Chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào việt nam

  • Số trang: 155 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU.....................................................................................................1 1. Tính cấp thiết của đề tài.....................................................................................6 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án..................................................7 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án..................................................8 4. Tình hình nghiên cứu liên quan tới luận án........................................................8 5. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................10 6. Đóng góp của Luận án.....................................................................................10 7. Bố cục của Luận án:..........................................................................................11 CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT CÔNG NGHỆ NƯỚC NGOÀI...............................................12 1.1. Công nghệ và chuyển giao công nghệ..............................................................12 1.1.1 Công nghệ (Technology)................................................................................12 1.1.2. Quản lý công nghệ........................................................................................16 1.1.3. Đổi mới và phát triển công nghệ...................................................................18 1.1.4. Chuyển giao công nghệ................................................................................19 1.2. Chính sách thu hút công nghệ nước ngoài trong Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ quốc gia......................................................................................26 1.2.1. Chính sách thu hút công nghệ và phát triển công nghệ quốc gia...................26 1.2.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách thu hút công nghệ nước ngoài............................................................................................................... 29 1.2.3. Tính tất yếu khách quan phải có chính sách thu hút chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam........................................................................................42 1.3 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về thu hút công nghệ nước ngoài. .47 1.3.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc........................................................................47 1.3.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc...........................................................................52 1.3.3. Kinh nghiệm thu hút công nghệ nước ngoài của Nhật Bản............................60 CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VÀ CHÍNH SÁCH THU HÚT CÔNG NGHỆ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM THỜI GIAN QUA...........................................68 2.1. Thực trạng thị trường công nghệ Việt Nam trong những năm qua...................68 2.2. Thực trạng thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam trong những năm qua ................................................................................................................................. 89 2.2.1. Thực trạng thu hút CGCN nước ngoài vào Việt Nam qua kênh đầu tư trực tiếp nước ngoài........................................................................................................89 2.2.2. Thực trạng thu hút CGCN vào Việt Nam qua các dự án đầu tư hoàn toàn bằng vốn trong nước và vốn vay nước ngoài (kênh trực tiếp mua công nghệ nước ngoài).................................................................................................................... 106 2.3. Thực trạng môi trường pháp lý hiện hành cho hoạt động chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam......................................................................................110 2.4. Thực trạng chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam hiện nay ............................................................................................................................... 115 2.4.1. Chính sách về công nghệ và CGCN chưa phù hợp với yêu cầu của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế...............................................................................................115 2.4.2. Thực tiễn quản lý Nhà nước trong lĩnh vực CGCN còn nhiều bất cập.........121 2.4.3. Thực tiễn CGCN cho đến nay còn nhiều điểm bất cập:...............................123 CHƯƠNG III. CÁC GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI VÀ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH 2 THU HÚT CÔNG NGHỆ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI............................................................................................................126 3.1. Những định hướng lớn về chính sách chuyển giao công