của doanh nghiệp trong con mủt các nhà đầu tư. Điều này cũng có thể được coi là một lợi thế để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tránh nguy cơ bị chèn ép, thôn tính k h i hội nhập. Đ ố i với thực tiễn Việt Nam hiện nay, vấn đề công khai và minh bạch các báo cáo tài chính doanh nghiệp dang thực sự trở thành nhu cẩu cấp thiết hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam dường như chưa thực sự coi trọng đúng mức đối với vấn đề này. Trên thực tế, vấn đề công khai và minh bạch các báo cáo tài chính m ớ i chỉ được nói đến trong mấy năm gần đây, kể từ sự ra đời của thị trường chứng khoán V i ệ t Nam vào năm 2000. Chính vì vậy, công tác công khai và m i n h bạch các báo cáo tài chính doanh nghiệp hiện vẫn đang tồn tại rất nhiều bất cập. Vấn đề này đang thực sự rất cần đến sự lưu tâm của doanh nghiệp và chính phủ để có thể khủc phục những yếu kém và tồn tại hiện có. Điều đó sẽ tạo điều kiện phát triển cho các doanh nghiệp và thị trường chứng khoán còn non trẻ của Việt Nam. 2 Xuất phát từ thực tiền trên cùng với mong muốn tìm hiểu về công tác công khai và m i n h bạch các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam để phần nào góp phẩn tìm ra những giải pháp hiệu quả đẩy mạnh và hoàn thiện hơn nữa vấn đề này, tác giả đã lựa chọn đề tài "Công khai và minh bạch các báo cáo tài chính-giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp" cho khóa luận tốt nghiệp của mình. Mục đích của khóa luận là hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề cơ bản về vấn đề công khai và minh bạch các báo cáo tài chính, đánh giá đúng thực trạng tình hình công khai và minh bạch các báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp V i ệ t Nam hiện nay. Từ đó có thể đưa ra mứt số giải pháp để đẩy mạnh và hoàn thiện công tác công khai và minh bạch các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, góp phẩn phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam và tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong việc thu hút vốn đầu tư trong bối cảnh hứi nhập sắp tới. Khóa luận sẽ tập trung nghiên cứu thực trạng tình hình công khai và minh bạch các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, so sánh với việc thực hiện công tác công khai và minh bạch các báo cáo tài chính trên thế giới, từ đó có cơ sở lý luận để xác định và luận giải những giải pháp đồng bứ nhằm thiết lập những điều kiện cần thiết để phát triển cóng tác công khai và minh bạch các báo cáo tài chính ở Việt Nam. Đ ể thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và các phương pháp cụ thể khác như: phân tích k i n h tế, thu thập và tổng hợp thông tin, thống kê, so sánh, đánh giá, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn... Khóa luận cũng sử dụng các tài liệu được tổng hợp từ sách báo trong nước và nước ngoài, từ báo cáo của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực có liên quan. 3 V ớ i phương pháp nghiên cứu khoa học trên, khóa luận đã được xây dựng với bố cục gồm 3 chương chính: Chương ì : Những vấn đề chung về báo cáo tài chính doanh nghiệp và việc công khai minh bạch các báo cáo tài chính doanh nghiệp Chương l i : Thực trạng về vấn đề công khai và minh bạch các báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp Việt Nam Chương i n : Một số giải pháp và kiến nghị đôi với việc công khai và minh bạch các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam Đây là một đề tài tổng quát, đòi hỏi kiến thức rộng, nhiều tài liệu tham khảo cũng như thời gian nghiên cứu dài, vì vậy tác giả đã gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện. Mặc dù tác giả đã rạt c ố gắng nhưng do những hạn chế nhạt định về lý luận và thiếu