Cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa

  • Số trang: 14 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM KHOA NGÂN HÀNG  MÔN HỌC: NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CHUYÊN ĐỀ: CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh HVTH: Kim Hữu Nghĩa Lớp: Ngân hàng 4 ngày 1 – K17 TP.HCM, tháng 01/2009 I/ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY DOANH NGHIỆP: 1. Các khái niệm: - Cho vay: Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khach hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Thời hạn nhất định ở đây chính là thời hạn cho vay. - Thời hạn cho vay: Là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Dựa vào thời hạn, có thể chia cho vay doanh nghiệp thành cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn. + Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng. + Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng. + Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên. 2. Nguyên tắc cho vay: Việc vay vốn là nhu cầu tự nguyện của khách hàng và là cơ hội để ngân hàng cấp tín dụng và thu lợi nhuận từ hoạt động của mình. Tuy nhiên, cấp tín dụng liên quan đến việc sử dụng vốn huy động của khách hàng nên phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định. Nói chung, khách hàng vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo hai nguyên tắc: 2.1. Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng (HĐTD). Việc sử dụng vốn vay vào mục đích gì do hai bên, ngân hàng và khách hàng thỏa thuận và ghi vào trong hợp đồng tín dụng. Đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích thỏa thuận nhằm đảm bào hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng thu hồi nợ vay sau này. Do vậy, về phía ngân hàng trước khi cho vay cần tìm hiểu rõ mục đích vay vốn của khách hàng, đồng thời phải kiểm tra xem khách hàng có sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết hay không. Điều này rất quan trọng vì việc sử dụng vốn vay đúng mục đích hay không có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hồi nợ vay sau này. Việc khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích dễ dẫn đến thất thoát và lãng phí khiến vốn vay không tạo ra được ngân lưu để trả nợ cho ngân hàng. Về phía khách hàng, việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, đồng thời giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng hoàn trả nợ cho ngân hàng. Từ đó, nâng cao uy tín của khách hàng đối với ngân hàng và củng cố quan hệ vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng sau này. 2.2. Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong HĐTD. Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động cho vay. Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay. Đại đa số nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay là vốn huy động từ khách hàng gởi tiền, do đó, sau khi cho vay trong một thời hạn nhất định, khách hàng vay tiền phải hoàn trả lại cho ngân hàng để ngân hàng hoàn trả lại cho khách hàng gởi tiền. Hơn nữa bản chất của quan hệ tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn vay nên sau một thời gian nhất định vốn vay phải được hoàn trả, cả gốc và lãi. 3. Điều kiện cho vay: Mặc dù khi cho vay, ngân hàng yêu cầu khách hàng vay vốn phải bảo đảm các nguyên tắcd như vừa nêu trên, nhưng thực tế không phải khách hàng nào cũng có thể tuân thủ đúng các nguyên tắc này. Do vậy, để giúp cho việc đảm bảo các nguyên tắc vay vốn, ngân hàng chỉ xem xét cho vay khi khách hàng thỏa mãn một số điều kiện vay nhất định. Theo qui chế cho vay khách hàng do Ngân hàng Nhà nước ban hành, các điều kiện vay vốn khách hàng cần có bao gồm: + Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo qui định của pháp luật; + Có mục đích vay vốn hợp pháp; + Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết; + Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; + Thực hiện các qui định về đảm bảo tiền vay theo qui định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, các điều kiện vay vốn trên chỉ là hướng dẫn chung cần thiết cho các ngân hàng thương mại. Khi