Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở việt nam - thực trạng và giải pháp

  • Số trang: 106 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG KHOA KINH TẾVÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI -------***------- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài: Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nƣớc ở Việt Nam-Thực trạng và giải pháp Sinh viên thực hiện : Kiều Thu Hằng Lớp : Anh 5 Khoá : K 43 Giáo viên hướng dẫn :TS Trịnh Thị Thu Hƣơng Hà Nội, tháng 05/2008 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................1 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM...........................................4 I. Doanh nghiệp Nhà nƣớc và thực trạng hoạt động của doanh nghiệp Nhà nƣớc ở Việt Nam......................................................................................4 1. Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước............................................................4 2. Đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp Nhà nước......................................6 2.1. Đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước......................................................6 2.2. Vai trò của doanh nghiệp Nhà nước..........................................................8 3. Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay...........................................................................................................10 3.1. Quá trình hình thành các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam...............10 3.2. Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam.......13 3.3. Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế...........................................16 II. Một số vấn đề về Cổ phần hoá................................................................19 1. Khái niệm, đặc trưng của Cổ phần hoá....................................................19 1.1. Khái niệm Cổ phần hoá............................................................................19 1.2. Đặc trưng của Cổ phần hoá.....................................................................20 2. Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần........................................................22 3. Phân loại Cổ phần trong Công ty Cổ phần...............................................22 3.1. Cổ phần phổ thông...................................................................................22 3.2. Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập................................................23 3.3. Cổ phần ưu đãi biểu quyết........................................................................23 3.4. Cổ phần ưu đãi cổ tức...............................................................................23 3.5. Cổ phần ưu đãi hoàn lại...........................................................................23 III. Tính tất yếu của quá trình Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nƣớc ở Việt Nam......................................................................................................24 1. Tính tất yếu của quá trình Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam......................................................................................................24 2. Bản chất của Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam.....28 3. Vai trò của Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam.........30 3.1. Cổ phần hoá góp phần xây dựng một Nhà nước mạnh............................30 3.2. Cổ phần hoá góp phần tăng cường hiệu quả đầu tư của toàn xã hội.......31 3.3. Cổ phần hoá đối với sự tăng trưởng của đất nước....................................31 3.4. Cổ phần hoá đối với đời sống kinh tế của người lao động.......................33 3.5. Cổ phần hoá đối với vấn đề tham nhũng..................................................33 4. Mục tiêu của Cổ phần hoá các Doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam.....34 CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM.........................................37 I. Những chủ trƣơng, chính sách của Chính phủ về Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nƣớc trong những năm qua..........................................37 1. Giai đoạn thí điểm từ 1990 đến 1996.........................................................37 2. Giai đoạn mở rộng từ 6/1996 đến 6/1998..................................................39 3. Giai đoạn chủ động từ 7/1998 đến 7/2002.................................................40 4. Giai đoạn đẩy mạnh từ 8/2002 trở đi.........................................................41 II. Thực trạng quá trình Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nƣớc ở Việt Nam......................................................................................................45 1. Về số lượng.................................................................................................45 2. Về cơ cấu....................................................................................................47 3. Về chất lượng..............................................................................................49 III. Đánh giá thực trạng quá trình Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nƣớc ở Việt Nam....................................................................................50 1. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay..............................................50 1.1. Những thuận lợi........................................................................................51 1.2. Những khó khăn........................................................................................52 2. Những thành công đạt được.......................................................................55 3. Một số vấn đề tồn tại và nguyên nhân.......................................................59 3.1. Một số vấn đề tồn tại................................................................................59 3.2. Nguyên nhân.............................................................................................62 CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY NHANH TIẾN TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM.................................................................................................67 I. Phƣơng hƣớng của Nhà nƣớc....................................................................67 II. Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến trình Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nƣớc ở Việt Nam trong những năm tiếp theo..............72 1. Quán triệt sâu sắc về chủ trương và chính sách Cổ phần hoá từ Trung ương đến địa phương..........................................................................72 2. Giải quyết vấn đề lao động việc làm tạo tiền đề cho thực hiện thành công tiến trình Cổ phần hoá...............................................................73 3. Vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp.......................................................75 4. Giải quyết các khoản nợ của doanh nghiệp Cổ phần hoá........................78 5. Vấn đề chính sách đối với Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước...........79 6. Về chính sách ưu đãi đối với người lao động trong doanh nghiệp Cổ phần hoá....................................................................................................80 7. Tăng cường tổ chức, chỉ đạo của Nhà nước đối với công tác Cổ phần hoá....................................................................................................83 8. Tạo môi trường pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho tổ chức và hoạt động của Công ty Cổ phần......................................................................................84 9. Giảm tỷ lệ Cổ phần của Nhà nước trong các doanh nghiệp Cổ phần.....84 10. Một số giải pháp đối với vấn đề hậu Cổ phần hoá..................................85 10.1. Tiếp tục cải thiện môi trường hoạt động của doanh nghiệp Cổ phần....85 10.2. Nâng cao hiệu quả của bộ máy quản lý và điều hành của doanh nghiệp Cổ phần.....................................................................................87 10.3. Một số giải pháp đối với cổ đông trong doanh nghiệp Cổ phần............88 10.4. Xoá bỏ ưu đãi bất hợp lý