Chính sách lãi suất với mục tiêu tăng trưởng kinh tế của việt nam

  • Số trang: 87 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 18 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Luận văn Chính sách lãi suất với mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ­ 1 ­  CHƯƠNG1:LÃI SUẤT&CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT TRONG NỀN KINH TẾ  1.1 Lý luận cơ bản về lãi suất trong nền kinh tế  1.1.1 Khái niệm và phân loại lãi suất  1.1.1.1 Khái niệm  Lãi suất là cái giá phải trả cho việc sử dụng vốn trên một thị trường bất kỳ,  lãi suất vươn tới một mức cân bằng sao cho tổng cầu về vốn bằng tổng cung về vốn.  Hay nói cách khác, lãi suất là giá cả của quyền sử dụng một đơn vị vốn vay trong  một khoảng thời gian nhất định.Lãi suất cao hay thấp do quan hệ giữa cung và cầu  vốn quyết định.  1.1.1.2 Phân loại lãi suất  Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài có các cách phân loại như sau :  v  Phân loại theo tính chất của khoản vay  Lãi  suất chiết  khấu: áp dụng  khi ngân hàng cho  khách hàng  vay dưới hình  thức chiết khấu thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán  của khách hàng. Nó được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá  Lãi  suất tái  chiết  khấu:  áp  dụng khi  NHTW  cho các  ngân hàng  trung  gian  vay dưới hình thức chiết khấu lại các thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá ngắn hạn  chưa đến hạn thanh toán của các ngân hàng này. Nó cũng được tính bằng tỷ lệ phần  trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá.  Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau  vay  trên  thị  trường  liên  ngân  hàng.  Lãi  suất liên  ngân  hàng  được  hình  thành  qua  quan hệ cung cầu vốn vay trên thị trường liên ngân hàng và chịu sự chi phối bởi lãi  suất cho các ngân hàng trung gian vay của NHTW. Mức độ chi phối này phụ thuộc  vào sự phát triển của hoạt động thị trường mở và tỷ trọng sử dụng vốn vay NHTW  của các ngân hàng trung gian.  Lãi suất cơ bản: là lãi suất được các ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ấn định  mức lãi suất kinh doanh của mình. Lãi suất cơ bản được hình thành khác nhau tùy  từng nước, nó  có thể do NHTW  ấn định (như ở  Nhật); hoặc có  thể do tự bản thân  các  ngân  hàng  tự  xác  định  căn  cứ  vào  tình  hình  hoạt  động  cụ  thể  của  ngân  hàng ­ 2 ­  mình (ở Mỹ, Anh, Úc); hoặc căn cứ vào mức lãi suất cơ bản của một số ngân hàng  đứng đầu  rồi cộng (+) hoặc trừ (­ ) biên độ dao động theo một tỷ lệ % nhất định để  hình  thành  lãi suất  cơ  bản  của  mình  (Malaysia)  vv…Mặt  dù  khác nhau nhưng  lãi  suất  cơ  bản  của hầu hết  các nước đều hình  thành  trên  cơ  sở  thị  trường  và  có  một  mức lợi nhuận bình quân cho phép.  v  Phân loại theo giá trị thực của tiền lãi  Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất tính  theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ hay  nói cách khác là loại lãi suất chưa loại trừ đi tỷ lệ lạm phát.  Lãi suất thực: là lãi suất điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm  phát, hay nói cách khác, là loại lãi suất đã loại trừ đi tỷ lệ lạm phát. Quan hệ giữa lãi  suất thực và lãi suất danh nghĩa được phản ảnh bằng phương trình Fisher:  Lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát  Vì được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm phát nên lãi suất  thực phản ảnh chính xác khoản thu nhập thực tế từ tiền lãi mà người cho vay nhận  được hay chí phí thực của việc vay tiền. Sự phân biệt giữa lãi suất thực và lãi suất  danh nghĩa có một ý nghĩa quan  trọng bởi lẽ chính lãi suất thực chứ không phải lãi  suất danh nghĩa ảnh hưởng đến đầu tư.  v  Phân loại theo loại tiền cho vay  Lãi suất nội tệ: là lãi suất cho vay và đi vay bằng đồng nội tệ  Lãi suất ngoại tệ: là lãi suất cho vay và đi vay bằng đồng ngoại tệ  Mối liên hệ giữa hai lãi suất này là: iD = iF + ΔE ;Trong đó: iD là lãi suất nội  tệ, iF là lãi suất ngoại tệ, ΔE là mức tăng