nghệ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế trong chiến lược phát triển Khoa học và Công nghệ Việt Nam đến 2020.......................................................................................................126 3.1.1. Quan điểm cơ bản của Chiến lược phát triển Khoa học và Công nghệ Việt Nam đến 2020........................................................................................................126 3.1.2. Các hướng công nghệ trọng điểm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội làm cơ sở cho chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt nam............................127 3.2 Khuyến nghị việc hoàn thiện những nội dung của chính sách phát triển công nghệ quốc gia trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.........................................134 3.3. Khuyến nghị việc đổi mới chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian tới (thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, qua mua bán thiết bị, máy móc có chứa đựng công nghệ và qua các kênh khác,..)............................137 3.3.1. Hệ thống các pháp luật liên quan đến chuyển giao công nghệ phải tiếp tục được hoàn thiện và thể hiện rõ :............................................................................137 3.3.2. Đổi mới các nguyên tắc ứng xử với đầu tư nước ngoài...............................139 3.3.3. Khuyến khích hợp tác, đầu tư trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Khuyến khích và tạo điều kiện tối đa cho việc thành lập các cơ sở nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ nước ngoài ở Việt Nam............................140 3.3.4. Triệt để khai thác và tận dụng hiệu quả các công nghệ tiền tiến và kinh nghiệm quản lý qua các dự án hỗ trợ kỹ thuật và dự án đầu tư bằng nguồn vốn phát triển chính thức - ODA..........................................................................................141 3.3.5. Hỗ trợ kinh phí và tạo điều kiện cho các nhà khoa học, các chuyên gia kỹ thuật trong mọi lĩnh vực, không phân biệt thành phần kinh tế, tham gia các hội nghị, hội thảo quốc tế , trao đổi học thuật, giao lưu với cộng đồng khoa học và công nghệ quốc tế..................................................................................................141 3.3.6. Xây dựng hệ thống thông tin công nghệ quốc gia để có thể đảm nhận tốt các vai trò tình báo công nghệ, thu thập, phân tích và dự báo các thành tựu công nghệ, đảm bảo cung cấp các thông tin thiết thực cho đổi mới, mua bán công nghệ của các cơ sở nghiên cứu và sản xuất trong nước........................................................142 3.4 Các giải pháp đổi mới và hoàn thiện chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam.........................................................................................................142 3.4.1 Giải pháp hoàn thiện các văn bản pháp luật................................................143 3.4.2 Giải pháp đổi mới và hoàn thiện chính sách quản lý nhập khẩu công nghệ mới, công nghệ cao đến năm 2020........................................................................144 3.4.3 Giải pháp đổi mới và hoàn thiện chính sách khuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ mới, công nghệ cao, cụ thể:.........................................................145 3.4.4 Giải pháp đổi mới và hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận và làm chủ công nghệ mới, công nghệ cao, bao gồm:................................................145 3.4.5 Xây dựng kế hoạch chi tiết để thực hiện thành công chiến lược phát triển công nghệ quốc gia........................................................................................................146 KẾT LUẬN..........................................................................................................147 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐƯỢC CÔNG BỐ....................................149 TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................150 3 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT - Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt bằng tiếng Việt VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT CGCN Chuyển giao công nghệ CNSH Công nghệ sinh học CNTT-TT Công nghệ thông tin- truyền thông CNH-HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá KH&CN Khoa học và Công nghệ MITI Bộ Thương mại và Công nghiệp quốc tế QLNN Quản lý Nhà nước - Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt bằng tiếng Anh VIẾT TẮT TIẾNG ANH ESCAP Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Economic Châu Á-Thái Bình Dương and TIẾNG VIỆT Social Commission for Asia and the Pacific EU Europe Union Liên minh Châu Âu FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Organization Economic Cooporation Development R&D Research and Development Nghiên cứu và Phát triển S&T Science and Technology Khoa học và Công nghệ 4 WB World Bank Ngân hàng thế giới UNIDO Tổ chức Phát triển của Liên hợp quốc United Nations Industrial Development Organization UNCTAD United