Công giáo trong xã hội việt nam nửa cuối thế kỷ xix

  • Số trang: 170 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 29 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -------------------------- ĐỖ XUÂN TRƯỜNG CÔNG GIÁO TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX CHUYÊN NGÀNH : LỊCH SỬ VIỆT NAM MÃ SỐ : 60 22 54 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TS ĐỖ QUANG HƯNG HÀ NỘI – 2009 Ket-noi.com chia se MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Công giáo đó cú trờn 470 năm du nhập và phỏt triển ở nƣớc ta, với biết bao thăng trầm cựng lịch sử dõn tộc, đó thực sự là một thực thể xó hội khụng thể tỏch rời của Việt Nam. Trong hệ thống tụn giỏo ở Việt Nam, Cụng giỏo chiếm một vớ trớ hết sức đặc biệt. Về số lƣợng, Cụng giỏo chiếm vị trớ thứ hai (sau Phật giỏo) với xấp xỉ 10% dõn số nƣớc ta, đứng hàng thứ hai ở Châu Á (sau Philippin). Trong đời sống và sinh hoạt tụn giỏo, những năm gần đây, nó luôn nhận đƣợc sự quan tâm đặc biệt từ phía Nhà nƣớc và toàn xó hội. Chớnh vỡ vậy, mảng nghiờn cứu về đề tài Cụng giỏo ở Việt Nam đó thu hỳt rất nhiều sự quan tõm của giới học giả trong và ngoài nƣớc nhiều năm qua trên nhiều khớa cạnh: chớnh trị, xó hội, văn hóa và tôn giáo... Chỳng tụi chọn Đề tài này dựa trờn ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề, xuất phỏt từ tầm quan trọng của vấn đề Công giáo trong giai đoạn lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX núi riờng và lịch sử Việt Nam cận đại núi chung. Trong những năm 50 của thế kỷ trƣớc, xó hội Việt Nam đó chứng kiến một sự chia sẽ sõu sắc trong khối đại đoàn kết dõn tộc giữa một bên là không ít đồng bào đồng bào Cụng giỏo thấm đẫm tinh thần Thông điệp Divini Redemptoris (Đấng Cứu chuộc – Giỏo hoàng Piụ XI cụng bố ngày 19/3/1937) và Thư chung 1951 tuyờn bố Công giáo “đoạn tuyệt” với “chủ nghĩa cộng sản vụ thần”, vỡ nhiều lý do đó tham gia vào cỏc “đội tự vệ” tự quản địa phƣơng, sẵn sàng khụng do dự chống lại phớa bờn kia là những ngƣời cộng sản trong khối “lƣơng dân” dƣới sự lónh đạo của Đảng Lao động Việt Nam đang đấu tranh hết mỡnh để giành lại độc lập tự chủ cho đất nƣớc. Khi trỡnh bày và phõn tớch về giai đoạn bất thƣờng ấy, LM Trần Tam Tỉnh – một sử gia Công giáo đó viết: “Điều nghịch thƣờng và trỏi với tất cả cỏc luận điệu tuyờn truyền chống cộng ồn ào, là chẳng phải những ngƣời cộng sản đó bắt ộp họ 1 lựa chọn – bởi vỡ Cụ Hồ Chớ Minh chỉ làm một việc là kờu gọi lũng yờu nƣớc của họ - nhƣng lại chớnh là bọn Phỏp, khi chỳng phõn phỏt sỳng Mỹ cho họ, khiến họ mang tội lụy trƣớc đồng bào của mỡnh. Lẽ ra người Cụng giỏo phải đọc lại lịch sử những năm 1873-1883”[162;88]. Đọc lại trang sử những năm 1873-1883, nhƣ lời tiếc nuối trên, đó thụi thỳc chỳng tụi tỡm hiểu vấn đề này. Đây là giai đoạn điển hỡnh nhất của mối quan hệ giữa cộng đồng Cụng giỏo với xó hội Việt Nam trờn nhiều phƣơng diện: chớnh trị, văn hóa, xó hội, đặc biệt sau khi thực dõn Phỏp chớnh thức xâm lƣợc và đô hộ nƣớc ta năm 1858. Việc giải quyết mối quan hệ Đạo - Đời của Nhà nƣớc phong kiến Nguyễn và mối quan hệ giữa cộng đồng Cụng giỏo với bộ phận cũn lại của xó hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử phức tạp và gay cấn này đó để lại nhiều kinh nghiệm và bài học lịch sử quý. Đây sẽ là những gợi ý gúp phần vào việc hoạch định một chớnh sỏch tụn giỏo phự hợp của Đảng và Nhà nƣớc ta để duy trỡ và hài hũa khối Đại đoàn kết Dõn tộc.. Việc lựa chọn này cũn dựa trờn khả năng thực hiện đối với đề tài đó. Chúng tôi không phải là ngƣời đầu tiên đề cập tới vấn đề này. Nguồn tƣ liệu về Công giáo và giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XIX là rất phong phú và đa dạng nhƣ chúng tôi trỡnh bày dƣới đây. Những nguồn tài liệu cơ bản có liên quan đó đƣợc dịch ra tiếng Việt và xuất bản, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tỡm hiểu vấn đề. Đây là cơ sở quan trọng mà chỳng tụi dựa vào để nhỡn nhận và phõn tớch vấn đề trờn hai khớa cạnh chính đƣợc đề cập: những xung đột (với Nhà nƣớc và một bộ phận lƣơng dân) và sự hũa nhập nhất định của cộng đồng Cụng giỏo với xó hội Việt Nam khi đó. Do vậy, tụi chọn đề tài Cụng giỏo trong xó hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX làm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ dƣới sự hƣớng dẫn của GS. TS Đỗ Quang Hƣng, nhằm gúp phần tỡm hiểu khớa cạnh xó hội của mối quan hệ trờn. 2 2. Lịch sử nghiờn cứu vấn đề Vấn đề Cụng giỏo ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đó thu hỳt nhiều tõm trớ của giới học giả cả hai phía Công giáo và ngoài Công giáo, trong và ngoài nƣớc, đậm trội trên hai phƣơng diện quan hệ chớnh trị và văn hóa và lịch sử truyền giỏo. Cú rất ớt chuyờn khảo trực tiếp bàn về mối quan hệ Cụng giỏo với xó hội nƣớc ta trong giai đoạn lịch sử này. Những tỏc phẩm về lịch sử truyền giáo nói chung và giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX núi