Chính sách phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ hội nhập

  • Số trang: 102 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 24 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC Chuyên ngành: Chính sách Khoa học và Công nghệ Mã số: 60.34.70 Khóa học: 2007-2010 NGƯỜI THỰC HIỆN: Trịnh Vũ Hồng Nga HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TS. Vũ Cao Đàm HÀ NỘI - 2010 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC Chuyên ngành: Chính sách Khoa học và Công nghệ Mã số: 60.34.70 Khóa học: 2007-2010 NGƯỜI THỰC HIỆN: Trịnh Vũ Hồng Nga HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TS. Vũ Cao Đàm HÀ NỘI - 2010 1 MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................................. 1 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN ..................................................................... 7 1.1. Một số khái niệm liên quan ................................................................. 7 1.1.1. Khái niệm về thông tin và thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn .............................................................................................. 7 1.1.2. Khái niệm về hoạt động thông tin KH&CN ................................ 12 1.1.3. Khái niệm về mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn ........................................................................................... 17 1.2. Vai trò của thông tin KH&CN đối với nông nghiệp nông thôn ...... 20 1.3. Kinh nghiệm các nước về công tác phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn .................................................... 23 1.3.1. Mạng thông tin nông thôn tại Ấn Độ .......................................... 23 1.3.2. Mạng thông tin về Phát triển nông thôn tại Băng la đét ............. 26 Kết luận chương 1 ..................................................................................... 31 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KH&CN PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TẠI MỘT SỐ TỈNH PHÍA BẮC ................................................................................................................. 32 2.1. Thực trạng chính sách thông tin KH&CN ........................................ 32 2.2. Thực trạng mạng lưới cung cấp thông tin KH&CN phục vụ nông nghệp nông thôn và miền núi ......................................................................... 34 2.2.1. Mô hình cung cấp thông tin KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi ................................................................... 34 2.2.2. Thực trạng mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn ở một tỉnh phía Bắc từ năm 1990 đến nay ..................................... 40 2.2.2.1. Đặc điểm của nông thôn các tỉnh phía Bắc ............................. 40 2.2.2.2. Hiện trạng mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn miền Bắc hiện nay ........................................................................... 42 2.3. Phân tích, đánh giá thực trạng mạng lưới thông tin KH&CN phục 4 vụ nông nghiệp nông thôn các tỉnh phía Bắc trong thời kỳ hội nhập ......... 57 Kết luận Chương 2 ................................................................................... 62 CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KH&CN PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN CÁC TỈNH PHÍA BẮC TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP ..................................... 64 3.1. Định hướng, quan điểm chính sách phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn .................................................... 64 3.1.1. Định hướng, chiến lược phát triển thông tin KH&CN trong giai đoạn 2015 ................................................................................................. 64 3.1.2. Quan điểm chính sách phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn .................................................................... 65 3.2. Đề xuất chính sách phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn .............................................................................. 