tỷ giá dự tính của đồng ngoại tệ.  1.1.2  Các nhân tố tác động đến lãi suất  1 2.1.1 Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến cung cầu vốn  Lãi suất được xem là  giá cả  của quyền sử dụng vốn vay do vậy nó  sẽ được  xác định trên cơ sở quan hệ cung cầu vốn vay trên thị trường.Cung vốn vay là khối  lượng  vốn dùng  để  cho  vay  kiếm  lời  của  các  chủ  thể  khác  nhau  trong  xã  hội.Cầu  vốn vay là nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của các chủ  thể khác nhau trong nền kinh tế. ­ 3 ­  Lãi suất  i  O  LS ­ lượng cung vốn vay  LD ­ lượng cầu vốn vay  Cung cầu vốn vay  Hình 1.1: Quan hệ giữa cung cầu vốn và lãi suất  Đường cung cầu vốn vay nói trên cho các nhà  kinh tế học một mô  hình  để  xác định lãi suất thị trường, được gọi là mô hình “khuôn mẫu tiền vay”. Điểm cân  bằng cung cầu vốn vay tại một thời điểm xác định mức lãi suất thị trường.Các nhân  tố ảnh hường đến lãi suất thị trường bao gồm:  v  Nhóm nhân tố làm lệch chuyển đường cung vốn  Tài sản và thu nhập: trong giai đoạn đang tăng trưởng kinh tế thu nhập tăng  và do đó tài sản của các chủ thể kinh tế tăng lên, làm tăng khả năng cung ứng vốn.  Rủi ro: nếu như rủi ro mất vốn khi cho vay tăng lên thì việc cho vay trở nên  kém hấp dẫn, cung vốn vay giảm xuống.  v  Nhóm nhân tố làm lệch chuyển đường cầu vốn  Khả năng sinh lợi dự tính của các cơ hội đầu tư: càng có nhiều cơ hội đầu tư  sinh lợi thì càng làm tăng nhu cầu đi vay. Điều này thường thấy trong điều kiện nền  kinh tế tăng trưởng. Khi kinh tế tăng trưởng, các cơ hội đầu tư sinh lời tăng lên làm  cho nhu cầu vay vốn tăng mạnh. Mặt khác, trong điều kiện kinh tế phát triển, của  cải cũng tăng lên và sẽ kích thích tăng cung vốn vay. Vậy lãi suất sẽ tăng hay giảm?  Trong thực tế thì lãi suất cân bằng trong những điều kiện như vậy thường tăng lên  do hiệu ứng tăng cung vốn vay từ tăng của cải diễn ra chậm hơn tăng cầu vốn vay  do nền kinh tế tăng trưởng nhanh.  Lạm phát dự  tính:  chi phí thực  của  việc vay  tiền được  xác  định  chính  xác  hơn bằng lãi suất thực, nó bằng lãi suất danh nghĩa trừ đi lạm phát dự tính. Với một ­ 4 ­  mức lãi suất cho trước, khi lạm phát dự tính tăng lên thì chi phí thực của việc vay  tiền giảm xuống, điều này làm tăng nhu cầu vay vốn.  Khi lạm phát dự  tính tăng lên, lợi tức dự  tính của việc cho vay so với việc  đầu tư vào các tài sản hữu hình giảm xuống tại mọi mức lãi suất làm cho cung vốn  vay giảm. Lạm phát dự tính xảy ra cũng làm cho chi phí thực của việc vay tiền giảm  dẫn  đến nhu  cầu  vay  vốn  tăng  lên. Kết quả  là  lãi  suất  cân bằng  tăng.  Nhà  kinh  tế  học Irving Fisher là người đầu tiên đã nêu ra sự liên hệ giữa lạm phát dự tính với lãi  suất vì vậy mối liên hệ đó còn được gọi là hiệu ứng Fisher.  Tình hình ngân sách chính phủ: vì chính phủ các nước hiện nay có xu hướng  tài trợ cho thâm hụt ngân sách bằng đi vay nên tình trạng thâm hụt ngân sách của  chính phủ sẽ tác động đến nhu cầu vay vốn của chính phủ và do đó tác động đến  nhu cầu vay vốn của nền kinh tế.  1.1.2.2  Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến cung cầu tiền tệ  Ứng với mỗi một mức cung cầu tiền sẽ xác định được một lãi suất cân bằng  tương ứng. Cho nên có thể nói những nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ cung cầu tiền  tệ trên thị trường cũng sẽ ảnh hưởng đến sự biến động của lãi suất trên thị trường.  Lãi suất  MS1     MS2  i1  MD  i2  Cung cầu tiền  Hình 1.2 : Mô hình khuôn mẫu ưa thích tiền mặt  Để phân tích sự ảnh hưởng của cung cầu tiền tệ tới mức lãi suất cân bằng ,  mô hình “khuôn mẫu ưa thích tiền mặt” ở hình trên được sử dụng. Khuôn mẫu  ưa  thích tiền mặt cho thấy lãi suất cân bằng thay đổi khi các đường cung, cầu tiền tệ  dịch chuyển.  v  Nhóm nhân tố làm dịch chuyển đường cầu tiền ­ 5 ­  Thu nhập: thu nhập tăng lên sẽ làm tăng nhu cầu nắm giữ tiền để giao dịch  và là nơi cất giữ giá trị, do đó làm cho lượng cầu tiền tăng lên và ngược lại.  