riờng của cỏc tỏc giả Cụng giỏo là nguồn tài liệu đầu tiên chúng tôi quan tâm. Đặc biệt, phải kể đến những cụng trỡnh nhƣ: tác phẩm La Cochinchine religieuse của Louvet năm 1885 (Luận văn sử dụng bản dịch tiếng Việt lƣu tại thƣ viện Khoa Lịch sử dƣới nhan đề Xứ Nam Kỳ mộ đạo); Histoire genộrale de la Societộ des Missions Etragốres của Arien Launay năm 1894; Les Sauvages Bahnars (Ba-na hoang dó) là hồi ký truyền giỏo của LM P. Dourisboure (1825-1888, bản Việt ngữ đƣợc biết đến năm 1972 với tựa đề Dõn làng Hồ, nhúm Alpha tỏi bản năm 2007); Những bản điều trần của Nguyễn Trƣờng Tộ, hai thi phẩm Việt Nam giỏo sử diễn ca, Lõm nạn phụng quốc hành cựng những “Bỡnh Tõy sỏch” của Đặng Đức Tuấn; Đầu thế kỷ XX, bộ Những Thư chọn trong các Thư chung (tập I xuất bản 1903, tập II xuất bản năm 1909), lần đầu tuyển chọn và giới thiệu những bức thƣ của cỏc giỏm mục gửi cộng đồng Kitụ hữu trong địa phận về những việc liên quan đến đời sống đạo, giữ đạo, truyền đạo… Đáng chú ý là cụng trỡnh của tỏc giả Hồng Lam, Lịch sử Thiờn Chỳa giỏo ở Việt Nam xuất bản tại Nam Định năm 1943 là công trỡnh mang tớnh Giỏo sử đầu tiên do ngƣời Việt Nam biờn soạn. Những tờ báo Công giáo đầu tiờn cũng xuất hiện trong đầu thế kỷ XX nhƣ Nam Kỳ địa phận, Trung Hũa nhật bỏo… Bộ Nam Kỳ địa phận cũn dành nhiều số ghi chộp lại quỏ trỡnh thành lập và những sự kiện tiờu biểu của nhiều xứ họ đạo trong địa phận, chủ yếu giai đoạn cuối thế kỷ XIX. Tập san Bulletin des Amis du Vieux Huế, xuất bản từ năm 1914 đến 1944 dƣới sự chủ bỳt của L. Cadière, đó đăng tải hàng loạt khảo cứu cú giỏ trị cao về lịch sử, 3 Ket-noi.com chia se văn hóa xứ Huế núi riờng và Việt Nam núi chung. Những loạt bài dƣới nhan đề Những người Âu đó thấy Huế xưa, Những người Phỏp phục vụ Gia Long… cung cấp rất nhiều tƣ liệu về những giáo sĩ Công giáo và ngƣời Pháp trong giai đoạn trƣớc thế kỷ XX. Linh mục Nguyễn Hồng, Lịch sử truyền giỏo ở Việt Nam, quyển I, Nxb Hiện Tại, Sài Gũn 1959. Tỏc giả đó tỏi hiện lại lịch sử cụng cuộc truyền giỏo một cách khá đầy đủ và sinh động sự nghiệp truyền giáo trong hơn một thế kỷ tiên khởi, từ đầu cho đến năm 1665; Phan Phỏt Huồn với bộ Việt Nam giỏo sử, hai tập, Sài Gũn, in lần 1 năm 1958, lần 2 năm 1965 (Cứu thế tùng thƣ giữ bản quyền) đó thể hiện sự khảo nghiệm cụng phu, trỡnh bày kỹ lƣỡng lịch sử giáo hội Việt Nam từ đầu cho đến năm 1960. Trong đó, quyển I, chƣơng XX, tác giả đó cung cấp cho ngƣời đọc phần nào đời sống sinh hoạt tôn giáo ở khía cạnh “cấm đạo dƣới triều Tự Đức”; chƣơng XXI, “cấm đạo dƣới đời văn thân (1864-1888)”… ; tỏc phẩm của Bựi Đức Sinh, Lịch sử giỏo hội Thiờn Chỳa giỏo, Sài Gũn, năm 1972;… Cỏc cụng trỡnh này đó tập hợp đƣợc những tài liệu rất cơ bản của “nội bộ” phía Đạo, cung cấp nhiều cứ liệu làm sỏng tỏ một số vấn đề lịch sử Cụng giỏo ở nƣớc ta từ đầu cho đến những năm 1960. Những cụng trỡnh kể trờn là nguồn tài liệu quan trọng cung cấp cho ngƣời nghiờn cứu những chi tiết sinh động về đời sống tụn giỏo và cỏc hoạt động xó hội của cộng đồng Cụng giỏo trong bối cảnh lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX. Mảng tƣ liệu cần thiết thứ hai mà chúng tôi lƣu tâm chính là những cụng trỡnh nghiờn cứu liên quan đến mối quan hệ phức tạp Cụng giỏo với Dõn tộc ở khớa cạnh chớnh trị và văn hóa. Chỳng ta cũng bắt gặp một số ngƣời ngoài Công giáo bƣớc đầu đề cập đến một số vấn đề lịch sử Công giáo nƣớc ta đầu thế kỷ XX nhƣ Trần Trọng Kim (Việt Nam sử lược năm 1921), Phan Bội Chõu (Thiờn Hồ, Đế Hồ năm 1923), Nguyễn Ái Quốc (Chƣơng X Chủ nghĩa Giỏo hội trong Bản ỏn chế độ thực dõn Phỏp, khoảng năm 1926), Trƣờng Chinh (Cộng sản và Cụng giỏo, bỏo Sự Thật số 105 ngày 25/12/1948)… Lịch sử Cụng giỏo ở nƣớc ta cũng 4 đƣợc phản ỏnh trong rất nhiều cụng trỡnh thụng sử tiếp sau đó, tiêu biểu nhƣ: bộ Lịch sử cận đại Việt Nam (4 tập) đầu những năm 1960 do Trần Văn Giàu chủ biờn; cuốn Đại cương lịch sử Việt Nam tập 2 do Đinh Xuân Lâm chủ biờn (2001); Lịch sử Việt Nam 1858-1896 do Vũ Huy Phỳc chủ biờn (2003);… Bộ sỏch Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam (3 tập) của tác giả Trần Văn Giàu trong đó tập 1 Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử (đầu những năm 1970, tái bản năm 1993) đó trỡnh bày khỏ sinh động và hấp dẫn về sự vận động của đời sống tƣ tƣởng nƣớc ta cuối thế kỷ XIX, trong đó dành nhiều trang viết về Chính đạo và Tà đạo cũng nhƣ một số vấn đề lịch sử đạo Thiên Chúa. Tiếp theo đó, trên các diễn đàn và tạp chớ khoa học miền Bắc trong những năm 1960 đó xuất hiện hàng loạt bài nghiờn cứu về những nhõn vật lịch sử cú vai trũ đặc biệt trong giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XIX và những tín đồ Cụng giỏo. Tiờu biểu nhất là những tranh luận sụi nổi trờn Tạp chớ Nghiờn cứu Lịch sử, Tạp chớ Học tập (tiền thõn của Tạp chớ Cộng sản)… về những nhõn vật nhƣ A. de Rhohes, Trƣơng Vĩnh Ký, Phan Thanh Giản, Nguyễn Trƣờng Tộ… Nhƣng những