Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh thcs

  • Số trang: 45 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 45 |
  • Lượt tải: 0
dinhthithuyha

Đã đăng 3359 tài liệu

Mô tả:

“ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” MỤC LỤC Các mục Mục lục Đặt vấn đề Nội dung đề tài Chương I: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn A: Cơ sở lý luận B: Cơ sở thực tiễn Chương II: Kết quả điều tra và khảo sát thực tế các lỗi về từ ngữ, về Trang 1 2 4 4 4 6 7 câu, lỗi dùng quan hệ từ, lỗi diễn đạt trong bài tập Tiếng Việt và bài Tập làm văn của học sinh THCS. A. Kết quả điều tra B. Khảo sát thực tế và biện pháp khắc phục các lỗi về từ ngữ của học 7 8 sinh trường THCS Đông Thái 1. Lỗi về từ ngữ 2. Lỗi về câu 3. Lỗi về quan hệ từ 4. Lỗi diễn đạt ( lô gíc ) Chương III: Một số giải pháp A: Giải pháp tình thế Giáo án 1: Chữa lỗi về từ ( Lớp 6 ) Giáo án 2: Chữa lỗi về CN – VN (Lớp 6 ) Giáo án 3: Chữa lỗi về quan hệ từ (Lớp 7 ) Giáo án 4: Chữa lỗi diễn đạt ( Lớp 8) B: Giải pháp cơ bản, lâu dài C: Kết quả sau khi thực hiện đề tài Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo 8 12 15 17 20 20 21 25 28 33 37 40 41 43 ĐẶT VẤN ĐỀ I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Để tồn tại được trong một cộng đồng con người cần phải có các mối quan hệ. Một trong các mối quan hệ có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của con người đó là mối quan hệ giữa con người với con người. Con người quan hệ với nhau thông qua ngôn ngữ bằng hình thức giao tiếp. Để giao tiếp được thành công thì việc sử dụng ngôn ngữ ( nói và viết) có vai trò hết sức quan trọng. Trong thực tế giao tiếp, các hoạt động nói đúng và viết đúng vẫn chưa đủ mà Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 1 “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” phải đảm bảo cả nói hay viết hay. Việc sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện để giao tiếp là điều rất quan trọng và cần thiết cho sự thàn công trong cuộc sống. Vậy làm sao để đạt được điều đó? Trong trường Trung học cơ sở(THCS), môn Ngữ Văn có một vị trí rất quan trọng và cần thiết. Thực tế việc dạy - học môn Ngữ Văn cho thấy: giáo viên tuy đã có chú ý đến việc dạy học cho học sinh cách sử dụng từ, câu đúng và có cách cảm nhận từ hay, câu hay. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều học sinh chưa biết hoặc biết rất mơ hồ về việc dùng từ ngữ, cảm nhận từ ngữ một cách chính xác, chưa biết viết một câu văn đúng, một đoạn văn hay. Trong thực tế, hiệu quả làm bài còn thấp, lý do là: học sinh mắc phải quá nhiều lỗi về sử dụng từ, câu. Cụ thể: từ dùng thừa, sáo mòn, chưa chính xác, câu còn dài dòng, lủng củng và đặc biệt là các thành phần trong câu chưa đủ hoặc sử dụng còn lẫn lộn… Các lỗi này gặp rất nhiều trong các bài Tập làm văn và bài tập Tiếng Việt của học sinh. “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS” là một đề tài có tính thực tiễn cao. Nó giúp ta tìm hiểu và từ đó có cách thức sửa chữa các lỗi này cho học sinh nhằm đảm bảo việc nói đúng, viết đíng và tiến tới nói hay viết hay. Xuất phát từ cơ sở thực tiễn, cơ sở lý luận, tôi muốn đóng góp một ý kiến nhỏ về vấn đề này, tôi hi vọng việc tham gia xây dựng, đóng góp ý kiến của riêng cá nhân vào vấn đề mà cả ngành giáo dục đang quan tâm, là một việc làm quan trọng và cần thiết. II/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Qua một số bài làm văn và bài tập Tiếng Việt của học sinh, khảo sát thực trạng mắc lỗi của các em. Từ đó có thể đưa ra một số biện pháp khắc phục, nhằm giúp học sinh biết cách sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt một cách hiệu quả trong học tập cũng như trong giao tiếp hàng ngày. Đối với bản thân, tôi có điều kiện bổ sung thêm hiểu biết về các khả năng viết văn, khả năng dùng từ, đặt câu của học sinh THCS đồng thời làm tăng thêm Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 