Mức giá: những thay đổi của mức giá sẽ làm cầu về tiền thực tế thay đổi nếu  cầu  tiền danh nghĩa chưa thay đổi.Do nền kinh tế có xu hướng cầu một lượng tiền  thực tế không đổi ứng với một mức lãi suất và thu nhập nhất định nên cầu tiền danh  nghĩa sẽ phải thay đổi theo mức giá để đảm bảo ổn định cầu tiền thực tế. Kết quả là  là một sự gia tăng lên của mức giá sẽ làm lượng cầu tiền tăng lên.  v  Nhóm nhân tố làm dịch chuyển đường cung tiền  Cung  tiền  trong nền  kinh  tế hiện nay  phần  lớn chịu  sự  tác động  của  CSTT  của các NHTW. Cung tiền thay đổi, ngoài những hoạt động nhằm thực thi mục tiêu  của CSTT ra, còn chịu ảnh hưởng bởi mức độ phụ thuộc của NHTW vào chính phủ  và chế độ tỷ giá hối đoái của nước đó. Nếu sự phụ thuộc của NHTW vào chính phủ  cao thì tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài có thể sẽ tạo sức ép khiến NHTW phải  in thêm tiền mua các chứng khoán chính phủ vào để tài trợ cho thâm hụt ngân sách,  dẫn đến tăng cung tiền. Thêm vào đó, một chế độ tỷ giá hối đoái cố định đòi hỏi sự  can thiệp của NHTW vào thị trường ngoại hối thông qua hoạt động mua bán ngoại  tệ, và do vậy cũng sẽ ảnh hướng đến cung tiền.  1.1.2.3 Các nhân tố khác  Tỷ lệ lạm phát: nhân tố  này có  ảnh hưởng rất lớn đến sự  biến  động của lãi  suất. Bởi lẽ sự tăng hay giảm tỷ lệ lạm phát kéo theo sự biến động của giá trị tiền tệ,  từ đó ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người cho vay. Nếu tỷ lệ lạm phát tăng thì  lãi suất phải tăng theo. Lúc đó, các TCTD mới thu hút được nguồn vốn tiền gửi. Khi  tỷ  lệ  lạm  phát  giảm  thì  lãi  suất  tín  dụng  cũng  giảm.  Để  đảm  bảo  hạch  toán  kinh  doanh  cho  các  TCTD.Ngược  lại,  NHTW  sử  dụng  lãi  suất  tín  dụng  làm  công  cụ  kiềm chế lạm phát. Khi lạm phát tăng cao, NHTW điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi  để làm hạ cơn sốt lạm phát.  Tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế: hoạt động của các doanh nghiệp  là nền tảng của hoạt động tín dụng. Do đó tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh  tế là cơ sở để xác định lãi suất tín dụng hợp lý. Thông thường mức lãi suất tín dụng ­ 6 ­  nhỏ  hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân. Đó  là  hài hòa lợi ích người đi vay và người  cho vay.  Chính sách kinh tế của Nhà nước: bằng các chính sách kinh tế, Nhà nước can  thiệp vào thị trường tín dụng, nhằm duy trì sự vận động của lãi suất phù hợp với yêu  cầu phát triển kinh tế ­ xã hội. Các chính sách ưu đãi cho vay tác động trực tiếp đến  lãi suất, chính sách thuế, ưu đãi đầu tư, cho vay trọng điểm vv…  1.1.3 Cấu trúc lãi suất tín dụng  Cấu trúc của lãi suất tín dụng được chia thành hai loại :  ­ Cấu trúc rủi ro: là những khoản vay có cùng kỳ hạn, nhưng có mức lãi suất  khác nhau.Các nhân tố quan trọng trong việc xác định cấu trúc rủi ro là rủi ro vỡ nợ,  tính lỏng của giấy nhận nợ và chính sách thuế thu nhập của người cho vay.  ­ Cấu trúc kỳ hạn: kỳ hạn thanh toán của một khoản cho vay có tác động đến  lãi suất của nó. Mối tương quan của lãi suất những khoản cho vay có kỳ hạn thanh  toán khác nhau được gọi là cấu trúc kỳ hạn của lãi suất. Đối với những khoản cho  vay có kỳ hạn ngắn thì có mức lãi suất thấp và những khoản cho vay có kỳ hạn dài  thì có mức lãi suất cao. Mức chênh lệch lãi suất của hai khoản vay đó là để bù đắp  rủi ro trong thời gian cho vay.  Mối liên hệ giữa thời gian và lợi suất của một khoản vay khi được thể hiện  dưới dạng đồ thị có hình dạng là một đường cong, còn gọi là đường cong lãi suất.  Lợi suất  Đáo hạn  (YTM)  Đường cong lãi suất  Lãi suất ngắn hạn thấp hơn lãi suất dài hạn  Nói cách khác, đi vay ngắn hạn rẻ hơn vay  dài hạn  Thời gian đáo hạn  Hình 1.3 : Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất (đường cong lãi suất) ­ 7 ­  ­ Các lý thuyết về cấu trúc kỳ hạn của lãi suất giải thích sự đa dạng của các  đường lãi suất như : ·  Lý thuyết môi trường ưu tiên và phí thanh khoản giải thích đường cong  lãi suất thường có hình dạng dốc lên do các nhà đầu tư ưa thích trái phiếu ngắn hạn  hơn trái phiếu dài hạn, nên sẵn sàng trả thêm khoản phí thời hạn K>0. Vì vậy, ngay  cả khi lãi suất ngắn hạn dự tính, tính bình quân, không tăng thì lãi suất dài hạn vẫn  cao hơn lãi suất ngắn hạn và làm cho đường cong lãi suất thường dốc lên. ·  Lý thuyết dự tính giải thích lãi suất khi lãi suất ngắn hạn thấp, đường lãi  suất  có  hình dạng dốc  lên  trên.  