Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại của asean

  • Số trang: 13 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 24 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại của ASEAN A. LỜI NÓI ĐẦU Trải qua hơn 40 năm thành lập và phát triển, ASEAN đã ngày càng hoàn thiện và vững mạnh hơn, sự hợp tác giữa các quốc gia được đẩy mạnh không ngừng, góp phần nâng cao vị thế của ASEAN trên trường quốc tế. Tuy nhiên trong quá trình hợp tác cùng phát triển của các nước thành viên các tranh chấp, bất đồng xảy ra trong các lĩnh vực an ninh – chính trị, kinh tế – thương mại …là điều không tránh khỏi. Cũng như trong các tổ chức và liên kết khu vực khác, trước sự phát triển nhanh chóng của hoạt động hợp tác kinh tế trong khuôn khổ ASEAN, yêu cầu thiết yếu cần phải xây dựng một cơ chế giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực này một cách hiệu quả và khả thi. Việc nghiên cứu về cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết. Sau đây, chúng ta sẽ đi vào nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại của ASEAN qua các nội dung sau đây. B. NỘI DUNG I-Khái quát chung 1. Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN a. Cơ sở pháp lý và phạm vi áp dụng Nghị định thư về tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp ngày 29/1/2004 (Nghị định thư). Cơ chế giải quyết tranh chấp của Nghị định thư chỉ được áp dụng để giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại giữa các quốc gia thành viên ASEAN. b. Cơ quan và trình tự giải quyết tranh chấp Theo quy định của nghị định thư 2004 thì cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ bao gồm Hội nghị quan chức cấp cao SEOM, Hội nghị bộ trưởng kinh tế AEM, ban thư ký ASEAN với những thẩm quyền riêng biệt. Cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định trong Nghị định thư 2004 cũng bao gồm 4 giai đoạn là tham vấn, hội thẩm, phúc thẩm và thi hành phán quyết. 2. Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của WTO a. Cơ sở pháp lý: hiệp định chung về thuế quan và thương mại, thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (DSU) 1 b. Nguyên tắc: Ngoài việc tuân theo các nguyên tắc chung. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO còn ghi nhận các nguyên tắc sau: Bình đẳng giữa các nước thành viên tranh chấp, nguyên tắc bí mật, nguyên tắc đồng thuận phủ quyết và nguyên tắc đối xử ưu đãi với các thành viên đang phát triển và chậm phát triển. c. Cơ quan giải quyết tranh chấp: Thủ tục giải quyết tranh chấp trong WTO được thực hiện bởi các cơ quan khác nhau, mỗi cơ quan có chức năng riêng biệt, tạo nên tính độc lập trong hoạt động điều tra và thông qua quyết định trong cơ chế này: Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB); Ban hội thẩm (Panel); Cơ quan Phúc thẩm (SAB). d. Trình tự, thủ tục của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Bao gồm các giai đoạn: Tham vấn; Môi giới, trung gian, hòa giải; Thành lập Ban hội thẩm; Hoạt động của Ban hội thẩm; Thông qua Báo cáo của Ban hội thẩm; Trình tư Phúc thẩm; Khuyến nghị các giải pháp; Thi hành; Bồi thường và trả đũa. II.Phân tích và đánh giá ưu nhược điểm của hệ thống cơ quan giải quyết tranh chấp Theo quy định tại Nghị định thư về tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp ngày 29/11/2004 thì hệ thống cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN bao gồm: Hội nghị quan chức kinh tế cao cấp SEOM, Hội nghị Bộ trưởng kinh tế AEM, Ban thư kí ASEAN. Hội nghị quan chức kinh tế cao cấp SEOM có thẩm quyền sau: - Thành lập Ban hội thẩm; - Thông qua báo cáo của Ban hội thẩm và cơ quan phúc thẩm; - Giám sát việc thực hiện các phán quyết đã được SEOM thông qua; - Cho phép việc hoãn thi hành các nhượng bộ hay các nghĩa vụ khác theo các hiệp định của ASEAN. Hội nghị quan chức kinh tế cao cấp SEOM không phải là cơ quan trực tiếp giải quyết tranh chấp mà mọi tranh chấp đều được điều tra, xem xét và kết luận bởi Ban hội thẩm do SEOM thành lập. SEOM chỉ thông qua báo cáo của Ban hội thẩm, báo cáo của Cơ quan phúc thẩm và giám sát việc thi hành các phán quyết đã được thông qua. Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN (AEM) có thẩm quyền: thành lập cơ quan phúc thẩm gồm 3 hành viên trong số 7 thành viên của Cơ quan phúc thẩm thường trực do AEM bổ 2 nhiệm với nhiệm kì 4 năm. Chức năng của cơ quan phúc thẩm là giải quyết các kháng cáo đối với các tranh chấp mà Ban hội thẩm đã xem xét. Như vậy cũng giống như SEOM, AEM cũng không phải là cơ quan trực tiếp giải quyết các kháng cáo của các bên tranh chấp mà việc giải quyết kháng cáo thuộc về Cơ quan phúc thẩm do AEM thành lập. Ban thư kí ASEAN có trách nhiệm trợ giúp cho Ban hội thẩm và cơ quan phúc thẩm trong các vẫn đề về pháp lý, lịch sử có liên quan cũng như những trợ giúp về mặt kỹ thuật; trợ giúp cho SEOM trong việc giám sát quá trình thực thi các phán quyết, đồng thời là nơi tiếp nhận tất cả các tài liệu có liên quan đến vụ tranh chấp. Từ những phân tích về hệ thống cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế-thương mại của ASEAN ta có thể nhận thấy một số ưu điểm, nhược điểm trong hệ thống cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN: Ưu điểm: ASEAN đã thành lập một hệ thống cơ quan giải quyết tranh chấp, mỗi cơ quan có chức năng riêng biệt, đảm nhiệm các giai đoạn khác nhau trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại. Điều này đã tạo nên tính độc lập trong hoạt động điều tra và đưa ra quyết định của các cơ quan. Trong hệ thống cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN có cơ quan có chức năng phúc thẩm các báo cáo của Ban hội thẩm. Điều này tạo điều kiện cho việc xem xét, giải quyết tranh chấp được toàn diện, khách quan, đảm bảo sự công bằng trong các phán quyết của SEOM. Nguyên tắc thông qua quyết định của các cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại của ASEAN là nguyên tắc đồng thuận nghịch (Theo nguyên tắc này báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm sẽ không được thông qua nếu như tất cả các thành viên của SEOM đồng thuận quyết định không thông qua báo cáo). Nguyên tắc này đảm bảo cho SEOM trong việc ra phán quyết được thuận lợi đặc biệt trong trường hợp có một hoặc một vài quốc gia muốn cản trở quá trình giải quyết tranh chấp Nhược điểm: Các cơ quan không trực tiếp thực hiện việc xem xét, giải quyết tranh chấp mà chỉ thành lập các cơ quan trực tiếp giải quyết tranh chấp và thông qua quyết định của của các cơ 3 quan đó. Vì vậy mà vai trò của các cơ quan trong giải quyết tranh chấp không thật sự rõ ràng. Như Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM), cơ quan này chỉ có vai trò trong việc thành lập Cơ quan phúc thẩm. Mọi hoạt động trong việc xem xét các kháng cáo đều do Cơ quan phúc thẩm thực hiện. AEM hoàn toàn không tham gia vào quá trình giải quyết kháng cáo. Ngoại trừ Ban thư ký ASEAN là cơ quan thường trực, hai cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại còn lại của ASEAN (SEOM và AEM) là các cơ quan hoạt động không thường trực. Như vậy việc thủ tục tiến hành thành lập Ban hội thẩm trong trường hợp SEOM không tiến hành họp sẽ mất nhiều thời gian hơn, ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng, kịp thời. Phạm vi hoạt động của Cơ quan phúc thẩm còn hẹp và chưa rõ ràng. Chức năng chính của Cơ quan phúc thẩm chỉ là xem xét việc áp dụng và giải thích pháp luật của Ban hội thẩm chứ không xem xét toàn bộ vấn đề liên quan đến vụ tranh chấp. Vì vậy, khi phát hiện ra các tình tiết phát sinh mà chưa được Ban hội thẩm xem xét mà tình tiết này liên quan đến việc giải quyết tranh chấp hoặc khi phát hiện kết luận của Ban hội thẩm chưa thật sự chính xác và đủ căn cứ thì Cơ quan phúc thẩm không có đủ thẩm quyền để xử lý. Vì vậy ảnh hưởng đến tiến trình giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại. III.Phân tích và đánh giá ưu điểm và hạn chế của trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp Cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định trong Nghị định thư 2004 bao gồm 4 giai đoạn là tham vấn, hội thẩm, phúc thẩm và thi hành phán quyết. - Tham vấn: Nếu các nước thành viên cho rằng một nước thành viên khác không thực hiện nghĩa vụ của mình theo bất kỳ Hiệp định nào thì có thể khiếu nại tới nước thành viên đó để được giải quyết một cách thỏa đáng và nước thành viên nhận được khiếu nại sẽ phải trả lời trong vòng mười ngày và bước vào tham vấn trong vòng 30 ngày sau khi nhận được yêu cầu. Nếu việc tham vấn không giải quyết được tranh chấp của các bên trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu thì bên khiếu nại có thể đưa vụ việc ra giải quyết tại hội nghị quan chức cấp cao (SEOM). 4 - Hội thẩm: Các bên tranh chấp có thể bất kì lúc nào thỏa thuận thông qua bên thứ ba, trung gian, hòa giải. Ngay khi biện pháp thông qua bên thứ ba, trung gian hay hòa giải kết thúc, nước khiếu nại có thể yêu cầu SEOM thành lập Ban hội thẩm. Nếu các bên đồng ý thì biện pháp trên vẫn có thể được tiến hành khi đã được đưa tới Ban hội thẩm để giải quyết. Để giải quyết tranh chấp, SEOM sẽ thành lập Ban hội thẩm panel nhằm đánh giá một cách khách quan tranh chấp được đệ trình (Điều 7 Nghị định thư). Kết quả làm việc sẽ được báo cáo đệ trình lên SEOM. Nếu các bên không có kháng cáo thì báo cáo này sẽ được SEOM thông qua theo nguyên tắc đồng thuận nghịch. - Phúc thẩm: Trong trường hợp không đồng ý với báo cáo của panel, các bên tranh chấp sẽ kháng cáo lên cơ quan phúc thẩm. Đây là cơ quan thường trực gồm 7 thành viên do hội nghị Bộ trưởng kinh tế (AEM) thành lập. Khi có đề nghị xem xét phúc thẩm, cơ quan phúc thẩm thường trực sẽ thành lập một nhóm phúc thẩm riêng cho từng vụ tranh chấp gồm 3 thành viên. Báo cáo của cơ quan phúc thẩm sẽ được đệ trình lên để SEOM thông qua theo nguyên tắc đồng thuận nghich. - Thi hành phán quyết: Bên thua kiện có nghĩa vụ thực hiện các phán quyết của SEOM trong vòng 60 ngày kể từ khi Báo của Panel hoặc Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm được SEOM thông qua, trừ khi các bên thỏa thuận một khoản thời gian dài hơn. Tối thiểu 10 ngày trước khi phiên họp được tổ chức, bên thua kiện phải đệ trình lên SEOM một bản báo cáo nêu rõ quá trình thực hiện phán quyết đó. *Đánh giá về ưu, nhược điểm trong trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại của ASEAN. Ưu điểm: Từ những khái quát trên có