2 “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” vốn tri thức cho mình từ đó để tôi có ý thức sâu hơn trong việc dạy học bộ môn này ở nhà trường THCS nhằm đạt hiệu quả cao nhất. III/ ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu Do điều kiện thời gian có hạn và do khuôn khổ của đề tài này, cho nên ở đây tôi chỉ tập trung tìm hiểu một số lỗi về từ ngữ và câu thường mắc phải trong các bài Tập làm văn và bài tập Tiếng Việt của học sinh, đó là: - Lỗi về từ ngữ - Lỗi về câu - Lỗi về quan hệ từ - Lỗi về diễn đạt (logic) - Nguyên nhân dẫn đến cái sai, cách sửa lỗi. 2. Pham vi nghiên cứu Để có thể có thể xác định được các lỗi trên tôi sẽ dựa trên cơ sở bài tập Tiếng Việt và các bài viết TLV của học sinh các lớp tôi đang dạy, bên cạnh đó tôi còn sử dụng những thông tin thu được từ thực tế giao tiếp hàng ngày với học sinh trường THCS Đông Thái từ lớp 6 đến lớp 9. Đồng thời tôi sử dụng một số tài liệu nghiên cứu khác. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chương 2: Kết quả điều tra và khảo sát thực tiễn. Chương 3: Giải pháp thực hiện. 4. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp điều tra. - Phương pháp thống kê. - Phương pháp tổng hợp phân tích. - Phương pháp tổng kết kinh nghiêm. Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 3 “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” NỘI DUNG ĐỀ TÀI Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN A. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, đồng thời nó cũng là tiền đề, là kết quả của việc tạo nghĩa. Nhờ ngôn ngữ, con người có thể hiểu nhau trong quá trình sinh hoạt, lao động học tập, công tác và giúp Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 4 “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” người gần người hơn. Vả lại ngôn ngữ còn tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành tư tưởng của con người. Chính vì thế, việc học tập ngôn ngữ một cách nghiêm túc là điều rất cần thiết đối với mỗi chúng ta. Trong nhà trường THCS, vấn đề giảng dạy ngôn ngữ được cụ thể hóa trong việc dạy học Tiếng Việt và mục tiêu của việc dạy học Tiếng Việt là: “dạy học sinh cách sử dụng tốt, sử dụng có hiệu quả Tiếng Việt” ( Phương pháp dạy học Tiếng Việt). Do đó vấn đề đặt ra là làm sao để đạt được mục tiêu đã đề ra? Trong giao tiếp, ứng xử ông cha ta đã từng rút ra những bài học quý báu: “ Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” Hay: “Chim khôn kêu tiếng rảnh rang Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe” để tạo nên sự thành công của cuộc giao tiếp. Trong bài nói chuyện của Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ( 8/9/1973) với các đồng chí lãnh đạo Bộ Giáo dục cùng các Bộ nghiên cứu cải cách giáo dục, các cán bộ biên soạn chương trình các môn học của các trường phổ thông có đoạn nhấn mạnh: “Trong ngôn ngữ, từ là cái quan trọng nhất” và điều cần thiết cho tương lai của mỗi học sinh sau này là: “điều cần viết được, nói được một cách gọn gàng, rõ rệt những điều mình muốn diễn đạt.” Chính những mục tiêu, yêu cầu đã đề ra, phân môn Tiếng Việt đã được đưa vào môn Ngữ văn của nhà trường với tư cách là một bộ phận quan trọng nhằm rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp và tạo lập văn bản. 2. Môn Tiếng Việt ở nhà trường phổ thông cơ sở có vị trí, nhiệm vụ, vai trò quan trọng, Nó là một môn học độc lập có vị trí đặc biệt quan trọng so với các môn học khác. Tính đặc biệt được thể hiện ở hai đặc trưng cơ bản : - Là môn học cung cấp những kiến thức khoa học về đối tượng “Tiếng Việt”. - Là môn học công cụ, tức là môn học nhằm hướng dẫn cách sử dụng, cách dùng Tiếng Việt (phục vụ cho mình nó và cho các môn học khác). Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 5 “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” 3.Trong chương trình Tiếng Việt ở THCS, Tiếng Việt tồn tại với tư cách là môn học có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh ( HS) những tri thức ngôn ngữ học, hệ thống Tiếng Việt, quy tắc hoạt động và những sản phẩm của nó trong hoạt động giao tiếp. Mặt khác, Tiếng Việt là một công cụ giao tiếp và tư duy, nên môn Tiếng Việt còn đảm nhiệm thêm một chức năng kép mà các môn học khác không có. Đó là chức năng trang bị cho học sinh công cụ để giao tiếp: tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức trong nhà trường. Như vậy, môn Tiếng Việt là một trong những môn học có tầm quan trọng đặc biệt trong các môn khoa học xã hội và nhân văn, có vai trò trọng yếu trong việc và giữ gìn và phát huy tiếng nói dân tộc. 4. Quan niệm lỗi về từ ngữ, về câu và nguyên tắc chữa: - Được coi là "lỗi" khi : + Sai chuẩn mực Tiếng Việt, ngữ pháp Tiếng Việt, đến tư duy logic trong câu. + Viết từ sai chính tả, ngữ nghĩa không rõ ràng, hiểu sai nghĩa của từ, sai quan hệ ngữ nghĩa giữa các bộ phận trong câu. + Dùng thiếu hoặc thừa quan hệ từ trong câu, hoặc dùng quan hệ từ mà không có tác dụng liên kết câu. - Nguyên tắc chữa: + Đạt chuẩn Tiếng Việt. + Sai đâu sửa đó. + Trong trường hợp cụ thể có thể đưa ra nhiều phương án để thấy sự phong phú, đa dạng trong hành văn Tiếng Việt. B.CỞ SỞ THỰC TIỄN 1. Từ sách giáo khoa Bộ giáo dục và đào tạo đã đề cập đến vấn đề chữa lỗi về từ và câu ngay từ đầu cấp học. Cụ thể: - Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 6 có 4 tiết: + Học kỳ I có hai tiết: Chữa lỗi dùng từ. Đó là tiết 23 và tiết 27. Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 6 “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” + Học kỳ II có hai tiết: Chữa lỗi về chủ ngữ, vị ngữ. Đó là tiết 120 và tiết 127. - Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 7 có hai tiết: + Tiết 33: Chữa lỗi về quan hệ từ. + Tiết 61: Chuẩn mực sử dụng từ. - Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 8 có một tiết: + Tiết 122: Chữa lỗi diễn đạt ( lỗi logic) - Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9 có một tiết: + Tiết 34: Trau dồi vốn từ. Như vậy trong cả bốn khối lớp có 8 tiết chữa lỗi về từ và câu có tới 6 tiết đã trực tiếp đưa ra các lỗi thường gặp về từ và câu của học sinh, hai tiết còn lại (1 tiết ở lớp 7, một tiết ở lớp 9) gián tiếp đưa ra các lỗi thường gặp về từ và câu của học sinh, giúp các em nhận biết được các lỗi, từ đó rút ra kinh nghiệm và sửa chữa. 2. Từ thực tiễn Từ việc kiểm tra vở bài tập Tiếng Việt, chấm bài Tập làm văn và thực tế giao tiếp với HS cho thấy: một số HS trường THCS Đông Thái còn mắc nhiều lỗi về từ ngữ và câu, lỗi diễn đạt (logic). Đây là vấn đề bức thiết cần khắc phục vì nó ảnh hưởng đến kết quả học tập môn Ngữ Văn nói riêng và các môn học khác nói chung. Vì vậy, cần phải khắc phục vấn đề này sao cho việc lựa chọn từ ngữ, dùng từ, đặt câu thích hợp, đạt hiệu quả cao trong học tập của các em. Chương II KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VÀ KHẢO SÁT THỰC TẾ CÁC LỖI VỀ TỪ NGỮ VÀ CÂU, LỖI DIỄN ĐẠT (LÔ GIC) TRONG CÁC BÀI TẬP TIẾNG VIỆT VÀ BÀI TẬP LÀM VĂN CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THCS ĐÔNG THÁI A. KẾT QUẢ ĐIỀU TRA: Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 7 “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” Sau khi xem sét các bài tập Tiếng Việt và bài tập TLV của học sinh Trường THCS Đông thái đầu năm học 2012-2013. Số lỗi mà các em mắc phải được thống kê bằng bảng dưới đây: Lỗi sai Lớp Lớp Lớp Lớp 6C 7D 8A 9E Lỗi về từ ngữ - Lỗi do dùng từ thừa, từ trùng lặp. 16/30 13/26 14/25 12/23 - Lỗi do dùng từ không đúng nghĩa, đúng âm. 19/30 12/26 12/25 10/23 - Lỗi do dùng từ công thức sáo rỗng. 10/30 11/26 11/25 15/23 - Lỗi do dùng từ có sắc thái không phù hợp. Lỗi về câu 15/30 10/26 12/25 16/23 - Câu thiếu chủ ngữ. 15/30 12/26 13/25 11/23 - Câu thiếu vị ngữ. 14/30 11/26 12/25 9/23 - Câu thiếu cả chủ ngữ, vị ngữ. 12/30 8/25 8/23 9/26 - Lỗi về quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành phần 16/30 12/26 13/25 12/23 trong câu. Lỗi về quan hệ từ - Câu thiếu quan hệ từ. 14/30 10/26 13/25 13/23 - Câu thừa quan hệ từ. 15/30 9/26 14/25 12/23 - Câu dùng quan hệ từ mà không có tác dụng 13/30 12/26 11/25 11/23 liên kết. Lỗi về diễn đạt - Không nắm vững kiến thức về cấp độ khái 15/30 12/24 12/25 11/23 quát của nghĩa từ ngữ. - Không nắm vững về trường từ vựng. 13/30 13/24 13/25 12/23 B. KHẢO SÁT THỰC TẾ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC I. LỖI VỀ TỪ NGỮ Dân gian ta có câu: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” để khẳng định sự phong phú, cái hay, cái đẹp của Tiếng Việt nhưng đồng thời cũng khẳng định sự phức tạp của việc sử dụng Tiếng Việt. Chính vì lẽ đó mà trong các bài tập Tiếng Việt và bài Tập làm văn của học sinh thường mắc rất nhiều lỗi Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 8 “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” khi dùng từ, đặt câu, khi phân tích ngữ pháp của các câu. Lỗi ấy không phải do các em không nắm được ngôn ngữ và các quy tắc ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ mà phần nhiều là do suy nghĩ của các em thiếu cẩn thận, lười suy nghĩ, trình độ tư duy và trình độ hiểu biết còn hạn chế. Vì thế giáo viên cần phải tìm ra nguyên nhân và tìm cách khắc phục cho các em. 1. Lỗi dùng thừa từ – từ trùng lặp Là lỗi do dùng nhiều lần một từ trong câu, trong những câu liền kề nhau, dùng trong cùng một câu những từ đồng nghĩa với nhau. a.Ví dụ Ví dụ 1: Trong học tập, bạn bè phải biết giúp đỡ nhau, bạn bè cùng trao đổi kinh nghiệm học tập, bạn bè phải cùng nhau tiến bộ hơn. (Trần Đình Trung - 9E) Ví dụ 2: Câu tục ngữ nói lên vấn đề có công mài sắt mới có ngày nên kim được, muốn có cái kim tốt chúng ta phải học hỏi nhiều, câu tục ngữ rất ngắn gọn nhưng đem đến cho chúng ta một bài học quý giá bởi câu tục ngữ là những kinh nghiệm được đúc rút lâu đời trong dân gian. (Vũ Thị Thu Hường 7D) Ví dụ 3: Câu tục ngữ như một chân lý vĩnh hằng, bất biến, một châm ngôn hành động vô giá, nâng đỡ con người. (Bùi Thị Hà My 7D) b. Nhận xét Ví dụ 1: Dùng từ trùng lặp “ bạn bè”. Ví dụ 2: Dùng từ thừa: “câu tục ngữ”. Ví dụ 3: Dùng thừa 2 từ đồng nghĩa: “ vĩnh hằng, bất biến”. Những lỗi này làm cho câu văn rườm rà, lủng củng, đơn điệu chứng tỏ sự nghèo nàn của người viết về vốn từ. c, Cách chữa Ví dụ 1: Bỏ từ trùng lặp “ bạn bè”, câu trở thành: Trong học tập, bạn bè phải biết giúp đỡ nhau, cùng nhau trao đổi kinh nghiệm học tậ , và phải cùng nhau tiến bộ hơn. Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 9 “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” Ví dụ 2: Bỏ cụm từ “ Câu tục ngữ” (thứ ba) thay bằng từ “đây”, câu trở thành: Câu tục ngữ nói lên vấn đề có công mài sắt mói có ngày nên kim, câu tục ngữ rất ngắn gọn nhưng đem đến cho chúng ta một bài học quý giá bởi đây là những kinh nghiệm được đúc rút lâu đời trong dân gian. Ví dụ 3: Bỏ từ “ vĩnh hằng”, câu sẽ như sau: Câu tục ngữ như một chân lý bất biến, một châm ngôn hành động vô giá, nâng đỡ con người. 2. Lỗi dùng từ không đúng nghĩa, không đúng âm Đây là do việc dùng từ sai hoàn toàn về nghĩa hoặc không đúng sắc thái, hoặc không đúng hình thức ngữ âm. a.Ví dụ Ví dụ 1: Do bàng quang nên nó làm hỏng việc. (Nguyễn Văn Mạnh) Ví dụ 2: Trong dòng văn học lãng mạng, Hàn Mạc Tử xuất hiện như một ngôi sao sáng. ( Nguyễn Mạnh Thắng) Ví dụ 3: Anh Trỗi vẫn hiên ngang đến phút chót lọt. (Lê Thị Hà) Ví dụ 4: Kiên trì nhẫn nại là một một đức tính vô cùng tuyệt vời, vô cùng quý giá. ( Nguyễn Thị Thủy) b. Nhận xét Dùng các từ “ bàng quang”, “ lãng mạng” không phù hợp với nghĩa. Ví dụ 1+2: Nhầm lẫn giữa hai từ có âm gần giống nhau nhưng nghĩa khác hẳn nhau: “bàng quang”( bộ phận cơ thể người) nhầm với “ bàng quan” ( thái độ ứng xử thờ ơ không quan tâm của con người). Ví dụ 3: Từ “ chót lọt” không phù hợp với nghĩa. Ví