cụ thể hóa các điều kiện cho vay này, các ngân hàng thương mại có thể cụ thể hóa và đặt ra các điều kiện riêng của mình. Ví dụ: Khách hàng doanh nghiệp khi vay vốn Sacombank phải thỏa mãn các điều kiện sau: + Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo qui định của pháp luật; + Có mục đích vay vốn hợp pháp; + Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết; + Có vốn tự có tham gia vào dự án hoặc phương án sản xuất kinh doanh (Đối với vay trung dài hạn: Vốn tự có tham gia tối thiểu là 30%); + Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả phù hợp với qui định của pháp luật; + Có tài sản đảm bảo hợp pháp cho khoản vay hoặc được bên thứ ba bảo lãnh; + Có trụ sở trên cùng địa bàn hoạt động với các đơn vị trực thuộc Sacombank. 4. Mục đích vay vốn: Theo qui chế cho vay khách hàng cũng như trong phần trình bày về các điều kiện vay vốn, các ngân hàng thương mại khi cho vay yêu cầu khách hàng phải có mục đích vay vốn hợp pháp và cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận. Cụ thể khách hàng doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng có thể sử dụng vốn vay vào những mục đích gì? Thế nào là có mục đích vay vốn hợp pháp? Ví dụ: Sacombank đồng ý cho khách hàng doanh nghiệp vay vốn để sử dụng vào mục đích như sau: + Bổ sung vốn lưu động thiếu hụt trong quá trình sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ; + Thanh toán tiền hàng trong nước theo hợp đồng mua bán; + Thanh toán tiền nhập khẩu mua nguyên vật liệu, hàng hóa; + Thực hiện các phương án mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, hiện đại hóa sản xuất; + Thực hiện dự án di dời nhà máy vào khu công nghiệp, khu chế xuất, dự án đầu tư xây dựng mới. 5. Hồ sơ vay vốn: Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gởi cho tổ chức tín dụng một bộ hồ sơ vay vốn bao gồm giấy đề nghị vay vốn và các tài liệu cần thiết chứng minh đủ điều kiện vay vốn. Khách hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp của các tài liệu gởi cho tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng hướng dẫn các loại tài liệu khách hàng cần gởi cho tổ chức tín dụng phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng loại khách hàng, loại cho vay và khoản vay. Thông thường bộ hồ sơ vay vốn gồm có: + Giấy đề nghị vay vốn. + Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng, chẳng hạn như giấy phép thành lập, quyết định bổ nhiệm giám đốc, kế toán trưởng, điều lệ hoạt động. + Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ, hoặc dự án đầu tư. + Báo cáo tài chính của thời điểm gần nhất. + Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay. + Các giấy tờ liên quan khác nếu cần thiết. Trên đây là hướng dẫn chung về các tài liệu khách hàng phải xuất trình trong hồ sơ vay vốn. Khi cụ thể hóa hồ sơ vay vốn, các ngân hàng thương mại có thể yêu cầu khách hàng nộp cho ngân hàng những tài liệu cần thiết phù hợp với đặc điểm hoạt động của từng ngân hàng. Ví dụ: Khi vay vốn Sacombank, khách hàng doanh nghiệp phải lập và nộp cho ngân hàng bộ hồ sơ vay gồm có: - Hồ sơ về tư cách pháp nhân: + Giấy phép thành lập/đăng ký kinh doanh; + Giấy phép đầu tư, tu chỉnh (nếu có); + Các văn bản có liên quan như điều lệ công ty, quyết định bổ nhiệm người đại diện theo pháp luật và kế toán trưởng, văn bản chấp thuận danh sách Hội đồng quản trị, Ban quản trị, Hội đồng thành viên của cấp có thẩm quyền. - Hồ sơ về sử dụng vốn vay: + Giấy đề nghị vay vốn theo mẫu của Sacombank; + Kế hoạch kinh doanh, dự án đầu tư, hợp đồng kinh tế; + Kế hoạch sử dụng vốn và hoàn trả nợ; + Giấy tờ chứng minh mục đích sử dụng vốn vay; + Hộ khẩu, chứng minh nhân dân của người đại diện công ty và vợ/chồng (đối với công ty hợp doanh); hộ khẩu, chứng minh nhân dân của chủ doanh nghiệp (đối với doanh nghiệp tư nhân). - Hồ sơ về tình hình tài chính: + Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh. - Hồ sơ về đảm bảo tiền vay. - Hồ sơ khác theo yêu cầu của Sacombank. Sau khi nhận hồ sơ vay, ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định và ra quyết định cho vay. 6. Thẩm đị nh và quyết định cho vay: Để