k i n h nghiệm thực tiễn nên khóa luận này chắc chắn không thể tránh k h ỏ i những thiếu sót, khiếm khuyết. Bởi vậy, tác giả rạt mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cùng các bạn sinh viên trường Đ ạ i học Ngoại thương, những ai quan tâm tới vạn đề này để bài khóa luận được hoàn chỉnh hơn nữa. Đ ể đạt được kết quả ngày hôm nay, không thể thiếu sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng. Bởi vậy, tác giả x i n chân thành gửitòicảm ơn sâu sắc tới Cô, người đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ tác giả hoàn thành khóa luận này. Hà Nội, tháng 11 năm 2005. Sinh viên Đô Thúy Hương 4 Chương ì: N H Ữ N G V Â N Đ Ể CHUNG V Ề B Á O C Á O TÀI C H Í N H DOANH NGHIỆP V À VIỆC C Ô N G KHAI MINH B Ạ C H C Á C B Á O C Á O TÀI C H Í N H DOANH NGHIỆP ì. TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Thế nào là báo cáo tài chính doanh nghiệp Đ ể tìm hiểu về báo cáo tài chính (BCTC) doanh nghiệp thì việc xem xét một khái niệm tổng quát hơn - báo cáo kế toán của doanh nghiệp là điều cần t hiết . Báo cáo kế toán là kếtquả của công tác k ế toán trong một kỳ k ế toán, là nguồn thông t i n quan trọng không chỉ cho doanh nghiệp m à còn cho nhiều đối tượng ở bên ngoài có quyền l ợ i trạc t iếp hoặc gián tiếp đối với hoạt động của doanh nghiệp. Căn cứ vào mục đích thông tin cũng như tính pháp lệnh của thông tin được cung cấp thì báo cáo k ế toán của doanh nghiệp được phân thành: Báo cáo k ế toán quản trị và báo cáo k ế toán tài chính. Háo cáo kế toán quản trị là những báo cáo phục vụ cho yêu cẩu quản trị và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà quản lý doanh nghiệp'". Báo cáo kế toán quản trị cung cấp những thông t i n cần thiếtcho nhà quản lý để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm soát hoạt động trong doanh nghiệp; nó tồn tại vì l ợ i ích của nhà quản lý. Nói một cách tổng quát, nó cung cấp những thông tin phục vụ cho mục tiêu ra quyết định của nhà quản lý, và chủ yếu là định hướng cho tương lai. Những quyết định sáng suốt về những vấn để như giá cả trong tương lai, số lượng sản phẩm đầu ra, kết cấu sản phẩm tiêu thụ, vấn đề quản lý vốn ....tất cả đều liên quan đến việc đánh giá các thông tin k ế toán quản trị. Vì thông tin chỉ được chuẩn bị và sử dụng riêng cho nhà quản lý nên không cần qua kiểm toán độc lập. Do không cần "' TS. Đoàn Ngọc Quế, TS. V õ Văn Nhị, Th.s Lý thị Bích Châu, Hướng dân lâp-đọc-phân tích báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị, N X B Thống kê, 2001, t r . l l 5 dược k i ể m toán độc lập và khía cạnh sở hữu cá nhân của thông tin kế toán quản trị, nên việc lập những báo cáo này không cần thiết phải tuân theo những nguyên tắc k ế toán nhất định. Nói cách khác, nó có tính linh hoạt, đa dạng và không phụ thuộc vào những nguyên tắc k ế toán. Điều cơ bản của loại báo cáo này là giúp cho nhà quản lý thấy được những gì đã, đang và sẽ diễn ra trong hoạt động của doanh nghiệp gắn liền vối từng bộ phận, từng chức năng nhất định. Loại báo cáo kế toán thứ hai của doanh nghiệp là báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính là một hệ thống thông t i n được x ử lý bởi hệ thống k ế toán tài chính, nhằm cung cấp những thông tin tài chính có ích cho các đối tượng sử dụng để đưa ra các quyết định kinh tê '. Trong hệ thống kế toán 12 doanh nghiệp V i ệ t Nam, BCTC được xác định là loại báo cáo tổng hợp về tình hình tài sản, nguồn vốn cũng như tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, được thể hiện thông qua một hệ thống các chỉ tiêu có m ố i liên hệ vối nhau do Nhà nưốc qui định thống nhất và mang tính pháp lệnh. N ó cung cấp cho người sử dụng thấy được bức tranh toàn cảnh về tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài ra, bản chất của BCTC còn được V i ệ n k i ể m toán viên công chứng Hoa K ỳ ( A I C P A ) phát biểu như sau: " H ệ thống BCTC được lập nhằm mục đích phục vụ cho việc xem xét định kỳ hoặc báo cáo về quá trình hoạt động của nhà quản lý, về tình hình đầu tư trong kinh doanh và những kết quả đạt được trong thời kỳ báo cáo. Hệ thống BCTC phản ánh sự kết hợp của những sự kiện được ghi nhận, những nguyên tắc k ế toán và những đánh giá của cá nhân, m à trong đó những đánh giá và nguyên tắc kế toán được áp dụng có ảnh hưởng chủ yếu đến việc ghi nhận các sự kiện. Những đánh giá đúng đắn tùy thuộc vào khả năng và sự trung thực của người lập báo cáo, đồng thời phụ thuộc vào sự tuân thủ đối vối những nguyên tắc k ế TS. Đoàn Ngọc Quế, TS. V õ Văn Nhị, Th.s Lý thị Bích Châu, Hưống dẫn lập-đọc-phân tích báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị, N X B Thống kẽ, 2001, tr. 11 <2) e toán đã được chấp nhận rộng rãi". Hai tác giả Bryan Carsberg và Susan Dev cũng đã nêu lên bản chất của BCTC như sau: H ệ thống BCTC được thiết k ế để trình bày những kết quả xảy ra trong quá k h ứ và là kênh truyền đạt thông tin chính của những hoạt động quản lý với thếgiới bên ngoài. BCTC được yêu cẩu phải tuân thủ luật công ty, quy chế của thị trường chứng khoán của công ty được niêm yết. Vì thế, việc kiểm toán BCTC nên được yêu cọu bởi luật pháp, bởi vì nhà quản lý có thể là một nhóm khác biệt với những cổ đông, những nguôi đã giao phó tài sản của họ cho nhà quản lý. BCTC được yêu cọu phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán bên ngoài, nên khả năng có thể thẩm tra là một thuộc tính chủ yếu của những con số xuất hiện trên BCTC. T ó m lại, bản chất của BCTC là phản ánh các sự kiện xảy ra trong quá khứ trôn cơ sở các nguyên tắc kếtoán đã được thừa nhận và những đánh giá của cá nhân, nhằm cung cấp thông tin tài chính cho các đối tượng có nhu cẩu sử dụng thông tin của doanh nghiệp. M ộ t mặt do thông tin trình bày trên BCTC chủ yếu chịu sự chi phối bởi những đánh giá của người lập BCTC, mặt khác do có sự tách biệt giữa sự sở hữu và khả năng kiểm soát của những người cung cấp vốn cho doanh nghiệp, nên BCTC được lập đòi hỏi phải dược k i ể m toán bởi một tổ chức kiểm toán độc lập. Khác với báo cáo kê toán quản trị, mục tiêu của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin hữu ích về tình hình tài chính (tài sản và nguồn vốn), kết quả hoạt động tài chính cũng như những thay đổi về tình hình tài chính của một doanh nghiệp cho nhiều đối tượng sử dụng trong việc ra các quyết định kinh doanh. BCTC phục vụ cho yêu cọu quản lý của doanh nghiệp cũng như của các đối tượng ở bên ngoài, nhưng chủ yếu là phục vụ cho các đối tượng ở bên ngoài. BCTC là bắt buộc, được nhà nước quy định thống nhất về danh mục các báo cáo, biểu mẫu và hệ thống các chỉ tiêu, phương pháp lập, nơi gửi báo cáo và thời gian gửi báo cáo (quý, năm). 7 2. Mục đích và ý nghĩa của các báo cáo tài chính d o a n h nghiệp Hệ thống BCTC có một ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ đối v ớ i doanh nghiệp m à còn đối với những đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như các cơ quan quản lý N h à nước, các nhà đầu tư, các chủ nợ, nhà quản lý, k i ể m toán viên độc lập và các đối tượng khác có liên quan. BCTC sử dụng ở Việt N a m về cơ bản có sằ tương đổng với chuẩn mằc k ế toán quốc t ế (IASC), nhằm tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nguồn vốn, công nợ; tình hình và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh: những biến động về tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán. Bên cạnh đó, BCTC cũng cung cấp những