Cơ hội và thách thức của các nhtmvn trước ngưỡng cửa vn gia nhập wto

  • Số trang: 34 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24721 tài liệu

Mô tả:

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 PHẦN I: LỜI NÓI ĐẦU Hội nhập kinh tế quốc tế mà đỉnh cao là gia nhập WTO, đang trở thành yêu cầu bức xúc, tất yếu đối với mỗi quốc gia và VN không nằm ngoài “vòng hội nhập” đó. Trước thực tế của xu thế toàn cầu hoá, mỗi quốc gia nói chung và VN nói riêng, chỉ có cách lựa chọn duy nhất là “lối đi, bước đi” lộ trình sao cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mình. Có thể nói mọi lĩnh vực hội nhập đều rất phức tạp nhưng hội nhập trong lĩnh vực tài chính nói chung, hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng có những nét đặc thù, có độ phức tạp, nhạy cảm cao nhất bởi vì ngân hàng là “trung tâm của thị trường tài chính”, “nơi điều tiết sự chu chuyển của các dòng vốn”, là “bà đỡ của các doanh nghiệp, là “tấm gương phản chiếu sức sống của nền kinh tế”. Như vậy hội nhập kinh tế quốc tế không còn là vấn đề mới đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam(NHTM).Quá trình hội nhập của VN gia nhập WTO đang tạo ra những cơ hội và thách thức rất lớn đối với NHTMVN. Với mục đích làm rõ những cơ hội và thách thức của NHTM trong quá trình hội nhập để từ đó có cơ sở xây dựng định hướng hoạt động em nghiên cứu đề tài “Cơ hội và thách thức của các NHTMVN trước ngưỡng cửa VN gia nhập WTO”. Kết cấu đê tài của em bao gồm: Phần I: Lời nói đầu Phần II: Nội dung I. Cơ sở lý luận II. Cơ sở thực tiễn III. Giải pháp Phần III: Kết luận Trong quá trình thực hiện đề tài em đã được sự chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn Th.s Nguyễn Thu Thuỷ.Tuy nhiên do thời gian hạn chế nên đề tài của em mới chỉ ra được một phần nào đó những cơ hội và thách thức trong hoạt động của hệ thống NHTM trước khi VN gia nhập WTO. 1 PHẦN II: NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận 1. WTO và quá trình VN gia nhập WTO Những vấn đề cơ bản về tổ chức thương mại thế giới(WTO). WTO là một định chế thương mại toàn cầu, bao gồm một hệ thống các nguyên tắc và quy định điều chỉnh các hoạt động của hơn 90% thương mại thế giới và hiện nay WTO đã có 150 thành viên. WTO hoạt động dựa trên bốn chức năng chính sau:  Thúc đẩy tự do hoá thương mại  Hỗ trợ và giám sát việc thực hiện các hiệp định WTO  Giải quyết các tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên  Có quyền can thiệp, rà soát chính sách thương mại của các nước thành viên. Về cơ bản để gia nhập WTO các nước cần phải cam kết trong các lĩnh vực chủ yếu sau:  Phải thoả thuận với các thành viên về mức thuế quan tối đa áp dụng với các hàng hoá nhập khẩu  Thoả thuận với các thành viên về điều kiện cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài tham gia vào thị trường nội địa  Phải chấp nhận việc hạn chế trợ giá trong nông nghiệp do nó có ảnh hưởng đến thương mại quốc tế Cơ hội và thách thức của VN khi gia nhập WTO Cơ hội Gia nhập WTO đem lại cả cơ hội lẫn thách thức, đòi hỏi VN phải sớm triển khai những bước chuẩn bị cần thiết để đảm bảo tối ưu hoá những thuận lợi và giảm thiểu những nguy cơ của việc tham gia vào một nền kinh tế thế giới ngày càng được tự do hoá nhiều hơn. Gia nhập WTO sẽ mang đến cho VN những nguồn lực mới và cơ hội mới để mở rộng thị trường xuất khẩu, đa dạng hoá các mối quan hệ kinh tế - thương mại, tăng khả năng thu hút đầu tư nước ngoài…giúp VN tham gia vào việc xây dựng một hệ thống thương mại đa biên bình dẳng, không phân biệt đối xử và cùng có lợi. Tạo môi trường thông thoáng, minh bạch , tuân thủ các nguyên tắc quốc tế. VN sẽ có cơ hội thực sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới, được hưởng đối xử bình đẳng và các ưu đãi thương mại cho một nước đang phát triển ở trình độ 2 thấp. Đây là điều kiện hết sức cần thiết để VN mở rộng xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế nhờ những thành qủa của đàm phán giảm thuế và mở cửa thị trường của GATT, tăng cường tiếp cận thị trường của các thành viên WTO, đặc biệt trong các lĩnh vực hàng nông sản và dệt may. Cơ hội xuất khẩu bình đẳng sẽ kéo theo những ảnh hưởng tích cực tới các ngành kinh tế trong nước, mở rộng sản xuất và tạo ra nhiều việc làm. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và đàm phán gia nhập WTO nói riêng đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng giá trị công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng giá trị nông nghiệp trong cơ cấu tổng thu nhập quốc dân. Cơ cấu kinh tế ngành và vùng đã có sự dịch chuyển theo định hướng về lợi thế năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, hình thành các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp và khu chế xuất tập trung để hạ thấp giá thành và tạo điều kiện áp dụng khoa học công nghệ hiện đại hơn trong sản xuất và đầu tư. VN đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế kinh tế thị trường, cải cách hành chính và cải cách doanh nghiệp nhà nước … Việc ký kết một số điều ước quốc tế quan trọng đã tạo ra một hành lang pháp lý cơ bản cho việc thực hiện công cuộc đổi mới hội nhập kinh tế quốc tế, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, thúc đẩy kinh tế phát triển và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, VN tiếp tục khẳng định là một quốc gia ổn định về mặt chính trị và kinh tế cùng thực hiện các chuẩn mực điều tiết kinh tế chung với cộng đồng quốc tế. Đây là yếu tố không thể thiếu để tạo dựng niềm tin của các nhà đầu tư, thương nhân nước ngoài tham gia các hoạt động hợp tác kinh tế với VN. Thách thức Bên canh những cơ hội, việc gia nhập WTO cũng đặt ra hàng loạt những thách thức cho nền kinh tế xã hội trên các khía cạnh: thất nghiệp gia tăng, phân hoá giàu nghèo trong xã hội …Đặc biệt, cạnh tranh trong nhiều ngành dịch vụ quan trọng như: bưu chính viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm …sẽ tăng đáng kể sau khi gia nhập WTO . Các cuộc cạnh tranh về chất lượng, giá cả hàng hoá ,dịch vụ sẽ khốc liệt hơn trong khi năng lực