có căn cứ quyết định cho vay hay không cho vay, các tổ chức tín dụng đều có xây dựng qui trình xét duyệt cho vay theo nguyên tắc bảo đảm tính độc lập và phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cho vay. Khi thẩm định, tổ chức tín dụng sẽ xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống và khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng để quyết định cho vay. Tổ chức tín dụng qui định cụ thể và niêm yết công khai thời hạn tối đa phải thông báo quyết định cho vay hoặc không cho vay đối với khách hàng, kể từ khi nhận đủ hồ sơ vay vốn và thông tin cần thiết của khách hàng. Trường hợp quyết định không cho vay, tổ chức tín dụng phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản, trong đó nêu rõ căn cứ từ chối cho vay. Trường hợp quyết định cho vay, tổ chức tín dụng và khách hàng sẽ ký kết hợp đồng tín dụng và thực hiện các khâu tiếp theo của qui trình tín dụng. Thẩm định và quyết định cho vay là khâu rất quan trọng trong toàn bộ qui trình tín dụng. 7. Hợp đồng tín dụng: Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, gí trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa. Ngoài ra, hợp đồng tín dụng cũng cần nêu rõ quyền và nghĩa vụ của hai bên: khách hàng và ngân hàng. Phía Khách hàng: Có quyền: - Từ chối các yêu cầu của tổ chức tín dụng không đúng với các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, - Khiếu nại, khởi kiện việc vi phạm hợp đồng tín dụng theo qui định của pháp luật. Về nghĩa vụ, Khách hàng vay có nghĩa vụ: - Cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin, tài liệu liên quan đến việc vay vốn và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin, tài liệu đã cung cấp; - Sử dụng vốn vay đúng mục đích, thực hiện đúng các nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các cam kết khác; - Trả nợ gốc và lãi vốn vay theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng; - Chịu trách nhiệm trước pháp luật khi không thực hiện đúng những thỏa thuận về việc trả nợ vay và thực hiện các nghĩa vụ bảo đảm nợ vay đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Phía ngân hàng: Có quyền: - Yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi, khả năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước khi quyết định cho vay; - Từ chối yêu cầu vay vốn của khách hàng nếu thấy không đủ điều kiện vay vốn, hoặc phương án vay vốn không có hiệu quả, không phù hợp với qui định của pháp luật hoặc ngân hàng không có đủ nguồn vốn để cho vay; - Kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng; - Chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng; - Khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng hoặc người bảo lãnh theo qui định của pháp luật; - Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ, nếu các bên không có thỏa thuận khác, thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm vốn vay theo s ự thỏa thuận trong hợp đồng để thu hồi nợ theo qui định của pháp luật hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với trường hợp khách hàng được bảo lãnh vay vốn; - Miễn, giảm lãi vốn vay, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ thực hiện theo qui định; mua bán nợ theo qui định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và thực hiện việc đảo nợ, khoanh nợ, xóa nợ theo qui định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Về nghĩa vụ, ngân hàng có nghĩa vụ: - Thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng; - Lưu giữ hồ sơ tín dụng phù hợp với qui định của pháp luật. 8. Gới hạn và hạn chế cho vay: Trong hoạt động tín dụng, ngân hàng thương mại bị giới hạn cho vay theo qui định của Luật các Tổ chức tín dụng nhằm đảm bảo an toàn. Các giới hạn tín dụng khi cho vay ngắn hạn bao gồm: - Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng, trừ trường hợp đối với những khoản cho vay từ các nguồn vốn ủy thác của Chính phủ, của các tổ chức và cá nhân. Trường hợp nhu cầu vốn của một khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng hoặc khách hàng có nhu cầu huy động vốn từ nhiều nguồn thì các ngân hàng có thể cho vay hợp vốn theo qui