dụ 4: Dùng từ “ vô cùng tuyệt vời” không phù hợp với nghĩa. c. Cách sửa Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 10 “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” Ví dụ 1 : Thay thế “ bàng quang” bằng “bàng quan”, câu trở thành: “ Do bàng quan nên nó làm hỏng việc”. Ví dụ 2: Thay “ lãng mạng” bằng “ lãng mạn”, câu sẽ là: Trong dòng Văn học Lãng mạn, Hàn Mạc Tử xuất hiện như một ngôi sao sáng. Ví dụ 3: Thay “chót lọt” bằng “cuối cùng”, câu trở thành: Anh Trỗi vẫn hiên ngang đến phút cuối cùng. Ví dụ 4: Bỏ cụm từ “vô cùng tuyệt vời”, câu sẽ là: Kiên trì nhẫn nại là một đức tính vô cùng quý giá. 3. Lỗi do dùng từ công thức sáo rỗng Đây là lỗi do dùng các từ mà nghĩa đã quá quen thuộc, sáo mòn về hình tượng, tính truyền cảm, không tạo được vẻ đẹp riêng của cái định phản ánh. a. Ví dụ: Ví dụ 1: Câu tục ngữ: “ Có công mài sắt có ngày nên kim” tuyệt hay, nó khuyên nhủ con người phải rèn luyện bản lĩnh trau dồi tính kiên trì nhẫn nại. (Nguyễn Thanh Lương) Ví dụ 2: Chiều nay, khi nào hoàng hôn xuống, anh chở hàng ra chợ nhé. Ví dụ 3: Mỗi câu tục ngữ là một chân lý vô giá, chỉ cho con người đi đến đỉnh vinh quang. (Đỗ Trọng Trung) b. Nhận xét Ví dụ 1: Dùng từ “tuyệt hay” là từ sáo rỗng không diễn tả đúng nghĩa, tình cảm của người nói. Làm cho câu văn trở nên hời hợt, mờ nhạt, thiếu sáng tạo. Ví dụ 2: Cụm từ “hoàng hôn xuống” không phù hợp với phong cách ngôn ngữ sinh hoạt. Ví dụ 3: Cụm từ “đi đến đỉnh vinh quang” không phù hợp. c. Cách chữa Ví dụ 1: Thay từ “tuyệt hay” bằng cụm từ “rất sâu sắc” , câu trở thành: Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 11 “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” Câu tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim” rất sâu sắc, nó khuyên nhủ con người phải rèn luyện bản lĩnh trau dồi tính kiên trì nhẫn nại. Ví dụ 2: Bỏ cụm từ “khi nào hoàng hôn xuống”, câu trở thành: Chiều nay, anh chở hàng ra chợ nhé. Ví dụ 3: Thay cụm từ “đi đến đỉnh vinh quang” bằng cụm từ “con đường dẫn đến thành công”, câu sẽ là: Mỗi câu tục ngữ là một chân lý vô giá, chỉ cho con người con đường dẫn đến thành công. 4. Lỗi do dùng từ có sắc thái không phù hợp a.Ví dụ Ví dụ 1: Hôm nay, trời nắng to kinh khủng. (Đỗ Thị Trang) Ví dụ 2: Sau mấy câu tự giới thiệu, họ ngồi xuống trò truyện tâm đầu ý hợp. (Chu Công Minh) Ví dụ 3: Thúy Kiều bày tỏ lòng yêu thương và lời thề vô cùng thủy chung son sắt với Kim Trọng. ( Trần Thị Luyến) b. Nhận xét Các từ, cụm từ “kinh khủng”, “tâm đầu ý hợp” “vô cùng”, có sắc thái không phù hợp. c. Cách sửa Ví dụ 1: Bỏ từ “kinh khủng”, câu trở thành: “ Hôm nay, trời nắng to”. Ví dụ 2: Bỏ cụm từ “tâm đầu ý hợp”, câu sẽ là: “Sau mấy câu tự giới thiệu, họ ngồi xuống trò chuyện”. Ví dụ 3: Bỏ từ “vô cùng”, câu sẽ là: “Thúy Kiều bày tỏ lòng yêu thương và lời thề thủy chung son sắt với Kim Trọng.” * Nguyên nhân mắc lỗi Sở dĩ học sinh mắc lỗi về từ như trên là : - Do tính cẩu thả và sơ xuất khi làm bài và trong suy nghĩ. Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 12 “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” - Do trình độ nhận thức còn hạn chế, viết mà không hiểu là mình viết gì. - Do chưa hiểu hết nghĩa của từ hoặc do hoàn toàn hiểu sai lệch nghĩa của từ nên chủ quan không suy nghĩ cẩn thận. - Do học sinh mất gốc từ lớp dưới, lên lớp 9 các em không nắm được những kiến thức mà giáo viên truyền đạt nên không ý thức được cái sai của mình. - Do năng lực cảm thụ từ còn hạn chế nên dùng từ trở nên tùy tiện sai phong cách. II. LỖI VỀ CÂU Câu là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ , chứa đựng một nội dung thông báo hoàn chỉnh, được cấu tạo theo nguyên tắc ngữ pháp nhất định và luôn gắn với một ngữ điệu nhất định. Câu được gọi là đúng khi nó tuân theo đúng quy tắc cấu tạo, nghĩa là câu phải mang một nội dung thông báo hoàn chỉnh, nó phải đầy đủ thành phần, danh giới giữa các thành phần