với doanh nghiệp Nhà nước............................89 IV. Một số kiến nghị......................................................................................89 1. Đối với cơ quan Chính phủ........................................................................89 2. Đối với doanh nghiệp.................................................................................90 KẾT LUẬN.....................................................................................91 TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................93 LỜI MỞ ĐẦU Trong tình hình hiện nay ở nước ta, vấn đề đổi mới, sắp xếp và phát triển doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Chủ trương này đã được triển khai thực hiện trong gần 20 năm qua. Mặc dù diễn biến của nó có những thăng trầm nhưng đã đem lại những kết quả đáng ghi nhận. Việc sắp xếp DNNN được thực hiện bằng các giải pháp: sáp nhập, hợp nhất, Cổ phần hoá (CPH), giao khoán, bán, cho thuê doanh nghiệp, tổ chức lại các Tổng công ty và thành lập tập đoàn kinh tế. Trong tất cả những giải pháp này, CPH DNNN được xem là một giải pháp cơ bản và quan trọng nhất để cơ cấu lại DNNN. CPH DNNN thực chất là quá trình chuyển đổi sở hữu về tư liệu sản xuất trong DNNN, từ hình thức sở hữu Nhà nước sang hình thức sở hữu hỗn hợp, bao gồm: sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân. Một khi quan hệ sở hữu thay đổi, người ta hy vọng rằng sẽ có sự thay đổi về mục tiêu, tổ chức hoạt động và từ đó sẽ ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thực sự đạt được mục tiêu cải tổ lại doanh nghiệp. Trong Điều 1 Nghị định 109/2007/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 26/6/2007 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành Công ty Cổ phần cũng quy định rõ về mục tiêu của quá trình CPH doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước tại Việt Nam như sau: "nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp; thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục tình trạng CPH khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán". Tuy nhiên, trong thời gian qua, công tác CPH DNNN có đạt được những mục tiêu đã đề ra hay không? CPH DNNN đã đem lại những gì và để lại 1 những vấn đề nan giải nào cho doanh nghiệp? Giải pháp nào để gỡ bỏ những vướng mắc đó nhằm đẩy nhanh tiến trình CPH các DNNN, khắc phục các vấn đề sau CPH của doanh nghiệp nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Để giải đáp các câu hỏi vừa nêu, em chọn đề tài: "Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam-Thực trạng và giải pháp" để nghiên cứu và viết khoá luận tốt nghiệp này. Mục đích nghiên cứu của khoá luận này là nhằm: - Phân tích thực trạng hoạt động của các DNNN để thấy rõ được tính cấp bách của công tác CPH DNNN ở nước ta. - Phản ánh thành tựu đạt được, những tồn tại vướng mắc của các doanh nghiệp CPH và phân tích các nguyên nhân của những vướng mắc này. - Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến trình CPH các DNNN, khắc phục các vấn đề sau CPH của doanh nghiệp nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đưa CPH DNNN trở lại đúng mục tiêu ban đầu. Nội dung bài khoá luận của em gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề chung về Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam. Chương 2: Thực trạng quá trình Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam. Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến trình Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam. Qua bài khoá luận tốt nghiệp này, em xin gửi lời biết ơn chân thành tới cô giáo TS. Trịnh Thị Thu Hương cùng các thầy cô trong khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế đã hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành bài khoá luận này. 2 Tiếp theo, em xin gửi lời biết ơn chân thành tới gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện cho em hoàn tất bài khoá luận tốt nghiệp của mình. Mặc dù em đã có rất nhiều cố gắng nhưng do có những hạn chế về trình độ hiểu biết và thời gian nghiên cứu nên bài khoá luận tốt nghiệp của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, các cô và các bạn. Em xin trân trọng cảm ơn! Hà Nội, ngày 15 tháng 6 năm 2008. Người thực hiện Kiều Thu Hằng 3 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM I. Doanh nghiệp Nhà nƣớc và thực trạng hoạt động của doanh nghiệp Nhà nƣớc ở Việt Nam 1. Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước Theo Điều lệ xí nghiệp công nghiệp quốc doanh ban hành kèm theo Nghị định 50/HĐBT ngày 22/3/1988 và Quy chế về thành lập, giải thể DNNN ban hành kèm Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991 thì DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước trực tiếp thành lập, tổ chức quản lý và điều hành hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội của Nhà nước. Việc thành lập các DNNN do cơ quan Nhà nước đề nghị và trình cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thành lập. Như vậy, việc xác định DNNN phải dựa trên tiêu chí sở hữu 100% vốn Nhà nước và thể hiện sự can thiệp trực tiếp và toàn diện của Nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp. Theo Luật DNNN năm 1995 thì DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội do Nhà nước giao. Theo đó, DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý. Nhìn chung, việc xác định DNNN ở đây giống như đã quy định trong các văn bản pháp lý nêu trên. Điểm khác biệt và tiến bộ là ở chỗ Luật này đã xác định rõ tư cách pháp nhân và trách nhiệm pháp lý hữu hạn của DNNN. Theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 3 khoá IX thì quan niệm về DNNN có đổi mới và được phát triển thêm một bước quan trọng. Theo đó, DNNN không chỉ do Nhà nước nắm giữ 100% vốn mà còn bao gồm cả doanh nghiệp do Nhà nước chiếm Cổ phần chi phối. Ngoài ra, DNNN không nhất thiết do Nhà nước trực 4 tiếp thành lập và quản lý toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp mà Nhà nước chỉ quản lý và tổ chức thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với DNNN trong phần vốn góp của mình. Quán triệt tư tưởng đó, Điều 1 Luật DNNN năm 2003 quy định: "DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có Cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức Công ty Nhà nước, Công ty Cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn". Trong đó, Công ty Nhà nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác là Công ty sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có Cổ phần, vốn góp chiếm trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp khác, giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó. Và quyền chi phối đối với doanh nghiệp là quyền định đoạt đối với điều lệ hoạt động, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý chủ chốt, việc tổ chức quản lý và các quyết định quản lý quan trọng khác của doanh nghiệp đó (Điều 3, khoản 7, 8 Luật DNNN năm 2003). Trên quan điểm kế thừa và đổi mới Luật DNNN năm 2003, Điều 4, khoản 22 và khoản 1 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định: "DNNN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ." Như vậy, đối tượng doanh nghiệp thuộc diện DNNN đã được mở rộng ra, trong mọi trường hợp, dù doanh nghiệp được hình thành dưới bất kỳ hình thức nào, chỉ cần có trên 50% vốn điều lệ thuộc sở hữu Nhà nước sẽ được coi là DNNN. Đặc biệt, điểm mới ở đây là sự giải phóng về mặt quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp khi loại bỏ điều kiện về "Cổ phần vốn góp chi phối" và "giữ quyền chi phối" đối với doanh nghiệp. Như vậy, khái niệm DNNN ở Việt Nam chỉ dựa trên cơ sở phần vốn điều lệ Nhà nước nắm giữ. Tuy nhiên, do đặc thù nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, tỷ lệ này vẫn còn khá cao (50%) so với các nước khác trên thế giới. 5 2. Đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp Nhà nước 2.1. Đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước DNNN có các đặc điểm chính như sau: Thứ nhất, DNNN là loại hình doanh nghiệp dựa trên sở hữu Nhà nước về tư liệu sản xuất. Do đó, DNNN khác các loại hình doanh nghiệp khác ở chỗ: - Vì vốn của doanh nghiệp hầu hết đều thuộc sở hữu của Nhà nước nên DNNN, dù là doanh nghiệp có chức năng kinh doanh hay hoạt động công ích thì trong bất kỳ hoàn cảnh nào, vẫn luôn chú trọng hiệu quả kinh tế-xã hội. Do đó, sự có mặt của DNNN là lực lượng vật chất quan trọng đảm bảo tính ổn định của