cạnh tranh trong nước còn yếu. VN phải điều chỉnh hệ thống pháp luật cho phù hợp với các quy định của WTO ở nhiều lĩnh vực khác nhau như thủ tục cấp phép nhập khẩu, kiểm dịch động thực vật, các quy định liên quan đến đầu tư và sở hữu trí tuệ… Chính sách thuế sẽ phải điều chỉnh theo quy định của WTO, trước hết là thuế xuất nhập khẩu, tiếp đến là các sắc thuế nội địa. Thuế suất thuế nhập khẩu điều chỉnh theo hướng ngày càng giảm và đảm bảo nguyên tắc MFN ( không 3 phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu từ các quốc gia khác nhau); bỏ các biện pháp phi thuế, chỉ bảo hộ bằng công cụ thuế. Những điều đó không những có nhiều tác động khác nhau đến môi trường kinh doanh mà còn ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước. VN sẽ phải cam kết mở cửa thị trường dịch vụ tài chính (bảo hiểm, kế toán, kiểm toán và tư vấn thuế), phải có các cam kết đối xử bình đẳng giữa cácdoanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tài chính trong nước và doanh nghiệp có vốn đàu tư nước ngoài. Việc thực hiện các cam kết này đòi hỏi sự nỗ lực của ngành tài chính nói riêng cũng như các cơ quan quản lý nhà nước. Đặc biệt, trong bối cảnh hệ thống luật pháp, chính sách chế độ quản lý trong nước còn thiếu đồng bộ chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Thậm chí còn nhiều lĩnh vực chưa có văn bản quy định như tư vấn môi giới tài chính, tư vấn thuế… Về phía doanh nghiệp, do còn yếu kém trên nhiều lĩnh vực(chất lượng, thương hiệu sản phẩm, phát triển kênh tiêu thụ và khả năng giải quyết tranh chấp) nên các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức trong việc tìm chỗ đứng trên thị trường hoặc phát triển thị phần của mình, nhiều doanh nghiệp có nguy cơ phá sản, trước sức ép nặng nề của các dòng hàng hoá, dịch vụ, công nghệ, nhân lực và các chấn động khủng hoảng trong khu vực và toàn cầu, nhất là cuộc khủng hoảng về tài chính tiền tệ gây hiệu ứng lan truyền. Một thách thức nữa là đội ngũ nguồn nhân lực hiện nay của chúng ta còn quá yếu kém chưa thể đáp ứng được yêu cầu hội nhập. Trình độ nguồn nhân lực thấp, cơ chế quản trị điều hành cứng nhắc,thiếu năng động… không thể đáy ứng được yêu cầu cạnh tranh khi hội nhập. 2. Các cam kết của VN trong lĩnh vực ngân hàng khi VN gia nhập WTO Tài chính - ngân hàng là một trong những lĩnh vực được mở cửa mạnh nhất ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Theo cam kết giữa Việt Nam và các nước thành viên, từ nay đến năm 2010, các ngân hàng nước ngoài sẽ được phép thực hiện hầu hết các dịch vụ ngân hàng như một ngân hàng trong nước (trừ dịch vụ tư vấn và cung cấp thông tin ngân hàng). Cụ thể, kể từ ngày 1/4/2007, các ngân hàng nước ngoài được phép thiết lập sự hiện diện thương mại của mình tại Việt Nam dưới các hình thức như: văn phòng đại diện, chi nhánh ngân hàng thương mại, các ngân hàng thương mại liên doanh với nước ngoài có vốn nước ngoài dưới 50% vốn điều lệ, các công ty cho thuê tài chính liên doanh, các công ty tài chính cho thuê 100% vốn nước ngoài và ngân hàng 100% vốn nước ngoài... Cũng như các pháp nhân Việt Nam, các chi nhánh, văn phòng đại diện, 4 và ngân hàng nước ngoài này sẽ được hưởng quy chế đối xử không phân biệt ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO Các cam kết gia nhập WTO trong lĩnh vực ngân hàng sẽ cho phép các tổ chức tín dụng nước ngoài được hiện diện ở Việt Nam dưới các hình thức khác nhau, mở rộng phạm vi và loại hình cung cấp các dịch vụ ngân hàng, tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng. Chúng ta đồng ý cho thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài không muộn hơn ngày 1/4/2007. Ngoài ra ngân hàng nước ngoài muốn được thành lập chi nhánh tại Việt Nam nhưng chi nhánh đó không được phép mở chi nhánh phụ và vẫn phải chịu hạn chế về huy động tiền gửi bằng VND từ thể nhân Việt Nam trong vòng 5 năm kể từ khi ta gia nhập WTO. Ta vẫn giữ được hạn chế về mua cổ phần trong ngân hàng Việt Nam, không quá 30%. Đây là hạn chế đặc biệt có ý nghĩa đối với ngành ngân hàng  Đối với ngân hàng thương mại nước ngoài: văn phòng đại diện, chi nhánh, ngân hàng thương mại liên doanh với số vốn đầu tư chiếm không quá 50%, công ty cho thuê tài chính, công ty liên doanh tài chính và công ty tài chính 100% vốn nước ngoài.  Trong vòng 5 năm sau khi gia nhập, Việt Nam có thể giới hạn quyền của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong việc nhận tiền gửi bằng tiền đồng Việt Nam từ người tiêu dùng Việt Nam. Trong đó, những chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa có quan hệ tín dụng với khách hàng là người Việt Nam thì mức độ huy động vốn so với vốn pháp định được thực hiện theo lộ trình sau: từ ngày 1.1.2007 được huy động gấp khoảng trên 6 lần so với vốn pháp định đã góp đủ, từ năm 2008 gấp 8 lần, từ năm 2009 gấp 9 lần, từ năm 2010 gấp 10 lần. Từ năm 2011 được hưởng chế độ đối xử quốc gia.  Theo Nghị định số 22/2006/NĐ-CP ban hành ngày 28/2/2006, thời hạn hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, hoặc ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam không được quá 99 năm; thời hạn hoạt động của một chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được vượt quá thời hạn hoạt động của ngân hàng mẹ ở nước ngoài; thời hạn hoạt động của văn phòng đại diện của một tổ chức tín dụng nước ngoài không được vượt quá thời hạn hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài đó. Thời hạn hoạt động của các tổ chức nói trên sẽ được quy định cụ thể trong giấy phép được cấp và có thể được gia hạn theo yêu cầu. 5  Tỷ lệ sở hữu nước ngoài đối với ngân hàng cổ phần: 30% Tổng tỷ lệ cổ phần mà ngân hàng nước ngoài được mua sẽ vẫn khống chế ở mức 30% như hiện nay; riêng tỷ lệ sở hữu nhà đầu tư chiến lược sẽ được nâng từ 10% lên 20%. Trường hợp ngân hàng cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán, tỷ lệ trên có thể vẫn khống chế ở mức 30%, thay vì mức 49% như quy định đối với các doanh nghiệp niêm yết khác. Vì theo ông, “ngân hàng là doanh nghiệp đặc biệt nên sự khống chế là cần thiết”. Hiện tại, Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng và lấy ý kiến để hoàn thiện Nghị định về việc các tổ chức tín dụng nước ngoài mua cổ phần trong ngân hàng Việt Nam, trong đó dự kiến hạn chế cổ phần mà một ngân hàng nước ngoài có thể nắm giữ trong các ngân hàng Việt Nam là 20% trong tổng số 30% cổ phần nước ngoài.  