69 3.2.1. Chính sách tạo nguồn và phát triển nguồn tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn .............................................................................. 72 3.2.2. Chính sách liên kết và mở rộng khả năng khai thác thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn ...................................................... 73 3.2.3. Chính sách phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn ................................................... 74 3.2.4. Chính sách đào tạo nguồn nhân lực ........................................... 75 3.2.5. Chính sách sở hữu thông tin ...................................................... 76 3.3. Giải pháp thực hiện ........................................................................... 77 Kết luận Chương 3. .................................................................................. 82 KHUYẾN NGHỊ ............................................................................................ 85 KẾT LUẬN .................................................................................................... 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 89 5 KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT Tên đầy đủ Viết tắt CNTT Công nghệ thông tin CNH – HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa CSDL Cơ sở dữ liệu ĐCSVN Đảng Cộng sản Việt Nam ĐTNCSHCM Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ICT Công nghệ thông tin và truyền thông KH&CN Khoa học và công nghệ KHKT Khoa học kỹ thuật KTQT Kinh tế quốc tế QPPL Quy phạm pháp luật SHTT Sở hữu trí tuệ TBKT Tiến bộ kỹ thuật TT-TV Thông tin – Thư viện TW Trung ương UBND Ủy ban nhân dân VISTA Vietnam Information for Science and Technology Advance – Thông tin Khoa học và công nghệ tiên tiến Việt Nam XHCN Xã hội chủ nghĩa 3 LỜI NÓI ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại là nòng cốt dẫn tới sự hình thành xã hội thông tin, trong đó thông tin đóng vai trò quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển bền vững. Thông tin khoa học và công nghệ đã trở thành một trong những nguồn lực phát triển quan trọng của mỗi quốc gia. Sự phân biệt giàu – nghèo hiện đang là vấn đề nan giải của cả nhân loại, song ở một chừng mực nhất định thế giới đang phải đối mặt với sự phân biệt nghiêm trọng hơn, khó khắc phục hơn, đó là sự phân biệt về thông tin. Trên quy mô toàn cầu cũng như trong mỗi quốc gia, mỗi địa phương, ở đâu cũng có sự phân biệt giữa một nhóm người có thông tin và nhóm người không có thông tin. Ngày nay, bị tước bỏ hoặc không có cơ hội truy cập, sử dụng thông tin đồng nghĩa với việc bị đặt sang bên lề của sự phát triển. Nông nghiệp và nông thôn là khu vực đông dân cư nhất, lại có trình độ phát triển nhìn chung là thấp nhất so với các khu vực khác của nền kinh tế. Nông dân chiếm hơn 70% dân số và hơn 76% lực lượng lao động cả nước, đóng góp từ 25% - 27% GDP của cả nước. Mặt khác, khu vực nông thôn hiện có tài nguyên lớn về đất đai và các tiềm năng thiên nhiên: hơn 7 triệu ha đất canh tác, 10 triệu ha đất canh tác chưa sử dụng; các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là sản phẩm nông - lâm - hải sản (như cà-phê, gạo, hạt tiêu...). Nông nghiệp nông thôn còn giữ vai trò chủ đạo trong việc cung cấp các nguồn nguyên, vật liệu cho phát triển công nghiệp - dịch vụ. Bộ mặt nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong thời gian vừa qua đã có nhiều đổi mới, từ chỗ bị thiếu ăn, phải nhập khẩu gạo, đến nay đã và đang xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan). Tuy nhiên, vẫn còn đó những hạn chế, yếu kém, mà nhiều năm nay vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu. Chẳng hạn, vốn đầu tư cho khu vực này vẫn thấp (chiếm 11% - 12% tổng đầu tư toàn xã hội); sản phẩm nông nghiệp lại chủ yếu thiên về số lượng, chứ chưa nâng cao về chất lượng, giá thành nông sản còn cao, năng suất lao động và hiệu quả sản 6 xuất còn thấp; sản lượng nông sản tuy tăng nhưng chi phí đầu vào vẫn tăng cao (chi phí cho sản xuất 1ha lúa tăng từ 1 triệu đến 1,5 triệu đồng), trong khi giá các mặt hàng nông sản trên thị trường quốc tế lại giảm. Trình độ dân trí của một bộ phận nông dân (nhất là vùng sâu, vùng xa) chưa được cải thiện, đời sống, xã hội nông thôn mặc dù có sự chuyển biến song chưa mạnh và không đồng đều. Tình trạng đó dẫn đến sự chênh lệch giữa khu vực thành thị và nông thôn ngày càng lớn. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng thế giới (WB) (năm 2003) hệ số chênh lệch giữa thành thị và nông thôn còn là 3,65 lần. Trong khi đó, các chính sách và biện pháp mà Nhà nước đã áp dụng cho phát triển nông nghiệp những năm gần đây chưa tạo bước đột phá mạnh. Nghị quyết 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã đưa ra các chương trình và giải pháp lớn, trong đó có nêu: " …Nhà nước có chính sách đầu tư phát triển hệ thống thông tin nông nghiệp hiện đại; từng bước ứng dụng công nghệ thông tin trong nông nghiệp và nông thôn; Kết luận của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6, khóa IX đã nêu: "… Chú trọng chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật và thành tựu KH&CN cho nông nghiệp nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn"; Nghị quyết 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX chỉ rõ chủ trương và giải pháp chủ yếu: "…Tập trung phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, tăng cường sự giúp đỡ, hỗ trợ của Nhà nước, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi…"; Ngày 28/02/2001 Bộ Chính trị có đưa ra Chỉ thị 63-CT/TW về việc đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; Đại hội X Đảng CSVN đã định: "Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn vẫn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng. Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông 7 nghiệp, nông thôn". Như vậy thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn là xu thế tất yếu của con đường phát triển nông nghiệp ở nước ta theo hướng hiện đại, xóa dần khoảng cách giữa thành thị với nông thôn. Chỉ có tiến hành công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn mới giải quyết được những vấn đề nan giải của nông nghiệp, nông thôn nước nhà là: sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún, sản phẩm không đồng đều, chất lượng kém, năng suất thấp. Một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra vấn đề trên là do nông dân thiếu thông tin về thị trường; thiếu kiến thức về khoa học và công nghệ, không được tiếp thu và cập nhật với các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong trồng trọt và chăn nuôi, không có các địa chỉ tin cậy để tư vấn... . Như vậy, để góp phần nâng cao dân trí và trình độ nhận thức của người dân ở vùng nông thôn, và để người dân được tiếp cận với những kiến thức khoa học chuyên ngành tiên tiến thì công tác thông tin KH&CN cho nông nghiệp nông thôn phải được đẩy mạnh. Phải có sự chia sẻ, liên kết thông tin đa chiều: theo chiều dọc giữa trung ương và địa phương, theo chiều ngang giữa các tổ chức trong ngành, giữa các địa phương với nhau. Và để thực hiện tốt được mục tiêu này thì cần phải có một chính sách đồng bộ phát triển mạng lưới thông tin, đưa thông tin về với người dân vùng nông thôn, phục vụ sản xuất nông nghiệp nông thôn. Vì vậy đề tài nghiên cứu "Chính sách phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ hội nhập" là đề tài có tính cấp thiết, đồng thời mang lại ý nghĩa to lớn cho đời sống của người dân nông thôn nói riêng, cũng như cho nền nông nghiệp nông thôn nói chung. 2. Lịch sử nghiên cứu: Trong thời gian qua, đã có rất nhiều đề tài, dự án nghiên cứu về chính sách thông tin KH&CN, hệ thống thông tin như: "Nghiên cứu mạng lưới thông tin và quản lý Nhà nước đối với hoạt động thông tin ở các nước kinh tế thị trường" (Tác giả: Nguyễn Hữu Hùng); "Chương trình và kế hoạch phát 8 triển thông tin KH&CN nước ta giai đoạn đến năm 2020" (Tác giả: Tạ Bá Hưng); "Nghiên cứu xây dựng và phát triển hệ thống thông tin khoa học kỹ thuật quốc gia" (Tác giả: Phạm Văn Vu); "Nghiên cứu xây dựng cơ chế tổ chức và khai thác hiệu quả ngân hàng dữ liệu khoa học và công nghệ quốc gia tại Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa" (Tác giả: Cao Minh Kiểm)… Tuy nhiên chưa có đề tài nào đi sâu vào nghiên cứu, đề xuất chính sách phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp nông thôn. 3. Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu đề xuất chính sách phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn đảm bảo cơ chế trao đổi thông tin mở, đa chiều, tiện dụng. 4. Phạm vi nghiên cứu: Nội dung: Nghiên cứu đề xuất chính sách phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp nông thôn của Bộ Khoa học và Công nghệ. Thời gian: từ năm 1990 đến nay. Không gian: các tỉnh phía Bắc. 5. Mẫu khảo sát: Khảo sát mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn tại Cục Thông tin KH&CN Quốc gia; và một số trung tâm thông tin của địa phương. 6. Vấn đề nghiên cứu: - Mạng lưới thông tin KH&CN có ý nghĩa như thế nào trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn? - Thực trạng mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn hiện nay ra sao? - Cần có giải pháp chính sách gì để phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn với cơ chế trao đổi thông tin mở, đa 9 chiều, tiện dụng. 7. Giả thuyết nghiên cứu: - Mạng lưới thông tin KH&CN có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nông thôn nói chung và nông nghiệp nông thôn nói riêng. Về phương diện sản xuất: thông qua các mạng lưới thông tin, người nông dân có cơ hội tiếp cận với khoa học công nghệ tiên tiến giúp nâng cao năng suất lao động. Đồng thời người nông dân còn có được các địa chỉ tư vấn cần thiết theo chuyên ngành sản xuất; rộng hơn nữa người dân còn có thể với tới thị trường KH&CN toàn quốc. Về mặt xã hội: thông tin KH&CN giúp nâng cao dân trí, từng bước xóa bỏ những tập tục lạc hậu, những quan niệm sai lệch, phi khoa học trong cuộc sống thường ngày. - Từ năm 1990 đến năm 2002: Mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn chưa đủ năng lực để kiểm soát tốt các nguồn thông tin trong nước, nội dung còn thiếu nhiều mảng. Chưa đồng bộ trong công tác tin học hóa, việc khai thác tin mất nhiều công sức, không hiệu quả. Từ năm 2002 đến nay: Mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn đã được tin học hóa nhưng còn hạn chế trong việc trao đổi, liên kết thông tin, chưa tạo ra kênh chuyển giao thông tin có hiệu quả. - Đề xuất giải pháp chính sách: Nhà nước cần đưa ra nhóm chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo nhân lực, phát triển hạ tầng, … nhằm thiết lập một cổng thông tin KH&CN để phát triển, liên kết thành mạng lưới nhằm đảm bảo cơ chế trao đổi thông tin mở, đa chiều có hiệu quả, tiện dụng. 8. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu Phương pháp chuyên gia Phương pháp khảo sát 9. Dự kiến luận cứ: - Luận cứ lý thuyết: + Cơ sở thông tin học. Đoàn Phan Tân. Hà Nội, 1998 10 + Thông tin: Từ lý luận tới thực tiễn. Nguyễn Hữu Hùng. Hà Nội, 2005. - Luận cứ thực tiễn: + Nghị định số 159/2004/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động thông tin KH&CN, + Luật KH&CN; Luật Chuyển giao công nghệ, các văn bản Chính phủ về KH&CN, + Báo cáo: "Mô hình cung cấp thông tin KH&CN cho nông nghiệp nông thôn của Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia cho tỉnh Ninh Bình tại 4 xã: Đồng Phong, Khánh Nhạc, Ninh Phong, Yên Thắng", + Một số báo cáo, số liệu điều tra tại Trung tâm thông tin KH&CN các tỉnh. 10. Kết cấu luận văn: Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, luận văn có các chương sau đây: Chương 1. Cơ sở lý luận. Chương 2. Thực trạng mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn tại một số tỉnh phía Bắc. Chương 3. Đề xuất chính sách phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn các tỉnh phía Bắc trong thời kỳ hội nhập. 11 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Một số khái niệm liên quan: 1.1.1. Khái niệm về thông tin và thông tin KH&CN: a) Khái niệm thông tin: Trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình, con người thường xuyên cần đến thông tin. Ngày nay, với sự bùng nổ thông tin, thông