Nations Conference on Trade Hội nghị phát triển thương mại quốc tế and Development của Liên hợp quốc DANH MỤC BẢNG, BIỂU Tên bảng, biểu Trang Bảng 1.1 Nhập khẩu trang thiết bị công nghệ của Trung Quốc những năm 50 49 Bảng 1.2 Số lượng nhập khẩu công nghệ mới của Trung Quốc 50 Bảng 1.3 Chuyển giao công nghệ quốc tế 52 Bảng 1.4 Số vụ nhập công nghệ qua các năm 53 Bảng 1.5 Đầu tư trực tiếp nước ngoài 54 Bảng 1.6 Tình hình các ngành nhập công nghệ 54 Bảng 1.7 Con đường học tập công nghệ mới và công nghệ nước ngoài của các 55 doanh nghiệp Hàn Quốc Bảng 1.8 Quy mô tương đối của du nhập công nghệ 57 Bảng 1.9 Loại hình công nghệ tiếp nhận 58 Bảng 1.10 Xu 59 hướng trong chuyển giao công nghệ ở Hàn Quốc Bảng 2.1 Tình hình chào bán công nghệ, thiết bị ở một số Techmart 71 Bảng 2.2 Số lượng các đơn vị tham gia một số Techmart 72 Bảng 2.3 Số liệu thống kê của các kỳ Techmart khu vực và quốc gia 73 Bảng 2.4 Phân loại các doanh nghiệp theo trình độ công nghệ 74 5 Bảng 2.5 Những nguyên nhân khiến thị trường công nghệ ở Việt Nam chưa 82 phát triển Bảng 2.6 Bằng độc quyền sáng chế đã được cấp từ 1981-2009 83 Bảng 2.7 Bằng độc quyền giải pháp hữu ích đã được cấp từ 1990 -2009 84 Bảng 2.8 Giấy chứng nhận đăng ký NHHH đã được cấp từ 1982-2009 85 Bảng 2.9 Giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý dã được cấp từ 2001-2009 86 Bảng 2.10 Số lượng hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHCN từ 87 1995-2009 Bảng 2.11 Luỹ kế các dự án còn hiệu lực đến tháng 7/2010 89 Bảng 2.12 Luỹ kế các dự án còn hiệu lực đến tháng 7/2010 theo hình thức đ.tư 92 Bảng 2.13 Luỹ kế các dự án còn hiệu lực đến tháng 7/2010 phân theo các nước 93 và vùng lãnh thổ Bảng 2.14 Số Hợp đồng CGCN đã được phê duyệt, đăng ký đến tháng 8/2010 97 Bảng 2.15 Số Hợp đồng được phê duyệt theo lĩnh vực, ngành kinh tế đến năm 99 2005 Bảng 2.16 Số Hợp đồng được phê duyệt theo nước chuyển giao đến 2005 100 Bảng 2.17 Số Hợp đồng CGCN được đăng ký theo lĩnh vực 101 Bảng 2.18 Số Hợp đồng CGCN đã đăng ký theo nước 102 6 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, khoa học và công nghệ không chỉ là lực lượng sản xuất trực tiếp, mà còn là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết Trung ương lần thứ 2 Khoá VIII đã nêu rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển khoa học và công nghệ: "Cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải bằng và dựa vào khoa học và công nghệ". Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, để đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của từng ngành và của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đối với một nước đang trong quá trình chuyển đổi kinh tế như Việt Nam, trong những năm tới chủ yếu phải dựa vào việc nhập các công nghệ tiên tiến từ các nước phát triển nhằm tranh thủ và tận dụng lợi thế của nước đi sau, tiết kiệm chi phí R & D trong điều kiện đất nước còn có nhiều khó khăn về nguồn vốn cho phát triển và có thể tiếp cận ngay được những công nghệ hiện đại, tiên tiến trên thế giới mà trong nước chưa có. Trong những năm qua, đồng thời với việc ban hành và thực hiện các chính sách đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đến việc thu hút công nghệ từ nước ngoài và đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ của đất nước. Cùng với Luật Đầu tư (2005) (trước đó là Luật đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ban hành tháng 12 năm 1987 được sửa đổi, bổ sung nhiều lần), các văn bản quy phạm pháp luật về khoa học công nghệ và chuyển giao công nghệ cũng đã được ban hành: Luật Khoa học và công nghệ (2000), Luật Sở hữu trí tuệ ( 2005), Luật Chuyển giao công nghệ (2006), Luật công nghệ cao (2008) v.v… Tuy nhiên, hoạt động chuyển giao công nghệ nói chung và chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam nói riêng thời gian qua vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Trình độ công nghệ trong các ngành kinh tế kỹ thuật chuyển biến chậm. Hàm lượng công nghệ trong các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đặc biệt là các hàng hóa xuất khẩu còn thấp. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chậm được nâng cao. Một trong những nguyên nhân làm cho hoạt 7 động chuyển giao công nghệ chưa thực sự được đẩy mạnh là do hệ thống các chính sách về chuyển giao công nghệ và thu hút công nghệ chưa đồng bộ, còn nhiều bất cập, mức độ tác động còn hẹp và hiệu quả thực hiện chưa cao. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu một cách hệ thống, cả lý luận lẫn thực tiễn, đánh giá thực trạng chuyển giao công nghệ nói chung và đặc biệt chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam nói riêng, phân tích, làm rõ nguyên nhân của các hạn chế từ khía cạnh chính sách. Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh việc thu hút công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam, góp phần thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thu hẹp dần khoảng cách công nghệ giữa nước ta với các nước trong khu vực trên thế giới. Luận án “Chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam” được thực hiện nhằm giải quyết vấn đề đặt ra này. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án 2.1. Mục tiêu của Luận án Trên cơ sở nghiên cứu về mặt lý luận, đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng chính sách thu hút công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam, phân tích nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu đổi mới, phát triển công nghệ của các ngành, lĩnh vực, đặc biệt là các hướng công nghệ ưu tiên, Luận án đề xuất hệ thống đồng bộ các giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới, hoàn thiện chính sách thu hút công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam. Trên cơ sở đó, hình thành các chính sách đủ mạnh, có tính thực thi cao, phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm tạo môi trường thuận lợi, thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động chuyển giao công nghệ, thu hút được công nghệ tiên tiến của nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2015. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án - Nghiên cứu và phát triển cơ sở lý luận liên quan đến chuyển giao công nghệ và chính sách thu hút công nghệ từ nước ngoài. - Đánh giá thực trạng chuyển giao công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thời gian qua, đặc biệt từ khi thực hiện chính sách đổi mới, phân 8 tích các nguyên nhân thành công và chưa thành công về mặt chính sách đối với hoạt động thu hút chuyển giao công nghệ thông qua các dự án đầu tư nước ngoài. - Trên cơ sở phân tích xu thế phát triển khoa học và công nghệ, các xu hướng phát triển của các tập đoàn, các Công ty xuyên quốc gia trên thế giới, đánh giá nhu cầu phát triển công nghệ của Việt Nam, kết hợp với việc tìm hiểu kinh nghiệm về chính sách chuyển giao công nghệ của một số nước, Luận án kiến nghị hệ thống các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách thu hút chuyển giao công nghệ trong đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và thông qua các kênh chuyển giao công nghệ khác đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án - Đối tượng nghiên cứu là chính sách thu hút công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam. - Phạm vi nghiên cứu của Luận án tập trung vào việc phân tích các chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam thông qua các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và các kênh khác nhau từ khi thực hiện chính sách đổi mới đến nay. 4. Tình hình nghiên cứu liên quan tới luận án Ở nước ngoài, hầu hết các nghiên cứu chỉ đề cập tới chính sách phát triển công nghệ và chuyển giao công nghệ, hầu như rất ít công trình chuyên nghiên cứu chính sách thu hút công nghệ nước ngoài. Đáng chú ý nhất trong số các công trình đã được công bố (có dịch sang Tiếng Việt) là cuốn “Phát triển công nghệ và chuyển giao công nghệ ở Châu Á” (Nhà xuất bản Bunshindo, Nhật bản) của tác giả Lâm Trác Sử. Các tác giả chủ yếu phân tích các mô hình và chính sách phát triển công nghệ nói chung của một số các quốc gia Đông Á, điển hình nhất là mô hình Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Công trình nghiên cứu “Technological Independence–The Asian Experence” của United Nations University, Nhật Bản chủ yếu nghiên cứu về chính sách công nghệ các quốc gia Châu Á trong các thời kỳ các nước tiếp nhận công nghệ của Hoa kỳ và Châu Âu. Nhìn chung, các công trình đã công bố trên thế giới chủ yếu tập trung nghiên cứu chính sách phát triển công nghệ 9 các nước nhằm mục đích tăng trưởng, trong đó đưa ra các mô hình thành công trong chính sách công nghệ như “Đàn nhạn bay” của Nhật Bản, … Ở Việt Nam, có một số công trình đã công bố phải kể đến là cuốn “ Đổi mới cơ chế quản lý Khoa học và Công nghệ ở Việt Nam” do TS. Lê Đăng Doanh chủ biên. Tác giả đã phân tích và kiến nghị khoa học và công nghệ ở Việt Nam cần đổi mới theo hướng nào, kênh nào trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Các tác giả cũng đặc biệt chú ý tới công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khoa học và công nghệ. Cuốn “Quan hệ giữa phát triển khoa học công nghệ với phát triển kinh tế - xã hội trong công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam” (NXB Khoa học xã hội, 1999) của tác giả Nguyễn Danh Sơn đã phân tích được mối quan hệ qua lại giữa phát triển khoa học công nghệ và công nghiệp hóa nền kinh tế. Tác giả Nguyễn Danh Sơn cũng làm rõ được vai trò quan trọng của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong chiến lược công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Ngoài ra, còn một số công trình đã công bố nghiên cứu về các chính sách hỗ trợ khoa học công nghệ ở Việt Nam như tác giả Hoàng Trọng Cừ với đề tài “Nghiên cứu vấn đề thuế trong hoạt động khoa học và công nghệ” (Đề tài NCKH của Viện Nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học công nghệ); tác giả Nghiêm Thị Minh Hòa “Đầu tư tài chính cho khoa học công nghệ ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp” (Báo cáo tại Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và đào