Con người thân phận và tình yêu trong ca từ trịnh công sơn

  • Số trang: 166 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 49 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Hoàng Đình Đức CON NGƯỜI THÂN PHẬN VÀ TÌNH YÊU TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Hoàng Đình Đức CON NGƯỜI THÂN PHẬN VÀ TÌNH YÊU TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN Chuyên ngành Mã số : Lí luận văn học : 60 22 01 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Dương Hữu Biên Thành phố Hồ Chí Minh – 2013 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Những nội dung nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào. Tác giả luận văn: HOÀNG ĐÌNH ĐỨC 1 LỜI CẢM ƠN Để có thể hoàn thành đề tài luận văn một cách hoàn chỉnh, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện. Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến thầy Dương Hữu Biên, người đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này. Tôi xin gửi lời tri ân nhất đối với những điều mà thầy đã dành cho tôi. Tôi cũng xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người đã động viên, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn. Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị và các bạn trong lớp đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn. TP. Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2013 Học viên thực hiện Hoàng Đình Đức 2 MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1 LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2 MỤC LỤC .................................................................................................................... 3 DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT ................................................. 5 MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 6 1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................................. 6 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 7 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 8 4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................................. 9 5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................. 11 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .................................................................... 12 7. Bố cục của luận văn ...................................................................................................... 13 CHƯƠNG 1: CON NGƯỜI THÂN PHẬN TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN ............................................................................................................................. 14 1.1. Một số khái niệm của đề tài ...................................................................................... 14 1.1.1. Về vấn đề Con người thân phận và Thân phận con người ....................................14 1.1.2. Về khái niệm tình yêu nam nữ ..............................................................................19 1.1.3. Về khái niệm ca từ ................................................................................................22 1.2. Quan niệm của Trịnh Công Sơn về con người thân phận ..................................... 23 1.3. Cội nguồn của quan niệm về con người thân phận trong ca từ Trịnh Công Sơn 31 1.4. Thế giới con người thân phận trong ca từ Trịnh Công Sơn .................................. 36 1.4.1. Hình tượng người mẹ ............................................................................................36 1.4.2. Hình tượng người yêu - người vợ mất chồng........................................................40 1.4.3. Hình tượng người già và trẻ em trong chiến tranh ................................................45 1.4.4. Hình tượng con người tập thể, quê hương, đồng bào, đồng loại...........................49 1.4.5. Con người cá nhân - cái tôi cô đơn bơ vơ, lạc lõng với cảm thức tha hương .......51 CHƯƠNG 2: TÌNH YÊU NAM NỮ TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN ...... 55 2.1. Quan niệm và cội nguồn quan niệm tình yêu nam nữ của Trịnh Công Sơn........ 55 2.1.1. Quan niệm của Trịnh Công Sơn về tình yêu nam nữ ............................................55 2.1.2. Cội nguồn quan niệm về tình yêu nam nữ của Trịnh Công Sơn ...........................60 2.2. Chủ thể và đối tượng của tình yêu nam nữ ............................................................. 62 2.2.1. Chủ thể trong tình yêu - hình tượng nhân vật tôi ..................................................62 2.2.2. Đối tượng trong tình yêu - hình tượng em ............................................................64 3 2.3. Những dạng thức, cung bậc biểu hiện và cảm xúc trong tình yêu Nam nữ ......... 