tin càng trở thành một trong những nhu cầu sống còn của con người và khái niệm "thông tin" đang trở thành khái niệm cơ bản của nhiều khoa học. Thông tin là một hiện tượng vốn có của thế giới vật chất. Nhưng không phải ngay từ đầu thông tin đã được con người nhận thức ở cấp độ khái niệm. Lần đầu tiên thông tin được con người chú ý nghiên cứu về mặt ý nghĩa xã hội của nó và được đề cập đến trong lý thuyết báo chí vào những năm 20 - 30 của thế kỷ XX. Theo cách hiểu kinh điển thì thông tin chính là những cái mới khác với những điều đã biết. Và thông tin đã trở thành đối tượng nghiên cứu chủ yếu, trực tiếp của điều khiển học, của lý thuyết thông tin và tin học. Từ đó có rất nhiều định nghĩa về thông tin. Nhìn chung, những định nghĩa đó đều cố gắng tiếp cận với bản chất của thông tin nhưng chỉ từ những góc độ, phương diện nhất định nào đó của nó. Có thể xem xét thông tin từ góc độ phân biệt các loại thông tin như thông tin kinh tế, thông tin khoa học - kỹ thuật, thông tin văn hoá - xã hội… Để làm rõ bản chất chung nhất của thông tin chúng ta sẽ tiếp cận với một số định nghĩa khác nhau về thông tin như sau: - Theo định nghĩa thông thường: thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một người có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh. - Trên quan điểm triết học: thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã 12 hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh…hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người. - Trên quan điểm của lý thuyết thông tin: thông tin là sự loại trừ tính bất định của hiện tượng ngẫu nhiên. Trong thời đại thông tin hiện nay, để có thể làm chủ được thông tin, khai thác và sử dụng nó một cách có hiệu quả, chúng ta ngoài việc hiểu cái bản chất chung nhất của thông tin, đó là: "Cái đa dạng được phản ánh", thì việc tìm hiểu các đặc điểm, thuộc tính.. của nó mới chính là mục tiêu để nắm bắt, làm chủ và khai thác thông tin. b) Một số thuộc tính cơ bản của thông tin: * Chất lượng thông tin: - Thông tin phải xác thực và đúng đắn (phù hợp với thực tế). Độ tin cậy được tăng lên nếu thông tin được kiểm tra bằng các phương tiện độc lập. - Thông tin phải được cập nhật đầy đủ và chính xác. - Thông tin phải dễ hiểu tức là người nhận có thể lĩnh hội được. - Thông tin có chất lượng thấp là những thông tin sai lạc hoặc bị bóp méo, trái ngược với các thông tin khác, trình bày nghèo nàn, khó lĩnh hội… *Giá trị thông tin: - Theo nghiên cứu gần đây, có 4 yếu tố đem lại giá trị thông tin là : Tính chính xác; Phạm vi bao quát của nội dung; Tính cập nhật; Tần số sử dụng. - Trên bình diện tổng quát: thông tin có giá trị là những thông tin có tính chất riêng biệt (làm thông tin phù hợp với yêu cầu của người sử dụng) và thông tin có tính chất dự báo (cho phép lựa chọn một quyết định trong nhiều khả năng cho phép). - Trên ý nghĩa rộng hơn: giá trị thông tin nằm trong quyền lực tổ chức của nó – thông tin phản ánh cái xác định, trật tự trong các mối quan hệ của tổ chức, thông tin có giá trị cao làm môi trường tốt lên và đưa ra được những quyết định đối phó được với sự thay đổi của hoàn cảnh. 13 * Giá thành của thông tin: Giá thành của thông tin phụ thuộc 2 yếu tố: - Lao động trí tuệ: bao gồm việc hình thành ra thông tin và xử lý nội dung thông tin hay còn gọi là việc tạo nên giá trị của thông tin. - Các yếu tố vật chất: đó là các phương tiện xử lý và lưu trữ thông tin, các phương tiện truyền tin. Đối với các yếu tố vật chất việc định giá thường dễ dàng theo giá thị trường. Thông tin có thể trở thành hàng hoá khi được lặp lại với số lượng lớn và được ghi ra trên các phương tiện vật chất phổ biến. Ngược lại có những thông tin thuần khiết và người sáng tạo ra thông tin có quyền sở hữu chúng và được đảm bảo bằng pháp luật (Luật SHTT). c) Các hình thức thông tin: Thông tin KH&CN cũng như các thông tin khác được thu thập từ 2 nguồn gồm: nguồn tin KH&CN nội sinh và nguồn tin KH&CN được nhập từ nước ngoài (dưới các hình thức khác nhau). - Nguồn tin KH&CN nội sinh: Trong một đất nước, nguồn tin nội sinh được sản sinh dựa trên sức lực trí tuệ và vật