thể thấy cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN vừa mang tính hòa giải vừa mang tính tài phán. Thủ tục được ghi nhận trong nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp có nhiều điểm giống với thủ tục tố tụng của cơ quan tài phán quốc tế, nhưng ASEAN luôn khuyến khích các bên liên quan tự dàn xếp thỏa thuận để có thể đi đến một giải pháp mà các bên đều chấp nhận được. Vì vậy, giai đoạn đầu tiên của quy trình giải quyết tranh chấp là tham vấn và trong giai đoạn tiếp theo các bên vẫn có khả năng áp dụng các biện pháp trung gian, môi giới, hòa giải để giải quyết tranh chấp. 5 Điều này cũng cho thấy sự linh hoạt trong cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN trong lĩnh vực kinh tế- thương mại, cho phép các quốc gia khác có thể lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp phù hợp với yêu cầu của mình. Nghị định thư tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp 2004 đã áp dụng nguyên tắc đồng thuận nghịch khi đưa ra quyết định. Điều này là một cải tiến rất quan trong so với nghị định thư 1996, ở chỗ nó đảm bảo cho việc cho tất cả các tranh chấp đã thông qua tham vấn mà không có kết quả thì đều có thể giải quyết tại Ban hội thẩm. Theo nguyên tắc này, báo cáo của Ban hội thẩm trình SEOM, báo cáo của ban phúc thẩm, quyết định của SEOM sẽ được thông qua gần như tự động trừ khi tất cả các nước thành viên đều phủ quyết. Trong trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp của ASEAN tại Ban hội thẩm hay Cơ quan phúc thẩm, SEOM sử dụng cơ chế đồng thuận phủ quyết, với cơ chế này thì báo cáo của cơ quan hội thẩm (trong trường hợp không có kháng cáo của một trong các bên tranh chấp) hoặc báo cáo của cơ quan phúc thẩm coi như đương nhiên được thông qua, đảm bảo cho kết luận và khuyến nghị giả quyết tranh chấp dễ dàng được thực hiện trên thực tế, vụ tranh chấp nhanh chóng được giải quyết và bảo đảm kịp thời cho bên có quyền và lợi ích bị xâm phạm, yêu cầu này là rất cần thiết trong việc giải quyết các tranh chấp lien quan đến kinh tế thương mại vì nó liên quan đến chính sách kinh tế của cả một quốc gia và thiệt hại lớn và thường mang tính dây chuyền. Nhược điểm: Bên cạnh những ưu điểm trên, nhìn dưới góc độ thực tế, dù có trình tự thủ tục tương đối rõ ràng nhưng cơ chế giải quyết tranh chấp này hầu như không được áp dụng khi nó vẫn còn tồn tại một số hạn chế cơ bản: Phạm vi giải quyết tranh chấp của ASEAN được quy định tại nghị định thư 2004 là những tranh chấp kinh tế thương mại giữa các quốc gia thành viên ASEAN có nghĩa là ở đây chỉ giải quyết tranh chấp giữa các chính phủ, không áp dụng đối với các doanh nghiệp có tranh chấp với chính phủ. Như vậy, nếu như các doanh nghiệp, dù có quyền và lợi ích trực tiếp bị xâm hại, không thể tự khởi động thủ tục giải quyết tranh chấp mà phải thông qua Chính phủ của mình, đây là một hạn chế, như vậy sẽ không tạo được sự thuận lợi để doanh nghiệp có thể trực tiếp nhanh chóng bảo vệ quyền lợi của mình. 6 Như đã nói ở trên, tính linh hoạt trong việc cho phép các quốc gia thành viên có thể lựa chọn nhiều biện pháp để giải quyết tranh chấp chứ không bắt buộc thông qua các cơ quan của ASEAN sẽ tạo điều kiện cho việc giải quyết nhah chóng vấn đề, chẳng hạn như trong trường hợp các tranh cãi liên quan đến vấn đề thực tế và các vấn đề có thể xác định rõ ràng của các bên. Tuy nhiên, tính linh hoạt đôi khi có thể làm suy yếu thẩm quyền của các cơ quan giải quyết tranh