định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. - Trong trường hợp đặc biệt, ngân hàng chỉ được cho vay vượt quá mức giới hạn cho vay theo qui định vừa nêu khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép đối với từng trường hợp cụ thể. - Việc xác định vốn tự có của ngân hàng để làm căn cứ tín giới hạn cho vay được thực hiện theo qui định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngoài ra, còn có một số hạn chế như ngân hàng không được cho vay không có bảo đảm, cho vay với những điều kiện ưu đãi về lãi suất, về mức cho vay đối với những đối tượng sau đây: - Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên có trách nhiệm kiểm toán tại tổ chức tín dụng cho vay; Thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại tổ chức tín dụng cho vay; Kế toán trưởng của tổ chức tín dụng cho vay; - Các cổ đông lớn của tổ chức tín dụng; - Doanh nghiệp có một trong những đối tượng qui định tại khoản 1 Điều 77 của Luật các Tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó. 9. Những trường hợp không cho vay: Ngoài những giới hạn và hạn chế tín dụng, ngân hàng còn không được cho vay một trong những trường hợp sau đây: - Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ chức tín dụng; - Cán bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định, quyết định cho vay; - Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc). 10. Các phương thức cho vay: Phương thức cho vay là cách thức thực hiện cấp tín dụng cho khách hàng của ngân hàng. Hiện nay trong cho vay đối với doanh nghiệp, các ngân hàng thương mại có thể thỏa thuận với khách hàng về sử dụng loại phương thức cho vay. Tùy theo đặc điểm chu chuyển vốn của khách hàng, ngân hàng và khách hàng có thể thỏa thuận lựa chọn phương thức cho vay thích hợp. Đa số các ngân hàng thương mại đều có đưa ra phương thức cho vay của mình cho khách hàng tham khảo. Thực tiễn cho thấy, ngoài các phương thức cho vay phổ biến như cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng và cho vay theo dự án đầu tư, còn có nhiều phương thức cho vay khác dành cho những hoàn cảnh vay vốn khác nhau được thực hiện ở những ngân hàng khác nhau chẳng hạn như: Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, cho vay hợp vốn, cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay ủy thác,... II/ TÌNH HÌNH CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA NĂM 2008: 1. Tình hình chung Ngân hàng trong năm 2008: Ngành ngân hàng trong năm 2008 đã trãi qua nhiều biến động khó khăn: - Lạm phát: Đầu năm phải đối mặt với lạm phát tăng cao (theo tính tóan sơ bộ lạm phát năm nay của Việt Nam là 24%) do đó việc thắt chặt tiền tệ đã gây khó khăn không nhỏ cho ngân hàng. Thứ nhất: họ phải tăng lãi suất vay vì thế cho nên phải tăng lãi suất cho vay. Lãi s uất cho vay quá cao khiến càng ít doanh nghiệp vay vốn, làm cản trở đến việc kinh doanh của ngân hàng. Thứ hai: Do lãi suất cao nên khả năng hoàn trả của các con nợ bị giảm sút, việc thu hồi nợ khó khăn hơn, các khoản nợ xấu gia tăng, làm tăng khả năng rủi ro của các ngân hàng. Thứ ba: Do lý do thứ hai nên các ngân hàng trở nên dè dặt trong việc cho vay vốn, tiền không được mang ra sử dụng lưu thông trở thành những khoản tiền vô ích, làm tăng chí phí cho ngân hàng. - Cơn bão tài chính Mỹ: Gần cuối năm, ngành tài chính ngân hàng phải đón nhận tin cơn bão tài chính ở Mỹ. Nhưng có lẽ nó có ít tác động đến ngành ngân hàng Việt Nam mà nhiều khi còn là tin tốt. Tin tốt là vì: Khi nhìn thấy sự khủng hoảng của ngành ngân hàng tại Mỹ, các ngân hàng Việt Nam sẽ suy xét và nhìn nhận lại cách làm ăn của mình. Họ sẽ thận trọng hơn với các khoản cho vay của mình; họ sẽ tìm cách giảm rủi ro trong quá trình cho vay; họ sẽ đề phòng và miễn dịch với các dự án đầu tư hay cho vay mà ở đó các khoản nợ xấu, khó đòi là cao; họ sẽ tập trung vào các khoản mục sinh lợi tốt, khả năng hoàn vốn cao và có sự phát triển trong tương lai. - Cạnh tranh giữa các ngân hàng: Đầu tiên là sự cạnh tranh các ngân hàng trong nước và các ngân hàng nước ngoài. Càng ngày càng có nhiều ngân hàng nước ngoài vào Việt Nam. Lợi thế