cụng trỡnh này phần lớn tập trung tỡm hiểu khớa cạnh chớnh trị của họ, ít bàn đến vai trũ xó hội của những nhõn vật lịch sử này. Một nguyệt san do dũng Chỳa cứu thế xuất bản ở Sài Gũn từ năm 1935 đến 1975, trong những năm 1950, 1960 cũng đăng tải nhiều bài khảo cứu về chữ Quốc ngữ, chõn dung cỏc Thỏnh tử đạo Việt Nam, về mối quan hệ giữa Đức tin và văn hóa, Đức tin và Tổ quốc của cõy bỳt Chõn Tớn… Tất cả cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu của cỏc tạp chớ, tập san nói trên tuy quan điểm và cỏch nhỡn khỏc nhau về những vấn đề và nhõn vật lịch sử phức tạp trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX nhƣng đó cung cấp cho độc giả rất nhiều tƣ liệu cựng những đánh giá nhiều chiều. Hỡnh ảnh cộng đồng Cụng giỏo và vị trớ của họ trong xó hội khi đó cũng đƣợc thể hiện phần nào. 5 Đến cuối những năm 1980, đặc biệt là sau Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng khởi xƣớng công cuộc đổi mới, cùng lúc đó là sự kiện phong thỏnh của Tũa thỏnh Vatican cho 117 Chân phƣớc tử đạo ở Việt Nam năm 1988, sự xuất hiện của Nghị quyết 24 (1990) của Bộ Chính trị về vấn đề tôn giáo… Vấn đề Công giáo chiếm vị trí ƣu thế trong sự quan tâm nghiên cứu của giới học giả trong và ngoài nƣớc, nhằm nhận diện một cách xác thực hơn những vấn đề có liên quan tới nó. Linh mục Trần Tam Tỉnh với Thập giá và lưỡi gươm (Dieu et Cesar), Nxb Trẻ TP Hồ Chớ Minh ấn hành năm 1988 phản ánh những vấn đề của giáo hội Công giáo từ thế kỷ XVIII đến những năm cuối thế kỷ XX. Tác phẩm đó cho thấy một quan điểm khoa học đúng đắn, rừ ràng của tỏc giả khi trỡnh bày về chớnh lịch sử của tụn giỏo mà ụng đang là tín đồ trung thành. Về chính sách thuộc địa của Thực dân Pháp, nổi bật có hai tác phẩm đáng chú ý: P. J. Tuck, giáo sƣ đại học Liverpool, “Thừa sai Công giáo Pháp và các chính sách của đế quốc tại Việt Nam 1857-1914” (The French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in Vietnam 1857-1914) năm 1988 đó đƣợc Uỷ Ban Đoàn Kết Công giáo Yêu nước Việt Nam dịch và xuất bản năm 1989; Cao Huy Thuần, Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857-1914), bản dịch của Nguyờn Thuận, Nxb Tụn giỏo, Hà Nội, 2003. Bên cạnh đó, chính sách tôn giáo của Triều Nguyễn nói chung và của vua Tự Đức nói riêng là một mảng nội dung có liên quan tới mối quan hệ lƣơng - giáo đƣợc trỡnh bày rừ ràng, khoa học trong một số cụng trỡnh khoa học của cỏc tỏc giả nhƣ: Đỗ Quang Hƣng, Một số vấn đề lịch sử Thiên Chúa giáo ở Việt Nam, Tủ sách Đại học Tổng Hợp, xuất bản năm 1991; Nguyễn Văn Kiệm với một loạt bài viết về vấn đề này trên tạp chí Nghiờn cứu Lịch sử, Nghiờn cứu tụn giỏo và chuyờn khảo của ụng: Sự du nhập của đạo Thiên Chúa Giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, xuất bản năm 2001; Nguyễn Quang Hƣng, Cụng giỏo Việt Nam thời kỳ triều Nguyễn (1802-1883); 6 Luận án Thạc sĩ Khoa học Lịch sử của Trƣơng Thúy Trinh, Tỡm hiểu chớnh sỏch tụn giỏo của triều Nguyễn trong giai đoạn 1802-1883 (từ Gia Long đến Tự Đức), năm 2004; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Quỳnh về Chính sách tôn giáo thời Tự Đức (2008);… Hầu hết cỏc tỏc phẩm này tập trung trỡnh bày về nguyờn nhõn, thỏi độ cũng nhƣ chính sách của triều đỡnh phong kiến Nguyễn đối với Công giáo nửa cuối thế kỷ XIX, đề cập không nhiều đến khía cạnh quan hệ xó hội của cộng đồng tôn giáo này với bộ phận cũn lại của Dõn tộc. Những năm gần đây, tài liệu về Công giáo đƣợc xuất bản khỏ nhiều, đặc biệt là từ phớa cỏc học giả Cụng giáo nhƣ Trần Văn Đoàn, Hoàng Sóc Sơn…. Tiêu biểu phải kể đến Đỗ Quang Chớnh với Lịch sử chữ Quốc ngữ (tỏi bản, 2008); Dũng Tờn trong xó hội Đại Việt (2008)… và đặc biệt cuốn sỏch Hũa mỡnh vào xó hội Việt Nam (2008) trỡnh bày về những nỗ lực hội nhập của Cụng giỏo với văn hóa xó hội nƣớc ta, nhƣng chỉ là giai đoạn từ đầu cho tới thế kỷ XVIII. Một cụng trỡnh biờn khảo nổi tiếng do Trƣơng Bá Cần chủ biờn với tờn gọi: Lịch sử phỏt triển Cụng giỏo ở Việt Nam vừa mới ra mắt độc giả (cuối năm 2009), đƣợc coi nhƣ một tập đại thành tƣ liệu về lịch sử tụn giỏo này ở nƣớc ta, đặc biệt cỏc tỏc giả đó sƣu tầm đƣợc một khối lƣợng tƣ liệu đồ sộ khụng chỉ riờng về lịch sử truyền giỏo mà cũn mụ tả khỏ chi tiết lịch sử từng giỏo phận từ đầu cho đến trƣớc Cỏch mạng Thỏng Tỏm 1945. Hỡnh ảnh về cộng đồng Cụng giỏo trong xó hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX cũng hiện ra khỏ rừ nột. Nhƣ đó trỡnh bày ở trờn, khối lƣợng tƣ liệu về vấn đề Công giáo trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX là rất đồ sộ và phong phỳ, tập trung chủ yếu vào cỏc khớa cạnh lịch sử truyền giỏo, quan hệ chớnh trị, quan hệ văn hóa. Ít thấy cú cụng trỡnh nào trực tiếp bàn về mối quan hệ của cộng đồng Cụng giỏo với xó hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử phức tạp và gay cấn nhất này. Chúng tôi đó cố gắng xử lý khối tƣ liệu đồ sộ, để tập trung mụ tả những nột chung nhất về khớa cạnh xó hội của mối quan hệ lƣơng giáo nửa cuối thế kỷ XIX, 7 nhƣng do nhận thức và năng lực cũn hạn chế, chắc hẳn Luận văn này sẽ cũn nhiều thiếu sút. Rất mong nhận đƣợc sự gúp ý của cỏc nhà khoa học! 3. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu Đặt trong bối cảnh chung của việc nghiên cứu về lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, việc nghiên cứu này đặt ra cho chúng tôi nhiệm vụ trƣớc hết là phải nêu đƣợc những điều kiện về kinh tế, chính trị, xó hội của nƣớc ta trong bối cảnh thực dân Pháp chính thức xâm lƣợc Việt Nam. Đây là cơ sở cho việc trỡnh bày và giải thớch những vấn đề liên quan đến cộng đồng Công giáo trong mối quan hệ với xó hội trong giai đoạn lịch sử này. Mục tiờu thứ hai là chỳng tụi muốn phỏc họa lại tiến trỡnh “phỏt triển” của cộng đồng Công giáo ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX về sự phân tách địa phận, số lƣợng tín đồ và một vài đặc điểm của nó. Thứ ba, chỳng tụi muốn làm rừ mối quan hệ giữa cộng đồng Công giáo với Dân tộc, đƣợc biểu hiện qua quan hệ giữa Công giáo với Nhà nƣớc phong kiến Nguyễn và mối quan hệ với các cộng đồng xó hội khỏc trờn hai khớa cạnh: xung đột và hũa nhập. 4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiờn cứu Đối tƣợng nghiên cứu của chúng tôi nhƣ tên Đề tài là Cụng giỏo trong xó hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX. Đề tài này sẽ tập trung trỡnh bày về “sự phỏt triển” của cộng đồng Công giáo nửa cuối thế kỷ XIX và phân tích về những mối quan hệ của nó đối với bộ phận cũn lại của xó hội nƣớc ta trong giai đoạn lịch sử này. Về thời gian, phạm vi nghiên cứu của Đề tài nằm trong nửa cuối thế kỷ XIX, mối quan hệ của cộng đồng Công giáo với xó hội Việt Nam diễn ra trong bối cảnh thực dõn Phỏp nổ sỳng xõm lƣợc và bƣớc đầu thiết lập chế độ cai trị ở nƣớc ta. Về khụng gian, chỳng tụi khụng giới hạn việc nghiờn cứu của mỡnh vào một giỏo phận hay một xứ nào mà mở rộng ra trờn phạm vi cả nƣớc. Về phƣơng pháp nghiên cứu: chỳng tụi nghiờn cứu vấn đề này theo phƣơng pháp luận biện chứng và duy vật lịch sử mỏcxớt trờn nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin, Tƣ tƣởng Hồ Chớ Minh. Để hoàn thành Đề tài, chúng tôi sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu lịch sử, phƣơng pháp logic và phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành để mô tả quá trỡnh phỏt triển của Giỏo 8 Ket-noi.com chia se hội Cụng giỏo ở nƣớc ta trong nửa cuối thế kỷ XIX và xem xột mối quan hệ của nú với bộ phận cũn lại của Dõn tộc. 5. Tài liệu tham khảo Lợi thế lớn nhất khi thực hiện đề tài này là nguồn tài liệu tham khảo rất phong phú, và đa dạng nhƣ chúng tôi liệt kờ trong danh mục Tài liệu Tham khảo cuối cụng trỡnh. Khối lƣợng tài liệu đồ sộ này là cơ sở quan trọng cho việc trỡnh bày, phõn tớch và đánh giá vấn đề. 6. Đúng gúp của Luận văn Đây là một cụng trỡnh khoa học cú ý nghĩa về thực tiễn nhƣ chúng tôi đó nờu ở trờn. Bằng việc tập hợp và hệ thống tƣ liệu, cụng trỡnh này sẽ cung cấp một thƣ mục tham khảo tƣơng đối đầy đủ liên quan đến Đề tài hay núi rộng hơn là liên quan đến toàn bộ lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX. Chỳng tụi muốn nhỡn nhận một cỏch tổng thể cỏc mối quan hệ xó hội của thực tại tụn giỏo này, khụng tập trung nhiều vào khớa cạnh chớnh trị mà sẽ nghiờng về quan hệ xó hội. Qua đó, bƣớc đầu chỳng tụi muốn nhấn mạnh khớa cạnh: mặc dù trong giai đoạn xung đột gay gắt và căng thẳng nhất giữa hai phớa, cộng đồng Cụng giỏo vẫn thể hiện đƣợc vai trũ xó hội của mỡnh, vẫn cú sự quan hệ qua lại, cố gắng hũa nhập vào xó hội nƣớc ta. 7. Cấu trỳc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn gồm 2 chƣơng chính: Chương 1: Sự phát triển của cộng đồng Cụng giỏo ở Việt Nam từ đầu cho tới nửa cuối thế kỷ XIX Chương 2: Cộng đồng Cụng giỏo trong xó hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX Dƣới đây là nội dung chi tiết: 9 Chương 1 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CỘNG ĐỒNG CễNG GIÁO Ở VIỆT NAM TỪ ĐẦU CHO TỚI NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX 1.1 Bối cảnh lịch sử của vấn đề Cụng giỏo ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX. 1.1.1 Sơ lược tỡnh hỡnh Việt Nam thế kỷ XIX Bƣớc vào thế kỷ XIX, tỡnh hỡnh thế giới và khu vực Đông Nam Á cú nhiều biến chuyển mạnh mẽ. Chủ nghĩa tƣ bản phƣơng Tây trên đà trƣởng thành sau các cuộc cách mạng tƣ sản, dần bƣớc mạnh sang hỡnh thỏi chủ nghĩa đế quốc, tiếp tục bành trƣớng ảnh hƣởng toàn thế giới giữa thế kỷ XIX. Cỏc quốc gia phong kiến ở Chõu Á đó sớm trở thành miếng mồi bộo bở của nhiều thế lực thực dõn: Ấn Độ bị xâu xé bởi nhiều đế quốc nhƣ Bồ Đào nha, Anh, Phỏp…; Trung Quốc rộng lớn cũng chịu chung số phận của các nƣớc phong kiến Á Đông khi đó, đến giữa thế kỷ XIX, triều đỡnh Món Thanh đó phải mở toang cỏnh cửa “bế quan tỏa cảng” sau Chiến tranh Nha phiến (1840) bằng Hiệp ƣớc Nam Kinh (1842) với thực dân Anh, Hiệp ƣớc Hoàng phố (1844) với Phỏp…; Từ cuối thế kỷ XVIII, thƣơng thuyền và đạo Thiờn Chỳa của các nƣớc Tây Âu tăng cƣờng ra vào cỏc cửa cảng Nhật Bản. Năm 1542 đó cú ngƣời Bồ Đào Nha; sau đó là Tây Ban Nha rồi Hà Lan, sau nữa là Anh, Mỹ, Phỏp, v.v... lui tới đất Nhật. Lo sợ nguy cơ xâm lƣợc của nƣớc ngoài qua việc thƣơng mại và truyền đạo Thiờn Chỳa, chớnh quyền Nhật Bản nhiều lần cấm đạo và đóng cửa cảng. Tuy vậy ngƣời Hà Lan đó cú ảnh hƣởng quan trọng đến tri thức và văn minh Nhật Bản trƣớc hết. Sau đó Hoa Kỳ lại là nƣớc đầu tiờn ký kết thoả ƣớc mở cửa cảng với Nhật năm 1854 và thời kỳ tiếp xỳc toàn diện của Nhật Bản với các nƣớc phƣơng Tây đƣợc thực hiện. Đó cũng chính là thời điểm Pháp đang xâm lƣợc Việt Nam… Ở khu vực Đông Nam Á: Inđônêxia từ thế kỷ XVII đó bị đô hộ bởi Hà Lan; Mianma bị thực dân Anh xâm lƣợc năm 1824; Malaixia từ năm 1511 đó 10 bị Bồ Đào Nha xâm chiếm và độc quyền buôn bán ở Malacca, cuối thế kỷ XVI đế quốc Anh và Hà Lan nhảy vào tranh chấp quyền lợi với ngƣời Bồ, Hiệp ƣớc Anh-Hà Lan năm 1824 đánh dấu sự nhƣợng bộ của Hà Lan với Anh ở Malaixia để đƣợc độc quyền ở Inđônêxia; Xiêm La hay Thái Lan có bƣớc phát triển đặc biệt, năm 1684 Xiờm từng ký với Phỏp một hiệp ƣớc thƣơng mại. Nhƣng Pháp lại âm mƣu làm đảo chính và bị đuổi khỏi nƣớc này. Trong khi ngƣời Bồ, Hà Lan, Phỏp... bị mất dần ảnh hƣởng ở Xiêm thỡ ngƣời Anh lại tăng cƣờng sức ép với chính quyền nƣớc này. Đầu thế kỷ XIX 3 hiệp ƣớc thƣơng mại Anh Xiêm đƣợc ký kết (1820,1839,1855. Đồng thời Xiêm cũng ký liờn tiếp hai hiệp ƣớc với Mỹ các năm 1833,1856. Ngay sau đó Xiêm lại ký nhiều hiệp ƣớc nữa với 13 nƣớc khác nhƣ Thuỵ Sĩ, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Đức, Đan Mạch, Thuỵ Điển, ý, Nhật, Nga, v.v... Xiêm đó buộc phải thực hiện chớnh sỏch mở toang cửa với hầu hết cỏc nƣớc phƣơng Tây. Từ đấy Xiêm vẫn luôn tồn tại nhƣ một vƣơng quốc độc lập… Cho đến trƣớc cuộc xâm lƣợc của thực dân Pháp, Việt Nam dƣới sự cai trị của triều đỡnh phong kiến Nguyễn đó cú hơn nửa thế kỷ tồn tại và phát triển. Tỡnh hỡnh kinh tế: Nền kinh tế truyền thống của Việt Nam cơ bản vẫn dựa trên sản xuất nông nghiệp lúa nƣớc. Nhà Nguyễn ý thức rừ vai trũ của kinh tế nụng nghiệp đối với sự ổn định và phát triển của đất nƣớc, nên đó đề ra nhiều biện pháp tích cực nhằm mở rộng diện tích canh tác đồng thời giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xó hội: khuyến khích khai hoang, quy định rừ ràng mức thƣởng đối với những ngƣời đi khai khẩn, chia ruộng đất bỏ hoang cho dân nghèo… Bờn cạnh biện phỏp khai hoang, phục hóa, Nhà nƣớc cũn tổ chức đào thêm kênh rạch, cải tạo đất nhằm tăng thêm diện tớch canh tỏc. Riờng ở Nam Kỳ, trong 30 năm cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp đó cho đào đắp một số kờnh mới, nhƣ kênh Cột Cờ (1875), kờnh Trà ễn (1876), kờnh Chợ Gạo (1877), kờnh Phỳ Tỳc (1879), kờnh Xanh Ta (1880) [152;94]. Nhờ đó, diện tích đất tăng lên nhanh chóng. Nếu năm 1847, tổng diện tích đất trực trƣng đo đạc đƣợc là 4,2 11 triệu mẫu thỡ đến giữa năm 1860, diện tích đó đó tăng lên tới 4,6 triệu mẫu [148;29]. Tớnh riờng ở Nam Kỳ, trong khoảng 10 năm từ 1881 đến 1890 diện tớch ruộng đất đó tăng thêm khoảng 300.000ha (tức từ 1.192.404 mẫu) [44]. Tuy nhiờn, việc gia tăng ruộng đất cũng khụng thể bự lại đƣợc với tỡnh trạng dân lƣu tán, ruộng đất bị bỏ hoang do thiờn tai, mất mựa, và nạn giặc ngoại xâm. Năm 1866, theo báo cáo của cỏc tỉnh, cả nƣớc co 900.000 mẫu ruộng bỏ hoang. Năm 1882, riêng ở Thanh Húa diện tích đất bỏ hoang lờn tới 36.522 mẫu (chiếm khoảng 18% diện tớch). Bộ sỏch Đại Nam thực lục cú chộp rất nhiều lần đê vỡ, đặc biệt ở Bắc Kỳ, nơi có hệ thống thủy văn khá phức tạp. Trong suốt thế kỷ XIX, hầu nhƣ năm nào cũng cú vỡ đê. Vỡ thế hàng vạn mẫu ruộng bị bỏ hoang, hàng vạn nụng dõn phải cầm nhƣợng ruộng đất, hoặc bỏ làng bỏ ruộng ra đi tha phƣơng cầu thực. Sản xuất nụng nghiệp mang nặng tớnh chất độc canh, tuyệt đại bộ phận diện tích canh tác đƣợc đem trồng lỳa. Do kĩ thuật canh tỏc lạc hậu nờn sản xuất lúa đạt mức thấp, khoảng 9 tạ/ha[77;36]. Dƣới thời Nguyễn, thủ công nghiệp nƣớc ta bao gồm hai bộ phận: thủ công nghiệp nhà nƣớc và thủ công nghiệp dân gian. Thủ công nghiệp Nhà nƣớc có vị trí rất quan trọng, đó là các cơ sở sản xuất thủ công do nhà nƣớc trực tiếp tổ chức, quản lý, điều hành sản xuất và phân phối sản phẩm, gọi là các quan xƣởng. Quan xƣởng tập trung nhiều nhất ở kinh đô Huế, tiếp đến là Bắc Thành (Hà Nội) và Gia Định thành (Sài Gũn) và cỏc trung tâm chính trị hành chính địa phƣơng. Về quản lý, ban đầu các quan xƣởng thuộc quyền quản lý trực tiếp của Vũ khố (cơ quan quản lý kho tàng của nhà nƣớc), đến năm 1829 chuyển toàn bộ sang bộ Công, một số bộ có liên quan nhƣ bộ Hộ (phụ trách về cấp phát nguyên vật liệu, chế độ lƣơng bổng), bộ Binh (phụ trách việc điều động binh lính làm việc tại các quan xƣởng)… Quan xƣởng