nền kinh tế, chống lại mọi hành vi cơ hội, chạy theo lợi nhuận bằng bất cứ giá nào của các loại doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân. - Do DNNN là của Nhà nước nên lợi nhuận sẽ do Nhà nước sử dụng. Do đó, nhiều nước còn giao cho DNNN những lĩnh vực có lợi nhuận cao với ý đồ giữ cho Nhà nước những khoản lợi nhuận lớn này để giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh trong nền kinh tế thị trường. - Trên thực tế, còn có nhiều lĩnh vực đòi hỏi đầu tư lớn, hiệu quả kinh tế không cao nhưng lại cần thiết cho sự ổn định kinh tế-xã hội, các doanh nghiệp tư nhân không muốn và không thể đầu tư, chỉ có DNNN, vì lợi ích chung, không lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối hậu, mới đảm nhiệm. Do vậy, trong những lĩnh vực quan trọng, huyết mạch của nền kinh tế, DNNN phải có mặt và đóng vai trò then chốt như Nghị quyết Trung ương 3 khoá IX đã khẳng định. Đây cũng là lý do mà ở hầu hết các nước trên thế giới, ít hay nhiều đều tồn tại DNNN. Thứ hai, DNNN có tính khó minh bạch. DNNN là loại hình dựa trên sở hữu Nhà nước. Vì vậy, cùng một lúc phải giải quyết nhiều mối quan hệ phức tạp: quan hệ giữa chủ thể sở hữu (ở đây là Nhà nước) với chủ thể sử dụng (ở đây là doanh nghiệp) và người lao động 6 (cùng một lúc đóng hai vai trò: chủ thể sở hữu lao động và chủ tập thể xí nghiệp) trên các mặt trách nhiệm và lợi ích kinh tế, trong đó quan trọng nhất là lợi ích kinh tế. Xử lý mối quan hệ này rất khó khăn và phức tạp. Tình trạng bộ phận quản lý doanh nghiệp (mà trực tiếp là Giám đốc) bỏ qua quyền lợi của bản thân doanh nghiệp và Nhà nước vì lợi ích của cá nhân trong các DNNN thường xuyên diễn ra. Trong trường hợp Giám đốc có tâm, có tài, muốn làm cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả thì lại bị những ràng buộc của cơ chế chung cản trở. Kết quả là DNNN thường không có hiệu quả kinh tế cao. Hạn chế này xuất phát từ tính chất của sở hữu mà ngay các doanh nghiệp quốc doanh của các nước tư bản cũng thường gặp phải. Rõ ràng là, việc minh bạch hoá hoạt động của DNNN chính là vấn đề lâu nay luôn làm đau đầu các nhà hoạch định chiến lược. Thứ ba, DNNN hoạt động kém hiệu quả. Nhìn chung, hoạt động của DNNN thường không có hiệu quả cao. Các nguyên nhân gây nên tình trạng này là: DNNN thường phải đảm nhận kinh doanh trên những khu vực ít lãi, phải đáp ứng những nhu cầu xã hội mà các doanh nghiệp tư nhân không chịu đảm nhận. Hơn nữa, sở hữu Nhà nước thuần tuý làm cho cơ chế quản lý DNNN trở thành vấn đề phức tạp, rất khó để có thể thu lợi nhuận cao xuất phát từ khó khăn trong việc giải quyết mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng. Thứ tư, hệ thống các DNNN bao trùm quá rộng do lịch sử để lại. Hệ thống DNNN ở nước ta được xây dựng lâu dài và theo quan niệm cũ, là một hệ thống rộng khắp từ trung ương đến địa phương, quản lý một lượng lao động rất lớn, một nguồn vốn lớn và những điều kiện thuận lợi nhưng hiệu quả được coi là thấp. Từ các đặc điểm trên của DNNN có thể kết luận: trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phải có mặt DNNN với vai trò then chốt 7 nhưng vai trò then chốt của DNNN phải thể hiện ở mặt chất chứ không phải mặt lượng. Do đó, việc sắp xếp lại DNNN trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay là vấn đề bức xúc. 2.2. Vai trò của doanh nghiệp Nhà nước DNNN tồn tại như là một tất yếu khách quan có tính phổ biến, không phân biệt đó là phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa hay phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nó có mặt ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Bởi DNNN có vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân: Thứ nhất, DNNN đóng góp vào tăng trưởng đất nước (chiếm tỷ trọng lớn trong GDP), thu hút vốn, tạo việc làm và thực hiện các chính sách xã hội. Ngoài ra, trong nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, các DNNN còn đảm bảo các điều kiện cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội ngày một tốt hơn; cung ứng hàng hoá, vật tư, năng lượng chủ yếu cho nền kinh tế quốc dân như: điện, sắt thép, xi măng, phân bón, xăng dầu, giấy viết. Đồng thời, là lực lượng chủ lực thực hiện các chính sách xã hội