chất của một quốc gia. Cơ quan thông tin KH&CN thuộc sở hữu Nhà nước được cấp kinh phí để thu thập, quản lý đầy đủ các dạng nguồn tin KH&CN nội sinh và tạo lập các nguồn tin nội sinh phù hợp với chức năng và diện phục vụ của mình. Các cơ quan hữu quan cần có những giải pháp thích hợp đế thực hiện việc lưu chiểu đặc biệt là đối với tài liệu nội sinh được số hóa trên các mạng thông tin. Các nguồn tin KH&CN nội sinh rất đa dạng, bao gồm các loại sau: Sách, Báo, tạp chí, tài liệu chép tay, Luận án khoa học; Báo cáo kết quả nghiên cứu và phát triển KH&CN; Tư liệu và số liệu điều tra cơ bản; Báo cáo các đoàn tham quan, khảo sát; Tài liệu hội nghị, hội thảo về KH&CN, các hình thức lưu trữ qua phim, nhạc, truyền khẩu ... - Nguồn tin KH&CN được nhập từ nước ngoài: 14 Nguồn tin KH&CN được nhập từ nước ngoài theo các hình thức khác nhau như mua (chủ yếu bằng ngân sách Nhà nước), trao đổi, biếu tặng... Đối với kế hoạch mua nguồn tin nước ngoài, việc phát triển nguồn tin cần được thực hiện theo một số nguyên tắc cơ bản là: + Xác định rõ nguồn tài liệu nào đáp ứng đúng nhu cầu trong nước; + Kết hợp chặt chẽ kế hoạch bổ sung giữa các cơ quan trong toàn hệ thống; + Kết hợp chặt chẽ giữa công tác bổ sung với công tác hợp tác quốc tế về thông tin KH&CN, cùng với khả năng khai thác trên mạng thông tin; + Chú trọng tới yêu cầu về tính có hệ thống, tính liên tục của nguồn bổ sung; + Chú trọng phát triển nguồn tin số hóa để nâng cao khả năng khai thác chung, tiết kiệm chi phí luân chuyển, bảo quản và lưu trữ. Các nguồn thông tin quốc gia phải được thu thập, xử lý và lưu trữ dưới dạng các CSDL để có thể đưa ra phục vụ một cách nhanh nhất. Việc xây dựng hạ tầng cơ sở thông tin phải coi là điểm đột phá trong hoạt động thông tin KH&CN để phục vụ phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế-xã hội của đất nước. Các cơ quan thông tin KH&CN cần được trang bị các thiết bị mạnh để có thể kết nối với các mạng khác trong các ngành kinh tế của đất nước và truy cập được tới các nguồn tin trên Internet. Nhà nước nghiên cứu ban hành các chính sách bưu cước đối với các loại ấn phẩm và giảm cước viễn thông truy cập vào các cơ sở dữ liệu quốc gia và truy cập vào Intemet không vì mục đích lợi nhuận. Đẩy mạnh việc chia sẻ thông tin trong toàn hệ thống. Cần có các quy định và thỏa thuận về việc cho mượn tài liệu giữa các thư viện trong toàn hệ thống. d) Các hình thức mang thông tin: Các hình thức mang thông tin cơ bản bao gồm: - Tài liệu văn bản: đó là các sách, bài tạp chí, tài liệu hội nghị, hội thảo khoa học, các bản mô tả thiêt bị, công nghệ (catalô sản phẩm), đặc biệt là các 15 sách phổ biến kỹ thuật mới, các cẩm nang, tra cứu, tài liệu hướng dẫn, ... có thể được đọc trực tiếp trên máy tính hoặc in, sao ra giấy để đọc lại khi có yêu cầu. - Tài liệu nghe nhìn, tài liệu đa phương tiện (multimedia): Các phim KH&CN giới thiệu và phổ biến các kỹ thuật tiến bộ, kỹ thuật nuôi trồng, chế biến, chăm sóc, bảo quản nông lâm, thủy sản. Các tài liệu đồ họa, âm thanh, tiếng nói nhạc ... có thể được xem trực tiếp tại Trung tâm thông tin KHCN của xã hoặc mượn về xem tại nhà, thôn bản cụ thể trên các phương tiện điện tử gia dụng (TV, đầu đọc VCD/DVD, ...). - Tài liệu điện tử trực tuyến: việc kết nối Internet cho phép truy cập và khai thác các nguồn tin điện tử trực tuyến trên mạng Internet, nhất là các tin tức thời sự trong nước và thế giới, các thông tin về giá cả, thị trường hữu quan, tin tức tuyển sinh của con em trong xã. Đặc biệt Bản tin điện tử Nông nghiệp nông thôn đổi mới trên mạng VISTA và các bản tin về giá cả nông sản trên mạng Agroviet rất thiết thực với bà con. - Tài liệu "sống": đó là thông tin về các chuyên gia, các tổ chức tư vấn, chuyển giao công nghệ. Người dân có thể tra cứu trong CSDL chuyên gia để biết và liên hệ trực tiếp với các nhà khoa học, các chuyên gia (nguồn tài liệu "sống") để được giải đáp thắc mắc, được tư vấn về những vấn đề chuyển giao công nghệ hoặc áp dụng kỹ thuật mới. e) Thông tin Khoa học và Công nghệ phục vụ nông nghiệp nông thôn: Thông tin khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp nông thôn được hiểu là các thông tin về các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin tức, tri thức khoa học và công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp cho người dùng tin ở nông thôn bao gồm người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, người quản lý nông nghiệp nông thôn, và các bên hữu quan. Thông tin KH&CN vừa là nguồn lực của phát triển, vừa là của cải và tài sản của xã hội. Bước sang thời kỳ hậu công nghiệp, từ những năm 70 của 16 thế kỷ XX, hoạt động thông tin vừa là lĩnh vực hoạt động khoa học, vừa là bộ phận của ngành kinh tế dịch vụ. Như vậy, sản phẩm và dịch vụ của ngành thông tin là một dạng hàng hóa đặc biệt với đầy đủ các tiêu thức về giá trị và giá trị sử dụng. Hoạt động thông tin mang tính xã hội sâu sắc và cần tích cực đóng góp vào quá trình cải biến xã hội. Trong cuộc "Cách mạng thông tin", con người bao giờ cũng là nhân tố quan trọng nhất. Thông tin phải trở thành một bộ phận của ý thức xã hội, là yếu tố tổ chức để tập hợp các lực lượng trong xã hội mà trong đó người lãnh đạo, cán bộ KH&CN, các nhà quản lý kinh tế phải là lực lượng nòng cốt trong việc sản xuất ra thông tin, khai thác và sử dụng thông tin trong hoạt động thực tiễn. Sự phát triển của khoa học, công nghệ và kinh tế của nước ta cần phải gắn liền với sự phát triển của các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước trong khu vực. Việc tổ chức kiểm soát các nguồn tin trong nước, nắm bắt các thông tin nước ngoài phù hợp, đẩy nhanh quá trình làm giàu vốn tài nguyên thông tin đất nước, khai thác tốt và có lựa chọn các sản phẩm thông tin bằng nhiều phương thức và kênh khác nhau là một nhiệm vụ phức tạp đối với mọi quốc gia. Trong chính sách kinh tế - xã hội cần dành vị trí xứng đáng cho vấn đề thông tin KH&CN. Giải quyết vấn đề thông tin phải được coi là một trong những mục tiêu chiến lược của Nhà nước. Nói một cách khác là phải xây dựng một chính sách về thông tin tư liệu KH&CN, chính sách đó phải là một bộ phận hợp thành của chính sách kinh tế - xã hội. 1.1.2. Khái niệm về hoạt động thông tin KH&CN: “Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ" là hoạt động nghiệp vụ về tìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu trữ, phổ biến thông tin khoa học và công nghệ; các hoạt động khác có liên quan trực tiếp và phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ thông tin khoa học và công nghệ1. Trong thực tiễn của thế giới có một số mô hình khác nhau về tổ chức 1 Nghị định 159/2004/NĐ-CP Về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ 17 hoạt động thông tin KH&CN phụ thuộc vào tính chất sở hữu và vai trò điều chỉnh của nhà nước đối với các cơ quan thông tin KH&CN phụ thuộc vào tính chất sở hữu và vai trò điều chỉnh của nhà nước đối với các cơ quan thông tin KH&CN. Nói chung, đối với các nước đang phát triển hoặc những nước có nền kinh tế thị trường chưa được phát triển, hoạt động thông tin KH&CN thường nằm dưới sự kiểm soát toàn diện của nhà nước và được định hướng tới việc phục vụ cho những nhu cầu thông tin trong khu vực quản lý nhà nước, đảm bảo an ninh và nâng cao dân trí. Xét về mặt sở hữu, có 3 loại hình tổ chức sau đây đối với các cơ quan thông tin KH&CN: - Các cơ quan thông tin nhà nước ; - Các cơ quan thông tin tập thể (chính xác hơn là cơ quan thông tin công cộng hoặc phi thương mại); - Các cơ quan thông tin tư nhân. Tương quan và cơ cấu tổ chức giữa các loại hình tổ chức thông tin trên đây rất khác nhau theo từng nước và theo từng lĩnh vực hoạt động. Các cơ quan thông tin thuộc sở hữu nhà nước có thể tồn tại hai loại chính sau đây: - Cơ quan thông tin được nhà nước tài trợ toàn phần hoặc một phần bao gồm: Những cơ quan thông tin nằm trong hệ thống các cơ quan và chính quyền quản lý nhà nước, những thư viện công cộng quốc gia mà không coi và không thực hiện các dịch vụ thông tin có thu phí như một hoạt động kinh tế riêng biệt (ví dụ Thư viện quốc hội của Hoa Kỳ, các Thư viện quốc gia ở các nước, các Trung tâm phân tích thông tin trong các cơ quan Chính phủ); Những cơ quan thông tin có thực hiện một