tập trung vào những ngành nghề sản xuất do nhà nƣớc độc quyền hoặc đáp ứng những nhu cầu riêng của nhà nƣớc, của triều đỡnh. Một số ngành nghề tiờu biểu nhƣ: đúc tiền, đúc thuyền và đặc biệt là đúc vũ khí. 12 Bờn cạnh các xƣởng thủ công do Nhà nƣớc quản lý, một số xƣởng thủ cụng của tƣ nhân cũng có những biến đổi. Do tác động của chính sách vơ vét và xuất cảng lỳa gạo của tƣ bản Phỏp, cỏc cơ sở chế biến gạo, nhất là ở Nam Kỳ có cơ hội phỏt triển mạnh. Vào đầu những năm 1860, riêng ở khu vực Chợ Lớn và Bỡnh Tõy cú khoảng 240 nhúm thợ hàng xỏo, chuyờn xay, gió gạo bằng chõn mà khụng cú sự hỗ trợ của bất cứ một phƣơng tiện mỏy múc nào. Cựng với nghề xay xỏt lỳa gạo, nghề gốm và nhất là nghề làm gạch ngúi và cỏc vật liệu xõy dựng cũng có điều kiện mở mang hơn so với trƣớc đây, nhằm đáp ứng nhu cầu xõy dựng nhà cửa, dinh thự và cỏc cụng trỡnh cụng cộng của ngƣời Phỏp. Ở Sài Gũn- Chợ Lớn, nghề nung gạch ngúi khỏ phỏt triển. Trƣớc năm 1882, mỗi lũ gạch ở Chợ Lớn sản xuất đƣợc trung bỡnh 480.000 viờn gạch/ năm. Tổng số gạch sản xuất ở khu vực này hàng năm là 14 triệu viờn. Ở Nam Kỳ, ngoài Sài Gũn- Chợ Lớn cũn cú nhiều cơ sở tại cỏc tỉnh Mỹ Tho, Sa Đéc, Châu Đốc, Bà Rịa, Trà Vinh…. Thủ cụng nghiệp dõn gian Việt Nam giai đoạn này vẫn tồn tại dƣới 2 hỡnh thức chủ yếu: các phƣờng thủ cụng, làng nghề chuyờn nghiệp và loại hỡnh thủ cụng nghiệp với tƣ cách là nghề phụ. Loại hỡnh nghề thủ công nhƣ một nghề phụ tồn tại rất phổ biến, chủ yếu là những nghề đơn giản, ít đũi hỏi kỹ thuật cao. Loại hỡnh cũn lại tập trung chủ yếu ở các khu đô thị (phƣờng hội) và rải rỏc trờn cả nƣớc, đậm đặc hơn ở các vùng đồng bằng và trung du. Cơ cấu ngành nghề và phõn bố hết sức phong phú, đa dạng. Vớ dụ nghề gốm ở Bỏt Tràng (Gia Lõm), Thổ Hà (Bắc Ninh), Đƣờng Yên, Chu Đậu( Hải Dƣơng); nghề dệt ở Vạn Phúc, La Khê (Hà Đông), Bảo An (Quảng Nam), Bùng (Sơn Tây); nghề đúc ở Đại Bỏi (Bắc Ninh), nghề kim hoàn ở Chõu Khờ (Hải Dƣơng), Đồng Xõm (Thỏi Bỡnh); nghề làm giấy ở Yờn Thỏi (Hà Nội), Phong Khờ (Bắc Ninh); nghề dệt chiếu ở làng Hới (Thỏi Bỡnh), Phỏt Diệm (Ninh Bỡnh) [36;552]. Tuy nhiờn, do tỡnh hỡnh chiến sự diễn ra ngày càng ỏc liệt nờn một số ngành nghề bị đỡnh trệ, thậm chớ sa sỳt, trong đó có nghề trồng dâu, chăn 13 tằm, dệt vải. Nhiều sản phẩm vải lụa làm ra khụng cú thị trƣờng tiờu thụ. Đó là chƣa kể tới những khó khăn về thuế mỏ nặng nề và về nguồn nguyờn liệu ngày càng khan hiếm. Nhỡn chung, vào nửa sau thế kỉ XIX, nền thủ cụng nghiệp nƣớc ta bắt đầu cú những thay đổi do tác động của chiến tranh và các chính sách xâm lƣợc của thực dõn Phỏp. Mặc dự vậy, về cơ bản cơ cấu, kĩ thuật và phƣơng thức sản xuất và tiờu thụ vẫn giống nhƣ ở thời kỳ nửa đầu thế kỉ XIX. Những xƣởng thủ cụng cú qui mụ lớn, cú tớnh chất tiền tƣ bản chủ nghĩa chƣa xuất hiện. Đa số cỏc hoạt động thủ cụng cũn gắn chặt với nụng nghiệp, và tồn tại với tƣ cách là nghề phụ gia đỡnh. Tuy nhiờn, đây là thời kỳ trung gian, cú ý nghĩa quan trọng để nền thủ cụng nghiệp truyền thống chuẩn bị bƣớc sang một gia đoạn phỏt triển mới trên cơ sở những điều kiện mới về cả ba phƣơng diện: nguồn nguyờn liệu, kĩ thuật sản xuất và thị trƣờng tiờu thụ. Về hoạt động thƣơng nghiệp, với tƣ tƣởng kinh tế trọng nông, nhà Nguyễn ít có những tác động thúc đẩy lĩnh vực kinh tế này phát triển. Trái lại, trong nhiều trƣờng hợp, chính sách của nhà Nguyễn cũn ảnh hƣởng tiêu cực đến sự phát triển của thƣơng nghiệp. Các vua Nguyễn trở lại với quan điểm từng ngự trị hơn ba thế kỷ trƣớc dƣới thời Lê sơ, coi nông nghiệp là nghề gốc, buôn bán là nghề ngọn. Từ Gia Long đến Minh Mệnh và các vua Nguyễn về sau đều nhất quán một thái độ khuyên dân không nên ham nghề ngọn, trở về với nghề gốc. Sự mai một của các đô thị lớn nhƣ Phố Hiến, Thanh Hà, Hội An là minh chứng rừ nột cho đời sống thƣơng nghiệp sa sỳt ở thế kỷ XIX. Nhỡn chung, nhà Nguyễn tỏ ra dố dặt trong việc tiếp xỳc với bờn ngoài, nhất là với phƣơng Tây, vẫn duy trỡ chớnh sỏch “bế quan toả cảng”. Trong bối cảnh đó, ngoại thƣơng Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XIX gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, chính sách “đóng cửa” kinh tế của nhà Nguyễn không mang ý nghĩa tuyệt đối. Ngoài thƣơng nhân của các nƣớc trong khu vực gần nhƣ không có sự hạn chế, tàu buôn phƣơng Tây vẫn cập cảng của Việt Nam, mặc dù hầu nhƣ chỉ đƣợc phép ra vào một số cảng và từ thời Minh Mệnh chỉ đƣợc 14 phép ra vào duy nhất cảng Đà Nẵng. Trƣớc nguy cơ xâm lƣợc của thực dân phƣơng Tây, tỡnh hỡnh ngoại thƣơng càng trở nên bi đát. Để đối phó với nguy cơ xâm lƣợc của thực dân phƣơng Tây, nhà Nguyễn đó thực hiện chính sách đóng cửa, là một giải pháp hết sức tiêu cực, cả về chính trị lẫn kinh tế. Về cơ bản, nờn nền kinh tế Việt Nam vào nửa sau thế kỉ XIX vẫn là một nền kinh tế nụng nghiệp mang tớnh chất tự cung tự cấp. Trong cơ cấu kinh tế, bộ phận kinh tế truyền thống với hai ngành cơ bản là