67 2.3.1. Tình yêu mang đến những cảm xúc say sưa, ngất ngây và niềm hạnh phúc ........67 2.3.2. Sự cô đơn trong tình yêu .......................................................................................70 2.3.3. Nỗi ám ảnh, nhớ nhung và gắn bó với một bóng hình người nữ ..........................74 2.3.4. Nỗi day dứt, ăn năn, nuối tiếc của hình tượng tôi .................................................77 2.3.5. Nỗi ám ảnh về những cuộc chia ly, tan vỡ và phụ rẫy trong tình yêu ..................79 2.3.6. Sự đồng cảm, vị tha, bao dung, độ lượng trong tình yêu ......................................83 CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CON NGƯỜI THÂN PHẬN VÀ TÌNH YÊU NAM - NỮ TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN ........................... 87 3.1. Nghệ thuật biểu hiện con người thân phận và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn ...................................................................................................................................... 87 3.1.1. Về việc khai thác và sử dụng hệ thống từ ngữ ......................................................87 3.1.2. Về việc khai thác và sử dụng các phương thức diễn đạt .......................................93 3.2. Hiệu quả của nghệ thuật biểu hiện con người thân phận và tình yêu ................ 105 3.3. Những đóng góp của Trịnh Công Sơn trên phương diện ngôn từ đối với sự phát triển của tiếng Việt .......................................................................................................... 107 KẾT LUẬN .............................................................................................................. 111 TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 115 PHỤ LỤC ................................................................................................................. 118 4 DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT Kí hiệu thời gian < > ( năm): khoảng năm, ví dụ: < > 1975: khoảng năm 1975 <= (năm): (năm) hoặc trước (năm), ví dụ: <=1960: 1960 hoặc trước 1960 >= (năm): (năm) hoặc sau (năm), ví dụ: >= 1972: 1972 hoặc sau 1972 <: trước năm, ví dụ < 1972: trước năm 1972 Các chữ viết tắt (MI): Michiko Yoshii (BÝ): Bửu Ý Kí hiệu khác (?): chưa rõ, cần thêm thông tin. 5 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Nền văn nghệ Tiền chiến nước ta đã đạt được những thành tựu rực rỡ trên mọi thể loại. Riêng về âm nhạc, một số ca khúc không chỉ là những bài hát đơn thuần, mà còn mang cả tính thơ nữa. Ta có thể gặp những sáng tác kiểu này ở các tác giả Từ Linh - Đoàn Chuẩn, Văn Cao, Đặng Thế Phong. Vào những năm 1960, ở miền Nam xuất hiện một nhạc sĩ mà theo một số nhà nghiên cứu, ông không chỉ là nhạc sĩ mà còn là thi sĩ, đó là Trịnh Công Sơn. Có lẽ Văn Cao là người đầu tiên gọi Trịnh Công Sơn là thi sĩ: “Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người ca thơ (chantre) bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào chính, cái nào là phụ.” [16; tr.68]. Nguyễn Trọng Tạo trong một bài báo đã viết: Người ta vẫn gọi Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ chứ chưa mấy ai gọi anh là nhà thơ, dù anh cũng đã in dăm ba bài thơ lẻ. Cũng có người gọi anh là “người thơ ca” hay “người hát thơ”, nghĩa là, anh là người tác hợp giữa thơ và nhạc. Nhưng với tư cách là một nhà thơ, tôi đã khảo sát ca từ của Trịnh Công Sơn, và tôi dám khẳng định rằng, anh chính là một nhà thơ đích thực [18; tr.418]. Trên góc độ chuyên môn, nhà nghiên cứu âm nhạc Dương Viết Á cho rằng, chỉ xét riêng về phần ca từ trong âm nhạc, nhiều nhạc sĩ cần được gọi thêm là nhà thơ, thậm chí nên được tuyển chọn vào các tập thơ của thế kỉ XX như: Đặng Thế Phong, Văn Cao, Trịnh Công Sơn. Nhìn ra ngoài biên giới, tên tuổi Trịnh Công Sơn đã vượt khỏi phạm vi nhỏ hẹp của đất nước và đến với thế giới, nhất là các nước Nhật Bản, Pháp, Mỹ và được ghi trong bộ bách khoa Les Million của nước Pháp với những dòng như sau: “Nhiều thi nhân Việt Nam ngày nay đã tìm hơi thở hùng ca của tổ tiên ngày trước để hát nỗi đau của mình. Trịnh Công Sơn nổi bật giữa những tài năng trẻ đó. Bài hát của anh tràn ngập thành phố và thôn quê. Trịnh Công Sơn cất cao tiếng hát thi nhân mà đạn bom không bao giờ dập tắt được” [16; tr.149 ]. Từ những nhận định trên, có thể nói các bài hát của Trịnh Công Sơn, chỉ xét riêng về ca từ, ta có thể thấy chúng là những bài thơ đích thực, thậm chí có thể phân loại thành các thể thơ khác nhau. Trịnh Công Sơn đã viết khoảng 600 tác phẩm, về chủ đề thân phận con người Việt Nam trong cuộc chiến chống ngoại xâm, khát vọng hòa hợp dân tộc, tình yêu quê hương, tình yêu đôi lứa... Hầu hết trong số đó là những tác phẩm có giá trị. Kể từ khi ông qua đời 6 cho đến nay, rải rác đây đó