phần những dịch vụ thông tin có thu như một hoạt động kinh tế độc lập (ví dụ, ở nước Nga phần lớn các cơ quan thông tin toàn Liên bang như: Viện Thông tin KH&KT toàn Nga (VINITI), Trung tâm thông tin KH&KT toàn Nga (VNTIX), Thư viện KHKT 18 công cộng (GPNTP)... ở Hoa Kỳ, như: Cơ quan thông tin kỹ thuật quốc gia NTIS, Thư viện Y học quốc gia NLM, ... ; - Những cơ quan thông tin mà hoạt động thường xuyên của chúng không được nhà nước tài trợ về ngân sách: Hoạt động của các cơ quan này được thực hiện trên cơ sở tự trang trải và tự cấp vốn, nhà nước chỉ đầu tư phần hạ tầng cơ sở ban đầu như: Trụ sở, phương tiện làm việc, trang thiết bị, lương cơ bản... Các cơ quan thông tin này thường thuộc sở hữu tập thể được tổ chức rất đa dạng chúng thường là những cơ cấu tổ chức trong các hiệp hội KH&CN, các hiệp hội nghề nghiệp, các nghiệp đoàn... những tổ chức loại này thuộc nhóm các cơ quan phi chính phủ . Những cơ quan thông tin này có thể bao gồm các thể loại sau đây: - Cơ quan thông tin được các tổ chức sinh ra chúng tài trợ toàn phần hoặc một phần: Những loại cơ quan thông tin này có thể thực hiện hoặc không thực hiện các hoạt động kinh tế đối với các loại sản phẩm và dịch vụ thông tin của mình; - Cơ quan thông tin không được tài trợ bởi các tổ chức sinh ra chúng: Đối với loại cơ quan này, ngoài tài sản ban đầu về trụ sở được tổ chức cấp cho, chúng phải thực hiện hoạt động kinh tế đối với các dịch vụ và sản phẩm thông tin trên cơ sở tự hoàn vốn và tự trang trải về kinh phí. Ví dụ về loại cơ quan này là, cơ quan tóm tắt hóa học Hoa Kỳ (CAS), INSPEC, Trung tâm Thông tin Khoa học và Kỹ thuật Quốc tế ở Moskva (MXNTI). - Các cơ quan thông tin tư nhân: Đây là những cơ quan thông tin được thành lập tại các hãng hoặc những đơn vị cổ phần trên cơ sở tự huy động vốn đầu tư và tự trang trải về chi phí. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, trong khi phát triển hoạt động thông tin, không thể chỉ thuần tuý dựa trên những nguyên tắc của thị trường. Điều này được giải thích ở chỗ, cho dù đến nay, nhiều nhà nghiên cứu khẳng 19 định tồn tại một thị trường thông tin nhưng nhu cầu về thông tin và khả năng thanh toán của thị trường này không giản đơn như các thị trường vật thể vật chất khác. Từ đây không thể nóng vội chuyển toàn bộ hoạt động thông tin sang ngay tổ chức theo cơ chế thị trường. Điều đó có nghĩa là, nhà nước vẫn sẽ giữ một vai trò quan trọng trong việc cấp vốn cho hoạt động thông tin. Tuy nhiên, kinh nghiệm của nhiều nước cũng cho thấy, về một phương diện khác, ngân sách của nhà nước dành cho hoạt động thông tin ngày càng giảm đi theo tỷ lệ tương đối của chúng. Điều này có nghĩa rằng, bên cạnh nguồn tài chính của nhà nước dành cho hoạt động thông tin cần phải tạo điều kiện để đa dạng hóa nguồn vốn cho chúng. Từ đây đòi hỏi phải thay đổi cơ chế mệnh lệnh cứng nhắc của nhà nước trong việc quản lý hoạt động thông tin sang một chính sách thích ứng mềm mại hơn. Nhiệm vụ của quản lý nhà nước đối với hoạt động thông tin trong môi trường chuyển sang mô hình tổ chức hướng tới thị trường thể hiện ở những nội dung sau đây: - Bảo toàn và phát triển tính hợp lý và cân đối trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia, đáp ứng những đòi hỏi của nền kinh tế hướng tới thị trường trong khi ngân sách của nhà nước dành cho hoạt động thông tin ngày càng bị giảm sút, còn nguồn lực ngoài nhà nước được huy động cho hoạt động này mới được bắt đầu và thực sự chưa đáng kể; - Tạo lập những điều kiện về kinh tế và pháp lý để huy động được thêm các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước dành cho hoạt động thông tin, từng bước thay thế việc đầu tư cho các sản phẩm và dịch vụ thông tin bằng ngân sách sang việc đầu tư từ các nguồn lực ngoài ngân sách, trước hết đối với các lĩnh vực thông tin phục vụ cho các hoạt động kinh tế, đổi mới công nghệ, đầu tư...; - Tổ chức lại cơ cấu hạ tầng thông tin bằng cách đưa vào hệ thống thông tin quốc gia những cơ cấu và thành phần thông tin ngoài nhà nước và có chính sách để phát triển và phát huy các thành phần này trong chiến lược 20
- Xem thêm -