chấp của ASEAN vì nó không phải là cơ chế độc quyền cho giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh tế - thương mại, vì vậy các bên thường chọn giải pháp tiến hành tham vấn, sau đó cùng nhau xây dựng thêm các cơ chế nhằm hạn chế việc vi phạm các hiệp định mà không đưa vụ việc ra giải quyết theo quy trình của Nghị định thư. Điều này lý giải tại sao cho đến này cơ chế này rất ít được các quốc gia thành viên sử dụng trong giải quyết các tranh chấp. Mặt khác, mô hình giải quyết tranh chấp kinh tế – thương mại của ASEAN là mô hình được mô phỏng gần như hoàn toàn và có một số thay đổi nên cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN cũng mang những hạn chế mà WTO mắc phải cụ thể như: quy định về thời gian giải quyêt tranh chấp quá dài, tổng thời gian giải quyết tranh chấp lên tới 445 ngày như vậy sẽ khiến cho tình trạng vi phạm pháp luật theo các hiệp định được kí kết trong khuôn khổ ASEAN sẽ bị duy trì, điều này có thể gây ra thiệt hại cho nước thành viên là bên bị vi phạm, cũng khiến cho các bên tốn kém về tài chính khi theo đuổi việc giải quyết tranh chấp. Về vấn đề chi phí cho các cơ chế giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế thương mại, Nghị định thư cũng đã quy định về việc thành lập Quỹ để trang trải chi phí với đóng góp ban đầu có giá trị như nhau của tất cả các quốc gia thành viên, sau khi đóng góp ban đầu như vậy, Nghị định thư quy định Quỹ sẽ được bổ sung bởi các bên tham gia tranh chấp (Quy định tại điều 17 Nghị định thư). Các chi phí này bao gồm các chi phí của các cơ quan bao gồm cả cơ quan Phúc thẩm và bất kỳ chi phí hành chính liên quan của Ban Thư ký ASEAN. Tất cả các chi phí khác phát sinh bởi bất kỳ bên nào, sẽ do bên đó chịu và không được chi trả bởi quỹ. Các cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ phân bổ chi phí cho việc giải quyết tranh chấp cho các bên tham gia, chính vì vậy, đối với các nước thành viên với nền kinh tế còn lạc hậu và kém phát triển hơn, thì họ sẽ có xu hướng lựa chọn một cơ chế khác mà không thông qua 7 các cơ quan của ASEAN khi mà chưa có bất kỳ hướng dẫn nào ở Nghị định thư về việc phân bổ chi phí này như thế nào. Chính vì vậy mà cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại của ASEAN từ khi ra đời cho đến nay được rất ít các quốc gia thành viên sử dụng. IV-So sánh với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 1.Giống nhau Thứ nhất: Cũng như những cơ chế giải quyết tranh chấp của các tổ chức khác khi ra đời chúng đều có những mục đích nhất định; cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của WTO và ASEAN cũng vậy được ra đời nhằm giải quyết những tranh chấp liên quan đến kinh tế thương mại của các thành viên trong tổ chức mình nhằm đặt được những mục đích đã đặt ra Thứ hai: về trình tự giải quyết tranh chấp: Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và asen đều trải qua bốn giai đoạn là tham vấn, hội thẩm, phúc thẩm và thi hành phán quyết. Thứ 3:Về cơ quan giải quyết tranh chấp: Cơ quan giải quyết tranh chấp của asean bao gồm hội nghi quan chức kinh tế cao cấp SEOM và ban thư kí, Ban hội thẩm, cơ quan phúc thẩm. Cơ quan giải quyết tranh chấp của wto bao gồm cơ quan giải quyết tranh chấp(DSB), ban hội thẩm ( panel) và cơ quan phúc thẩm (SAB). Hội nghị quan chức cao cấp SEOM về cơ bản giống với cơ quan giải quyết tranh chấp DSB của WTO, đều có thẩm quyền ra quyết định thành lập ban hội thẩm thông qua các báo cáo của ban