đã có một số công trình bắt đầu đi nghiên cứu về phần ca từ trong âm nhạc của ông. Có những người viết luận văn, luận án, có những người viết thành sách dài hàng mấy trăm trang, đó là chưa kể một số bài viết đăng trên các báo và tạp chí. Song phải thừa nhận một thực tế, gia tài âm nhạc Trịnh Công Sơn là di sản tinh thần vô giá và đồ sộ, mà các công trình nghiên cứu hiện nay mới chỉ đang bước đầu bóc tách những lớp trầm tích đầu tiên. Do vậy, có thể nói, ca từ Trịnh Công Sơn vẫn còn là một khu rừng đầy bí ẩn, cần được tiếp tục đi sâu nghiên cứu ở những góc độ, phương diện khác nhau. Chúng tôi thấy rằng vấn đề con người thân phận - hiểu theo phạm vi hẹp và sâu, đó là số phận của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến tranh (khác với thân phận con người, phạm vi rộng và chung chung mà một vài công trình khác đã đề cập) và tình yêu nam nữ là đề tài chưa thật sự được khai thác, phân tích theo chiều sâu, để làm rõ tư tưởng, tầm vóc, tài năng và hơn hết là nhân cách của Trịnh Công Sơn. Ngoài ra chúng tôi cũng nhận thấy rằng, người hâm mộ, người yêu nhạc, thơ của Trịnh Công Sơn, thậm chí cả những ca sĩ chuyên nghiệp cũng như một số tác giả nghiên cứu trước đã có một số quan niệm, cũng như dùng một số khái niệm, từ ngữ mà theo chúng tôi là chưa thật thỏa đáng, nên cần phải xem xét lại thật thận trọng trên tinh thần khoa học. Hơn nữa, tác giả luận văn này cũng có mối đồng cảm với thơ - nhạc Trịnh Công Sơn. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề Con người thân phận và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn này. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Luận văn có mục đích tìm hiểu những biểu hiện của con người thân phận, bức tranh số phận con người trong cuộc chiến, cũng như những quan niệm và biểu hiện, dạng thức phức tạp của tình yêu nam nữ trong các ca khúc Trịnh Công Sơn, từ đó thấy được tinh thần nhân đạo, nhân văn chủ nghĩa và tình yêu con người với niềm bi thiết sâu sắc của người nhạc sĩ này. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Xác định cơ sở lí thuyết chung trong quan niệm nghệ thuật về con người với một số khái niệm căn bản như con người thân phận, tình yêu, ca từ… và những vấn đề có liên quan 7 để từ đó làm điểm tựa để đi vào nghiên cứu mảng con người thân phận và tình yêu nam nữ trong một số các ca khúc cụ thể. - Đi vào một số chủ đề cụ thể trong mảng con người thân phận và tình yêu, phân tích một số tác phẩm cả nội dung lẫn nghệ thuật, để làm rõ nét độc đáo, khác biệt trong quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả. - Một vấn đề cũng rất quan trọng, đó là chúng tôi đưa ra một vài gợi ý mới về cách dùng một số từ ngữ, khái niệm, cũng như làm rõ một vấn đề mà xưa nay có nhiều tác giả đã ngộ nhận: liệu Trịnh Công Sơn có chịu ảnh hưởng của tư tưởng Hiện Sinh chủ nghĩa hay đó chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên? Đồng thời đi tìm nguyên nhân để lí giải cho hiện tượng trên. Từ sự phân tích trên, đi đến kết luận về tài năng, phong cách nghệ thuật cũng như nhân cách, tâm hồn, lối sống và tầm tư tưởng của Trịnh Công Sơn. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của luận văn là phần ca từ (phần chữ, đã tách rời khỏi khuông nhạc) của Trịnh Công Sơn. Từ khi sáng tác xong, ca từ ca khúc Trịnh Công Sơn được công bố và in trong nhiều tuyển tập ca khúc như: Ca khúc Trịnh Công Sơn [22], Ca khúc da vàng [23], Kinh Việt Nam [24], Ta phải thấy mặt trời [25], Một cõi đi về [27], Khói trời mênh mông [28], Em còn nhớ hay em đã quên [29], Những bài ca không năm tháng [30]… Trong luận văn này, đối tượng khảo sát của chúng tôi là 60 văn bản ca từ (không có phần nhạc) được công bố trong tập sách Trịnh Công Sơn – Vết chân dã tràng của tác giả Ban Mai [13]. Văn bản những ca khúc này đã được công bố với sự cho phép của bà Trịnh Vĩnh Trinh - em gái nhạc sĩ, người thừa kế bản quyền nhạc Trịnh và ông Phạm Văn Đỉnh chủ tịch hội văn hóa Trịnh Công Sơn ở Pháp - người đã có công sưu tầm và chỉnh lí thư mục ca khúc Trịnh Công Sơn. Có thể nói, đây là nguồn tư liệu đáng tin cậy để nghiên cứu ca từ Trịnh Công Sơn (danh mục ca khúc sẽ được chúng tôi trình bày cuối luận văn này). Ngoài những văn bản ca từ kể trên, đề tài còn sử dụng một loại “siêu văn bản” khác, đó là hoàn cảnh lịch sử - xã hội, không khí thời đại, không khí cuộc chiến tranh kéo dài 20 năm chia cắt đất nước, trong đó các ca khúc Trịnh Công Sơn đã thoát thai và hoàn cảnh cá nhân, những trang nhật kí, những dòng tâm sự của nhạc sĩ trên truyền hình… Đây có thể 8 xem như những sự gợi mở nho nhỏ giúp chúng tôi đi sâu hơn vào thế giới ca khúc, cũng là thế giới nghệ thuật của Trịnh Công Sơn. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Thế giới nghệ thuật của Trịnh Công Sơn là cả một gia tài văn hóa đồ sộ và mênh mông, do đó, các ca khúc của ông có thể nghiên cứu, xem xét trên nhiều phương diện khác nhau: phương diện lí luận về âm nhạc, phương diện triết học, tính triết lí, quan niệm nghệ thuật về con người, về đời sống, về cái đẹp, cõi nhân sinh… Tuy nhiên, luận văn này chỉ dừng lại ở việc đi sâu tìm hiểu về mặt con người thân phận và tình yêu nam - nữ trong ca từ của ông. 4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4.1. Vấn đề thân phận con người được đề cập trong chủ nghĩa Hiện Sinh phương Tây. Chủ nghĩa Hiện Sinh ra đời gắn với nhiều tên tuổi, song có thể phân ra làm hai phái, đó là phái Hữu thần và Vô thần. Con người với tính cách là một hữu thể, với những suy tư trăn trở về thân phận được đề cập đến trong tư tưởng của các triết gia Kierkegaard, St. Augustine và Heidegger. Trong đó Martin Heidegger (1889-1976), triết gia vĩ đại người Đức, đã tập trung tìm hiểu ý nghĩa của khái niệm tồn tại và cấu trúc bản thể của tồn tại người. Bản thể luận của Heidegger là học thuyết về cấu trúc của tồn tại con người. Khác với triết học truyền thống Âu châu chỉ đặt ra vấn đề hữu thể nói chung, Heidegger cho rằng tồn tại con người mới là xuất phát điểm, là hiện thực đầu tiên có tính thứ nhất. Quan niệm này của Heidegger là một đóng góp mới vào tư tưởng triết học của thế giới. 4.2. Sau khi Trịnh Công Sơn qua đời, đã có một số sách viết về cuộc đời và sự nghiệp của ông. Đầu tiên phải kể đến là cuốn sách có tựa đề Trịnh Công Sơn - một người thơ ca, một cõi đi về do các tác giả Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Đoàn Tử Huyến sưu tầm và biên soạn [32]. Sau đó cuốn sách này được bổ sung và tái bản với tên gọi khác là Một cõi Trịnh Công Sơn (Huế, nhà xuất bản Thuận Hóa, trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2002). Tiếp sau đó nhiều cuốn sách lần lượt được phát hành, đáng chú ý là có nhiều cuốn tập hợp bài viết của nhiều tác giả: Trịnh Công Sơn - cát bụi lộng lẫy [15], Trịnh Công Sơn - người hát rong qua nhiều thế hệ [16], Trịnh Công Sơn - rơi lệ ru người [14], Trịnh Công Sơn - cuộc đời, âm nhạc, thơ, hội họa và suy tưởng [17]… Về những cuốn sách của các tác giả là cá nhân, có thể kể đến các tác phẩm như: Trịnh Công Sơn - một nhạc sĩ thiên tài của Bửu Ý [38], Trịnh Công Sơn - có một thời như thế của Nguyễn Đắc Xuân [37], đặc 9 biệt là cuốn sách do Hoàng Phủ Ngọc Tường, một người bạn rất thân của cố nhạc sĩ viết với tựa đề Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của hoàng tử bé [34]. Ngoài ra còn phải kể đến cuốn sách mang tính chuyên luận của Bùi Vĩnh Phúc với tựa đề Trịnh Công Sơn - ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật [20]. Nhìn chung, những sách này chủ yếu tập hợp bài viết của bạn bè, đồng nghiệp, của một số nhà báo và một vài nhà nghiên cứu văn học. Những bài viết hầu hết có dung lượng nhỏ, chủ yếu kể về những kỉ niệm, bày tỏ cảm xúc, ấn tượng đối với nhạc sĩ và những hình ảnh trong các bài hát của ông. Một số tác giả đã đi vào cảm nhận cái hay cái đẹp của ca từ, thể hiện sự đồng cảm về thân phận con người trong chiến tranh qua một vài ca khúc phản chiến, cảm nhận về nỗi đau trong tình yêu nhân thế, và những phát hiện về tính triết lý… Có rất ít những bài viết mang tính chất nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ (ca từ), lại càng hiếm những bài viết về con người thân phận và tình yêu một cách có hệ thống, chặt chẽ. Cuốn sách mang tính chuyên luận đầu tiên nghiên cứu ca từ Trịnh Công Sơn có tựa đề Trịnh Công Sơn - ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật do nhà văn Bùi Vĩnh Phúc viết. Tập chuyên luận có dung lượng 327 trang, gồm 6 chương, trong đó tác giả đã dành hẳn một chương (chương 1) để viết về những ám ảnh nghệ thuật, đó là những ám ảnh về chiến tranh, về sự cô đơn, sự phụ rẫy trong tình yêu, về sự gắn bó với một người nữ, về thân phận con người, về cái vô thường của đời sống. Tác giả đã đề cập đến những vấn đề thân phận con người và tình yêu, nhưng còn khái quát, chung chung. Ông chỉ dừng lại ở việc phân tích một vài ca khúc, lẩy ra một vài ví dụ minh họa cho luận điểm của mình, chứ chưa đi sâu vào tìm hiểu về con người thân phận với tư cách là con người dân tộc cụ thể, con người Việt Nam với những đau thương, mất mát trong cuộc chiến tranh. Ông cũng chưa đi sâu vào tìm hiểu mảng ca khúc về tình yêu nam nữ với những nội dung phong phú vốn có của nó. Song có thể nói, đây là tập chuyên luận khá hay và có giá trị về học thuật. Ngoài những cuốn sách kể trên, phải kể đến cuốn luận văn thạc sĩ chuyên nghành lý luận ngôn ngữ của Nguyễn Thị Bích Hạnh, đại học sư phạm Hà Nội (2008) với đề tài Hệ thống biểu tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn. Trong luận văn này, tác giả đã hệ thống hóa