nụng nghiệp và thủ cụng nghệp vẫn đóng vai trũ chủ đạo. Một số ngành kinh tế mới, chủ yếu là cụng nghiệp và kinh tế đồn điền đang trên đƣờng manh nha hỡnh thành, song song với quỏ trỡnh đẩy mạnh đầu tƣ của tƣ bản nƣớc ngoài trên đất nƣớc ta. Tỡnh hỡnh chớnh trị: Năm 1802, khi đó cơ bản đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long. Nhà Nguyễn đứng trƣớc nhiều khó khăn phải giải quyết nhằm duy trỡ và củng cố nền thống trị của dũng họ, của vƣơng triều. Trong những điều kiên nhƣ thế, để nhanh chóng tạo ra sức ép áp chế ổn định tỡnh hỡnh, Gia Long và cỏc vua Nguyễn sau này đó tập trung nhiều nỗ lực khụi phục và củng cố chế độ quân chủ tập quyền trên nền tảng học thuyết Nho giáo. Khuynh hƣớng tập trung quyền lực đƣợc thiết lập và phát triển từng bƣớc đạt đến đỉnh cao dƣới triều vua Minh Mạng. Các vị vua đầu triều Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức đều lên ngôi khi đó trƣởng thành, nắm quyền lực tuyệt đối và điều hành đất nƣớc trực tiếp, nắm trong tay tất cả quyền lập pháp, hành pháp, tƣ pháp, lực lƣợng quân đội, quyết định các chính sách đối nội, đối ngoại… Để đảm bảo uy quyền tuyệt đối đó cũng nhƣ giữ vững quyền thống trị của dũng họ, một quy định bất thành văn nhƣng lại đƣợc tuân thủ nghiêm ngặt đó là lệ “tứ bất” (bốn không): không lập hoàng hậu, không đặt chức tể tƣớng, không lấy đỗ trạng nguyên, không phong tƣớc vƣơng cho ngƣời ngoài hoàng tộc. Bộ máy nhà nƣớc Nguyễn về cơ bản kế thừa mô hỡnh tổ chức trƣớc đó. Ở cấp trung ƣơng đặt đủ sáu bộ Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hỡnh, Cụng do Thƣợng 15 thƣ đứng đầu, cấp phó có Tả Tham tri và Hữu Tham tri và bộ phận giúp việc nhƣ Thiêm sự, Câu kê, Cai hợp… Tại triều đỡnh cú một số cơ quan chức năng khác nhƣ Quốc Tử Giám, viện Tập Hiền, viện Hàn Lâm, Khâm Thiên giám, viện Thái y… Khuynh hƣớng tập trung quyền lực là nguyên tắc chi phối trong toàn bộ quá trỡnh hoàn thiện và cải cỏch bộ mỏy hành chớnh dƣới triều Nguyễn. Để thiết chế đó vận hành có hiệu quả theo nguyên tắc trên, nhà Nguyễn, nhất là Minh Mệnh, đó từng bƣớc hoàn thiện các chế định nhằm đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữa các cấp hành chính, tăng cƣờng bộ máy giám sát và đặc biệt là đào tạo và tuyển chọn một đội ngũ quan lại [174]. Hệ thống quan lại của triều Nguyễn về cơ bản đƣợc phân thành “cửu phẩm” với 18 bậc (chánh và tũng phẩm). Việc tuyển chọn quan lại vẫn cơ bản theo cách thức mà các triều đại trƣớc đó thực hiện, bao gồm nhiệm tử, bảo cử (hay tiến cử) và khoa cử. Lệ nhiệm tử chỉ ỏp dụng với con quan lại cao cấp và cũng chỉ một ngƣời con đƣợc ấm thụ. Lệ bảo cử đƣợc áp dụng rộng rói nhƣng có quy trỡnh chặt chẽ, quy định rừ quan lại ở chức vụ nào thỡ đƣợc đề cử ngƣời vào chức vụ tƣơng ứng và phạt nặng nếu việc đề cử không đúng hay do tỡnh riờng mà tiến cử. Việc tuyển chọn quan lại thụng qua thi cử càng về sau càng chiếm ƣu thế. Năm 1807, Gia Long mở khoa thi Hƣơng đầu tiên, năm 1822 Minh Mạng chính thức mở khoa thi Hội. Tính từ khoa thi Hƣơng năm 1807 đến khoa thi Hƣơng cuối cùng năm 1918 đó cú tất cả 5.226 ngƣời đỗ Hƣơng cống và từ khoa thi Hội đầu tiên năm 1822 đến khoa thi Hội cuối cùng năm 1919 đó cú tất cả 558 ngƣời đỗ đại khoa. Phần lớn trong số những ngƣời đỗ đạt đều đƣợc bổ dụng vào các chức vụ của bộ máy Nhà nƣớc và trở thành bộ phận nũng cốt của nền hành chớnh quốc gia. Tệ quan lại sỏch nhiễu, ức hiếp nhõn dõn tại các địa phƣơng ngày càng trở nên phổ biến và trở thành một vấn đề nhức nhối trong đời sống chính trị đất nƣớc. Tháng 5 năm 1867, Lê Cơ ở Nam Định dâng mật thƣ nêu rừ về tệ quan lại, tuy nhiờn đỡnh thần Viện Cơ mật cho là Cơ nói khoác, Tự Đức cho 16 là không nên nghe theo mà “sinh ngờ quan lại”, nên bỏ không xét. Nhƣng vào tháng 9 năm đó, khi bàn luận về tỡnh hỡnh Bắc Kỳ, chớnh bản thõn Tự Đức cũng thừa nhận có sự thông đồng, tham nhũng, tắc trách của quan lại khiến cho dân hèn phải chịu oan ức [129]. Trong suốt mấy thập kỷ đầu triều Nguyễn, tỡnh hỡnh giặc gió nổi lờn liờn miờn, việc binh chế rỏt đƣợc coi trọng. Trong thời Tự Đức, năm 1861, vua truyền cho các tỉnh chọn lấy những ngƣời khỏe mạnh làm lính vừ sinh. Năm 1865, mở khoa thi vừ tiến sĩ. Tuy nhiờn, sự trang bị vũ khí và kỹ chiến thuật vẫn hết sức lạc hậu. Điều này đó nhanh chúng đƣợc minh chứng trong các cuộc đụng đầu về quân sự với thực dân pháp trong nửa cuối thế kỷ XIX. Triều Nguyễn từ vua Gia Long đến Tự Đức thƣờng phải đối mặt với những cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ, ngoài những nguyờn nhõn mõu thuẫn xó hội cũn cú những phong trào mang tính chất thách đố sự chính thống của vƣơng triều. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Cao Bá Quát, một trí thức phong kiến, nêu danh nghĩa “phù Lê” dƣới thới Tự Đức và đặc biệt là cuộc khởi loạn của Tạ Văn Phụng, một giáo dân, lấy danh nghĩa là con cháu nhà Lê để đứng lên chống lại triều đỡnh… Cũng chính vào thời điểm này, một nhân tố mới xuất hiện làm cho tỡnh hỡnh an ninh chớnh trị đất nƣớc càng bị mất ổn định: nạn giặc cờ đen, cờ trắng, cờ vàng, v.v... Đây phần lớn là những phần tử của phong trào "Thái Bỡnh thiờn quốc" bị triều đỡnh Nhà Thanh truy đuổi, từ 1863, đó tràn sang nhiều tỉnh của miền Bắc nƣớc ta. Lợi dụng tỡnh thế suy yộu của triều đỡnh Huế, cỏc đạo tàn quân Thỏi Bỡnh Thiờn Quốc tập hợp lại thành những nhúm thổ phỉ, cạnh tranh lẫn nhau, chia nhau đóng giữ hầu hết các tỉnh vùng thƣợng và trung du miền Bắc và ra sức cƣớp bóc, tàn hại nhân dân các địa phƣơng... đó làm cho tỡnh hỡnh đất nƣớc càng thêm rối ren, phức tạp... Tỡnh trạng giặc gió, cƣớp bể và nụng dõn khởi nghĩa cho thấy tỡnh hỡnh chớnh trị đất nƣớc kể từ sau khi Phỏp chiếm Nam Kỳ ngày càng trở lờn rối ren, hỗn loạn. Tỡnh hỡnh ấy càng làm cho triều đỡnh Huế phải phõn tỏn lực 17 lƣợng, ra sức chống đỡ. Tỡnh hỡnh ấy cũng làm cho những cố gắng của triều đỡnh Huế trong việc củng cố đất nƣớc trở thành những hành động viển vụng, tờ liệt, đất nƣớc ta càng chỡm vào cơn khủng hoảng trầm trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho những hành động xâm lƣợc của thực dõn Phỏp. Về đời sống tư tưởng: Khi mới thành lập, Nho giỏo vẫn là lựa chọn của triều Nguyễn và tỏ ra là cụng cụ hữu hiệu gúp phần xỏc lập và duy trỡ thiết chế quõn chủ tập quyền chuyờn chế, gũ xó hội vào kỷ cƣơng. Khôi phục Nho giáo, nhà Nguyễn cũn tham vọng tiến tới thống nhất tƣ tƣởng, đảm bảo sự trung thành của tầng lớp quý tộc, định hƣớng tƣ tƣởng trong nhân dân. Nho giáo, Nho học, Nho sĩ đó là chỗ dựa tƣ tƣởng và xó hội của cỏc nhà nƣớc phong kiến Việt Nam và sẽ tiếp tục vai trũ này ở nửa đầu thế kỷ XIX. Củng cố lại Nho giáo, đẩy mạnh Nho học và xây dựng đội ngũ Nho sĩ hùng mạnh là những mục tiêu lớn mà nhà Nguyễn hƣớng tới. Các vua Nguyễn, nhất là Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, đều là những sản phẩm của Nho giáo chính thống. Họ là những ngƣời đóng vai trũ hàng đầu trong việc phục hồi Nho giáo ở nửa đầu thế kỷ XIX. Minh Mệnh cho công bố Huấn địch thập điều. với nội dung đề cao đạo trung hiếu, lễ nghĩa và các chuẩn mực đạo đức Nho giáo, ban bố đến tận các làng xó. Đây thực chất là sự vận dụng Nho giáo để “giáo hoá phong tục” trong nhân dân nhằm đạt đến một khuôn mẫu văn hoá thống nhất trên tinh thần Nho giáo. Theo chỉ dụ của Minh Mệnh, Bộ Lễ soạn thảo chú giải mƣời điều giáo huấn trên, các quan từ Phủ doón ở Kinh cho đến các Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, Án sát ở các tỉnh cho in nguyờn bản, phỏt cho cỏc tổng, xó, thụn, quan học chớnh từ tỉnh cho đến huyện phối hợp với các Cai tổng, Phó Cai tổng, Lý trƣởng, Phó Lý trƣởng tuyên đọc, giảng giải cho dân nghe. Đến đời Tự Đức,  Nội dung của mƣời điều huấn dụ là: Đôn nhân luân (đề cao đạo luân thƣờng); Chính tâm thuật (giữ cho bụng dạ ngay thẳng); Vụ bản nghiệp (chăm lo nghề nghiệp gốc); Thƣợng tiết kiệm (đề cao tiết kiệm); Hậu phong tục (làm cho phong tục tốt đẹp); Huấn tử đệ (dạy bảo con em); Sùng chính học (tôn chính học); Giới dâm thắc (răn tránh gian tà, dâm dục); Thận pháp thủ (cẩn thận tuõn theo phỏp luật); Quảng thiện hành (làm nhiều việc thiện). 18 tài liệu này đƣợc dịch ra chữ Nôm (Thập điều diễn ca) để dân dễ hiểu, dễ nhớ, dễ phổ biến. Việc này đƣợc triển khai rất ráo riết, cho dù nó đó gõy khụng ớt phiền hà cho nhõn dõn: Vui xem hỏt Nhạt xem bơi Tả tơi xem hội Bối rối đám ma Bỏ cửa bỏ nhà đi nghe giảng thập điều. Bờn cạnh việc ban bố và phổ biến mƣời điều giáo huấn, nhà Nguyễn cũn thực hiện nhiều biện phỏp khỏc nhằm “giỏo hoỏ phong tục” - thực chất là chấn chỉnh lại những chuẩn mực đạo đức Nho giáo trong nhân dân. Những tấm gƣơng hiếu tử (con có hiếu), thuận tôn (cháu biết nghe lời), nghĩa phu (chồng có nghĩa), tiết phụ (vợ biết thủ tiết) đƣợc nhà nƣớc biểu dƣơng, đƣợc tặng thƣởng cả bằng vật chất và tinh thần. Tinh thần Nho giáo trong tang ma, trong hôn lễ cũng đƣợc chú ý chẩn chỉnh. Những biện pháp của nhà Nguyễn, ở một mức độ nhất định, đó góp phần củng cố trật tự trong gia đỡnh, dũng họ, làng xó, củng cố cỏc nguyờn tắc đạo đức Nho giáo, ngũ luân, ngũ thƣờng. Bản thân Tự Đức là một Nho sĩ lớn và một tài tử lớn. Ông thể trạng vốn yếu ốm, thân hỡnh mảnh dẻ, thiờn tƣ thông minh, văn chƣơng thông tuệ. Nhƣ tên gọi của mỡnh, ụng sinh ra là để gánh vác việc lớn (cũn nhỏ, khi đƣợc cha hỏi tên mỡnh cú nghĩa là gỡ, ụng đó trở lời: Hồng là lớn, nặng; Nhậm là gỏnh vỏc [153;596]). Theo số liệu kiểm kê năm 1955 của Viện Đại học Huế tại Viện văn hoá Huế, kết quả thu đƣợc là 611 tập Châu bản thuộc 10 triều đại khác nhau (chỉ cũn độ 1/5 so với trƣớc), trong đó, riêng triều Tự Đức là 352 tập (57%). Điều đó cho thấy một khối lƣợng công văn khổng lồ mà Tự Đức phải phê duyệt. Trách nhiệm lịch sử mà Tự Đức và triều đại của mỡnh phải gỏnh vỏc là rất lớn. Hàng loạt vấn đề mang tính thời cuộc đƣợc đặt ra buộc ông phải giải 19
- Xem thêm -