Ngân hàng 100% vốn nước ngoài Để được lập chi nhánh hoặc ngân hàng nước ngoài 100% vốn tại Việt Nam, ngân hàng nước ngoài phải thực sự có năng lực tài chính mạnh, có uy tín trong hoạt động và có quy mô lớn. Đây là những điều kiện cơ bản được quy định tại Nghị định số 22/2006/NĐCP, về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam, do Thủ tướng Phan Văn Khải vừa ký ban hành. Cụ thể, để được cấp giấy phép mở chi nhánh ngân hàng nước ngoài, thành lập ngân hàng liên doanh hoặc thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài, ngân hàng nước ngoài phải đáp ứng những điều kiện như không vi phạm nghiêm trọng các quy định về hoạt động ngân hàng và các quy định pháp luật khác của nước nguyên xứ trong vòng 3 năm gần nhất liền kề trước khi xin cấp giấy phép. Ngoài ra, ngân hàng nước ngoài phải có kinh nghiệm hoạt động quốc tế, được các tổ chức xếp loại tín nhiệm quốc tế xếp hạng ở mức có khả năng thực hiện các cam kết tài chính và hoạt động bình thường ngay cả khi tình hình, điều kiện kinh tế biến đổi theo chiều hướng không thuận lợi; ngân hàng nước ngoài phải đạt được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, các tỷ lệ bảo đảm an toàn theo thông lệ quốc tế… Để được cấp giấy phép mở chi nhánh tại Việt Nam, ngân hàng nước ngoài phải có tổng tài sản có ít nhất là tương đương 20 tỷ USD vào năm trước năm xin cấp giấy phép. 6 Trường hợp thành lập và hoạt động ngân hàng liên doanh, giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, ngân hàng nước ngoài phải có tổng tài sản có ít nhất là tương đương 10 tỷ USD vào năm trước năm xin cấp giấy phép. Trong các ngân hàng liên doanh, mức góp vốn của bên nước ngoài được quy định tối đa không quá 50% vốn điều lệ. Những trường hợp đặc biệt sẽ do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Với ngân hàng 100% vốn nước ngoài, các thành viên góp vốn (bao gồm cả ngân hàng mẹ) có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn góp thuộc sở hữu của mình cho các thành viên góp vốn hoặc các tổ chức nước ngoài khác nhưng phải đảm bảo luôn có một ngân hàng nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ của ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Ngoài những điều kiện trên, các ngân hàng nước ngoài sẽ phải tuân thủ những quy định khác về cơ cấu tổ chức hội đồng quản trị, ban kiểm soát của chính nhánh, ngân hàng đó tại Việt Nam cũng như tuân thủ phạm vi hoạt động… II. Cơ sở thực tiễn 1. Hoạt dộng của hệ thống NHTM trước khi gia nhập WTO. - Hệ thống ngân hàng được phân thành 2 cấp: NHTW và NHTM Cuối những năm 80, cùng với công cuộc cải cách kinh tế, hệ thống NHVN cũng được cải cách. Từ hệ thống ngân hàng duy nhất lẫn lộn giữa chức năng của NHTW với NHTM đã tách ra thành hệ thống ngân hàng 2 cấp riêng biệt và đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của chúng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế ở nước ta thời gian qua. - Hệ thống NHTM VN: Hệ thống NHTMVN bao gồm các NHTM nhà nước, các NHTM cổ phần , các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, công ty tài chính và các quỹ tín dụng. Cho đến nay, có 5 NHTM nhà nước, đó là: Ngân hàng ngoại thương VN, ngân hàng đầu tư và phát triển, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn VN và ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài 5 ngân hàng trên còn có NH chính sách xã hội. Các NHTMNN có tổng tài sản chiếm 70% toàn hệ thống và dư nợ cho vay nền kinh tế chiếm 75% trong tổng dư nợ cho vay của các NHTM. 7 Hệ thống các NHTM cổ phần gồm có 26 NHTMCP đô thị và 7 NHTMCP nông thôn, với tổng tài sản chiếm 15.6% toàn hệ thống và dư nợ cho vay nền kinh tế chiếm trên 13% trong tổng dư nợ cho vay của các NHTM. Có 28 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh với nước ngoài, 5 công ty tài chính, 9 công ty cho thuê tài chính và khoảng 904 quỹ tín dụng nhân dân cùng hàng loạt các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác. Số lượng và mạng lưới hoạt động của hệ thống NHTM tính đến 30/9/2005 ( không tính chi nhánh cấp IV và văn phòng giao dịch) Chi nhánh NH liên NHTMNN NHTMCP NHNN doanh Số lượng 6 33 37 4 Mạng lưới 568 370 37 13 Nguồn: Ngân hàng nhà nước 2.Cơ hội và thách thức của NHTM khi gia nhập WTO 2.1. Cơ hội Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu của thời đại, là điều kiện cần thiết để mỗi quốc gia đi vào quỹ đạo chung của thế giới, là cơ hội để các nước tận dụng được dòng vốn khổng lồ cùng với công nghệ tiên tiến. Đẩy mạnh hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng VN sẽ thu được rất nhiều cơ hội:  Gia tăng các luồng vốn đầu tư: Quá trình hội nhập WTO sẽ làm gia tăng các luồng vốn đầu tư vào VN và gia tăng lợi tức cho các nước đang thừa vốn. Quá trình này sẽ giúp làm giảm lợi tức bù đắp rủi ro(risk premium) mà các nhà đầu tư đòi hỏi trong bối cảnh VN bắt đầu tham gia thị trường tài chính quốc tế. Ngoài ra, hội nhập kinh tế còn giúp khơi thông các kênh chuyển vốn giữa thị trường trong nước với thị trường quốc tế, góp phần khai thác các nguồn vốn tiềm năng trong nước. Trong hội nhập, việc áp dụng các loại hình dịch vụ tài chính – ngân hàng phong phú và hiện đại sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển thị trường tài chính - ngân hàng VN.  Giảm chi phí vốn nhờ phân tán rủi ro: Quá trình tự do hoá sẽ mang lại nhiều cơ hội đầu tư, chia sẻ rủi ro giữa các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài. Nhờ khả năng phân tán rủi ro tăng mà các nhà đầu tư, các doanh nghiệp mạnh dạn bỏ vốn đầu tư hơn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng. Nhờ các luồng vốn gia tăng nên tính thanh khoản 8 trong thị trường tài chính - ngân hàng cũng gia tăng, nhờ đó giảm lợi tức bù đắp rủi ro và giảm chi phí thu hút vốn cho đầu tư.  