thông qua các doanh nghiệp công ích. DNNN là động lực thúc đẩy phân bố lại nguồn lực, nhất là nguồn vốn và nguồn nhân lực theo hướng công nghiệp hoá tạo tiền đề cho việc hình thành các trung tâm kinh tế, văn hoá, đô thị mới [18]. Thứ hai, DNNN giữ vai trò quan trọng chi phối những ngành, lĩnh vực và sản phẩm then chốt của nền kinh tế. DNNN bảo đảm hầu hết các yêu cầu về sản phẩm và dịch vụ công ích (các hàng công nghiệp và tiêu dùng, tư liệu sản xuất,...), các điều kiện giao thông, điện, nước, thông tin, vật tư, hàng hoá cho xuất khẩu và thị trường trong nước. Do đó, DNNN là lực lượng nòng cốt trong tăng trưởng, xuất khẩu, bảo đảm các sản phẩm quan trọng của nền kinh tế và đóng góp cho ngân sách Nhà nước; góp phần quan trọng bảo đảm các cân đối lớn và ổn định kinh tế vĩ mô [18]. Thứ ba, các DNNN là điểm tựa và công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô, khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường. 8 DNNN là lực lượng xung kích để Nhà nước bổ sung vào thị trường những hàng hoá và dịch vụ cần thiết. Nhà nước sử dụng và phát huy vai trò xung kích của DNNN khi nào là lúc cần thiết? Đó là khi phải đảm nhận những ngành, lĩnh vực ở những địa bàn khó khăn có ý nghĩa chính trị, quốc phòng và kinh tế-xã hội mà khu vực tư nhân không làm được hoặc không muốn làm, thực hiện sự bảo đảm cân bằng về phát triển theo vùng, địa bàn. Chức năng này được các DNNN thực hiện thông qua việc cung cấp những hàng hoá và dịch vụ theo chủ trương, kế hoạch của Nhà nước để nhằm vào các khoảng trống của thị trường. Sự tham gia của DNNN sẽ có thể đem lại tác dụng tốt và tạo ra niềm tin cho khu vực tư nhân và toàn xã hội. Trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, Nhà nước phải sử dụng các biện pháp vĩ mô như: chính sách tài chính, chính sách thuế, chính sách tiền tệ. Mặt khác, Nhà nước cũng phải dựa vào DNNN để khởi động, phục hồi kinh tế hoặc kìm hãm lạm phát. Thí dụ, khi kinh tế thị trường vật vờ, uể oải, Nhà nước sẽ áp dụng các chính sách và biện pháp vĩ mô nhằm kích thích nhu cầu. Nhưng do lãi suất ít hoặc thu hồi vốn chậm, nói chung các doanh nghiệp không muốn đầu tư. Do vậy, Nhà nước phải dựa vào các DNNN để tăng nhu cầu đầu tư, từ đó thúc đẩy tăng nhu cầu [49]. Thứ tư, DNNN là những cơ sở quan trọng nhất trong việc đầu tư, ứng dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ; thực hiện hiện đại hoá đất nước. Điều đó thể hiện trước hết bởi sự cất cánh kinh tế của mỗi quốc gia không thể thiếu các ngành hạ tầng và không thể không xây dựng các công trình hạ tầng, mà việc xây dựng này thường đòi hỏi những khoản đầu tư lớn, rủi ro cao, thu hồi vốn chậm, hiệu quả xã hội rộng lớn. Do vậy, những doanh nghiệp bình thường không đủ sức làm và cũng không muốn làm. Hơn nữa, trong sự phát triển kinh tế ngày nay, khoa học-kỹ thuật đóng vai trò then chốt. Các DNNN mới có cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn lực để có khả năng chuyển hoá thành tựu khoa học-kỹ thuật thành lực lượng sản xuất hiện thực. Trong điều kiện 9 kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, vai trò DNNN còn thể hiện ở việc định hướng, dẫn dắt và mở đường cho các thành phần kinh tế khác, giữ vững vị trí then chốt, đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế-xã hội và chấp hành pháp luật. Ngoài ra, DNNN tham gia vào một số ngành có lợi thế cạnh tranh, có khả năng tăng thu ngân sách lớn. Đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, vai trò này vẫn còn phát huy tác dụng trong điều kiện tiềm lực của tài chính công chưa đủ mạnh [40]. 3. Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay 3.1. Quá trình hình thành các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam Các DNNN ở Việt Nam được hình thành từ năm 1954 ở miền Bắc, từ năm 1975 ở miền Nam và từ nhiều nguồn gốc khác nhau. Nhìn chung, quy mô của các DNNN nhỏ bé, cơ cấu phân tán được biểu hiện qua số lượng lao động và mức độ tích luỹ vốn. Năm 1992, cả nước có 2/3 tổng số doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 200 người, lao động trong DNNN chiếm từ 5-6% tổng số lao động xã hội [23]. Mặt khác, DNNN đa số là sử dụng các công nghệ lạc hậu (trừ một số ít ngành). Vì vậy, khi