tạo sau đại học ở Việt Nam”, 2000), v.v... Trong các công trình này, các tác giả chủ yếu đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm hỗ trợ hoạt động khoa học công nghệ ở Việt Nam, chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam. Nhóm nghiên cứu đề tài cấp Bộ Thương mại do Nguyễn Văn Hoàn làm chủ nhiệm với đề tài “Chính sách nhập khẩu công nghệ mới, công nghệ cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam - thực trạng và giải pháp”, mã số 2002-78018. Đề tài nghiệm thu năm 2002 và đã nghiên cứu và đánh giá tình hình nhập khẩu công nghệ của Việt Nam trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa kinh tế. Tuy nhiên, các tác giả đề tài này chưa phân tích được chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam và cũng chỉ dừng lại xem xét tình hình nhập khẩu công 10 nghệ nói chung vào Việt Nam giai đoạn trước năm 2001 và chính sách nhập khẩu công nghệ dưới góc độ chính sách thương mại. Với mục đích nghiên cứu thực trạng chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian qua đề tìm ra những mặt được và chưa được của chính sách, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách, NCS đã chọn đề tài “Chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ. 5. Phương pháp nghiên cứu Luận án sử dụng phương pháp luận của phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; dựa vào những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế và phát triển đất nước làm cơ sở để phân tích đánh giá hoạt động chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam. Đồng thời, luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như thống kê, tổng hợp và phân tích, tiếp cận hệ thống. 6. Đóng góp của Luận án Luận án có những điểm mới và các đóng góp về mặt lý luận cũng như thực tiễn sau: - Xác lập một số vấn đề lý luận cơ bản về công nghệ, chuyển giao công nghệ và chính sách thu hút công nghệ. Luận án chứng minh sự cần thiết xây dựng chiến lược công nghệ quốc gia trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay của Việt Nam. - Đánh giá thực trạng chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian từ sau khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay. Lần đầu tiên luận án đã đánh giá sự bất cập trong chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam thông qua kênh FDI. - Đề xuất các giải pháp cấp bách và lâu dài có tính khả thi nhằm đẩy mạnh việc thu hút chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam, hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển công nghệ tại Việt Nam. 7. Bố cục của Luận án: 11 Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được trình bày trong 3 chương: Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách thu hút công nghệ nước ngoài Chương II: Thực trạng chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam Chương III: Các giải pháp đổi mới chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian tới 12 CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT CÔNG NGHỆ NƯỚC NGOÀI 1.1. Công nghệ và chuyển giao công nghệ 1.1.1 Công nghệ (Technology) Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về công nghệ, sau đây luận án chỉ đưa ra những cách hiểu thông dụng nhất để trên các khái niệm đó phục vụ cho quá trình nghiên cứu: Theo UNIDO: “Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp”(Trần Văn Thọ 2006, tr.5). “Công nghệ là hệ thống kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới” (OECD, 1968, tr.3). “Công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hàng hóa”(OECD, 1970). “Công nghệ là hệ thống các kiến thức về một quy trình hoặc/và các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm hoàn chỉnh” (OECD, 1972, tr.5). “Công nghệ là sự áp dụng khoa học vào các ngành nghề thực tiễn bằng cách sử dụng những nghiên cứu và cách xử lý có hệ thống, có phương pháp” (ESCAP, 1986). “Công nghệ là mọi loại kỹ năng, kiến thức, thiết bị, phương pháp có hệ thống được sử dụng trong sản xuất và dịch vụ” (PRODEC, 1982). “Công nghệ là các giải pháp dùng để biến đổi các nguồn lực tự nhiên thành các nguồn lực được sản xuất có giá trị”(APCTT-Bộ Khoa học và Công nghệ, 2001). “Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật chế biến vật liệu và thông tin” và “Công nghệ bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị, chế tạo 13 hoặc dịch vụ công nghiệp, dịch vụ quản lý” (APCTT-Bộ Khoa học và Công nghệ, 2001). “Công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm gồm 03 yếu tố: a) Thông tin về phương pháp; b) Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hóa; c) Sự hiểu biết về phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao (Ngân hàng thế giới, WB, 1985). “Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất và như vậy nó được mua bán trên thị trường như một hàng hóa, thể hiện ở những dạng sau: a) Tư liệu sản xuất, sản phẩm trung gian được mua bán trên thị trường, đặc biệt nó gắn liền với các thiết bị đầu tư; b) Con người, thông thường là có trình độ và có trình độ cao, chuyên môn sâu với khả năng sử dụng đúng các thiết bị và