Chuyển giao công nghệ và trình độ quản lý, đổi mới trang thiết bị: Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các nền kinh tế hội nhập tài chính quốc tế thường thu hút được các luồng vốn FDI khá lớn, đi kèm với các dòng vốn này là công nghệ và trình độ quản lý theo thông lệ quốc tế. Ngoài ra chúng ta còn có khả năng “đi tắt đón đầu” do kế thừa được những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại của thế giới. Các tác động lan truyền này giúp gia tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng.  Tạo ra động lực đổi mới và cải cách NHTM: Sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài thúc đẩy quá trình tham gia vào thị trường tài chính quốc tế của các NHTM. Hơn nữa, ngân hàng nước ngoài đem vào các công cụ và kỹ thuật tài chính mới thúc đẩy cải tiến công nghệ Hội nhập sẽ tạo ra sự cạnh tranh gay gắt và không kém phần khốc liệt giữa các ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài. Được cạnh tranh bình đẳng để phát triển cũng là một cơ hội. Do vậy, muốn cạnh tranh để tồn tại và phát triển, các ngân hàng trong nước không thể nào khác là phải nỗ lực kiện toàn công tác quản lý ngân hàng nhằm đạt hiệu quả cao, giảm bớt rủi ro và tăng cường độ tin cậy đối với khách hàng. Đổi mới sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm chi phí và hiện đại hoá trang thiết bị để các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng trong nước có khả năng cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài.  Tiếp cận thị trường toàn cầu: Hội nhập WTO không chỉ khơi thông các kênh chuyển vốn giữa thị trường trong nước với thị trường quốc tế, góp phần khai thác các nguồn vốn tiềm năng trong nước mà còn có điều kiện thuận lợi hơn khi mở rộng kinh doanh ở thị trường tiền tệ nước ngoài, thu hút khách nước ngoài sử dụng dịch vụ của ngân hàng VN và mở rộng đầu tư tín dụng với tất cả các thành phần kinh tế.  Thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá: Theo các nhà kinh tế cũng như kinh nghiệm quốc tế của một số nước cho thấy quá trình hội nhập sẽ thúc đẩy chuyên môn hoá các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng. Chuyên môn hoá có thể làm gia tăng năng suất, hiệu quả và thúc đẩy tăng truởng. Tuy nhiên, một cơ cấu kinh tế chuyên m ôn hoá sâu mà không có sự hỗ trợ của cơ ch ế quản ký, phân tán rủi ro sẽ làm tăng sự biến động. Nhờ hội nhập, việc chia sẻ cảc rủi ro trên các thị trường quốc tế khác nhau sẽ khuyến khích qúa trình chuyên môn hoá trong lĩnh vực ngân hàng. 9  Minh bạch về thông tin: Mở cửa thị trường tài chính đòi hỏi các ngân hàng phải công khai các thông tin về hoạt động của mình, các yêu cầu về kế toán, kiểm toán cũng như công bố thông tin phải được thực hiện theo tiêu chuẩn quốc tế. Điều đó tạo điều kiện cho các NHTMVN bắt kịp thực hiện các tiêu chuẩn và kỹ năng quản trị ngân hàng hiện đại. 2.2. Thách thức Bên cạnh những cơ hội, quá trình hội nhập cũng đi kèm với những yếu tố bất lợi không thể tránh khỏi, vấn đề là nhận ra và có những biện pháp, bước đi phù hợp để giảm thiểu các yếu tố đó là một bài toán mà các ngân hàng đặc biệt là hệ thống NHTM cần phải giải quyết.  Thách thức ngay trước mắt đặt ra đối với hệ thống NHTM là xuất phát điểm thấp: Hiện tại, tổng vốn điều lệ của các NHTMNN mới đạt trên 21.000 tỷ đồng. Dư nợ tín dụng mới đạt xấp xỉ 55% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trên 80% của các nước trong khu vực. Bình quân, mức vốn tự có của các NHTMNN khoảng từ 200 đến 250 triệu USD, chỉ bằng một ngân hàng cỡ trung bình trong khu vực. Còn các NHTMCP có mức vốn điều lệ bình quân chỉ khoảng từ 200 đến 300 tỷ đồng. Quy mô này nhỏ bé hơn rất nhiều so với quy mô của các NHTM trong khu vực ASEAN và càng nhỏ bé hơn nếu so sánh với các ngân hàng lớn ở khu vực châu Á. Quy mô vốn chủ sở hữu như là tấm đệm để đảm bảo cho mỗi ngân hàng có khả năng chống đỡ trước những rủi ro của môi trường kinh doanh . Điều này ngày càng trở lên quan trọng trong điều kiện môi trường kinh doanh có nhiều biến động khôn lường, khi sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế ngày càng gia tăng trong điều kiện hội nhập như hiện nay những rủi ro bất ngờ luôn tiềm ẩn. Vốn tự có còn ảnh hưởng đến mức đầu tư vào công nghệ ngân hàng vì ngân hàng chỉ có thể sử dụng vốn tự có để đầu tư vào công nghệ. Ngoài quy mô vốn nhỏ thì thách thức đặt ra dối với các NHTM là sản phẩm, dịch vụ nghèo nàn. Các ngân hàng vẫn chủ yếu cung cấp các sản phẩm, dịch vụ truyền thống và đơn giản như nhận tiền gửi và cho vay với kênh phân phối truyền thống qua các chi nhánh.Các sản phẩm có tính chất phức tạp như quản lý tài sản, quản lý danh mục đầu tư, các sản phẩm bán chéo hay các sản phẩm phái sinh, kênh phân phối điện tử như: ATM, Internet Banking, Phone Banking chưa phát triển. 10 Với xuất phát điểm thấp như hiện nay, các NHTM sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc đầu tư mở rộng chi nhánh, nâng cao trình độ công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm để nhờ đó nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hơn trong tương lai ngay tại thị trường trong nước chứ chưa nói đến vươn ra thị trường quốc tế.  