hội thẩm và cơ quan phúc thẩm giám sát việc thi hành các kết luận và khuyến nghị trong báo cáo của ban hội thẩm và cơ quan phúc thẩm. Về cơ bản số lượng cơ quan của hai tô chức đều giống nhau. Thứ 4: Về các biện pháp áp dụng để cưỡng chế thi hành: Cả hai cơ chế giải quyết đều áp dụng hình thức đền bù và trả đũa. Nếu nước thành viên liên quan thấy biện pháp giải quyết tranh chấp không phù hợp với Hiệp định hoặc bất kỳ hiệp định được áp dụng nào và nước thành viên này cũng không có cách nào làm cho biện pháp giải quyết tranh chấp ấy phù hợp với các hiệp định nói trên, hoặc nói cách khác không tuân thủ được các phán xử của trong khoảng thời gian hợp lý thìcơ quan có thẩm quyền xét xử nước thành viên ấy, nếu được yêu cầu, và không chậm hơn thời hạn hợp lý đã quy định, sẽ phải tiến hành thương 8 lượng với bên nào đưa ra yêu cầu giải quyết tranh chấp nhằm hình thành hình thức đền bù mà các bên có thể chấp nhận được. Đều áp dụng hình thức trả đũa chéo. Thoả thuận về đền bù: sau khoảng thời gian hợp lý để thực hiện phán xử/quyết định Đền bù mang tính chất tự nguyện, và nếu được đền bù thì việc đền bù đó phải phù hợp với Hiệp định hoặc bất kỳ hiệp định được áp dụng nào. 2. Khác nhau Thứ nhất: Về phạm vi giải quyết tranh chấp: +Phạm vi giải quyết tranh chấp của asean được quy định tại nghị định thư 2004 là những tranh chấp kinh tế thương mại giữa các quốc gia thành viên asean có nghĩ là ở đây chỉ giải quyết tranh chấp giữa các chính phủ, không áp dụng đối với các doanh nghiệp có tranh chấp với chính phủ. + Phạm vi giải quyết tranh chấp của WTO được quy định trong hiệp định GATT bao gồm: khiếu kiện có vi phạm, khiếu kiện không vi phạm, khiếu kiện dựa trên sự tồn tại một tình huống khác. Như vậy chúng ta có thể thấy phạm vi giải quyết tranh chấp của WTO rộng hơn và được quy định cụ thể hơn ASEAN. Và các tranh chấp trong khuôn khổ WTO không nhất thiết phát sinh từ một hành vi vi phạm các qui định tại các Hiệp định của tổ chức này của một hoặc nhiều quốc gia thành viên (thông qua việc ban hành/thực thi một biện pháp thương mại vi phạm nghĩa vụ của quốc gia đó theo WTO). Tranh chấp có thể phát sinh từ một “tình huống” khác hoặc khi một biện pháp thương mại do một quốc gia thành viên ban hành tuy không vi phạm qui định của WTO nhưng gây thiệt hại cho một hoặc nhiều quốc gia thành viên khác, asean chỉ chỉ ra những tranh chấp giữa các chính phủ thành viên mà chưa có sự cụ thể hơn. Thứ 2: Về cơ quan giải quyết tranh chấp: + Chức năng và thẩm quyền ra quyết định cuối cùng của ASEAN là hai cơ quan cùng tham gia là Hội nghị bộ trưởng kinh tế AEM và Hội nghị quan chức kinh tế SEOM với cơ chế đồng thuận nghịch thì WTO cơ quan thong qua là cơ quan giải quyết tranh chấp DSB với cơ chế đồng thuận. 9 + Nếu các cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO là những cơ quan hoạt động chuyên trách những cơ quan có sự độc lập riêng biệt khi giải quyết tranh chấp tạo tính linh hoạt mềm dẻo khi giải quyết tranh chấp. Thì ASEAN những cơ quan này đều hoạt động kiêm nhiệm và khi xét thấy cần thiết thì thành lập một cơ quan giúp việc có tính chất adhoc là ban hội thẩm panel. Chính việc này cũng để lại rất nhiều hạn chế cho cơ chế giải quyết tranh chấp của asean như tính không linh hoạt và mềm dẻo số lượng giải quyết tranh chấp rất ít. Thứ ba: Về nội dung các bước giải quyết: + Tham vấn Ở WTO đây là bước bắt buộc trước khi đệ trình lên cơ quan có thẩm quyền xét xử. Các quốc gia khác