Khi  lãi  suất ngắn hạn  cao,  đường  lãi  suất có  hình  dạng dốc xuống. Vì khi lãi suất ngắn hạn thấp, mọi người thường dự tính rằng lãi  suất ngắn hạn sẽ tăng lên một mức tương đối hợp lý trong tương lai và trung bình  các lãi suất ngắn hạn trong tương lai sẽ cao hơn lãi suất ngắn hạn hiện tại . Vì vậy  lãi  suất dài hạn  (là  trung bình  các  lãi  suất ngắn hạn)  sẽ  cao hơn  lãi  suất ngắn hạn  hiện tại và làm cho đường lãi suất dốc lên. Ngược lại, khi lãi suất ngắn hạn khá cao,  mọi  người  thường  dự  báo  là  lãi  suất  này  sẽ  trở  về  một  mức  bình  thường  nào  đó  trong tương lai. Khi này lãi suất dài hạn sẽ thấp hơn lãi suất ngắn hạn hiện tại do lãi  suất dài hạn là trung bình các lãi suất ngắn hạn.  1.1.4 Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế  1.1.4.1 Kích thích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiền tiết kiệm  Thông thường khi có một khoản tiền tiết kiệm, dân chúng thường nghĩ đến  việc sinh lời trên khoản tiền đó như: đầu tư chứng khoán, bất động sản, mua vàng,  gửi tiền vào tài khoản ở ngân hàng và các TCTD khác vv…Một trong những hình  thức đầu tư có tính an toàn khá cao đối với người dân là gửi tiền vào ngân hàng. Để  thu hút được nhiều khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, lãi suất là một trong những  biện pháp hấp dẫn mà các ngân hàng thường sử dụng.  1.1.4.2 Lãi suất  là công cụ phân phối vốn, kích thích sử dụng vốn có hiệu quả và  điều chỉnh các hoạt động đầu tư.  Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất tín dụng được coi là công cụ quan trọng  để phân phối vốn hợp lý và phù hợp với đường lối phát triển kinh tế từng thời kỳ. ­ 8 ­  chính sách lãi suất, nếu tạo ra được mức lãi suất cho vay thấp hơn tỷ suất lợi nhuận  bình quân sẽ có tác dụng thúc đẩy các doanh nghiệp tăng nhu cầu đầu tư, mở rộng  sản xuất, đổi mới thiết bị, trang bị công nghệ sản xuất hiện đại bằng nguồn vốn vay  ngân hàng. Hiệu quả cuối cùng làm tổng thu nhập quốc dân tăng lên .  Mặt  khác,  lãi suất  là  căn  cứ để các  chủ  thể  kinh  tế  lựa  chọn  cơ hội đầu  tư.  Doanh nghiệp  chỉ  kinh  doanh  khi  tỷ  suất  lợi  nhuận  cao  hơn  lãi  suất  tín dụng.  Cá  nhân chỉ gửi tiết kiệm khi lãi suất đem lại cao hơn món đầu tư khác và cao hơn tỷ lệ  lạm phát. Như vậy, lãi suất tín dụng làm thay đổi tỷ lệ giữa tích lũy và tiêu dùng của  doanh nghiệp và cá nhân, đồng nghĩa với việc là họ mở rộng hay thu hẹp đầu tư.  1.1.4.3 Lãi suất là công cụ đo lường tình trạng sức khoẻ của nền kinh tế  Mỗi  một  sự  biến động,  dù  là  nhỏ  nhất  cũng  ảnh  hưởng  đến  hoạt  động  của  mỗi cá nhân, tổ chức và của cả nền kinh tế. Ở các nước kinh tế phát triển, giá trái  khoán và lãi suất được yết giá hàng ngày. Người ta có thể căn cứ vào sự biến động  của lãi suất để dự báo các yếu tố khác của nền kinh tế như: tính sinh lời của các cơ  hội  đầu  tư,  mức  lạm  phát  dự  tính,  mức  thiếu  hụt  ngân  sách.Các  yếu  tố  này  hợp  thành  chỉ  tiêu  “sức  khỏe”  của nền  kinh  tế.  Người  ta  có  thể  dựa  vào  lãi  suất  trong  một thời kỳ để dự  báo tình hình kinh tế  trong tương lai. Trên cơ sở  đó các doanh  nghiệp lập kế hoạch chỉ tiêu trong tương lai của họ, trong khi đó ngân hàng và các  nhà đầu tư cần dự báo lãi suất để quyết định xem chon mua tài sản nào.  1.1.4.4 Lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô của NHTW  Lãi suất tín dụng là một công cụ thực hiện CSTT, thể hiện trên các mặt:  ­ Trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát, NHTW có thể tăng lãi suất tiền  gửi để rút tiền từ lưu thông về làm giảm tỷ lệ lạm phát, tạo điều kiện để sức mua  của ổn định, đảm bảo cho sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển. Ngược lại, khi  nền kinh tế đã suy thoái, NHTW thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ để chống suy  thoái và lãi suất giảm xuống.  ­ Thông qua lãi suất tái chiết khấu để điều chỉnh khối lượng cho vay đối với  các NHTM, nghĩa là điều chỉnh khối lượng cung ứng tiền vào lưu thông. Từ đó mở  rộng hay thu hẹp sản xuất, tăng hay giảm công ăn việc làm. ­ 9 ­  ­ Tăng hay giảm lãi suất tín dụng, sẽ ảnh hưởng đến tăng hay giảm số lượng  ngoại tệ trong nước. Vì vậy ảnh hưởng đến quan hệ cung cầu ngoại tệ, dẫn đến sự  thay đổi tỷ giá do đó ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu hàng hóa trong từng thời kỳ.  1.2 Lãi suất, đầu tư và tăng trưởng kinh tế  Lãi suất tác động đến  tăng trưởng  thông qua hai hiệu  ứng đó  là  lãi suất tác  động đến tiêu dùng và đầu tư.  v  Tác động của lãi suất đến tiêu dùng  Mức lãi suất thấp sẽ khuyến khích tiêu dùng nhiều hơn là tiết kiệm từ  đó làm  tăng tổng cầu trong nền kinh tế, và ngược lại khi lãi suất tăng dân chúng sẽ  có  xu  hướng dành phần lớn thu nhập để gửi tiết kiệm vào ngân hàng, từ đó làm giảm tổng  cầu.  Do  xu  hướng  cân  bằng  cung  cầu  trong  nền  kinh  tế,  tổng  cung  sẽ  giảm  một  lượng tương ứng. Lúc đó  GDP thực sẽ giảm dưới mức năng lực sản xuất tối ưu và  tỷ lệ thất nghiệp cao hơn mức tự nhiên, nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng suy thoái.  v  Tác động của lãi suất đến đầu tư  Khi  nền  kinh  tế  tăng  trưởng  sẽ  khuyến  khích  đầu  tư  mở  rộng  sản xuất.Chi  tiêu  cho đầu  tư  là  chi  tiêu  của  khu  vực  sản  xuất để mua nhà  xưởng,  thiết bị, máy  móc mới  và  gia  tăng  lượng  hàng  tồn  kho  nhằm  gia  tăng  qui  mô  sản  xuất.  Có  rất  nhiều các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho đầu tư, song có ba nguyên nhân chính  đó là: lãi suất, lạm phát dự tính, lợi nhuận dự tính.  Về mối quan hệ giữa lãi suất và đầu tư, mức lãi suất càng thấp thì mức đầu tư  càng cao và ngược lại. Điều này có thể giải thích là khi đầu tư, nguồn vốn có thể  được tài  trợ bằng  vốn  tự  có hay  đi  vay  mượn.  Bất  luận dự  án đầu  tư được tài  trợ  bằng phương thức nào, mức lãi suất cũng là một phần chi phí cơ hội của dự án đó.  Tiền trả  lãi cho khoản tiền vay để đầu tư cho sản xuất là chi phí trực tiếp. Nhưng  nguồn vốn tự có của một doanh nghiệp có thể dùng để cho vay với một mức lãi suất  nào đó. Tiền lãi mà doanh nghiệp bị mất khi sử dụng nguồn vốn tự có để tài trợ cho  dự  án  riêng  của  chính mình,  thay  vì  dùng  để  cho  vay  được  gọi  là  chi  phí  cơ hội.  Mức lãi suất càng thấp thì chi phí cơ hội của dự án càng thấp, càng có nhiều dự án  đầu tư mang lại lợi nhuận và vì vậy mức đầu tư sẽ gia tăng. ­ 10 ­  Trong  khi  mức  lãi suất  cao  không  khuyến khích  đầu  tư  thì  ngược  lại, mức  lạm phát dự đoán cao có tác dụng khuyến khích đầu tư vì chi phí đầu tư thường bỏ  ra hầu hết ở năm đầu nên không bị ảnh hưởng bởi lạm phát. Mức lạm tăng sẽ làm  cho thu nhập ròng của dự án đầu tư trong những năm sau gia tăng.Do đó có một kết  luận rất quan trọng của những tác động ngược chiều này đối với quyết định đầu tư  của các doanh nghiệp. Đó là đầu tư phụ thuộc vào lãi suất thực. Mức lãi suất thực  càng thấp thì mức đầu tư càng cao.  Lãi suất thực  i1  i2  I1  I2  Đầu tư  Hình 1.4: Mối quan hệ giữa lãi suất và đầu tư  GDP là giá trị tính bằng tiền của tất cả các sản phẩm và dịch vụ cuối cùng  nội địa mà nền kinh tế đạt được trong một thời kỳ nhất định. Bao gồm sản phẩm và  dịch vụ tiêu dùng của hộ gia đình, đầu tư của khu vực doanh nghiệp, tiêu dùng của  khu  vực  Chính phủ  và  xuất  khẩu  ròng.  Tổng chi  tiêu  trong nền  kinh  tế  luôn bằng  với GDP thực để nền kinh tế đạt ở trạng thái cân bằng.  Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy mô  sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ  nhất định. Hiện nay, người ta thường  tính  mức  gia  tăng  về  tổng  giá  trị  của  cải  xã  hội  bằng  các  đại  lượng  như  tổng  sản  phẩm quốc dân (GNP) hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GDP).  Tăng trưởng kinh tế xét ở đầu vào do tác động của ba yếu tố: số lượng vốn  đầu tư, số lượng lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp. Để tăng trưởng một  cách bền vững thì một trong những điều kiện cực kỳ quan trọng đối với mọi quốc  gia  là  phải  mở  rộng  đầu  tư.  Người  ta hay  nói  đến một  trong  những  nguyên  nhân ­ 11 ­  chính làm cho kinh tế của năm con rồng Châu Á tăng trưởng nhanh trong một thời  gian dài là do vốn đầu tư phát triển tăng liên tục (chiếm khoảng 30% trong GDP).  Như vậy, một bộ phận của chi tiêu trong nền kinh tế là đầu tư lại phụ thuộc  vào lãi suất. Giả sử các nhân tố khác không đổi, lãi suất càng cao thì đầu tư càng  thấp.  Điều này dẫn  chi tiêu cân bằng  giảm. Ngược  lại khi  lãi  suất thực  giảm  thúc  đẩy các doanh nghiệp gia tăng đầu tư theo kế hoạch. Lãi suất được quyết định bởi  sự cân bằng trên TTTT. Bằng cách gia tăng hoặc giảm mức cung tiền, NHTW có  thể làm giảm hoặc tăng lãi suất. Từ đó sẽ ảnh hưởng đến đầu tư và sản lượng. Để  thấy được kênh truyền dẫn lãi suất của CSTT hoạt động như thế nào, chúng ta  sẽ  liên kết TTTT (ở đó lãi suất được quyết định) với thị trường hàng hóa (ở đó chi tiêu  cần bằng được quyết định). Trước hết, phân tích nền kinh tế tại một mốc thời gian  để xem chi tiêu cân bằng và lãi suất được quyết định như thế nào.  MS  Lãi  Lãi  suất  suất  thực  i  thực  i  MD  Tổng  (a)  Cung cầu tiền  I  (b)  Đầu tư  chi  tiêu  (c)  I  GDP  GDP thực  Hình 1.5 : Mối quan hệ lãi suất, đầu tư và GDP thực  Nền kinh tế đang trong tình trạng cân bằng như đã chỉ ra trong hình trên.Giả  sử  NHTW  cho  rằng  nền  kinh  tế  phát  triển  quá  nóng  và  lạm  phát  sẽ  bùng  nổ.  Để  kiềm  chế  lạm  phát,  NHTW  quyết  định  giảm  tổng  cầu  bằng  cách  thực  hiện  một ­ 12 ­  nghiệp vụ thị trường mở là bán các chứng từ có giá, làm giảm khả năng cho vay của  các  NHTM  và  kéo  theo  là  làm  cho  mức  cung  tiền  giảm.  Tác  động  tức  thời  trên  TTTT là sự gia tăng lãi suất. Lãi suất tăng sẽ kéo theo một sự sụt giảm trong đầu tư  theo kế hoạch. Một sự sụt giảm trong đầu tư theo kế hoạch sẽ kéo theo sự sụt giảm  trong chi tiêu dự định và tổng chi tiêu kế hoạch. Khi tổng chi tiêu kế hoạch giảm sẽ  làm  cho  chi  tiêu  cân bằng  và  GDP  thực giảm.  Quá  trình này sẽ  không dừng lại ở  đây vì khi GDP thực giảm sẽ làm giảm cầu tiền  thực.Cầu tiền thực giảm lại làm lãi  suất giảm và đầu tư lại tăng lên (nhưng thấp hơn mức ban đầu).  MS1   MSo  Lãi    i1  Lãi suất  thực  suất  i2  thực  io  MDo  I  MD1  Tổng  Cung cầu tiền  chi  I1 I2 Io  Đầu tư  Eo  tiêu  E2  E1  Io  I2  I1  GDP1 GDP2 GDPo  GDP thực  Hình 1.6 : Tác động của cung tiền đến lãi suất, đầu tư và tăng trưởng GDP  Như  vậy,  mọi  sự  điều  tiết  cắt  giảm  lượng  cung  tiền  của  NHTW  bằng  các  công cụ  của CSTT, sẽ làm tăng lãi suất trên TTTT từ đó  làm giảm nhu cầu  đầu tư  và  tác  động  làm  giảm  GDP  thực.  Ngược  lại,  khi  NHTW  bơm  thêm  tiền  vào  lưu  thông, sẽ làm giảm lãi suất trên TTTT, từ  đó làm tăng nhu cầu đầu tư và tác động  làm tăng GDP thực. ­ 13 ­  1.3 Chính sách lãi suất của NHTW  1.3.1 Khái niệm  Chính  sách  lãi  suất  là một bộ phận  của  CSTT  của  Chính phủ,  là  cách  thức  quản lý và điều tiết lãi suất thị trường nhằm kiểm soát lượng tiền cung ứng, kiểm  soát lạm phát để thực hiện các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả, nhiều  việc làm và tỷ giá hối đoái ổn định.  1.3.2 Nội dung chính sách lãi suất của NHTW  Căn cứ vào trình độ phát triển và cơ chế quản lý của nền kinh tế, NHTW sẽ  xây dựng và ban hành chính sách lãi suất thích hợp, để thi hành thống nhất trong hệ  thống ngân hàng. Đó có thể là lãi suất sàn, lãi suất trần, lãi suất cơ bản, lãi suất thỏa  thuận. chính sách lãi suất của NHTW có thể thực hiện theo hai hướng đó  là: chính  sách can thiệp trực tiếp và chính sách tự do hóa lãi suất. Khi các nước đã theo đuổi  chính  sách  tự  do  hóa  hoàn  toàn  thì  NHTW  vẫn  tìm  cách  can  thiệp  nhưng  sự  can  thiệp mang tính thị trường, nhằm quản lý nền kinh tế theo mục tiêu của CSTT.  