làm chủ được bộ máy; c) Thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại, được đưa ra trên thị trường hay được giữ bí mật như một phần của sự độc quyền (UNCTAD, 1972). Theo Luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2000, tại Chương I, Điều 1 nêu rõ “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm” (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2000). Qua những định nghĩa trên và hàng trăm định nghĩa khác tương tự như vậy được các tác giả công bố trong các giai đoạn từ những năm 1960 cho tới nay, cho thấy công nghệ là một khái niệm đang phát triển và có xu hướng ngày càng mở rộng, ngày càng định hình hơn. Tuy nhiên, cho đến nay xuất phát từ các góc nhìn khác nhau, các hoàn cảnh và điều kiện khác nhau, các tác giả vẫn không hoàn toàn thống nhất với nhau về định nghĩa công nghệ. Để làm rõ và đi đến thống nhất khái niệm này, luận án sẽ phân tích trên 03 khía cạnh chủ yếu: 1) Về bản chất công nghệ là gì? 2) Công nghệ có đặc điểm chủ yếu gì? 3) Công nghệ phục vụ cho cái gì? Thứ nhất, cần làm rõ bản chất của công nghệ. Hầu như tất cả các tác giả đều thống nhất với nhau rằng công nghệ là các cách thức, các kiến thức, các kỹ năng, các quy trình, các thiết bị, các công cụ, các phương tiện, các dịch vụ công nghiệp, các dịch vụ quản lý, vv và vv… mà ta gọi chung, trong luận án này, là các phương 14 pháp. Nhưng không phải là các phương pháp nói chung, mà là các phương pháp được “áp dụng vào”, “được chuyển thành”, “được sử dụng” … tức là các phương pháp có một giá trị thực tiễn nhất định để giải quyết một nhiệm vụ nhất định mà thực tiễn đặt ra. Đó chính là giải pháp (Giải pháp: Phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó) (Viện Ngôn ngữ học, 2003, pp.387). Thực chất của công nghệ chính là giải pháp thực tiễn mà con người dùng trong quá trình giải quyết một nhiệm vụ nhất định. Theo Nawaz Sharif (Công nghệ công cụ biến đổi các nguồn lực, Viện Thông tin khoa học Trung ương, Ủy ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước, số 7, năm 1988), công nghệ có 04 thành phần cơ bản: - Thành phần vật chất (Technoware, còn gọi là “Giải pháp đã được vật chất hóa”): đó là công nghệ hàm chứa trong các vật thể như: máy móc, trang thiết bị, công cụ, kết cấu, vật liệu, nhà máy, cơ sở hạ tầng, xe cộ … - Thành phần thông tin (Inforwave, công nghệ hàm chứa trong thông tin), như: tài liệu thiết kế, công thức, quy trình, tiêu chuẩn, định mức, cẩm nang, khái niệm, kế hoạch … - Thành phần con người (Humanwave, công nghệ hàm chứa trong con người), như: kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, tính sáng tạo, khả năng lãnh đạo, đạo đức nghề nghiệp. - Thành phần thể chế (Orgawave- công nghệ hàm chứa trong thể chế), như: cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành, quan hệ trách nhiệm/quyền hạn, lề lối làm việc, kỷ luật, sự phối hợp, chế độ thưởng phạt, vv và vv … Tất cả 04 thành phần công nghệ đó (thành phần vật chất: Technoware, thành phần con người: Humanware, thành phần thông tin: Inforware, thành phần thể chế: Orgaware) đều bổ sung lẫn cho nhau và tác động qua lại với nhau một cách phức tạp. Không thể có sự biến đổi nào (từ nguồn lực tự nhiên thành các sản phẩm hay dịch vụ được sử dụng), mà có thể thiếu hẳn một thành phần nào đó, tức là có một giới hạn tối thiểu cho mỗi một trong 04 thành phần, và cũng như vậy, có một giới hạn tối đa cho mỗi thành phần. Vượt quá những giới hạn nhất định đó, công nghệ sẽ không còn là tối ưu hay thậm chí sẽ không có hiệu quả và vì vậy người ta luôn luôn 15 đòi hỏi một hệ thống công nghệ đồng bộ. Như vậy, bản chất của công nghệ là giải pháp. Thứ hai, cần làm rõ công nghệ có đặc điểm chủ yếu gì. Đi sâu vào thuộc tính hoặc đặc điểm của công nghệ có thể thấy rằng công nghệ có nhiều đặc điểm hoặc thuộc tính khác nhau. Tuy nhiên, một đặc điểm nổi bật mà phần đông các tác giả đều nhất trí là đặc điểm có hệ thống. Điều đó có nghĩa là, một giải pháp công nghệ riêng lẻ hoặc một tập hợp những giải pháp công nghệ hoàn chỉnh để tạo ra một sản phẩm hay một dịch vụ nào đó đều đòi hỏi phải được chỉ rõ trật tự của giải pháp đó nằm ở vị trí nào trong toàn hệ thống hoặc những giải pháp đó được sắp xếp như thế nào để thành hệ thống và có thể áp dụng ngay được mà không bị sai lầm. Nếu trái lại, giải pháp đó không còn giá trị của công nghệ. Thứ ba, mục tiêu của công nghệ là gì và phục vụ cho cái gì. Khi nghiên cứu nguồn gốc công nghệ, cho thấy không một tác giả nào bỏ qua vấn đề này. Về cơ bản, các tác giả đều cho rằng, mục tiêu sơ cấp của công nghệ là để làm ra được những sản phẩm, những hàng hóa, những dịch vụ có trình độ công nghệ nhất định (và càng ngày, mục tiêu “dịch vụ” càng được nhiều tác giả quan tâm). Từ mục tiêu sơ cấp đó, công nghệ có rất nhiều mục tiêu thứ cấp khác nhau và nhiều khi chính vì mục tiêu thứ cấp này mà công nghệ cần được cập nhật, thay đổi và phát triển, thậm chí phát triển rất nhanh chóng. Từ những phân tích nói trên, tác giả luận án đưa ra định nghĩa một cách ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu về công nghệ: Công nghệ là tập hợp các giải pháp có hệ thống được sử dụng trong quá trình tạo ra một sản phẩm, hoàn thành một công trình hay thực hiện một dịch vụ nhất định nhằm phục vụ cho một mục tiêu xác định. Các giải pháp có hệ thống đó bao gồm 04 thành phần cơ bản (thành phần vật chất hay giải pháp được vật chất hóa, thành phần thông tin, thành phần con người, thành phần thể chế). Thông thường, để hoàn thành một mục tiêu thứ cấp (như: chế tạo một sản phẩm, xây dựng một công trình hay thực hiện một dịch vụ) hệ thống các giải pháp phải bao gồm cả 04 thành phần nói trên. Nhưng trong thực tế có những mục tiêu sơ cấp hoặc mục tiêu trung gian mà để thực hiện chúng không nhất thiết cả 04 thành phần đó phải xuất hiện trong một hệ thống công nghệ cụ thể. 16 Trong thời đại ngày nay, mỗi sản phẩm, mỗi công trình, mỗi dịch vụ đều nhằm một mục tiêu cụ thể, xác định. Hàng ngày, trên thế giới có hàng triệu sản phẩm, hàng triệu công trình, hàng triệu dịch vụ được tạo ra, được hoàn thành, được thực hiện, chúng đều có mục tiêu cụ thể, xác định, không mục tiêu nào hoàn toàn giống mục tiêu nào. Tuy nhiên, trong cơ chế kinh tế thị trường, công nghệ, suy cho cùng, phải nhằm mục đích chủ yếu là phục vụ kinh doanh (trừ một số trường hợp đặc biệt, trong bối cảnh đặc biệt sẽ được đề cập trong một chuyên đề khác) và trong khuôn khổ của hoạt động kinh doanh thì công nghệ nào cũng phải đạt được một mục tiêu chung là : - Giành thắng lợi trong cạnh tranh - Tối đa hóa lợi nhuận - Phát triển Thương hiệu Chỉ có như vậy, công nghệ mới có thể tồn tại và phát triển để phục vụ cho các mục tiêu khác. 1.1.2. Quản lý công nghệ Ở tầm vi mô (doanh nghiệp), quản lý công nghệ nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp luôn luôn giành thắng lợi trong cạnh tranh, tối đa hóa được lợi nhuận, xây dựng được thương hiệu của doanh nghiệp ngày càng mạnh và luôn luôn phát triển bền vững. Quản lý công nghệ ở doanh nghiệp là hệ thống các hoạt động khả thi để làm cho công nghệ luôn luôn được duy trì và phát triển phù hợp với mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Nội dung của quản lý công nghệ trong doanh nghiệp bao gồm: - Xây dựng hệ thống cập nhật thông tin công nghệ và xác lập các tài liệu để có căn cứ quản lý; - Thực hiện các nội dung quản lý kỹ thuật và quản lý chất lượng toàn diện (như: quản lý quy trình, quản lý tiêu chuẩn, định mức, quản lý cơ điện …); - Kiểm kê, đánh giá công nghệ và tình hình cạnh tranh; - Dự báo công nghệ; 17 - Đổi mới và phát triển công nghệ. Ở tầm vĩ mô (quốc gia), quản lý công nghệ nhằm đảm bảo cho quốc gia có một nền công nghệ luôn hướng tới tính cạnh tranh và hiệu quả cao đồng thời nâng cao được vị thế của quốc gia trên trường quốc tế. Quản lý công nghệ ở tầm vĩ mô là việc Nhà nước thực thi những công cụ luật pháp và chính sách để làm cho sự phát triển công nghệ của đất nước (trước hết là các doanh nghiệp, các cơ sở nghiên cứu triển khai, các trường Đại học và Cao đẳng,…) luôn luôn phù hợp với những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ và sự phát triển đó không để lại những hậu quả tiêu cực (như ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái, phá hoại cảnh quan, …). Ở tầm quốc gia, quản lý công nghệ có những nội dung chủ yếu sau: - Xác lập và đưa vào hoạt động một hệ thống thống kê, theo dõi công nghệ ở cấp quốc gia để thường xuyên đánh giá được trình độ công nghệ của quốc gia so với trình độ chung trên thế giới; - Tạo ra một nhận thức chung trong xã hội về sự cần thiết phải phát triển trên cơ sở công nghệ (đặc biệt là trong giới doanh nghiệp, các cơ quan quản lý Nhà nước, các cơ quan nghiên cứu, triển khai); - Xây dựng Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ quốc gia và Chính sách phát triển công nghệ quốc gia; - Xây dựng và phát triển các cơ cấu hạ tầng của công nghệ, bao gồm: Các trung tâm nghiên cứu - triển khai, marketing công nghệ (thuộc Nhà nước và các thành phần kinh tế khác nhau, đặc biệt là kinh tế tư nhân); các trung tâm đánh giá năng lực, nhu cầu công nghệ và dự báo công nghệ (ở tầm quốc gia, ngành, khu vực); các trung tâm liên kết giữa các Bên sử dụng công nghệ với các Bên có công nghệ (tư vấn, môi giới …); các trung tâm dịch vụ thông tin công nghệ phục vụ cho giám sát, đánh giá và ra quyết định công nghệ; các cơ sở đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác quản lý công nghệ ở tầm vi mô và vĩ mô cho các thành phần kinh tế; các trường Đại học và các cơ sở bồi dưỡng chuyên gia về công nghệ; ban hành các chính sách của luật pháp để hướng toàn xã hội vào việc phát triển 18 công nghệ theo những trọng tâm mà “Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ quốc gia” và “Chính sách phát triển công nghệ quốc gia” đã vạch ra. - Lập và đưa vào hoạt động các Quỹ để hỗ trợ và khuyến khích việc phát triển công nghệ. - Lập và đưa vào hoạt động Hội đồng tư vấn công nghệ quốc gia có uy tín để định kỳ đánh giá tình hình quản lý công nghệ ở tầm vĩ mô và đề xuất những biện pháp điều chỉnh cần thiết. 