thông tin cần thiết nhất phục vụ cho các đối tượng khác nhau, cụ thể là: - Đối với Nhà nước, BCTC cung cấp thông tin cẩn thiết giúp cho việc thằc hiện chức năng quản lý vĩ m ô của Nhà nước đối v ớ i nền kinh tế, giúp cho các cơ quan tài chính Nhà nước thằc hiện việc k i ế m tra định kỳ hoặc đột xuất đối với hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời làm cơ sở cho việc tính thuế và các khoản nộp khấc của doanh nghiệp đối với ngân sách N h à nước. BCTC giúp nhà nước có cái nhìn cụ thể, chính xác về doanh nghiệp để từ dó có định hướng phát triển kinh tế-xã hội phù hợp, tạo điều kiện phát triển cho doanh nghiệp. M ặ t khác, BCTC giúp nhà nước k i ể m tra doanh nghiệp để phát hiện ra những sai sót, gian lận kịp thời, buộc doanh nghiệp phải tuân thủ luật pháp và thằc hiện đúng nghĩa vụ nộp thuế của mình. - Dối với nhà quản lý doanh nghiệp, BCTC có ý nghĩa quyết định bởi các nhà quản lý thường cạnh tranh với nhau để tìm k i ế m nguồn vốn, và cố gắng thuyết phục với các nhà đẩu tư và các chủ nợ rằng họ sẽ đem lại mức lợi nhuận cao nhất với độ rủi ro thấp nhất. Đ ể thằc hiện được điều này, các nhà quản lý phải công bố công khai các thông t i n trên BCTC định kỳ về hoạt dộng của doanh nghiệp. M ộ t k h i các BCTC đã được minh bạch và công khai , các nhà quản trị doanh nghiệp sẽ có cơ h ộ i tìm k i ế m những nguồn vốn đầu tư đảm bảo trong dài hạn, v ớ i số lượng nhiều hơn. Trong s điều kiện hội nhập và cạnh tranh gay gắt hiện nay, doanh nghiệp sẽ khó có thể tồn tại và phát triển nếu không có vốn đẩu tư. Bởi vậy, BCTC có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự tồn vong của doanh nghiệp. Ngoài ra, nhà quản lý còn sử dầng BCTC để tiến hành quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình. - Đối với các nhà đẩu tư, các chủ nợ, BCTC sẽ giúp h ọ ra các quyết định đầu tư chính xác và có khả năng đem lại l ợ i nhuận cao. Nhìn chung các nhà đầu tư và các chủ nợ đòi hỏi BCTC vì 2 lý do: họ cần các thông tin tài chính để giám sát, bắt buộc các nhà quản lý phải thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký kết và họ cẩn các thông tin tài chính để thực hiện các quyết định đẩu tư, cho vay của mình. Việc kiểm toán BCTC sẽ giúp cho nhà đầu tư yên tâm hơn, không sợ các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra những thông tin sai lệch hoặc có thể bóp m é o thông tin trong các BCTC nhằm mầc đích tìm kiếm nguồn vốn hoạt động. Các thông tin kinh tế, tài chính trong BCTC chủ yếu được sử dầng để đánh giá tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua, giúp cho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dầng vốn và khả năng huy động nguồn vốn vào sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu, các số liệu trên các BCTC là những cơ sò quan trọng để tính ra các chỉ tiêu kinh tế khác, nhằm đánh giá hiệu quả sử dầng vốn, hiệu quả của các quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, những thông tin của BCTC còn là những căn cứ quan trọng để phân tích, nghiên cứu, phát hiện những khả năng tiềm tàng; là những căn cứ quan trọng cho việc đề ra các quyết định về quản lý, diều hành hoạt động sân xuất, kinh doanh hoặc đầu tư vào doanh nghiệp của chủ sở hữu, cấc nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai của doanh nghiệp. 