Thách thức thứ hai đối với hệ thống NHTM là cơ chế quản trị, điều hành và nguồn nhân lực: Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia. Trong đó việc xây dựng một đội ngũ các nhà quản trị hiện đại có tầm vóc quốc tế là một yêu cầu cực kỳ quan trọng. Một vấn nạn hiện nay về nguồn nhân lực nói chung là: nhiều người giỏi, nhưng làm việc không có tâm, chỉ quan tâm đến lương cao, nhiều người dở nhưng lại không chịu làm và học hỏi. Hiện nay tồn tại không ít những giám đốc độc quyền, nghi ngờ cấp dưới, không phân quyền nên suốt ngày nhận “trình, bẩm”, từ đó ra quyết định chậm, bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Không ít ngân hàng vẫn còn tình trạng chưa phân định trách nhiệm và quyền hạn giữa NHTM, ban kiểm soát và ban điều hành, công tác quản trị, kiểm soát điều hành của NHTM không theo kịp với đòi hỏi của nền kinh tế thị trường và việc thực hiện các nghiệp vụ của chính bản thân ngân hàng. Các thành viên trong hội đồng quản trị mà trực tiếp là giám đốc chưa thực sự quan tâm đến ngân hàng mình và gần như giao phó hết cho chủ tịch HĐQT, ban điều hành giải quyết công việc. Kiểm soát viên tại nhiều ngân hàng chưa thực hiện đầy đủ vai trò giám sát và cảnh báo các nguy cơ mất khả năng an toàn của ngân hàng. Bản thân một số lãnh đạo do trình độ, năng lực còn hạn chế nên không biết cách quản lý, điều hành doanh nghiệp mình ,giao việc cho cấp dưới thường giao một chiều, không hướng dẫn, động viên nhân viên…Ngoài ra, nhiều nhà lãnh đạo không dự kiến được các khó khăn, trở ngại, những biến động của môi trường kinh doanh và không có những kế hoạch dự phòng, không đánh giá được chính xác con số nợ xấu của ngân hàng mình là bao nhiêu, có tâm lý sợ thay đổi, do vậy dẫn đến trường hợp các ngân hàng hoạt động theo lối mòn, không phát triển được sản phẩm , dịch vụ và quy mô của ngân hàng. Về nguồn nhân lực, một mặt hiểu biết và kỹ năng thực hiện chuyêm môn của nhiều cán bộ còn chưa theo kịp và chưa đáp ứng đòi hỏi của hoạt động ngân hàng trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập. Mặt khác, có một số cán bộ tuy được đào tạo cơ bản nhưng lại chưa được bố trí, sử dụng hợp lý gây lãng phí và hiệu quả sử dụng cán bộ không cao. 11 Như vậy, khi các ngân hàng 100% vốn nước ngoài xuất hiện sẽ làm thay đổi mạnh cơ cấu thị phần tiền tệ thì những ngân hàng yếu kém không thể đứng vững được sẽ buộc phải sáp nhập đồng thời nguy cơ chảy máu chất xám mất đi những người cán bộ giỏi là điều không thể tránh khỏi.  Thứ ba, đó là thách thức về công nghệ: Sự phát triển của công nghệ thông tin(CNTT) trong những năm gần đây tạo điều kiện cho ngành ngân hàng đưa các dịch vụ ngân hàng mới như ngân hàng điện tử (e-banking), ngân hàng tại nhà (home banking), ngân hàng qua điện thoại (telephone banking). Đến nay, các NHVN đã sử dụng trên 80% các giao dịch giữa ngân hàng với khách hàng bằng máy tính và các thiết bị CNTT hiện đại . Mặc dù, hệ thống NHVN đã đạt được một bước đáng kể trong việc ứng dụng CNTT. Tuy nhiên, nếu so với yêu cầu quản lý và hoạt động kinh doanh của ngân hàng hiện đại, nhất là kinh doanh theo nguyên tắc của GATS, nơi có hệ thống thông tin vào loại số 1 trên thế giới thì trình độ CNTT của NHVN chỉ là bước đầu, sơ khai. Đối chiếu với các dịch vụ ngân hàng Mỹ được cung cấp tại VN cũng như các dịch vụ theo quy định của GATS khi VN là thành viên của WTO thì NHVN còn quá non nớt. Các ngân hàng nước ngoài có trình độ CNTT ngân hàng phát triển rất cao trong mọi lĩnh vực như nối mạng quản lý rủi ro, quản lý vốn khả dụng, quản lý khe hở nhạy cảm tài sản nợ và tài sản có, quản lý khách hàng không chỉ trong nước mà trên cả toàn cầu. Còn các ngân hàng của chúng ta thì hệ thống cơ sở, hạ tầng, truyền thông còn rất thấp, mức độ đáp ứng của công nghệ ngân hàng với nhu cầu thị trường còn hạn chế. Hiện nay, các ngân hàng chưa có sự liên kết với nhau mà hoạt động của các ngân hàng mang tính độc lập, hệ thống thẻ rút tiền tự động ATM hiện nay của các ngân hàng vẫn chưa kết nối được với nhau. Hiện nay, chúng ta thấy, có một chỗ đặt mấy máy ATM của các ngân hàng khác nhau nhưng thẻ ngân hàng nào chỉ dùng cho ngân hàng ấy, tại sao lại không liên kết, thay vì một chỗ đặt nhiều máy thì chỉ cần một máy nhưng chấp nhận nhiều thẻ của các ngân hàng khác nhau thì sẽ rất tiện lợi và tiết kiệm. Các ngân hàng ra sức mở rộng mạng lưới của mình mà không liên kết là một sự lãng phí và nảy sinh nhiều vấn đề như đẩy giá thuê mặt bằng lên cao đồng thời công nghệ không đồng bộ, không hiện đại nên dần bị mất khách hàng, thị trường thanh toán thẻ chuyển dần sang các ngân hàng nước ngoài, có công nghệ cao hơn nhâ Bank, AZN… Thực tiễn cho thấy, công nghệ lạc hậu không những làm hạn chế khả năng cung ứng các dịch vụ mới của các NHTM mà còn làm giảm đi hiệu quả trong công tác quản lý của các nhà lãnh đạo ngân hàng là một trở ngại rất lớn 12 khi hệ thống ngân hàng phải đối mặt với các ngân hàng nước ngoài theo như cam kết của WTO lĩnh vực ngân hàng sẽ được mở cửa dần theo lộ trình 7 năm.  Thách thức thứ tư mà các NHTM phải đối mặt đó là năng lực cạnh tranh thấp: Hiện nay, các NHTM nhìn chung là năng lực tài chính rất yếu. Tỷ lệ an toàn vốn bình quân khoảng 3.72% trong khi theo thông lệ quốc tế thì tỷ lệ an toàn vốn bình quân tối thiểu 8%. Vốn tự có của NHTMVN nhỏ hơn rất nhiều so với các ngân hàng trong khu vực. Ngân hàng có vốn tự có lớn nhất cũng chỉ khoảng 200 triệu USD, bằng 1/5 vốn tự có của ngân hàng các nước trong khu vực. Tốc độ tăng vốn tự có của các NHTM còn thấp trong khi tốc độ tăng tài sản hiện nay tăng bình quân từ 20-25% nếu như không có những biện pháp thiết thực tăng vốn tự có với lộ trình cụ thể thì e rằng NHTMVN khó đạt được tỷ lệ an toàn vốn. Năng lực tài chính yếu là trở ngại lớn đối với việc mở rộng kinh doanh và tăng trưởng cũng như tạo ra những bất lợi trong quá trình cạnh tranh với những ngân hàng nước ngoài. Chất lượng tài sản thấp: Chất lượng tài sản có cũng là một điểm yếu trong năng lực cạnh tranh của các NHTM Chất lượng tài sản có thể hiện trước hết ở chỉ tiêu nợ quá hạn trên tổng dư nợ. Đến thời điểm cuối năm 2000, tổng số nợ khó đòi tồn đọng của các NHTMNN là 22.299 tỷ VND, chiếm tỷ lệ 10.78% trên tổng dư nợ tại thời điểm đó. Sự yếu kém về chất lượng tài sản có của các NHTMNN còn thể hiện ở sự tập trung quá lớn của danh mục tín dụng cho các DNNN.Hiện nay, vốn đầu tư cua các dự án trọng điểm phần lớn đang tiếp tục phải trông chờ vào vay các NHTM, các tổng công ty đều đang dư nợ rất lớn. Hiệu quả của các dự án đầu tư trong thực tế so với lúc thẩm định và phê duyệt ban đầu có khoảng cách nhất định. Bởi vậy, các NHTM không thu hồi được nợ vay đúng hạn, ảnh hưởng đến thanh khoản, chưa kể có những khoản vay có thể rơi vào nợ khê đọng nếu như dự án đó không hiệu quả, bị đổ vỡ. Đồng thời các NHTM cũng không thu được lãi, ảnh hưởng ngay đến tình hình tài chính. Nguyên nhân chính của tình trạng nợ tồn đọng trong những năm qua là do các nguyên