phải rõ ràng, rành mạch. Ngược lại là câu sai. Để có được những bài văn hay, nhưng câu nói đúng người viết cần có những hiểu biết nhất định về câu như: cấu tạo của câu, cách tổ chức các thành phần câu, mối quan hệ ý nghĩa giữa các bộ phận trong câu và giữa câu với câu. Nếu thiếu hiểu biết về câu sẽ dẫn đến việc sử dụng câu sai, câu thiếu thành phần, câu chưa phân định rõ mối quan hệ giữa các thành phần câu hoặc lỗi do không phân định rõ mối quan hệ giữa các vế câu hoặc giữa câu với câu… Lỗi về câu trong các bài viết của học sinh có rất nhiều vẻ, nhiều dạng khác nhau. Xét một cách khái quát ta thấy có một số lỗi chủ yếu sau: 1. Không phân định rõ thành phần trạng ngữ và chủ ngữ a. Ví dụ: Ví dụ 1 : Qua bài thơ “ Viếng lăng Bác” cho ta thấy tình cảm yêu kính chân thành của nhân dân miền Nam đối với Bác Hồ. ( Lê Thế Mạnh) Ví dụ 2: Trong truyện “Trạng Quỳnh” đã thể hiện tinh thần phản phong quyết liệt của nhân dân ta. ( Lê Mạnh Tiến) Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 13 “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” b. Nhận xét Các em không phân biệt được trạng ngữ và chủ ngữ của câu, nhập chủ ngữ vào trong thành phần phụ trạng ngữ. Việc này làm cho người đọc khó hiểu, câu văn lủng củng, thiếu lô gic, tối ý. c. Cách chữa Ví dụ 1: Tạo cho câu chủ ngữ mới và giữ nguyên trạng ngữ của câu . Cụ thể: - Cách 1: Qua bài thơ “ Viếng lăng Bác”, Viễn Phương cho ta thấy tình cảm yêu quý chân thành của nhân dân miền Nam đối với Bác Hồ. - Cách 2 : Bỏ từ “qua”, biến thành phần trạng ngữ thành chủ ngữ trong câu: Bài thơ “Viếng lăng Bác” cho ta thấy tình cảm yêu quý chân thành của nhân dân miền Nam đối với Bác Hồ. Ví dụ 2: - Cách 1: Bỏ từ “trong” câu trở thành: Truyện “Trạng Quỳnh” đã thể hiện tinh thần phản phong quyết liệt của nhân dân ta. - Cách 2: Thêm cụm từ “tác giả dân gian”, câu trở thành: Trong truyện “Trạng Quỳnh”, tác giả dân gian đã thể hiện tinh thần phản phong quyết liệt của nhân dân ta”. 2. Lỗi không phân định định ngữ, phần phụ chú và vị ngữ. a. Ví dụ: Ví dụ 1: Nam Cao nhà văn lớn, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn của khuynh hướng Văn học Hiện thực phê phán. (Nguyễn Thị Thanh Tâm) Ví dụ 2 : Truyện ngắn “ Lão Hạc” một tác phẩm đặc sắc có giá trị hiện thực sâu sắc. ( Nguyễn Minh Hằng) Ví dụ 3 : Cặp mắt long lanh của Thái Văn A mà Xuân Miễn gọi là mắt thần canh biển. (Bùi Phương Thảo) b. Nhận xét. Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 14 “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” Ví dụ 1+2 : Học sinh đã nhầm yếu tố phụ “nhà văn lớn, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn của khuynh hướng Văn học Hiện thực phê phán” , “ một tác phẩm đặc sắc có giá trị hiện thực sâu sắc” là thành phần vị ngữ của câu. Ví dụ 3: Học sinh nhầm định ngữ là chủ ngữ của câu. Sử dụng câu không phân định rõ ràng định ngữ, phần phụ chú, vị ngữ dẫn đến việc hiểu sai nội dung định thông báo của câu làm câu chưa thoát ý. c. Cách sửa Đối với loại lỗi này, chỉ có thể sửa bằng cách thêm vào trong câu những từ ngữ cần thiết phù hợp với nội dung và hình thức của câu. Ví dụ 1: Bỏ dấu phẩy thêm vào trước thành phần phụ chữ “là” để tạo vị ngữ. Câu có dạng “Nam Cao là nhà văn lớn , nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn của khuynh hướng Văn học Hiện thưc phê phán”. Ví dụ 2: Bỏ dấu phẩy thêm từ “là” để tạo vị ngữ : Truyện ngắn “Lão Hạc” là một tác phẩm đặc sắc có giá trị hiện thực sâu sắc. Ví dụ 3: Bỏ từ “mà” câu trở thành : Cặp mắt long lanh của Thái Văn A, Xuân Miễn gọi là mắt thần canh biển. 3. Câu không phân định trật tự cần có của thành phần câu Đây là loại lỗi mà khi viết học sinh sắp xếp trật tự các thành phần trong câu một cách lộn xộn làm cho câu văn khó hiểu. a. Ví dụ: Ví dụ 1: “Cùng với các nhà thơ khác xuất sắc, Hồ Xuân Hương đã lên án chế độ phong kiến bất công”. (Nguyễn Tiến Mạnh) Ví dụ 2: “Qua mỗi lần như vậy