những biểu tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn, sắp xếp chúng theo hệ thống, từ hệ thống những biểu tượng trực quan đến những hệ thống biểu tượng phi trực quan và chuyển hóa giữa chúng. Từ đó soi chiếu, giải mã các biểu tượng trong hệ thống, góp phần làm sáng rõ thế giới nghệ thuật và thế giới tinh thần của người nghệ sĩ. Luận văn này sau đó đã được xuất bản thành sách với tựa đề Biểu tượng ngôn ngữ trong ca từ của Trịnh Công Sơn [9], 10 sau đó cuốn sách này được bổ sung thêm một số nội dung và tái bản với tựa đề Trịnh Công Sơn - hạt bụi trong cõi thiên thu [10]. Kế đến là luận văn thạc sĩ, chuyên ngành văn học Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thúy, đại học Quy Nhơn với đề tài cũng gần gũi với đề tài của chúng tôi, đó là Thân phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn. Tập luận văn này sau đó cũng đã được bổ sung và xuất bản thành cuốn sách Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng, lấy tên tác giả là Ban Mai. Cuốn sách này khi xuất bản đã gặp phải sự cố và bị đình bản. Chúng tôi cũng đã đọc qua để xem xét một cách cẩn trọng, tránh mắc những sai lầm, thiếu sót, khi triển khai luận văn của mình. Luận văn của tác giả Thanh Thúy nghiên cứu về diện là chủ yếu mà ít đi vào phân tích về điểm. Mặt khác, những nội dung mà luận văn này triển khai cũng khác với nội dung luận văn mà chúng tôi nghiên cứu. Ở phần một, tác giả đi vào những nội dung chính như tình hình nghiên cứu Trịnh Công Sơn trong và ngoài nước; quá trình hoạt động tranh đấu và sáng tác theo thời gian; tầm ảnh hưởng của Trịnh Công Sơn trước và sau 1975; Trịnh Công Sơn và chiến tranh Việt Nam; tình yêu và nỗi cô đơn, ám ảnh về cái chết; lí thuyết ca từ…Tóm lại, luận văn này khai thác vấn đề rất khái quát, song có ưu điểm là nguồn tư liệu phong phú và dồi dào. Cuối cùng, về công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài, phải kể đến luận án tiến sĩ của tác giả Michiko Yoshii (người Nhật) với đề tài Ca từ trong nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn tại trường đại học Paris VII, Pháp (7/1991). Tác giả đã bảo vệ thành công bằng tiếng Pháp và đề tài được đánh giá rất cao. Tóm lại, nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trước cũng đã đề cập đến vấn đề thân phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn, nhưng họ chỉ đi khái quát, sơ lược, chung chung, hoặc đi quá rộng, phân tích có diện, mà chưa có điểm. Chưa đi sâu phân tích một cách sâu sắc, có hệ thống vấn đề con người thân phận với tư cách là con người dân tộc cụ thể, với những đau thương, mất mát trong chiến tranh và tình yêu đôi lứa với muôn vàn trạng thái, cảm xúc phức tạp của nó. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp phân tích - miêu tả được chúng tôi sử dụng chủ yếu trong trường hợp cần tái hiện những kiểu con người thân phận cụ thể như người mẹ, người vợ trong chiến tranh, người già và em bé,…trong tương quan với không gian hủy diệt của chiến tranh. Qua 11 đó thấy được bản chất bạo tàn, phi nghĩa của chiến tranh xâm lược gây ra cho con người. Từ đó ta mới thấy được cái bi kịch thân phận như một định mệnh mà con người là nạn nhân không lối thoát. - Phương pháp so sánh - đối chiếu dùng trong nhiều trường hợp. Thứ nhất, dùng để tìm ra những tương đồng và dị biệt trong tư tưởng Trịnh Công Sơn về thân phận so với các trào lưu tư tưởng, triết học khác như Hiện Sinh, Phật giáo. Từ đó thấy được ảnh hưởng của Phật giáo lên thế giới quan của ông. Thứ hai, so sánh, đặt hình tượng nữ của Trịnh bên cạnh người nữ của Nguyễn Du để thấy được chất kì ảo trong thủ pháp xây dựng hình tượng của Trịnh Công Sơn và chất hiện thực ở hình tượng nữ của Nguyễn Du. So sánh Trịnh với Kawabata để thấy được nét tương đồng giữa hai thiên tài này trong quan niệm thẫm mỹ, đó là cái đẹp thường phảng phất nỗi buồn và mong manh. - Phương pháp thống kê - định lượng được dùng để: (1) Khảo sát, thống kê tần số xuất hiện của đại từ tôi và anh trong hệ thống ca khúc Trịnh Công Sơn. Qua sự khảo sát định lượng ấy, thấy được định mệnh dở dang, cô đơn truyền kiếp ngầm dự báo trong cách xưng hô đặc biệt ấy của ông với người tình. (2) Thống kê những tính từ âm tính, những từ ngữ lạ, để từ đó có thể đưa ra những nhận xét khách quan về kiểu tư duy, quan niệm về hình tượng nghệ thuật, khuynh hướng thẫm mỹ cũng như đặc trưng của hình tượng trong các tác phẩm của Trịnh Công Sơn. Hơn nữa, còn thấy được khả năng sáng tạo ngôn từ phong phú, độc đáo của ông. - Phương pháp liên ngành bao gồm sự tìm hiểu về tiểu sử, các quá trình hoạt động nghệ thuật và “dấn thân” của Trịnh Công Sơn. Tìm hiểu những bài viết, các cuộc phỏng vấn trên truyền hình của tác giả… nhằm đưa ra những kết luận về sự hình thành tư tưởng, quan niệm thẫm mĩ, cũng như ý nghĩa ẩn dụ của những từ ngữ khó hiểu trong các tác phẩm của ông. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Về mặt lí luận Đã có nhiều công trình đề cập đến vấn đề thân phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh Công sơn, nhưng hầu hết các công trình hoặc đi quá khái quát, sơ lược, theo chiều rộng, hoặc còn rời rạc, chưa phân tích một cách có tính hệ thống, có chiều sâu. Do đó, đề tài này sẽ không đi rộng như của các tác giả khác, mà sẽ đi theo một phạm vi hẹp và có chiều sâu, cũng như sẽ đưa ra một vài gợi ý có tính chất gợi mở về cách dùng một số từ ngữ, khái 12 niệm… trong ca từ của Trịnh Công Sơn. Kết quả của luận văn sẽ là một đóng góp mới vào việc tìm hiểu về giá trị văn bản nghệ thuật dưới góc nhìn văn học, quan niệm nghệ thuật về con người và tình yêu. - Về mặt thực tiễn Nói đến nhạc Trịnh là nói đến một dòng nhạc riêng biệt, độc đáo và có tính nghệ thuật, tính hàn lâm rất cao. Đôi khi ta chỉ biết hay mà không thể lí giải, cắt nghĩa theo tư duy thông thường. Do đó, về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp cho những người quan tâm đến thế giới âm nhạc Trịnh Công Sơn có cái nhìn đa chiều, sâu sắc và có hệ thống hơn về giá trị các tác phẩm nhạc - thơ của Trịnh, mà trong đó, ngoài đóng góp về các thủ pháp nghệ thuật mới, lạ, độc đáo, còn phải kể đến nội dung tư tưởng, thế giới quan, nhân sinh quan của tác giả. Đồng thời nó gợi mở cho những người yêu thơ - nhạc của Trịnh những cách hiểu sâu hơn về tình yêu, thân phận, cũng như quan niệm thẫm mĩ của tác giả. Để từ đó ta biết rung cảm, biết thưởng thức cái hay, cái đẹp của nhạc Trịnh. Đó cũng là khả năng gợi tả vô cùng phong phú, sự giàu có của tiếng Việt. 7. Bố cục của luận văn Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương như sau: Chương 1: Con người thân phận trong ca từ Trịnh Công Sơn Chương 2: Tình yêu nam nữ trong ca từ Trịnh Công Sơn Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện con người thân phận và tình yêu nam nữ từ Trịnh Công Sơn. 13 trong ca CHƯƠNG 1: CON NGƯỜI THÂN PHẬN TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN Mở đầu Con người thân phận trong ca từ Trịnh Công Sơn được quan niệm như là một kiểu con người thiên về xu hướng âm bản, với những nỗi khổ đau, bất hạnh… Song, căn cứ theo từng giai đoạn sáng tác, chúng tôi phân ra làm hai biểu hiện cơ bản của dạng người này: (1) con người thân phận trong giai đoạn chiến tranh với những đau thương mất mát, và (2) con người thân phận trong cuộc sống đời thường gắn với những quan niệm có tính chất triết lí, suy niệm về cõi nhân sinh, về kiếp người. Vì vậy, có thể nói, con người thân phận trong ca từ Trịnh Công Sơn có tính hệ thống chặt chẽ. Ngay cả mảng ca khúc tình yêu, thì trong tình yêu cũng có thân phận nữa. Sau đây chúng tôi sẽ trình bày một số khái niệm của đề tài cùng những quan niệm của Trịnh Công Sơn về con người thân phận, được trích dẫn từ trong các tập hồi kí, các tập giới thiệu ca khúc của ông. 1.1. Một số khái niệm của đề tài 1.1.1. Về vấn đề Con người thân phận và Thân phận con người Vấn đề thân phận con người là điều gì đó vừa cụ thể nhưng lại cũng vừa bao la, vượt quá tầm hiểu biết của con người. Thân phận con người là những gì ta trải nghiệm mỗi ngày. Xoay quanh thân phận con người và ý nghĩa đời người, luôn tồn tại những câu hỏi làm con người không ngừng băn khoăn đi tìm kiếm sự giải đáp. Trong hành trình làm người, có lúc ta phải dừng lại và tự vấn: Ta là ai? Ta từ đâu đến và sẽ đi về đâu? Sứ mệnh của ta giữa đời này là gì?... Những câu hỏi ấy đã xuất hiện từ buổi bình minh của loài người. Bởi chúng là những câu hỏi có tính chất truy vấn bản thể, truy tìm đến tận cùng bản thể con người. Thân phận con người được phản ánh trong triết học Phật giáo. Vấn đề thân phận được phản ánh trong giáo lí Tứ Diệu Đế, biểu hiện tập trung ở Khổ Đế. Phật quan niệm đời sống con người, thân phận con người về căn bản là khổ đau. Có người cho rằng, Phật chủ trương như vậy là bi quan, yếm thế. Thực ra, Phật nhìn nhận cuộc sống, thân phận con người một cách khách quan. Không ru người ta vào giấc mơ ở cõi Niết Bàn hay miền Cực Lạc, cũng không làm cho người ta bi quan trong cuộc sống. Phật chỉ dạy cho con người thức tỉnh, nhận thức rõ cuộc đời, thân phận theo đúng chân tướng của nó. Từ đó chỉ dẫn họ đi tìm con 14 đường giải thoát. Quan niệm về thân phận con người trong triết học Phật giáo thiên về xu hướng âm tính: khổ đau, bất hạnh. Đó là những gì Phật đã nghiệm chứng. Người đời sống phần lớn chỉ lo tham lam hưởng thụ. Họ cho rằng cuộc đời là một bữa tiệc bất tận mà không ý thức được cái lạc thú ấy chỉ là khoảnh khắc, chóng tàn chóng mất. Một ngày nào đó cái vô thường ập đến thì con người sẽ rơi vào bể khổ trầm luân. Từ ý thức về thân phận con người