9 3. Nội dung của các báo cáo tài chính doanh nghiệp Theo Quyết định số 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 về Chế độ báo cáo tài chính doanh nghiệp và Chuẩn mực k ế toán số 21 ban hành và công bố theo Quyết định 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003, áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc m ọ i lĩnh vực, m ọ i thành phần kinh tế trong cả nước, hệ thống BCTC của Việt Nam bao gồm 4 biểu mẫu báo cáo bổt buộc: - Bàng cân đối kế toán M ẫ u số B 01 -DN - Kết quả hoạt động kinh doanh M ẫ u số B 02-DN - Lưu chuyển tiền tệ M ẫ u số B 03-DN - Thuyết m i n h BCTC M ẫ u số B 09-DN - Trong đó : Bảng cân đối kế toán là BCTC có các đặc điểm: ( i ) phản ánh một cách tổng quát toàn bộ tài sản của doanh nghiệp theo một hệ thống các chỉ tiêu được quy định thống nhất; (li) phản ánh tình hình tài sản theo 2 cách phân loại: kết cấu của tài sân và nguồn hình thành tài sản; (iii) phản ánh tài sản dưởi hình thái giá trị (dùng thước đo bằng tiền); phản ánh tình hình tài sản tại một thời điểm được quy định (cuối tháng, cuối quý, cuối năm). Bảng cân đối k ế toán phải được lập theo mẫu quy định, phản ánh trung thực tình hình tài sản của doanh nghiệp và phải nộp cho các cơ quan có thẩm quyền đúng thòi hạn quy định. Báo cáo kết quả kinh doanh là BCTC tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp, chi tiết theo hoạt động kinh doanh thông thường và các hoạt động khác, tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, về thuế và các khoản phải nộp khác. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo k ế toán tổng hợp tình hình lưu chuyển trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Báo cáo này cho biết dòng tiền tăng lên (đi vào) và giảm xuống (đi ra) liên quan đến các hoạt động khác nhau cũng như các nhân tố tác động đến lũ sự tăng, giảm của dòng tiền lưu chuyển. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có tác dụng quan trọng trong việc phân tích và đánh giá khả năng thanh toán, đầu tư, tạo ra tiền cũng như việc giải quyết các m ố i quan hệ tài chính trong doanh nghiệp. Thuyết minh BCTC là một bộ phận hợp thành hệ thống BCTC của doanh nghiệp được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo m à các BCTC khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết được. Số liệu trên báo cáo tài chính được trình bày có tính chất so sánh: có số liệu 2 năm đối vừi bảng cân đối kế toán, đối vừi báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ thì chỉ có số liệu để so sánh giữa kỳ này vừi kỳ trưừc và số lũy k ế từ đầu năm. Ngoài ra, để phục vụ yêu cầu quản lý kinh tế - tài chính, yêu cầu chỉ đạo điều hành, các ngành, các Tổng công ty, các tập đoàn sản xuất, liên hiệp các xí nghiệp, các công ty liên doanh... có thể quy định thêm các báo cáo chi tiết khác, có tính chất hưừng dẫn như sau: Báo cáo giá thành sản phẩm, dịch vụ Báo cáo chi tiết kết quả kinh doanh Báo cáo chi tiết chi phí sản xuất Báo cáo chi tiết chi phí bán hàng Báo cáo chi tiết chi phí quản lý doanh nghiệp Báo cáo chi tiết công n ợ Trong quá trình áp dụng, nếu thấy cần thiết, doanh nghiệp có thể bổ sung, sửa đổi hoặc chi tiết các chỉ tiêu cho phù hợp vừi đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhưng phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản. Đối chiếu với hình thức và nội dung BCTC của Hoa Kỳ ta thấy: ở Hoa Kỳ không có bất kỳ yêu cầu về pháp lý nào liên quan từi n ộ i dung và hình thức cùa các BCTC của công ty ngoại trừ các công ty cổ phẩn và m ộ t số li ngành công nghiệp được quy định. Chúng thường được soạn thảo và trình bày dựa trên các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận (GAPP) vốn đã được phát triển qua nhiều năm. Ngoài rạ, ủy ban giao dịch chứng khoán (SÉC) đã thiết lập những quy định bổ sung đối vẫi hình thức và n ộ i dung các BCTC của các công ty cổ phần' '. 