người ta sẽ tích lũy được nhiều kinh nghiệm và thành công nhất định về sau”. ( Nguyễn Thị Thanh Tâm) b. Nhận xét Ví dụ 1: Học sinh chưa chú ý tới trật tự của từ là yếu tố phụ miêu tả cho danh từ. Cách nói “các nhà thơ khác xuất sắc” ở ví dụ trên làm người đọc khó Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 15 “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” hiểu và dễ hiểu nhầm là Hồ Xuân Hương không phải là nhà thơ xuất sắc. Tuy nhiên, ý định của người viết lại không loại Hồ Xuân Hương ra khỏi các nhà thơ xuất sắc mà muốn xếp vào đó. Ví dụ 2: Cụm từ “thành công nhất định về sau” sắp xếp không hợp lí. c. Cách sửa Ví dụ 1: Đảo lại trật tự từ: từ “khác” đứng sau “xuất sắc” câu văn sẽ tường minh hơn: “Cùng với các nhà thơ xuất sắc khác, Hồ Xuân Hương đã lên án chế độ phong kiến bất công”. Ví dụ 2: Sắp xếp lại thành phần câu vế sau: “ Qua mỗi lần như vậy, người ta sẽ tích lũy được nhiều kinh nghiệm và về sau nhất định thành công”. III. LỖI QUAN HỆ TỪ, LỖI VỀ QUAN HỆ Ý NGHĨA GIỮA CÁC BỘ PHẬN TRONG CÂU VÀ GIỮA CÂU VỚI CÂU Giữa câu với câu và giữa các bộ phận trong câu thường có quan hệ ý nghĩa nhất định. Những quan hệ ý nghĩa này được biểu thị bằng trật tự tuyến tính của các bộ phận đó với nhau, hoặc bằng những phương tiện liên kết khác như quan hệ từ chẳng hạn. Khi viết, nếu không khéo dùng những phương tiện thích hợp để làm bộc lộ mối quan hệ ấy thì câu sẽ tối nghĩa hoặc không thể hiểu được. Lỗi về quan hệ ý nghĩa của câu có thể chia làm hai loại: 1. Không phân định rõ quan hệ giữa các vế câu, hoặc giữa câu với câu a. Ví dụ Ví dụ 1: Vì phong trào “Ba đảm đang” đang phát triển sôi nổi khắp nơi, nên chị em phụ nữ chúng ta đã đóng góp nhiều thành tích to lớn vào công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm xây dựng Tổ quốc giàu mạnh. ( Nguyễn Thị Dung) Ví dụ 2: Chị Dậu rất cần cù chịu khó nên chị rất mực yêu thương chồng con. Ví dụ 3 : Mắt đăm đăm nhìn ra cửa bể, ta thấy Kiều dõi theo cánh buồm thấp thoáng mà nghĩ đến cảnh cô đơn của mình. Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 16 “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” ( Bùi Thị Minh Nguyệt) b. Nhận xét: Ví dụ 1+2: Quan hệ giữa các thành phần câu không hợp lí. Vế 1 không phải là nguyên nhân của điều được nói ở vế 2. Ví dụ 3: Người đọc dễ hiều là: kẻ “đăm đăm nhìn ra cửa bể” và nghĩ đến cảnh ngộ cô đơn của mình ở đây là “ta” chứ không phải nàng Kiều như người viết muốn nói . Quan hệ giữa các vế trong câu không ăn khớp. c. Cách sửa: Ví dụ 1: - Cách 1: Bỏ từ “vì” và cụm từ “đang phát triển sôi nổi khắp nơi”, thêm cụm từ “hưởng ứng”. Hưởng ứng phong trào "Ba đảm đang", chị em phụ nữ chúng ta đã đóng góp nhiều thành tích to lớn vào công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm xây dựng Tổ quốc giàu mạnh. - Cách 2: Bỏ từ “vì”, “chúng ta” thay từ “nhờ” Nhờ phong trào “ Ba đảm đang „ đang được phát triển sôi nổi khắp nơi, nên chị em phụ nữ đã đóng góp nhiều thành tích to lớn vào công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm xây dựng Tổ quốc giàu mạnh. 2. Không phân định rõ những bổ ngữ có cách chi phối khác nhau a.Ví dụ: Thực tế khách quan cho thấy: thành công chỉ có thể có qua những lần rút kinh nghiệm, khắc phục từ những thất bại bước đầu. b. Nhận xét: Ví dụ này có “từ những thất bại bước đầu” là bổ ngữ đứng sau động từ "khắc phục". Tuy nhiên, người ta chỉ nói “rút kinh nghiệm từ...” còn với “khắc phục” thì không thể dùng quan hệ “từ” được. Lỗi ở ví dụ này là: học sinh không phân định rõ những bổ ngữ có cách chi phối khác nhau. c.Cách sửa Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 17 “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” - Cách 1 : Có thể tách thành : “Thực tế khách quan cho ta thấy: thành công chỉ có thể có qua những lần rút kinh nghiệm từ những thất bại bước đầu và khắc phục chúng”. - Cách 2: bỏ từ “từ’: “Thực tế khách quan cho