như vậy, Phật đã đi tìm nguyên nhân khiến con người khổ đau, bất hạnh. Ngài cho rằng có vô vàn nguyên nhân, nhưng có ba nguyên nhân chính, đó là Tham - Sân – Si (Tham: lòng tham; Sân: nóng vội, vội vàng, hấp tấp; Si: quá si mê, đắm đuối một điều gì đó). Ba thứ này Phật gọi là tam độc, đó là nguồn gốc, căn nguyên của mọi khổ đau. Mà nguyên nhân dẫn đến tam độc chính là ái dục và vô minh, được mô tả trong công thức sau: Nghiệp Ái dục + vô minh = sự khổ đau Ái dục = tình ái + dục vọng, ham muốn; Vô minh: không sáng suốt, lí trí; Nghiệp: việc làm, hành động cụ thể. Vì vậy, Phật đã đề ra triết lí diệt dục: diệt cái đắm mê ngũ dục phong bế đầu óc con người để giải thoát họ khỏi khổ đau. Bởi con người càng thoát khỏi ham muốn bao nhiêu thì càng bớt khổ đau bấy nhiêu và gần suối nguồn hạnh phúc hơn. Vấn đề thân phận con người cũng được đề cập trong chủ nghĩa Hiện Sinh. Thực sự, chỉ đến chủ nghĩa Hiện Sinh thì thân phận con người mới trở thành tâm điểm và được đưa ra bàn luận một cách rốt ráo, cả trong triết học lẫn văn chương. Những câu hỏi lớn về bản ngã, ý nghĩa đời sống đã được nêu ra từ lâu. Song phải đến thế kỉ XX - thế kỉ của hai cuộc đại chiến mà hậu quả là sự hủy diệt sinh mạng và sự sụp đổ niềm tin của con người trước một thế giới đầy tội ác do chủ nghĩa Phát xít gây ra - thì những câu hỏi ấy mới được các nhà Hiện Sinh nêu lên một cách cấp bách. Thân phận con người giờ đây đã trở thành vấn đề lớn của nhân loại. Cụm từ thân phận con người xuất hiện trong các tác phẩm triết học và văn học Hiện Sinh. Đầu tiên, nó xuất hiện với tư cách nhan đề bộ tiểu thuyết của nhà văn Pháp André Malraux (1901-1976), nguyên văn tiếng Pháp là La condition humaine (condition: vị trí, thân phận, thân thế; humaine: con người, loài người). Tác phẩm đoạt giải thưởng GonCourt 15 (1933). Vấn đề thân phận con người cũng được tái hiện trong tác phẩm của các triết gia khác như Augustine, Kieekegard, Heiderger. Họ có điểm giống nhau, đó là nỗi khắc khoải khi nêu lên những câu hỏi có tính chất suy tư về hữu thể, mặc dù họ rất khác biệt nhau về thời đại và hoàn cảnh sống. Về văn chương Hiện Sinh, thân phận con người được phản ánh trong hàng loạt nhân vật với những biểu hiện khác nhau. Người viết tác phẩm đậm chất Hiện Sinh, bi đát về phận người nhất có lẽ là Frank Kafka. Tác phẩm của ông, nhất là hai truyện Vụ án và Lâu đài, đã mở ra trước mắt người đọc một thế giới hoàn toàn phi lí, thế giới mà con người là nạn nhân của hoàn cảnh xã hội. Cuộc sống không có sự đãm bão. Con người không được luật pháp bảo vệ. Họ có thể bị buộc tội bất cứ lúc nào, không có quyền được khiếu nại, không được đem ra xét xử. Người ta không thể hiểu được thế giới ấy như thế nào, chỉ biết rằng sinh mệnh của mình đang trong tình trạng bị kết án và treo lơ lửng. JoJefk K và K là những nhân vật tượng trưng cho thân phận bi đát, bị giam hãm trong thế giới đầy nghịch lí: cô đơn, bất lực trước thực tại và thường trực nỗi lo âu, bất an về số phận của chính mình. Thân phận con người trong sáng tác của A. Camus thì lại khác. Ở Camus, cảm giác về sự phi lí là khởi nguồn cho lối sống hiện sinh: sự nổi loạn. MeurSailt trong Người xa lạ đã bộc lộ những tình cảm khác thường với thế giới xung quanh, coi tình mẫu tử, tình yêu, hành vi giết người, cái chết bản thân, chẳng gì đáng quan trọng cả. Nhân vật của Camus đã nổi loạn, khước từ những chuẩn mực xã hội, muốn sống thực với chính mình, vì vậy đã trở thành kẻ xa lạ, lạc loài với xã hội và bị lên án. Và còn vô số những nhân vật, những kiểu con người thân phận trong các tác phẩm khác: Caligula, Dịch hạch, Buồn nôn… Tóm lại, con người trong chủ nghĩa Hiện Sinh là những kiểu con người bi kịch, bị đọa đày bởi hoàn cảnh, kiểu con người bất lực và vô vọng trước đời sống. Trên đây là vấn đề thân phận con người trong triết học và tôn giáo. Bây giờ chúng ta sẽ cùng tìm hiểu quan niệm về thân phận con người trong cuộc sống đời thường. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta cũng hay nhắc và nói đến “thân phận con người”. Nó được dùng với nghĩa tương đương như số phận, số mệnh. Để hiểu rõ nội dung của cụm từ này, chúng ta cần khu biệt, tìm ra nội hàm của chúng. Trước hết, cụm từ “thân phận con người” hàm chứa một nội dung rộng lớn, mang ý nghĩa phổ quát: đó là cuộc sống con người với những niềm vui, hạnh phúc, hoan lạc lẫn cả những nỗi khổ đau, bất hạnh, sầu não. 16 Thứ nữa, cụm từ “thân phận con người” không chỉ dùng để mô tả trạng huống đời sống tinh thần, tình cảm con người mà còn được dùng để phản ánh trạng thái đời sống vật chất nữa: thân phận con người bao gồm giàu - nghèo; quyền quý, cao sang hay bần tiện, bình dân. Vì vậy trong cuộc sống, ta vẫn thường nghe những câu nói cửa miệng đại loại như: thân phận con người mà - giàu ăn khó chịu