nhân chủ quan từ phía các ngân hàng như sự yếu kém trong tổ chức, quản lý, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp…, sự bất cập trong chính sách ,cơ chế cũ không phù hợp với thực tế hoạt động của các ngân 13 hàng. Trong đó một nguyên nhân quan trọng gây ra sự yếu kém đó là quyền tự chủ trong kinh doanh của các ngân hàng chưa được tôn trọng. Việc cho vay của các ngân hàng này chịu ảnh hưởng của những yếu tố phi kinh tế, đặc biệt các khoản cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước. Chính những điều này làm cho tiềm lực tài chính của các NHTM tăng chậm, nguồn tài chính để tái cơ cấu bị suy kiệt theo chu kỳ xử lý nợ. Sự không tách bạch giữa cho vay chính sách với cho vay thương mại cũng là nguyên nhân chính khiến cho tình trạng nợ quá hạn, đặc biệt nợ quá hạn đối với DNNN lại ở mức cao như hiện nay. Chất lượng tài sản có cả khối NHTMCP có những cải thiện đáng kể trong những năm gần đây nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ nợ quá hạn của các NHTMCP trong những năm gần đây giảm đáng kể, làm cho tình hình hoạt động của các ngân hàng này lành mạnh hơn nhiều. Nhiều ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn dưới 2%. Tỷ lệ nợ quá hạn của các NHTMCP năm 2003 chỉ chiếm 6.35% tổng số nợ quá hạn của toàn hệ thống, giảm 7.25% so với năm 2002 và 10.45% so với năm 2001. Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn là một con số đáng lo ngại.Thêm vào đó, tỷ lệ này mới chỉ tính toán trên cơ sở VAS, chưa được xác định theo tiêu chuẩn quốc tế (IAS) nê n chưa phản ánh chính xác mức độ rủi ro thực tế mà các ngân hàng này phải đối mặt. Danh mục tài sản có thiếu tính đa dạng, chưa có sự phân tán rủi ro hợp lý cũng như sự mất cân đối trong cơ cấu tín dụng trung, dài hạn so với nguồn vốn huy động cũng phản ánh chất lượng tài sản có của các NHTMNN còn thấp. Bên cạnh đó, hệ thống báo cáo, kế toán thiếu minh bạch. Sự khác biệt giữa hệ thống kế toán ngân hàng VN (VAS) và hệ thống kế toán ngân hàng quốc tế (IAS) đã dẫn đến việc sai lệch đáng kể trong đánh giá hiệu quả hoạt dộng của hệ thống NHTMVN, từ đó tạo nên việc quản trị ngân hàng kém hiệu quả và thiếu minh bạch. Năng lực cạnh tranh của các NHTM thấp còn do mạng lưới hoạt dộng ở nước ngoài của các ngân hàng rất nhỏ bé. Các NHTMVN chưa có chi nhánh ở nước ngoài( trừ một số ngân hàng có văn phòng đại diện). Điều này hạn chế việc mở rộng các hoạt dộng ngân hàng quốc tế như thanh toán xuất nhập khẩu, tài trợ dự án, chuyển tiền, cũng như hạn chế khả năng mở rộng thị trường kinh doanh, cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng nước ngoài. Nguyên nhân chính là do hệ thống NHTMVN hội nhập quốc tế trong điều kiện điểm xuất phát thấp về trình độ phát triển, nguồn nhân lực phục vụ cho các chi nhánh ở ngân hàng nước ngoài là một cản trở rất lớn, phong tục tập quán tại mỗi quốc gia chúng ta còn am hiểu rất hạn chế, chi phí thuê mặt bằng cao… 14 Ngoài ra, năng lực quản trị rủi ro của các NHTM còn rất yếu kém. Hiện nay, các NHTM còn chưa đánh giá và xác định được đầy đủ rủi ro trên cơ sở khoa học chặt chẽ. Các mô hình và công cụ hiện đại để đo lường và quản lý rủi ro cũng chưa được ứng dụng rộng rãi(quản lý tài sản nợ - tài sản có, quản trị ngân hàng theo nguyên tắc CAMEL…). Một số ngân hàng mới chỉ bắt đầu áp dụng các chuẩm mực quốc tế ở mức độ thấp. Chất lượng và năng lực quản trị rủi ro vì thế còn rất yếu.  Thứ năm, là chất lượng dịch vụ ngân hàng chậm đổi mới: Một điểm yếu khác của hệ thống ngân hàng VN là chấtlượng hoạt động. Trong khi điểm mạnh của các ngân hàng nước ngoài là dịch vụ thì ngân hàng trong nước vẫn chủ yếu là hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng vẫn còn thiếu các định chế quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế như quản trị rủi ro, nhóm khách hàng, loại sản phẩm, kiểm toán nội bộ. sự đơn điệu trong hoạt động dịch vụ khiến hệ thống ngân hàng không tận dụng được lợi thế về mạng lưới, về khách hàng, về kênh phân phối và công nghệ. Cũng chính vì thế nên giá thành dịch vụ của các ngân hàng VN khá cao so với các nước trong khu vực. Nếu như ở các nước phát triển, NHTM thường là những tổ hợp ngân hàng – tài chính kinh doanh đa ngành nghề( tín dụng, thanh toán, bảo hiểm, chứng khoán…) thì các NHTM VN vẫn xoay quanh các sản phẩm truyền thống: tín dụng, bảo lãnh thanh toán. Một số dịch vụ mới ra đời nhưng vẫn ở mức nhỏ bé, chiếm tỷ trọng thấp trong tổng doanh thu. Một chuyên gia của WB cảnh báo: Nếu dịch vụ ngân hàng không được cải tiến mạnh mẽ, hệ thống phân phối của ngân hàng trong nước sẽ mất dần, nhất là khi sự phân biệt giữa tổ chức tín dụng trong nước và nước ngoài căn bản được xoá bỏ vào năm 2010. Mặt khác, với điều kiện hạ tầng như hiện nay, sẽ rất khó có các ngân hàng nội địa cạnh tranh được với ngân hàng nước ngoài về mặt công nghệ. Một cuộc thăm dò ý kiến khách hàng gần đây cho biết:45% số khách hàng được hỏi, kể cả cá nhân và doanh nghiệp trả lời sẽ chuyển sang vay vốn ngân hàng nước ngoài chứ không vay vốn của ngân hàng VN. Nguyên nhân ngoài lý do chênh lệch lãi suất thì cơ bản là do chất lượng dịch vụ và thủ tục hành chính quá rườm rà và phức tạp.  Thứ sáu, đó là sự tham gia của các NHTM nước ngoài: Khi VN tham gia vào tổ chức WTO thì việc phải mở cửa cho các NH nước ngoài vào và áp dụng quy chế đối xử quốc gia đối với các NH nước ngoài là không thể tránh khỏi. Trong điều kiện hiện nay đây sẽ là một thách thức lớn cho các NHTMVN khi phải cạnh tranh với các NH nước ngoài. 