của họ là có nhiều vốn, có tiềm lực tài chính và quản lý. HSBC là ngân hàng nước ngoài tích cực nhất hiện nay. HSBC vừa được Ngân hàng Nhà nước chính thức cho phép thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Việc thành lập ngân hàng con sẽ cho phép HSBC mở rộng mạng lưới phân phối rộng hơn, tới các khách hàng hiện tại cũng như khách hàng mới. HSBC trở thành ngân hàng nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam sở hữu 20% cổ phần tại một ngân hàng trong nước sau khi nâng cổ phần sở hữu tại Techcombank từ 14,4% lên 20%. Điều này cho phép HSBC mở rộng sức ảnh hưởng và gia tăng tầm hoạt động của mình. Sức ép cạnh tranh ngày càng gia tăng đối với các ngân hàng nội. Cạnh tranh với ngân hàng trong nước: Điều này là hiển nhiên nhưng có xu thế mới đó là việc hợp tác của các ngân hàng nội. Việc rõ ràng nhất là “liên minh ATM”. Cầm thẻ ATM của ngân hàng Techcombank nhưng khi đến trạm rút tiền của ngân hàng Vietcombank bạn vẫn có thể rút tiền được. Điều này làm gia tăng tầm hoạt động, khả năng cạnh tranh, sức thu hút khách hàng hơn là những ngân hàng không nằm trong liên minh. Nhưng sự cạnh tranh dù là giữa nội – ngoại hay nội – nội vẫn là cần thiết. Vì như thế các ngân hàng sẽ không ngừng cải thiện, không ngừng gia tăng chất lượng dịch vụ, luôn luôn sáng tạo để làm thỏa mãn những đòi hỏi của đất nước, của người dân và các doanh nghiệp. - Cạnh tranh với thị trường chứng khoán: Càng ngày chứng khoán càng trở nên lộ diện là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng về mặt huy động vốn trong dân. Trước kia chưa có chứng khoán thì người dân sẽ gửi tiền nhàn rỗi của mình vào các ngân hàng nhằm kiếm các khoản lợi tức. Nhưng nay, chứng khoán đã làm giảm lượng huy động vốn nhàn rỗi của các ngân hàng. Những người dân có tiền nhàn rỗi họ sẵn sàng lao vào đầu tư chứng khoán với hi vọng kiếm lời cao hơn là gửi tiền vào ngân hàng (tuy có rủi ro cao hơn). Bên cạnh đó, các doanh nghiệp ngoài kênh huy động vốn là vay mượn các ngân hàng họ còn có cách là phát hành cổ phiếu ra thị trường. Đấy cũng là một cách tốt để huy động vốn. Nói đến khó khăn thì cũng cần nhắc đến những dấu hiệu khả quan mà ngành ngân hàng đã làm được trong năm nay: Trong năm nay, ngành ngân hàng phải chống chọi với lạm phát và cơn bão khủng hoảng tín dụng của Mỹ nên chưa có những bước phát triển như mong muốn. Dấu hiệu khả quan có thể nhận thấy ngay là góp phần cùng với Ngân hàng trung ương hạn chế lạm phát một cách tích cực và hiệu quả. 2. Tình hình cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2008: Dư nợ tín dụng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 27,3% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế. Một trong những đối tượng được ngân hàng chú trọng đầu tư vốn là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), đặc biệt là DNNVV trong lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu, nông nghiệp và nông thôn. Hiện nay, đang có 50% trong tổng số DNNVV có quan hệ tín dụng với ngân hàng và tỷ trọng vốn vay ngân hàng của các doanh nghiệp này chiếm 45,31% trong tổng nguồn vốn hoạt động của họ. Để DNNVV phát triển và tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng ngân hàng, từ cuối năm 2007 đến nay, trong bối cảnh cả nước thực hiện các biện pháp kiềm chế lạm phát và chính sách tiền tệ thắt chặt, ngành ngân hàng đã có những chỉ đạo cụ thể, linh hoạt trong hoạt động tín dụng; thực hiện điều chỉnh cơ cấu tín dụng, giảm tín dụng đầu tư trong lĩnh vực phi sản xuất để tăng tín dụng đầu tư cho lĩnh vực trực tiếp sản xuất. Trong năm 2008, doanh số cho vay của các ngân hàng thương mại (NHTM) đối với DNNVV là 495.600 tỷ đồng, trong đó, khối NHTM Nhà nước chiếm 47,7%, khối NHTM cổ phần chiếm 47,07%; khối ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chiếm 2,5%. Dư nợ cho vay DNNVV đến cuối năm 2008 của các ngân hàng thương mại đạt 330.002 tỷ đồng (chiếm 27,3% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế), tăng 16,65% so với 31/12/2007. Riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, dư nợ chiếm 5,1% trên tổng dư nợ, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,51%, lĩnh vực thương mại, dịch vụ 56,39% . Đi đầu trong việc cho vay các DNNVV là các NHTM Nhà nước, chiếm tỷ trọng 56,98% toàn ngành; tiếp đến là các NHTM cổ phần. Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước , 23% trong số các DNNVV có quan hệ tín dụng với các ngân hàng thương mại hiện đang hoạt động kinh doanh có hiệu quả; 73,2% hoạt động trung bình và 3,8% gặp khó khăn; trong đó chỉ có 1,42% có khả năng mất vốn. Tỷ lệ nợ xấu cho vay DNNVV của toàn hệ thống ngân hàng khoảng 3,64% , tăng 1% so với năm 2007 nhưng giảm 0,19% so với năm 2006. Ngân hàng Nhà nước đang chỉ đạo chặt chẽ các tổ chức tín dụng ưu tiên vốn đầu tư cho DNNVV, gắn kết với doanh nghiệp, bám sát từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để phục vụ và cùng chia sẻ rủi ro. Các Tổ chức tín dụng được chủ động xem xét xử lý trong phạm vi khả năng tài chính cho phép; trong trường hợp vượt khả năng tài chính, Ngân hàng Nhà nước sẽ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, tạo điều kiện cho các DNNVV tiếp cận được với vốn vay ngân hàng. Không ít ý kiến cho rằng: Tăng trưởng của khu vực này vẫn tốt. III/ CÁC GIẢI PHÁP CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA NĂM 2009: Kế hoạch phát triển KT-XH đất nước năm 2009 của Chính phủ với mục tiêu chủ yếu là: Tiếp tục kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, bền vững, chủ động ngăn ngừa suy giảm, bảo đảm an sinh xã hội; đẩy mạnh hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế một cách chủ động và hiệu quả... Trong số các nhiệm vụ đặt ra cho năm 2009, thì kích cầu đầu tư và cầu tiêu dùng có ý nghĩa rất quan trọng nhằm tạo động lực tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội. Cùng với mục tiêu phát triển kinh tế của Chính phủ, các ngân hàng thương mại cần phải bám sát mục tiêu trên để đẩy mạnh công tác cho vay để kích cầu đầu tư và tiêu dùng một cách hợp lý và có hiệu quả. - Cho vay kích cầu đầu tư đồng bộ: Thực hiện cho vay kích cầu đầu tư không có nghĩa là cho vay đầu tư tùy tiện, bất chấp hiệu quả, mà cần tập trung cho vay đầu tư cho các dự án sắp hoàn thành, đưa nhanh vào sử dụng; các dự án có dung lượng và triển vọng thị trường tiêu thụ tốt; các dự án góp phần trực tiếp duy trì và mở rộng năng lực sản xuất và kinh doanh cần thiết của doanh nghiệp; các dự án thúc đẩy chuyển dịch và cải thiện cơ cấu, sức cạnh tranh kinh tế theo hướng phát triển bền vững... ưu tiên các dự án có tính thúc đẩy phát triển liên ngành cao, hoặc tạo thị trường tiêu thụ tiềm năng, ... Để cho vay kích cầu đầu tư đúng hướng, cần thực hiện tốt hơn việc công khai các danh mục đầu tư. Một số ngành các ngân hàng thương mại cần tập trung cho vay góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế của Chính phủ: Cho vay kích cầu này sẽ hướng đến các địa chỉ là: các doanh nghiệp (DN) sử dụng nhiều lao động nhất; DN tạo ra nhiều hàng để cân đối cung - cầu hiện nay; DN chuyển hướng sản xuất từ hàng xuất khẩu nhưng giờ co lại phục vụ sản xuất trong nước; DN sản xuất ra hàng xuất khẩu thuộc vào DNNVV, làng nghề; DN kể cả dự án có s ử dụng lao động có thu nhập, tạo sức mua, sử dụng nhiều vật tư nông nghiệp tạo đầu ra cho các DN: sắt thép, xi măng, vật tư vật liệu ứ đọng…, khuyến khích DN tiếp tục sản xuất; DN có thể triển khai, hoàn thanh và đóng góp nhanh trong năm 2009 và 2010. Như vậy, có khoảng 5-6 địa chỉ sẽ được đưa vốn vào, đó là: DNNVV, DN sản xuất hàng tiêu dùng trong nước, sản xuất hàng xuất khẩu, thay thế hàng nhập khẩu, các làng nghề... Một số ngành như: Giao thông, Xây dựng, Điện, ... các ngân hàng thương mại cũng cần xem xét đầu tư cho vay. Về lãi suất cho vay: lãi s uất bao nhiêu là hợp lý luôn là bài toán khó đối với mỗi ngân hàng, vì không ít ngân hàng cạnh tranh bằng lãi suất, nên đã bất chấp cả ngưỡng an toàn cho phép. Các ngân hàng thương mại nên áp dụng linh hoạt trong điều hành lãi s uất cho vay nhằm đảm bảo hiệu quả, kinh doanh có lãi. Trong tình hình hiện nay các ngân hàng cần nên xem xét hạ thấp lãi suất cho vay hơn nữa mới đảm bảo kích thích các doanh nghiệp vay vốn.
- Xem thêm -