có thể xin tham gia vào việc tham vấn này nếu Bên bị tham vấn thừa nhận rằng các quốc gia này có “quyền lợi thương mại thực chất” trong việc tham vấn này. Trong khi đó ASEAN đây là bước không bắt buộc. Và không có thủ tục xin can dự. + Đệ trình lên các cơ quan khác nhau: WTO yêu cầu thành lập Ban hội thẩm phải được lập thành văn bản sau khi Bên được tham vấn từ chối tham vấn hoặc tham vấn không đạt kết quả Yêu cầu này được gửi tới DSB để cơ quan này ra quyết định thành lập Ban hội thẩm. ASEAN: Nếu tham vấn không giải quyết được thì vấn đề này sẽ được trình lên SEOM. + Nguyên tắc đưa ra quyết định: của Ban hội thẩm WTO . Nhờ có nguyên tắc đồng thuận phủ quyết nên hầu như quyền được giải quyết tranh chấp bằng hoạt động của Ban hội thẩm của nguyên đơn được đảm bảo. Trong khi cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN: các đại diện SEOM của các nước thành viên là các bên tranh chấp có thể có mặt trong quá trình thảo luận nhưng không được tham gia vào việc đưa ra phán xử của SEOM. SEOM sẽ ra phán xử trên cơ sở đa số. + Thành lập Ban hội thẩm: Trong khi Ban hội thẩm của WTO Yêu cầu thành lập Ban hội thẩm phải được lập thành văn bản sau khi Bên được tham vấn từ chối tham vấn hoặc tham vấn không đạt kết quả trong vòng 60 ngày kể từ khi có yêu cầu tham vấn (Điều 6 DSU). Tuy nhiên, như trên đã đề cập, yêu cầu thành lập Ban hội thẩm có thể đưa ra trước thời hạn này nếu các bên tranh chấp đều 10 thống nhất rằng các thủ tục tham vấn, hoà giải không dẫn đến kết quả gì. Văn bản yêu cầu thành lập Ban hội thẩm phải nêu rõ quá trình tham vấn, xác định chính xác biện pháp thương mại bị khiếu kiện và tóm tắt các căn cứ pháp lý cho khiếu kiện. ASEAN: SEOM thành lập Ban hội thẩm không được muộn quá ba mươi (30) ngày sau ngày tranh chấp được đệ trình lên. SEOM sẽ đưa ra quy định cuối cùng về quy mô, thành phần và quy chế làm việc của Ban hội thẩm. + Chức năng của Ban hội thẩm trong cơ chế giải quyết tranh chấp: WTO: Ban hội thẩm có chức năng xem xét vấn đề tranh chấp trên cơ sở các qui định trong các Hiệp định của WTO mà bên nguyên đơn viện dẫn như là căn cứ cho đơn kiện của mình để giúp DSB đưa ra khuyến nghị/quyết nghị thích hợp cho các bên tranh chấp. ASEAN: Chức năng của Ban hội thẩm là đánh giá khách quan vụ việc tranh chấp được đệ trình, bao gồm cả xác minh các sự kiện của vụ việc, khả năng áp dụng cũng như tính phù hợp với các điều quy định của bất kỳ hiệp định được áp dụng nào, và thu nhập các chứng cứ khác hỗ trợ được cho SEOM trong việc đưa ra phán xử. Ban hội thẩm có quyền yêu cầu cung cấp thông tin và tư vấn kỹ thuật từ bất kỳ tổ chức hoặc các nhân nào mà Ban hội thẩm cho là thích hợp. Mỗi nước thành viên phải trả lời ngay và đầy đủ bất kỳ yêu cầu nào của Ban hội thẩm về những thông tin mà Ban hội thẩm cho là cần thiết và thích hợp + Thông qua báo cáo của Ban hội thẩm : Báo cáo của Ban hội thẩm được chuyển cho tất cả các thành viên WTO và được DSB thông qua trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày Báo cáo được chuyển cho các thành viên trừ khi một Bên tranh chấp quyết định kháng cáo hoặc DSB đồng thuận phủ quyết Báo cáo (các Bên tranh chấp và các thành viên WTO khác có quyền đưa ra ý phản đối có kèm theo lý do bằng văn bản đối với Báo cáo của Ban hội thẩm chậm nhất là 10 ngày trước khi DSB họp để thông qua Báo cáo). ASEAN: Xử lý kết quả của Ban hội thẩm: SEOM sẽ xem xét báo cáo của Ban hội thẩm trong quá trình thảo luận của mình và