15 Trước hết, năng lực quản lý kinh doanh của các NH nước ngoài là rất cao, họ có một bề dày kinh nghiệm trong kinh doanh ngân hàng. Hơn nữa, họ lại được đào tạo bài bản về nghiệp vụ kinh doanh, quản trị điều hành trong nền kinh tế thị trường. Các chi nhánh NH nước ngoài được trang bị công nghệ ngân hàng hiện đại, qua đó giúp họ tạo được những kênh phân phối hiện đại như sử dụng Ebanking… và các công nghệ khác. Ngoài ra, các chi nhánh NH nước ngoài có nhiều lợi thế hơn các NHTM trong nước trong việc sử dụng, mở rộng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Họ hiểu biết đầy đủ hơn các sản phẩm phái sinh như: hợp đồng kỳ hạn, quyền lựa chon, hợp đồng tương lai… Do vậy, việc đưa các sản phẩm này vào hoạt động sẽ thuận lợi hơn các NHTM trong nước. Năng lực tài chính của các chi nhánh NH nước ngoài là mạnh hơn các NHTM trong nước:Tỷ lệ vốn điều lệ/tổng tài sản có của các chi nhánh NH nước ngoài là 14.6% trong khi đó NHTM trong nước chỉ là 4.6%. Mức độ rủi ro trong hoạt động của các NHTM trong nước lớn hơn rất nhiều so với các chi nhánh NH nước ngoài. Trước hết, là khả năng sinh lời rất thấp và có xu hướng giảm, sự mất cân đối về các loại tiền tệ do tình trạng đô la hoá nền kinh tế. Do các ngân hàng nước ngoài thường tập trung vào những phân khúc thị trường nhất định nên một số lĩnh vực trong nền kinh tế sẽ có thể khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng hơn. Sự ổn định của thị trường trong nước cũng bị ảnh hưởng do các NH nước ngoài đột ngột rút ra khỏi thị trường trong nước một khi xảy ra khủng hoảng hoặc bị ảnh hưởng bởi những vấn đề của ngân hàng mẹ. III:GIẢI PHÁP Đứng trước bước ngoặt lịch sử vĩ đại- bước vào giai đoạn sống còn, giai đoạn cạnh tranh khốc liệt, do những đòi hỏi của hội nhập WTO thì chỉ có một con đường duy nhất là cạnh tranh, phát triển và hội nhập. Ngoài những công cụ, chính sách điều tiết vĩ mô từ phía các cơ quan nhà nước và NHTW thì bản thân mỗi NHTM cần phải chủ động xây dựng cho mình một môi trường kinh doanh thuận lợi để có tồn tại và đứng vững trong điều kiện hiện nay. 1. Xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn Để có một chiến lược kinh doanh hiệu quả thì điều kiện cần đâù tiên là các nhà hoạch định phải có được trong tay những thông tin đầy đủ, chính xác về thị trường bao gồm nhưng không giới hạn những thông tin như: các phân đoạn 16 khách hàng cơ bản và hành vi của từng nhóm khách hàng trên các phân đoạn đó; quy mô, tính chất, tốc độ phát triển của cầu, tốc độ bão hoà; các đối thủ cạnh tranh chủ yếu và tiềm năng trên từng phân đoạn… Hiện nay, việc nghiên cứu thị trường của các NHVN vẫn chưa được tiến hành một cách bài bản. Và hầu như các ngân hàng đều xây dựng chiến lược kinh doanh mà không tiến hành nghiên cứu thị trường toàn diện. Điều đó đã dẫn đến tính mơ hồ, chung chung của các chíến lược kinh doanh của phần đông các NHTM VN hiện nay. Chủ động tìm hiểu nhu cầu khách hàng còn là cơ sở quan trọng để mỗi ngân hàng tiến hành đa dạng hoá sản phẩm, đầu tư vào những phân đoạn thị trường mới để tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên, việc tiến hành nghiên cứu thị trường như thế thường rất tốn kém và đòi hỏi những kĩ thuật điều tra, chọn mẫu phân tích rất phức tạp mà với trình độ của đội ngũ nhân lực làm công tác phân tích thị trường hiện nay của các ngân hàng VN thì việc độc lập tiến hành nghiên cứu sẽ rất khó khăn. Vì thế, các ngân hàng có thể phối hợp với nhau tiến hành việc nghiên cứu thị trường chung trên những vấn đề cơ bản về cầu trong nước cũng như một số thị trường tiềm nămg ở nước ngoài và khả năng thâm nhập của các đối thủ mới, đặc biệt là các đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài. Việc tiến hành nghiên cứu thị trường chung có thể được tiến hành thông qua một ban độc lập thuộc hiệp hội ngân hàng với sự tư vấn của các chuyên gia phân tích thị trường có uy tín trên thế giới. Các ngân hàng có thể cử các chuyên viên nghiên cứu thị trường của mình tham gia vào ban này để một mặt giám sát hoạt động của ban soang mặt khác quan trọng hơn là học hỏi kinh nghiệm của các chuyên gia tư vấn nước ngoài. Việc tiến hành nghiên cứu thị trường chung có rất nhiều ưu điểm. Thứ nhất, việc phối hợp nghiên cứu sẽ giúp các ngân hàng VN tránh được sự lãng phí các nguồn lực . Thứ hai, việc cùng nhau phối hợp nghiên cứu thị trường cho phép tập trung một nguồn lực đủ lớn để tiến hành những nghiên cứu thị trường đủ rộng và đủ sâu, đảm bảo tính toàn diện và chính xác của thông tin trên cơ sở đảm bảo mẫu điều tra về số lượng và mức độ đa dạng. Trên cơ sở kết qủa của cuộc điều tra thị trường đó, các ngân hàng căn cứ vào các nguồn lực hiện có của mình, xây dựng một tầm nhìn mới, một chiến lược kinh doanh dài hạn nhằm khai thác tối ưu và không ngừng nâng cao các nguồn lực của mình nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra. Điểm cốt yếu trong mỗi chiến lược kinh doanh chính là việc phải xác định được các thị trường mục tiêu và định vị các sản phẩm, dịch vụ của mỗi ngân hàng trên từng phân đoạn thị 17 trường đó. Đây là một việc làm không hề dễ dàng song lại không thể không làm. Việc xác định thị trường mục tiêu quá chung chung sẽ dẫn đến hậu quả là làm phân tán các nguồn lực đầu tư thể hiện đầu tư dàn trải, manh mún và tự phát, không có hệ thống và định hướng gây lãng phí các nguồn lực. Xét trên giác độ hệ thống, các ngân hàng của một nước cần có sự phân chia tương đối vầ thị phần và thị trường. Sự phân chia tương đối các phân đoạn thị trường giữa các ngân hàng trong nước thể hiện ở chiến lược đầu tư của mỗi ngân hàng tập trung và các mảng thị trường khác nhau. Nó không phải là một sự thoả thuận ngầm định hay công khai về sự phân chia thị trường giữa các tập đoàn để tạo ra ưu thế độc quyền. Sự phân chia tương đối này vẫn đảm bảo tính lành mạng của môi trường cạnh tranh. Trong tình trạng hiện nay sự quá giống nhau trong chiến lược kinh doanh của các NHTMNN đã dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt và có dấu hiệu không lành mạnh làm suy yếu đi sức mạnh của toàn hệ thống trong khi vẫn còn nhiều mảng thị trường đang bị bỏ ngỏ và rất dễ bị khai thác bởi các ngân hàng nước ngoài. Rõ ràng, dù phát triển thành các ngân hàng đa năng khổng lồ, mỗi ngân hàng vẫn cần xác định cho mình những thị trường mục tiêu nhất định để có thể khai thác tối ưu các nguồn lực hiện có của mình. Rất khó có một ngân hàng nào lại có lợi thế trên tất cả các mảng hoạt động. Hơn nữa, Với nguồn lực đang rất có hạn như hiện nay thì việc tập trung nguồn lực cho một số lĩnh vực thế mạnh lại là việc làm cần thiết hơn bao giờ hết đối với các NHTMVN. Sự mở