chuyển sang kinh tế thị trường, các DNNN không được bao cấp mọi mặt như trước nữa, đã thế lại bị các thành phần kinh tế khác cạnh tranh quyết liệt, nên nhiều doanh nghiệp không trụ nổi, buộc phải phá sản hoặc giải thể; đặc biệt, trong những năm gần đây, chúng ta đã tiến hành cải cách DNNN. Do đó, mặc dù số lượng DNNN đã giảm từ 12.084 năm 1992 xuống còn khoảng 1.900 vào tháng 12/2007 (nếu loại trừ 300/400 nông, lâm trường quốc doanh thì cả nước còn khoảng 1.500 DNNN hoạt động sản xuấtkinh doanh) nhưng để chuyển đổi sở hữu những doanh nghiệp này thì không đơn giản vì nguồn vốn Nhà nước tập trung rất nhiều tại các Tổng công ty, tập đoàn kinh tế (khoảng 86% tổng vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp). Như 10 vậy, DNNN vẫn đóng vai trò quan trọng trong nhiều ngành kinh tế, nhất là ngành quan trọng đòi hỏi vốn đầu tư lớn, công nghệ cao và ngành cung ứng dịch vụ công cộng. Đồng thời, DNNN vẫn là thành phần kinh tế đóng góp chủ yếu cho ngân sách Nhà nước. Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, các DNNN được sắp xếp, củng cố lại cơ cấu dẫn đến được hoạt động có hiệu quả hơn [21]. Thời kỳ 1991-1995, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của DNNN là 11,7% trong khi nền kinh tế là 8,2%, bằng 1,5% tốc độ tăng trưởng bình quân chung của nền kinh tế; tỷ trọng GDP của DNNN tăng từ 33,3% lên 39,6% so với GDP của cả nước. Thu nhập ngân sách Nhà nước tăng bình quân 50,4%/năm. Trong năm 1995, các DNNN nộp ngân sách là 14.980 tỷ đồng, tăng 7,7 lần so với năm 1990 và tăng 33% tổng thu về thuế của ngân sách Nhà nước [23]. Tính chung trong giai đoạn 2001-2005, doanh thu của DNNN chỉ tăng 9,1%/năm, trong đó năm 2005 chỉ tăng 7,2% so với năm 2004, tức là chỉ cao hơn tốc độ tăng giá tiêu dùng một chút. Theo Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước về kết quả hoạt động của các DNNN năm 2005 cho thấy, có 76,5% doanh nghiệp có lãi với tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu bình quân là 19,2%, chỉ có 19,5% số doanh nghiệp thua lỗ, 8,8% số doanh nghiệp hoà vốn. Tổng số lỗ năm 2005 của các DNNN là 1.919 tỷ đồng. Tổng số lỗ luỹ kế tính đến cuối năm 2005 là 6.549 tỷ đồng, tuy có giảm 8,7% so với năm trước nhưng lại tăng 20% so với năm 2000. Dẫu được hưởng hầu hết mọi ưu ái nhưng trong năm 2005, nộp ngân sách của các DNNN chỉ tăng có 49%, trong khi đó, con số này của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 137% [33]. Vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng đầu tư xã hội (theo thứ tự từ năm 2000 đến năm 2006 là: 51,9%; 59,8%; 57,3%; 52,9%; 48,1%; 47,1% và 46,2%) nhưng tỷ lệ đóng góp vào GDP 11 không cân xứng, chỉ ở mức 37-39% và tạo công ăn việc làm cho hơn 30% số lao động [44]. Theo kết quả điều tra doanh nghiệp năm 2006 của Tổng cục Thống kê, số lượng DNNN liên tục giảm, hiện chỉ còn chiếm 3,61%. DNNN vẫn là khu vực thu hút khá đông lao động (chiếm 32,69%), tập trung nguồn vốn lớn nhất (chiếm 54,06%), có lợi nhuận cao (chiếm 41,19%), đóng góp nhiều nhất vào ngân sách Nhà nước (chiếm 40,76%). Kết quả này đã phản ánh đúng thực trạng DNNN hiện nay: tích tụ về vốn, thành lập tập đoàn mạnh, làm ăn hiệu quả hơn [40]. Nhưng thực tế, các DNNN vẫn rất khó khăn, hiệu quả kinh doanh còn thấp, công tác xử lý nợ và giám sát tài chính hạn chế. Sự đóng góp của DNNN cho ngân sách chưa tương xứng với phần đầu tư của Nhà nước cho nó, cũng như với tiềm lực của DNNN; tình trạng mất mát và thất thoát vốn đang diễn ra hết sức nghiêm trọng; việc quản lý các doanh nghiệp còn nhiều yếu kém,.... Doanh thu từ DNNN hai năm 2004, 2005 liên tiếp không đạt dự toán mà một trong những nguyên nhân lớn nhất là hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thấp, tình hình làm ăn thua lỗ kéo dài triền miên và chỉ hoạt động cầm chừng. Có 4/19 doanh nghiệp (chiếm 21%) được kiểm toán trong năm 2004 lỗ 124 tỷ đồng; có 11/19 doanh nghiệp (chiếm 58%) có lỗ luỹ kế đến ngày 31/12/2004 lên tới 1.058 tỷ đồng. Tỷ suất lợi nhuận trước thuế của các doanh nghiệp được kiểm toán là rất thấp, chỉ đạt từ 0,18% đến 0,8%. Các doanh nghiệp này chỉ sử dụng 50% hiệu suất tài sản nhưng lại có tổng nợ đọng về thuế lên tới 4.300 tỷ đồng trong khi vẫn tiếp tục