đưa ra phán xử về tranh chấp trong vòng ba mươi (30) ngày kể từ ngày Ban hội thẩm trình báo cáo. Trong các trường hợp ngoại lệ, SEOM có thể có thêm mười (10) ngày nữa trong việc đưa ra phán xử về việc giải quyết tranh chấp. + Kháng cáo 11 Trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO cơ quan Phúc thẩm ra báo cáo trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày kháng cáo (trường hợp có yêu cầu gia hạn thì có thể kéo dài thêm 30 ngày nữa nhưng phải thông báo lý do cho DSB biết). Báo cáo này có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc loại bỏ các vấn đề và kết luận pháp lý của Ban hội thẩm. Các Bên không có quyền phản đối Báo cáo này. DSB thông qua Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm trong thời hạn 30 ngày kể từ khi Báo cáo của SAB được chuyển đến tất cả các thành viên trừ khi DSB đồng thuận phủ quyết. Khác với cơ chế giải quyết của WTO các nước thành viên của ASEAN là các bên tranh chấp có thể kháng nghị lại phán xử của SEOM với Các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN ("AEM") trong vòng ba mươi (30) ngày kể từ ngày SEOM ra phán xử. AEM phải đưa ra quyết định trong vòng ba mươi (30) ngày kể từ ngày có kháng nghị. Trong các trường hợp ngoại lệ, AEM có thể có thêm mười (10) ngày nữa để đưa ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp. + Hình thức trả đũa: của ASEAN là đình chỉ ưu đãi, đình chỉ thực hiện nghĩa vụ và trả đũa chéo. WTO Nếu các Bên không đạt được thỏa thuận về việc bồi thường trong vòng 20 ngày kể từ khi hết hạn thực hiện khuyến nghị, Bên thắng kiện có thể yêu cầu Cơ quan Giải quyết Tranh chấp cho phép áp dụng các biện pháp trả đũa song song. Mức độ và thời hạn trả đũa do Cơ quan Giải quyết tranh chấp (DSB) quyết định căn cứ trên thủ tục qui định về vấn đề này trong Quy tắc Giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO (DSU). Trong khi đó ASEAN không quy đỉnh rõ về mức độ và thời gian trả đũa do cơ quan nào quyết định. Ngoài ra trong cơ chế giải quyết của WTO còn đề cập đến các qui định đặc biệt về thủ tục giải quyết các tranh chấp áp dụng cho các nước đang phát triển. Còn trong cơ chế giải quyết của ASEAN thì không có quy định này. C. KẾT LUẬN Về tổng quát có thể nói quá trình xây dựng, vận hành và áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN luôn mang tính linh hoạt, mềm dẻo trong từng bối cảnh cụ thể nhằm hướng tới đích cuối cùng là đảm bảo hiệu quả các quan hệ hợp tác trong khối. Bên cạnh những thành tựu còn đạt được, cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN vẫn chưa thật sự đạt được hiệu quả như các quốc gia thành viên mong muốn, với một sự thật là hầu hết các cơ chế giải quyết tranh chấp này mới chỉ dừng lại ở mặt văn bản 12 pháp lý mà hầu hết chưa được áp dụng trên thực tế. Chính vì vậy, trong tương lai, ASEAN cần phải có những cố gắng hơn nữa để có thể xây dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp của riêng mình, được tất cả các quốc gia thành viên tin tưởng lựa chọn, góp phần xây dựng Cộng đồng ASEAN bền vững và phát triển. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Tập bài giảng pháp luật cộng đồng ASEAN, Hà Nội _ 2011 2. Trường Đại học Luật Hà nội, Giáo trình Luật Quốc Tế, Nxb CAND, Hà Nội, 2007 3. Chuyên đề kỷ niệm 40 năm thành lập hiệp hội các quốc gia Đông Nam ÁASEAN, Tạp chí luật học, số 9/2007 4. Một số trang web: http://vi.wikipedia.org http://en.wikipedia.org www.mofa.gov.vn 13
- Xem thêm -