3 Đối chiếu với hình thức và nội dung của các BCTC của Liên minh Châu Âu (EU), thì theo hưẫng dẫn của k h ố i EU, yêu cẩu BCTC phải bao gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo thu nhập và thuyết minh BCTC. Hưẫng dẫn cũng cung cấp những hình thức tùy chọn về b ố cục của bảng cân đối tài sản và báo cáo thu nhập. Hình thức lựa chọn phải được thông qua chi tiết liên quan về vấn để trình bày như: thứ tự các khoản mục, danh mục và thuật ngữ. Có một số yêu cấu về trình bày thông t i n được giảm bẫt đối vẫi các doanh nghiệp vừa và nhỏ . (4> T ó m l ạ i , có thể có những quy định khác nhau về báo cáo tài chính doanh nghiệp nhưng nhìn chung, các BCTC doanh nghiệp phải cung cấp một cái nhìn trung thực và hợp lý về tài sản, công nợ, tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của công ty. li, CÔNG KHAI VÀ MINH BẠCH CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Sụ cần thiết phải công khai và minh bạch các báo cáo tài chính doanh nghiệp Xã hội càng phát triển thì nhu cẩu thông tin càng trở nên đa dạng và bức thiết. Hiện nay thông tin được xem như là một yếu tố trực tiếp của quá trình sản xuất kinh doanh. Trong cơ chế thị trường, các BCTC được soạn thảo và trình bày nhằm đáp ứng nhu cầu về thông tin khác nhau của người '" v à "I s. Đoàn Ngọc Quí, TS. V ô Vãn Nhị, Th.s Lý thị Bích Châu, Hưẫng dán lập-đoc-phân tích báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị, N X B Thống kê, 2001, tr. 42,43 141 12 sử dụng. Các BCTC phải đưa ra một bức tranh rõ ràng, hiện thực về kết quả hoạt động và tình hình tài chính của công ty thực hiện bản báo cáo. Việc quan trọng là cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư, những người này được xem là đối tượng chủ yếu của BCTC. Quan điịm này đặc biệt đúng v ớ i những quốc gia có thị trường chứng khoán rộng lớn, coi trọng việc nàng cao khả nàng tài chính của doanh nghiệp, lợi ích của các nhà đầu tư hoặc nhà đầu tư tiềm năng là quan trọng nhất. Do khuynh hướng của sự hòa hợp quốc tế, được thúc đẩy bởi các nhân tố của nền kinh tế vĩ m ô , như là sự xuất hiện của thị trường chung Châu Âu, sự toàn cầu hóa của việc mua bán chứng khoán và sự gia tăng về quy m ô của thị trường chứng khoán trên toàn t h ế giới, yêu cầu về vấn đề công khai và minh bạch các BCTC của doanh nghiệp ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao g i ờ hết. Điều này có lợi không chỉ riêng cho doanh nghiệp, cho cấc nhà đầu tư m à còn có lợi cho sự phát triịn của quốc gia, của thế giới, phù hợp vói xu thế phát triịn của thời đại mới. Ngày nay, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới liên tục biến đổi, tình hình chính trị ngày càng phức tạp, ảnh hưởng không nhỏ tới xu hướng phát triịn kinh tế-xã hội. Thêm vào đó, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các công ty đị thu hút vốn đầu tư dã gây ra không ít khó khăn cũng như rủi ro cho các nhà đầu tư trong việc lựa chọn. Chính vì vậy, việc công khai và minh bạch các BCTC của các công ty tham gia thị trường là rất cần thiết cho một thị trường hoạt động trật tự và có hiệu quả, đảm bảo môi trường kinh doanh an toàn cho các nhà đẩu tư. Các nhà quản trị doanh nghiệp sẽ luôn luôn cân nhắc giữa lợi ích cận biên và chi phí cận biên của việc công bố thông t i n và đôi k h i kết quả cuối cùng không phải là cái m à các đối tượng trên thị trường thực sự cần đến. Ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, do x u hướng tự do hóa thị trường tài chính và thị trường vốn, các thị trường tài chính ngày càng trở nên bất ổn khiến việc có thêm thông tin cũng đồng nghĩa với việc đảm bảo sự ổn định về tài chính. Đ ế n thập niên 90, k h i x u hướng tự đo hóa thị trường 13 tài chính và vốn dâng cao, gây sức ép đòi h ỏ i phải cung cấp thông tin hữu ích trong cả k h u vực tài chính, lãn khu vực tư nhân; các yêu cầu tối thiểu về công bố thông tin giờ đây sẽ là đánh giá chất lượng và dung lượng thông tin cần cung cấp cho các đối tượng tham gia thị trường và công chúng nói chung. M ộ t k h i thông t i n trở thành yếu t ố quan trọng giúp ổn định thị trường thì hiển nhiên chất lượng thông tin sẽ được ưu tiên cao độ. Bởi vẩy, để tự tạo ra sức cạnh tranh cho chính mình trong việc thu hút vốn đẩu tư, các doanh nghiệp sẽ phải thực hiện tốt việc cải tiến các hệ thống thông tin nội bộ cùa mình để tạo uy tín là tổ chức cung cấp thông tin có chất lượng. 