Chính sách can thiệp trực tiếp: là việc NHTW qui định lãi suất trần, lãi suất  sàn,  lãi  suất  cơ  bản,  lãi  suất  tái  chiết  khấu  vv…để  áp  dụng  cho  từng  loại  khách  hàng,  từng nghiệp  vụ  tín dụng  trên  thị  trường.  Như  vậy  chính  sách  can  thiệp  trực  tiếp được thực hiện bằng cách NHTW qui định biểu lãi suất áp dụng cho các hoạt  động tín dụng trên thị trường. Biểu lãi suất này được điều chỉnh một phần hay toàn  bộ  khi có  sự  thay đổi mục  tiêu phát  triển  kinh  tế  ­  xã  hội.  Theo  sự  phát  triển  của  kinh  tế  thị  trường, những  cách  thức  qui định  và  kiểm  soát  lãi  suất  thị  trường  của  NHTW  ngày  càng  lỏng  và  linh  hoạt  hơn.  Chính  sách  can  thiệp  trực  tiếp  thường  đước áp dụng ở các nước đang phát triển trong một điều kiện kinh tế ­ xã hội nhất  định, thị trường tài chính còn yếu, nhiều khó khăn trong quá trình kiểm soát lượng  tiền cung ứng, đồng thời nền kinh tế có khả năng xảy ra lạm phát cao.  Chính sách tự do hóa lãi suất: là chính sách mà trong đó NHTW không đưa  ra những khống chế giới hạn biến  động của lãi suất thị trường. Mức lãi suất được  hình thành trên cơ sở quan hệ cung cầu tín dụng.Chính sách này được phần lớn các  nước có thị trường phát triển  áp dụng, mặc dù  thị trường tự do quyết định lãi suất ­ 14 ­  nhưng  NHTW  vẫn  điều  tiết  gián  tiếp  thông qua  việc  sử  dụng  công  cụ  lãi  suất  tái  chiết khấu.  1.3.3 Cơ chế truyền dẫn và tác động chính sách lãi suất của NHTW  Chính  sách  lãi  suất  có  thể  được  NHTW  sử  dụng  nhằm  tác  động  trực  tiếp  hoặc gián tiếp tới mức cung cầu tiền để đạt được các mục tiêu đề ra.  v  Tác động trực tiếp là tác động thông qua công cụ lãi suất tiền gửi và lãi suất  cho vay  ­ Ấn định lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay: nếu lãi suất tiền gửi qui định  cao, sẽ thu hút được nhiều tiền gửi, làm gia tăng nguồn vốn cho vay, giảm tỷ lệ lạm  phát. Nếu lãi suất tiền gửi thấp, sẽ làm giảm tiền gửi, giảm khả năng mở rộng tín  dụng.  Nếu  lãi  suất  cho  vay  qui  định  thấp,  các  doanh  nghịêp  có  cơ  hội  vay  được  nhiều vốn cho sản xuất kinh doanh  và  ngược lại. Nhược điểm của biện pháp điều  tiết  này  là  làm  cho  các  NHTM  mất  đi  tính  linh  hoạt  và  quyền  tự  chủ  trong  kinh  doanh, nó dể dẫn đến  tình  trạng ứ đọng  vốn trong  ngân hàng nhưng  lại  thiếu  vốn  đầu tư hoặc khuyến khích dân cư dùng tiền vào dự trữ ngoại tệ, bất động sản trong  khi ngân hàng hụt hẫng về tiền mặt cũng như nguồn vốn cho vay.  ­ Ấn định khung lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay: NHTW có thể ấn định  khung lãi suất dưới nhiều hình thức như lãi suất sàn, lãi suất trần và mức chênh lệch  giữa lãi suất cho vay bình quân với mức lãi suất tiền gửi bình quân, lãi suất trần, lãi  suất  cơ  bản  vv…và  bắt buộc  các  NHTM  phải  xây  dựng  biểu  lãi  suất  kinh  doanh  nằm trong khung lãi suất. Biện pháp điều tiết này có  ưu điểm là các NHTM được  phép  xây  dựng mức  lãi  suất linh  hoạt hơn  và  bước  đầu có  quyền  tự  chủ qui định  mức lãi suất kinh doanh. Đồng thời giúp cho các NHTM lựa chọn dự án kinh tế tối  ưu để cho vay, loại bỏ những dự án kém hiệu quả. Nhìn chung việc ấn định khung  lãi suất tiền gửi và cho vay ngày càng ít được áp dụng ở các nước theo cơ chế thị  trường. Bởi vì trong cơ chế thị trường, lãi suất rất nhạy cảm với vốn đầu tư, nó phải  được vận động theo quan hệ cung cầu vốn trên thị trường.  