được Nhà nước bảo lãnh các khoản vay trong và ngoài nước với khối lượng rất lớn. Tình trạng thiếu hiệu quả của nhiều DNNN, đến lượt nó làm tăng mức độ rủi ro và kéo tụt hiệu quả kinh doanh cũng như khả năng sinh lời của các chủ nợ là khối ngân hàng thương mại quốc doanh. Việc giải thể Tổng công ty Da-Giầy, sự xuống cấp nghiêm trọng của Tổng công ty Thuỷ sản, Tổng công ty Tằm12 Tơ, Tổng công ty Chăn nuôi và hàng loạt các vụ tham nhũng bị phát hiện tại hầu khắp các DNNN lớn là những tín hiệu rõ ràng về sự thiếu hiệu quả trên [33]. Theo xếp loại DNNN của Bộ Tài chính, trong tổng số DNNN được xếp hạng thì chỉ có 44,4% xếp loại A, 39,5% xếp loại B, 16,1% xếp loại C. Số doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ chiếm 19,5%, với tổng số lỗ của các DNNN phát sinh năm 2005 là 1.919 tỷ đồng; tổng số lỗ luỹ kế tính đến cuối năm 2005 là 654 tỷ đồng [31]. Theo Báo cáo của Ban Đổi mới DNNN, đến hết tháng 9/2006, cả nước đã có 105 tập đoàn và Tổng công ty; đến hết tháng 12/2007, cả nước có khoảng 1.900 DNNN. Dự kiến đến cuối năm 2010, cả nước còn 554 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, trong đó có 26 tập đoàn, Tổng công ty quy mô lớn. Đó là chưa kể đến những doanh nghiệp đã được CPH nhưng Nhà nước vẫn nắm giữ trên 51% vẫn được hoạt động theo cơ chế DNNN. Qua hơn 20 năm đổi mới, mặc dù liên tục tăng trưởng về mặt quy mô nhưng những nhược điểm của hệ thống DNNN thì vẫn còn nguyên [42]. 3.2. Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam Sự phát triển của DNNN ở Việt Nam bắt đầu từ những Xí nghiệp Nhà nước được thành lập sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 bằng con đường quốc hữu hoá. Tuy nhiên, trong giai đoạn 1945-1960, số lượng các DNNN còn hạn chế. Sự phát triển DNNN ồ ạt về số lượng diễn ra sau khi đất nước thống nhất. Năm 1992, cả nước có 12.084 DNNN; vào tháng 12/2007, con số này giảm xuống còn khoảng 1.900. Tuy số lượng DNNN đã giảm song con số này vẫn là lớn đối với nền kinh tế nước ta hiện nay [34]. Hiện nay, so với tổng số doanh nghiệp của cả nước đang hoạt động, số lượng DNNN chiếm 3,6%; 32,7% tổng số lao động; gần 50% tổng số vốn; 51,1% giá trị tài sản cố định và 40% doanh thu,... [39]. 13 Không những lớn hơn về quy mô, DNNN còn rất mạnh nhờ có vị trí đắc địa, diện tích rộng, thương hiệu được tồn tại trong nhiều năm,... và quan trọng hơn, còn có các bộ, ngành, tỉnh, thành phố "chủ quản" đứng đằng sau. Một số DNNN có lợi thế kinh doanh, được hưởng nhiều chính sách đặc biệt đã có kết quả và hiệu quả khá cao. Song, nhìn chung khối DNNN chưa thật mạnh, thậm chí còn nhiều doanh nghiệp yếu. Nhận xét về DNNN, tất cả mọi ý kiến đều thừa nhận rằng: có tiềm lực lớn, được ưu đãi nhiều, đầu tư lớn từ phía Nhà nước nhưng hiệu quả kinh doanh thấp, năng lực cạnh tranh kém [39]. Theo số liệu thống kê, đến nay cả nước còn khoảng 1.900 DNNN, đang nắm giữ 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, gần 50% tổng vốn đầu tư của Nhà nước, 70% tổng vốn vay các ngân hàng nước ngoài và gần 60% tổng lượng vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại Nhà nước,.... Thế nhưng hàng năm, khối DNNN mới chỉ đóng góp 40% thu nhập trong GDP của cả nước [39]. Về kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh, trừ những DNNN có lợi thế kinh doanh, được hưởng nhiều chính sách đặc biệt là có kết quả và hiệu quả cao, còn lại nhìn chung là thấp, chưa tương xứng với vị trí và sự đầu tư của ngân sách. Tính đến đầu năm 2008, nước ta vẫn còn trên 600 DNNN hoạt động sản xuất-kinh doanh từ hoà tới lỗ. Trên 430 DNNN bị xếp loại C (chủ yếu do chỉ tiêu lợi nhuận thực hiện và tỷ suất lợi nhuận trên vốn đạt thấp), trong đó có một số Tổng công ty ngành giao thông với số vốn luỹ kế và nợ lên đến hàng ngàn tỷ đồng, gấp hàng chục lần số vốn bình quân một DNNN. Theo Bộ Tài chính, tổng tài sản của DNNN đạt 747,4 nghìn tỷ đồng. Trong tổng tài sản "đo đếm được" thì nợ phải thu chiếm 22,2%, số nợ đến hạn lên đến 449,2 nghìn tỷ đồng. Hệ số nợ phải trả tính trên vốn Nhà nước của không ít DNNN, đặc biệt là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng công trình giao thông rất cao, lên tới 5 lần, thậm chí có đơn vị lên tới 30-35 14
- Xem thêm -