2. Nội dung của việc cóng khai và minh bạch các báo cáo tài chính doanh nghiệp 2.1. Thế nào là công khai và minh bạch các báo cáo tài chính doanh nghiệp Như trên đã đề cẩp đến sự cẩn thiết của công khai và minh bạch các BCTC, vẩy thế nào là sự công khai và tính minh bạch? Trước hết, sự công khai thể hiện ở việc thông tin được cung cấp một cách rõ ràng, không mẩp mờ, che giấu đối với các đối tượng khác nhau. Tính minh bạch là nguyên tắc tạo lẩp một môi trường, trong đó các thông tin về thực trạng hiện tồn, về các quyếl định và các hoạt động đều dễ dàng tiếp cẩn, đều có thể thấy được và dễ hiểu đối v ớ i tất cả các đối tượng tham gia thị trường . Tính minh 151 bạch là (tiều kiện cần để duy trì tính trách nhiệm giữa ba nhóm thành viên thị trường chính: những người đi vay và những người cho vay, các tổ chức phát hành và nhà đầu tư, các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tài chính quốc tế. Mục đích của BCTC là cung cấp thông t i n về tình hình tài chính, về kết quả hoạt động và về những thay đổi tài chính của một tổ chức kinh Hennic Van Greuning, Marius Koen, Các chuẩn mực kế toán quốc tế- tài liệu hướng dần thực hành. N X B Chính t r ị quốc gia, 2000. tr.6 151 14 doanh. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay, như đã phân tích ờ trên việc công khai và minh bạch các BCTC là điểu hết sức cẩn thiết đối với các doanh nghiệp. Trước hết, cõng khai BCTC có nghĩa là các BCTC sẽ được công bố rộng rãi, không che giấu, m ọ i đối tượng trên thị trường đểu có thế tiếp cận và tìm hiểu. Còntínhminh bạch của BCTC được thể hiện thông qua việc công bố đầy đụ và có thuyết minh rõ ràng về những thông tin hữu ích, cẩn thiết cho việc ra quyết định kinh tế cụa nhiều đối tượng sử dụng' . 61 Tuy càng có nhiều thông tin càng tốt nhưng việc cung cấp thông t i n đòi hỏi phải có ngân sách. Vì vậy, lợi ích cuối cùng cụa việc tạo ra tính minh bạch cao hon nữa cần phải được tính toán kỹ lưỡng. Việc công khai và minh bạch các BCTC hiện nay đã được coi là một yêu cầu đối với doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu. Ngoài ra, điều đó còn là một phươn" tiện để duy trì tính trách nhiệm, kỷ luật nội bộ và nâng cao chất lượng quản lý doanh nghiệp. Mặt khác, nó cũng nâng cao chất lượng cụa việc ra quyết định cụa các nhà quản trị doanh nghiệp. Các nhà đầu tư, các cổ đông, người lao động sẽ dễ dàng giám sát việc quản lý và hoạt động cụa công ty. Chi phí giám sát sẽ giảm nếu các hành động và quyết định đều rõ ràng và dễ hiểu. Những quyết định kém chất lượng sẽ không được bỏ qua và phải được giải thích. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư sẽ có thể phần nào biết được hoặc dự đoán được các quyết định phát triển cụa doanh nghiệp trong tương lai. Việc áp dụng các tiêu chuẩn k ế toán quốc tế là một biện pháp cẩn thiết để lạo tính minh bạch và giải thích đúng đắn các BCTC. Theo các chuẩn mực quốc tế, các BCTC thường được lập v ớ i giả định rằng các doanh nghiệp sẽ tiếp tục vận hành như một thực thể đang hoạt động và những sự kiện được phản ánh trên cơ sở tích lũy nghĩa là ảnh hưởng cụa các hoạt Hennic Van Greunỉng, Marius Koen, Các chuẩn mực kế toán quốc tế- tài liệu hướng dẫn thực hành, N X B Chính trị quốc gia, 2000, tr.7 (6)
- Xem thêm -