hay số phận con người mà - trời cho ai nấy hưởng… Tóm lại, nghĩa của cụm từ “thân phận con người” rất khái quát, bao gồm cả đời sống tinh thần lẫn đời sống vật chất; cả những đặc trưng âm tính và dương tính – mang ý nghĩa rộng, như chúng tôi đã phân tích ở trên. Vấn đề thân phận con người trong ca khúc Trịnh Công Sơn, xưa nay cũng đã có một số công trình, tạp chí đề cập và gọi bằng những cụm từ như thân phận con người hay thân phận mà chúng ta đã nghe rất quen thuộc. Chẳng hạn, Phạm Duy đăng trên tạp chí Văn (5, 6/2001, Mỹ) bài viết tựa đề Nhạc Trịnh Công Sơn - Tình yêu và Thân phận. Tạp chí Văn học (10, 11/2001, Mỹ) đăng bài viết tựa đề Trịnh Công Sơn - Tình yêu - Quê hương - Thân phận. Nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Thị Minh Châu cũng đăng trên Việt Báo (4/2007) bài viết nhan đề Thân phận, quê hương và tình yêu trong ca khúc Trịnh Công Sơn. Và nhiều công trình khác… Về mảng luận văn, luận án, tác giả Nguyễn Thị Thanh Thúy, đại học Quy Nhơn cũng đã làm luận văn thạc sĩ với đề tài Thân phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn. Như vậy, các tác giả trước đã dùng cụm từ thân phận con người, hay thân phận. Ta dễ dàng xác định được, xét về mặt từ loại, chữ thân phận tồn tại khách quan như một danh từ, và nó mang một ý nghĩa khái quát, chung chung. Vậy lí do nào, và tại sao chúng tôi chọn và đặt tên cho một trong hai nội dung trọng tâm của luận văn (bên cạnh nội dung tình yêu nam – nữ) là con người thân phận chứ không phải là thân phận con người như các tác giả trước đã làm? Những công trình trước đây vẫn quen dùng cụm từ “thân phận con người”, khác với luận văn của chúng tôi là “con người thân phận”. Sở dĩ chúng tôi đặt như vậy là vì những lí do sau: Thứ nhất, có sự khác nhau về nội hàm giữa hai cụm từ này. Trong cụm từ “thân phận con người”, chữ thân phận tồn tại với tính cách là một danh từ, mang ý nghĩa khái quát, rất rộng, bao gồm cả những đặc trưng âm bản, lẫn dương tính về số phận con người. Trong khi 17 đó, cụm từ “con người thân phận” mà chúng tôi dùng thì chữ thân phận tồn tại với tính cách là một tính từ. Nó gợi ra thế giới con người với những đặc trưng âm bản, âm tính: những con người buồn, cô đơn, đớn đau, bất hạnh. Như thế, cụm từ “con người thân phận” mang ý nghĩa hẹp hơn mà lại sâu hơn so với nghĩa của cụm từ “thân phận con người”. Mà thế giới con người trong ca từ Trịnh Công Sơn đa số là những con người thiên về nỗi bất hạnh, buồn đau, cô đơn hơn là hạnh phúc. Do đó, chúng tôi cho rằng, dùng cụm từ “con người thân phận” thì sẽ sát nghĩa và hợp lí hơn cách gọi truyền thống trước đây. Chúng tôi nghĩ, cách dùng này sẽ chỉ ra được cái đặc trưng khu biệt về thế giới con người được phản ánh trong ca từ Trịnh Công Sơn, đó là thế giới của những con người buồn. Mặt khác, nội hàm hai cụm từ này còn có một sự khác biệt căn bản nữa. Nghĩa của thân phận con người muốn ám chỉ đời sống cá nhân con người theo một quá trình thời gian, trong sự tương tác với môi trường, hoàn cảnh sống. Nghĩa là, khi sinh ra, con người chưa có thân phận, mà ai cũng như nhau cả. Nhưng theo thời gian, theo tuổi tác, theo hoàn cảnh sống (hoàn cảnh gian đình, xã hội và cả hoàn cảnh tự nhiên), qua quá trình thích nghi, mà làm cho con người có một số phận riêng. Như vậy, nói đến thân phận con người là muốn nhấn mạnh đến sự tác động, ảnh hưởng qua-lại, hai chiều giữa hoàn cảnh và tính cách để tạo nên vòng đời, số phận và nét riêng ở mỗi con người. Còn con người thân phận thì khác, nó muốn ám chỉ cái số phận bi kịch, bất hạnh mà ngay khi con người mới sinh ra đã có. Khi mới sinh ra, con người đã bị hoàn cảnh áp đặt ngay lên mình một bi kịch như mà một định mệnh rồi, chứ không cần sống, tương tác với ngoại cảnh mới có được. Ở đây là sự tác động một chiều, và con người hoàn toàn thụ động. Thậm chí cái bi kịch, định mệnh buồn thảm đã mang từ trong kiếp bào thai con người rồi. Như đứa bé trong ca từ Trịnh Công Sơn sinh ra trong chiến tranh là đã lãnh nhận thân phận nô lệ tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người rồi vậy. Theo quan điểm của chúng tôi, đây mới là sự khác nhau căn bản nhất trong nội hàm, ý nghĩa của hai cụm từ này. Thứ hai, cụm từ “con người thân phận” chỉ ra và nhấn mạnh, thế giới con người trong ca từ Trịnh Công Sơn hiện lên như là những bi kịch của thời đại. Con người là nạn nhân, là những bi kịch số phận do hoàn cảnh gây ra. Hoàn cảnh ấy, không có gì khác, chính là cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ cùng các thế lực phản động gây ra ở miền Nam. Con người bị tước đoạt đi những quyền căn bản nhất đó là quyền sống, quyền tự do, quyền hạnh phúc cá nhân mà đáng lẽ ra phải có được. Họ đã trở thành những khuôn mặt biến dạng, đau thương của lịch sử dân tộc. 18
- Xem thêm -