1.1.3. Đổi mới và phát triển công nghệ Đổi mới công nghệ là một phần quan trọng của quá trình quản lý công nghệ, trong quá trình đổi mới công nghệ, người ta lựa chọn, thay thế một phần hoặc toàn bộ những giải pháp (hàm chứa trong 04 thành phần: vật thể, thông tin, con người, thể chế) tập hợp trong một hệ thống đang được sử dụng bằng những biện pháp mới để tạo ra một sản phẩm, một công trình hoặc một dịch vụ tiến bộ hơn, với tiêu hao vật tư, năng lượng và làm ô nhiễm môi trường ít hơn; Đổi mới công nghệ cũng có nghĩa là tạo dựng những hệ thống công nghệ hoàn toàn mới theo hướng hiện đại của thế giới để làm ra những sản phẩm, những công trình, những dịch vụ mới thích hợp với yêu cầu của thời đại. Đổi mới công nghệ (đổi mới một phần hoặc toàn bộ những giải pháp đang được áp dụng) có các nội dung chủ yếu sau: - Đánh giá công nghệ đang sử dụng (xét khả năng công nghệ có còn làm ra sản phẩm, công trình, dịch vụ được thị trường chấp nhận không, công nghệ còn mang lại hiệu quả không, duy trì công nghệ có ảnh hưởng đến công nghệ không, nếu không thì phải đổi mới những gì, đổi mới một phần hay toàn bộ hệ thống công nghệ). - Nghiên cứu quy cách, mức chất lượng của sản phẩm, công trình, dịch vụ; Nghiên cứu thị trường mục tiêu của sản phẩm, công trình, dịch vụ; Nghiên cứu, làm rõ môi trường hoạt động của công nghệ; Nghiên cứu xác định tính cạnh tranh và hiệu quả của công nghệ (trường hợp làm ra những sản phẩm, công trình, dịch vụ hoàn toàn mới hoặc có những tính năng mới với giá cả mới). 19 - Nghiên cứu nhận dạng những đặc điểm chủ yếu của công nghệ sẽ tạo dựng (đặc biệt, làm rõ tính đồng bộ của công nghệ, tính hiện đại của công nghệ, tính thích hợp của công nghệ, tính thân thiện môi trường của công nghệ …) và định hướng lựa chọn vào một vài dạng công nghệ, chủ yếu là những công nghệ còn đang sung sức trong vòng đời của nó. - Nghiên cứu khả thi Dự án Đổi mới công nghệ để bảo đảm chắc chắn rằng dự án là khả thi và không có những rủi ro ngoài tầm kiểm soát, phê duyệt dự án đồng thời chuẩn bị những điều kiện để đầu tư (vốn, người quản lý dự án, các nguồn cung cấp cho dự án …). - Thực hiện dự án: ký các Hợp đồng tư vấn, thiết kế, cung cấp thiết bị, xây lắp, đào tạo, chuyển giao công nghệ, vv và vv… quản lý Hợp đồng để bảo đảm cho dự án hoàn thành đúng tiến độ và có chất lượng. - Vận hành và khai thác dự án. - Định kỳ đánh giá, rút kinh nghiệm về quá trình đổi mới công nghệ. Các nguồn cung cấp công nghệ cho hoạt động đổi mới công nghệ ở hầu hết các nước thông thường bao gồm: - Các nguồn tại chỗ (các nguồn trong Công ty, Tập đoàn …). - Từ người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài sinh sống và làm việc tại Việt Nam. - Từ các cơ sở nghiên cứu - triển khai như: các Viện, các Trung tâm nghiên cứu, các trường Đại học (thường là ở trong nước). - Từ các doanh nghiệp trong và nhất là các doanh nghiệp ngoài nước (nếu chuyển giao từ các doanh nghiệp ngoài nước cho các doanh nghiệp trong nước, thì gọi đó là “chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam”). 1.1.4. Chuyển giao công nghệ Chuyển giao công nghệ là mang kiến thức kỹ thuật vượt qua sự giới hạn trong hay ngoài nước từ các công ty, các trường đại học, các viện nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, các doanh nghiệp khoa học ươm tạo công nghệ,… đến những nơi 20 có nhu cầu tiếp nhận công nghệ. Cho đến nay, đã có nhiều định nghĩa về chuyển giao công nghệ, luận án chỉ xin nêu một số định nghĩa như sau: Chuyển giao công nghệ là sự trao đổi tri thức kỹ thuật, dữ liệu, các bản vẽ thiết kế, các phát minh, sáng chế, các bí quyết, các thiết bị, các quy trình sản xuất, vận hành và các kỹ năng quản lý từ một tổ chức này sang một tổ chức khác. Chuyển giao công nghệ là việc có được công nghệ nước ngoài và là một quá trình vật chất về cơ bản, một mặt đi liền với việc đào tạo toàn diện và mặt khác là sự hiểu biết và học hỏi (ESCAP, 1986). Chuyển giao công nghệ thường là cách gọi việc mua công nghệ mới. Nó thường xảy ra do có sự tồn tại của “người mua” và “người bán”. Người bán thường được gọi là “người giao hay bên giao công nghệ” và người mua thường được gọi là “người nhận hay bên nhận công nghệ” của quá trình hoạt động chuyển giao công nghệ. Ở quy mô toàn cầu, chuyển giao công nghệ thường diễn ra: giữa hai nước phát triển; giữa hai nước đang phát triển; giữa một nước phát triển và một nước đang phát triển. Theo quy định tại Bộ Luật dân sự năm 2005 (Chương III, Phần thứ 6), các đối tượng chuyển giao công nghệ trên lãnh thổ Việt Nam bao gồm: - Các đối tượng sở hữu công nghiệp như sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa có hoặc không kèm theo máy móc, thiết bị mà pháp luật cho phép chuyển giao. - Các bí quyết (Know-how) hay kiến thức kỹ thuật về công nghệ dưới dạng phương án công nghệ, các giải pháp kỹ thuật, quy trình công nghệ, phần mềm máy tính, tài liệu thiết kế, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật có hoặc không kèm theo máy móc, thiết bị. - Các dịch vụ kỹ thuật, đào tạo nhân viên kỹ thuật, cung cấp thông tin về công nghệ chuyển giao. - Các giải pháp hợp lý hóa sản xuất.
- Xem thêm -