ta thấy: thành công chỉ có thể có qua những lần rút kinh nghiệm, khắc phục những thất bại bước đầu”. * Nguyên nhân mắc lỗi: - Học sinh chưa ý thức được các thành phần và vị trí các thành phần trong câu nên mắc các lỗi về trật tự các thành phần và nhầm lẫn sự chi phối các bổ ngữ. - Học sinh còn quá sơ sài, cẩu thả trong suy nghĩ, trong cách viết nên mắc các lỗi không đáng. - Các em chưa có thái độ học tập nghiêm túc. 4. LỖI VỀ DIỄN ĐẠT ( LO-GIC) Loại lỗi này không phải là lỗi ngữ pháp như lỗi câu không có thành phần chính hoặc sử dụng sai dấu câu mà là loại lỗi liên quan đến khả năng tư duy của người viết ( nói ). 1. Lỗi do không nắm vững kiến thức về cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ. a.Ví dụ - Ví dụ 1 : Người tàn tật là người mù. - Ví dụ 2 : Sinh viên là những người đang theo học Đại học Sư phạm. b.Nhận xét: - Ví dụ 1: có cấu trúc danh 1 + là + danh 2 trong đó danh 1 ( người tàn tật) có quan hệ cùng loại với danh 2 ( người mù). Danh 1 lại bao hàm danh 2 (danh 1 > danh 2) vì thế câu này là sai lô gic. - Ví dụ 2: có kiểu cấu trúc danh 1 là danh 2, điều kiện đúng là danh 1< danh2 nghĩa là danh2 phải bao hàm danh1. Muốn chữa câu này ta phải đảo vị trí của chủ ngữ và vị ngữ. c. Cách chữa: Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 18 “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” - Ví dụ 1: Muốn chữa câu này ta phải đảo trật tự cấu trúc các câu để hợp logic. Câu đúng sẽ là: Người mù là người tàn tật. - Ví dụ 2: Câu đúng là: Những người đang theo học Đại học Sư phạm là sinh viên. 2. Lỗi không nắm vững về trường từ vựng. a. Ví dụ - Ví dụ 1: Na, mít, mía, bưởi, chôm chôm đều là những cây ăn quả có giá trị. - Ví dụ 2: Tơ ươm đến đâu, tư thương đón mua ngay. b. Nhận xét: - Ví dụ 1: các yếu tố: na, mít, mía, bưởi, chôm chôm là chủ ngữ phải là những từ ngữ thuộc cùng một trường từ vựng biểu thị khái niệm thuộc phạm trù cây ăn quả. ở đây "mía" không thuộc phạm trù cây ăn quả, do vậy câu này thừa từ "mía". - Ví dụ 2: trong câu này từ “đâu” và “đấy” mới cùng trường từ vựng còn “đâu” và “ngay” không cùng trường từ vựng do đó không đảm bảo quan hệ hô ứng. Ta có thể thêm sau từ “ngay” bằng từ "đấy" để hoàn chỉnh câu. c. Cách sửa: - Ví dụ 1: Na, mít, bưởi, chôm chôm đều là những cây ăn quả có giá trị. - Ví dụ 2: Tơ ươm đến đâu, tư thương đón mua ngay đến đấy. Trên đây, tôi đã tiến hành khảo sát thực tiễn và đưa ra một số lỗi cơ bản về cách dùng từ, đặt câu mà học sinh Trung học cơ sở thường mắc. Nguyên nhân mắc lỗi có nhiều, nhưng nhìn một cách tổng quát nhất là do học sinh thiếu hiểu biết về ngôn ngữ Tiếng Việt như những kiến thức về: từ vựng, ngữ pháp... Lý do của sự thiếu hiểu biết trên là do đâu? Chắc chắn lỗi thuộc về học sinh là chính, có thể là do các em chủ quan, không chủ động học hỏi... nhưng không phải không có phần trách nhiệm về người giáo viên. Vậy đứng trước tình trạng trên cần phải có giải pháp gì để khắc phục được lỗi mà học sinh thường mắc. Đây là một vấn đề không phải chỉ có ngành giáo dục mới có trách nhiệm quan tâm, chú Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 19 “ Chữa các lỗi về từ ngữ và câu thường gặp của học sinh THCS ” ý, trong đó còn có vai trò của từng cá nhân. Với ý thức cá nhân, tôi muốn được đóng góp tiếng nói nhỏ bé của mình vào vấn đề này với mong muốn giúp các em học tốt hơn môn NgữVăn và đạt hiệu quả cao trong hoạt động giao tiếp. Chương III MỘT SỐ GIẢI PHÁP Các lỗi về từ ngữ, về câu xuất hiện phổ biến trong bài làm của học sinh, nếu không tránh được các lỗi này sẽ gây hậu quả nghiêm trọng. Chính vì lẽ đó việc khắc phục các lỗi về từ, về câu ngay từ bây giờ khi các em vẫn ngồi trên ghế nhà trường là điều cần thiết và cần giải quyết kip thời. Nếu khắc phục được các lỗi này, kết quả đầu tiên là sẽ tạo ra cho bài văn của các em sự chuẩn xác, mạch lạc, Giáo viên: Trần Thị Mỹ Lâm – Trường THCS Đông Thái 20
- Xem thêm -