rộng đầu tư trong tương lai vẫn cần dựa trên nền tảng từ hiện tại. Michael Porter cũng đã có phân tích sự mở rộng hoạt động của các doanh nghiệp. Ông cho rằng, các doanh nghiệp khi mở rộng hoạt động trên cở sở thế mạnh của mình sẽ thu được hiêụ quả cao. Sự mở rộng sang các lĩnh vực khác không có thế mạnh sẽ làm yếu đi hoạt động của chính doanh nghiệp đó. Vì vậy các NHTMVN, đặc biệt là các NHTMNN cần phải xem xét lại chiến lược phát triển của mình để có được những định hướng rõ ràng hơn, cụ thể hơn, không dẫm chân lên nhau và có thể khai thác tối ưu những lợi thế đã có. Các NHTMCP cũng có xu hướng tập trung phát triển vào mảng thị trường bán lẻ. Song bản thân mảng thị trường này cũng có rất nhiều phân đoạn mà việc cụ thể hoá hơn nữa các phân đoạn thị trường mục tiêu vẫn là việc làm cần thiết của các ngân hàng này. 2. Nâng cao trình độ quản lý, năng lực quản lý và đào tạo nguồn nhân lực, cơ cấu laị tổ chức bộ máy quản trị.  Nâng cao hiệu quả đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực 18 Thứ nhất, là phải đổi mới mạnh mẽ về nhân thức và tổ chứcthực hiện việc đào tạo và sử dụng cán bộ theo đúng đường lối , chủ trương của Đảng và nhà nước; cần xuất phát từ yêu cầu của mỗi vị trí công tác và lấy mức độ đáp ứng yêu cầu này cũng như yêu cầu nângcao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động chung của ngân hàng làm căn cứ, tiêu chuẩn để xây dựng và đánh giá kết quả đào tạo và sử dụng cán bộ. Thứ hai, tập trung giải quyết tốt mâu thuẫn giữa việc phải dành nguồn cán bộ để đáp ứng các yêu cầu trước mắt, nhưng đồng thời dành sự đầu tư thoả đáng cho việc đào tạo và đào tạo lại cán bộ nhằm đảm bảo tốt cho các bước phát triển tiếp theo.Bên cạnh việc dứt khoát chọn một số cán bộ trẻ được đánh giá là có năng lực và đạo đức tốt cử đi đào tạo dài hạn và chuyên sâu ở trong và ngoài nước để có khả năng triển khai và áp dụng các kiến thức, kinh nghiệm học được; đồng thời coi trọng việc đào tạo thông qua công việc hằng ngày , bằng cách cán bộ lãnh đạo tạo điều kiện, dành thời gian chỉ dẫn và giao việc cụ thể có đánh giá sát sao để cán bộ tăng cường tự học, tự lên. Thứ ba, ưu tiên đề bạt sử dụng số cán bộ trẻ có năng lực và đạo đức tốt thay thế một bộ phận cán bộ lãnh đạo không theo kịp yêu cầu do sự đổi mới nhanh chóng trong công nghệ khoa học tổ chức và quản lý hiện đại.  Nâng cao kỹ năng quản trị. điều hành Năng lực quản trị điều hành là một trong những yếu tố quyết định năng lực và hiệu quả hoạt dộng của mỗi ngân hàng. Năng lực này phụ thuộc vào khả năng dự báo và chủ động xử lý kịp thời các tình huống phát sinh, sử dụng có hiệu quả các cơ hội và vượt qua các thách thức. Do vậy, đòi hỏi cán bộ lãnh đạo, quản lý vừa phải có tầm nhìn chiến lược, vừa phải có sự khôn khéo, linh hoạt trong sách lược và áp dụng các biện pháp cụ thể. Trong quá trình đổi mới năng lực quản trị, điều hành của đội ngũ cán bộ ngân hàng đã được nâng lên đáng kể nhưng nếu so với yêu cầu cạnh tranh và hội nhập một cách có hiệu quả, cần phải khắc phục một số hạn chế, yếu kém theo các hướng sau: Xác định rõ và kiên trì thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược của ngân hàng, tránh chạy theo các thành tích trước mắt nhưng có thể gây thiệt hại cho tương lai, ví dụ huy động với lãi suất cao để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng quá mức, dẫn đến giảm chất lượng tín dụng, giảm tỷ suất lợi nhuận. Tạo dựng môi trường làm việc lành mạnh, minh bạch và dân chủ thực sự. Trong quản trị điều hành, trách nhiệm và quyền lợi được phân định rõ ràng và 19 gắn liền với từng cương vị công tác và từng công việc, thực hiện nhất quán đối với tất cả các cấp lãnh đạo, cán bộ quản lý và cán bộ nghiệp vụ. Áp dụng các phương pháp hiện đại và công nghệ thông tin phục vụ cho công tác quản trị điều hành, trước hết là trong các khâu thu thập, xử lý thông tin phục vụ lãnh đạo. Cổ phần hoá NHTMNN là động lực thúc đẩy nâng cao năng lực điều hành trong NHTM. Cổ phần hoá thực chất là đa dạng hoá sở hữu, hoặc xã hội hoá nguồn vốn CSH của các DN. Một DN Cổ phần hoá là một doanh nghiệp do nhiều thành viên góp vốn đồng sở hữu. Trách nhiệm của mỗi thành viên ngang bằng và giới hạn trong số lượng vốn mà mỗi thành viên đã bỏ ra để mua cổ phiếu của DN đó. DN cổ phần được quản trị bởi một hội đồng quản trị mà các thành viên của hội đồng do đại hội cổ đông bầu ra. Do tính chất này, nên các cổ đông lớn sẽ là người quyết định lựa chọn người tham gia vào HĐQT. Đây chính là ưu điểm của công ty cổ phần, vì những cổ đông lớn luôn quan tâm đến trách nhiệm và lợi ích mà mình được hưởng do đó họ phải tìm kiếm người có khả năng để bầu vào HĐQT. Bên cạnh HĐQT còn có ban kiểm soát cũng do đại hội đồng cổ đông bầu ra, thay mặt cho cổ đông kiểm soát quá trình hoạt động của DN, bảo đảm DN phải thực hiện các nghị quyết của HĐCĐ. Công việc điều hành hoạt động hàng ngày do BGĐ thực hiện. BGĐ điều hành do HĐQT thuê bất kỳ người nào có năng lực điều hành, kể cả người nước ngoài. Điều này cho phép các Ngân hàng được CPH có thể lực chọn người điều hành có năng lực, trình độ chuyên môn để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Hoạt động của HĐQT còn gắn với việc quyết định mạng lưới phát triển quy mô, chiến lược nhân sự và xây dựng cơ sở vật chất của Ngân hàng. Do vậy cần phải lực chọn cân nhắc để có những thành viên HĐQT là những chuyên gia am hiểu sâu sắc lĩnh vực kinh doanh ngân hàng, có khả năng đóng góp kinh nghiệm cho việc xây dựng chiến lược kinh doanh của ngân hàng và nâng cao trình độ quản trị của ngân hàng phù hợp với yêu cầu mới. 3. Nâng cao năng lực cạnh tranh  Đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ Đây là một vấn đề mang tính chiến lược dài hạn nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM. Để thực hiện đa dạng hoá các dịch vụ thành công, các ngân hàng một mặt cần chú ý nghiên cứu các sản phẩm, dịch vụ đang được các ngân hàng trên thế giới triển khai, song mặt khác cũng cần có những nghiên cứu cụ thể về nhu cầu trong nước để có những sửa đổi hoặc cải tiến cho phù hợp 20
- Xem thêm -