v  Tác động gián tiếp là tác động thông qua công cụ lãi suất tái chiết khấu, tỷ lệ  dự trữ bắt buộc và nghiệp vụ thị trường mở ­ 15 ­  ­ Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất cho vay ngắn hạn của NHTW đối với các  NHTM và TCTD dưới hình thức tái chiết khấu các chứng từ có giá chưa đến thời  hạn thanh toán.Với việc ấn định lãi suất tái chiết khấu, NHTW có thể tác động đến  khả  năng  vay  của  NHTM  và  do  đó  làm  cho  cung  cầu  tiền  tệ  tăng  lên  hay  giảm  xuống. Khi lãi suất tái chiết khấu tăng lên, các NHTM sẽ bất lợi trong việc vay vốn  của NHTW. Trong điều kiện đó, các NHTM không có khả năng mở rộng tín dụng.  Ngược  lại,  khi  lãi  suất  tái chiết  khấu  giảm,  các  NHTM  có  khả  năng mở  rộng  cho  vay đối với khách hàng. Do đó, sự thay đổi lãi suất lãi suất tái chiết khấu được coi  như  dấu  hiệu  của  định  hướng  CSTT  của  NHTW.  Mức  độ  phát  huy  hiệu  quả  các  công cụ này căn cứ vào mức độ phụ thuộc về vốn của NHTM vào NHTW, vì thế nó  là công cụ kém chủ động. Để khắc phục nhược điểm này, NHTW thường sử dụng  nó với công cụ DTBB.  ­ Tỷ lệ DTBB: là tỷ lệ phần trăm giữa số tiền DTBB và tổng số dư tiền gửi  phải  tính  DTBB  các  NHTM  thu  hút  được  trong  một  khoảng  thời  gian  nhất  định.  Việc qui định tỷ lệ DTBB tạo điều kiện để NHTW kiểm soát quá trình tạo tiền của  hệ thống NHTM và quan trọng hơn là NHTW sử dụng để tác động đến mức cung  tiền tệ. Khi NHTW quyết định tăng hoặc giảm tỷ lệ DTBB, làm giảm hoặc tăng khả  năng cho vay của các NHTM đối với nền kinh tế. Từ đó làm giảm hoặc tăng mức  cung tiền tệ để tác động đến lãi suất thị trường.  ­  Nghiệp  vụ  thị  trường mở:  là nghiệp  vụ mua  bán  các  chứng  từ  có  giá  của  NHTW trên TTTT. Thông qua việc sử dụng công cụ này sẽ điều tiết mức dự trữ của  các  NHTM  và  điều  tiết  mức  cung  tiền  tệ  để điều  tiết  lãi  suất  trên  thị  trường.  Khi  muốn gia tăng khối lượng tiền trong lưu thông, mở rộng tín dụng cho nền kinh tế,  NHTW  thực  hiện  mua  các  chứng  từ  có  giá  trên  thị  trường.  Ngược  lại,  khi  muốn  giảm mức cung tiền, thu hẹp tín dụng, NHTW bán các chứng từ có giá đang nắm  giữ.  1.3.4 Vai trò kiểm soát lãi suất TTTT của NHTW  Mức cung tiền có tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng hoặc kìm hãm sự phát  triển kinh tế. Do đó, điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông cho phù hợp với nhu ­ 16 ­  cầu phát triển kinh tế trong từng thời kỳ là nhiệm vụ qua trọng bậc nhất của NHTW.  Trong nền  kinh  tế  thị  trường,  sự  biến  động  kinh  tế  thăng  trầm  theo chu  kỳ,  từ  đó  nhu cầu về tiền cũng biến động tương ứng. Cần phải có  khối lượng tiền trong lưu  thông phù hợp với diễn biến của nền kinh tế, để góp phần thúc đẩy tăng trưởng và  kiềm  chế  lạm  phát.  NHTW  thực  hiện  vai  trò  điều  tiết  khối  lượng  tiền  trong  lưu  thông  qua  qua  các  công  cụ  của  CSTT  như  lãi  suất,  hạn  mức  tín dụng,  dự  trữ  bắt  buộc, nghiệp vụ thị trường mở vv…  1.3.4.1 Kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả  Trong nền kinh tế thị trường, ổn định sức mua của đồng tiền là  yếu tố quan  trọng  giúp  ổn  định  và  tăng  trưởng  kinh  tế.  NHTW  thông  qua  các  hoạt  động  của  mình để khống chế tỷ lệ lạm phát hàng năm. Có ba loại lạm phát chủ yếu trong nền  kinh tế, trong đó lạm phát thứ nhất là lạm phát tiền tệ, xảy ra khi tốc độ tăng trưởng  cung tiền vượt quá tốc độ tăng trưởng thực sự của nền kinh tế. Loại lạm phát này  thường xảy ra tại các nước đang phát triển khi các nước này theo đuổi cơ chế áp chế  tài chính hoặc trong trường hợp quốc gia đang theo đuổi CSTT mở rộng.  Lạm phát  tiền  tệ  có  thể  được  kiểm  soát bằng  một  CSTT  thắt  chặt  và  chính  sách thu chi ngân sách nghiêm ngặt. Các NHTW thường thực hiện CSTT thắt chặt  bằng cách tăng lãi suất ngắn hạn như lãi suất chiết khấu. Cách này sẽ làm gia tăng  chi phí đi vay tiền, do đó việc vay tiền lúc này sẽ kém hấp hẫn hơn. Khi đó các chủ  thể cần vốn trong nền kinh tế sẽ tự động xem xét lại, thắt chặt hơn trong chi tiêu,  phân bổ nguồn vốn. Trong suốt thời kỳ thực hiện CSTT thắt chặt, NHTW cũng có  thể bán trái phiếu chính phủ ra thị trường mở để thu tiền về.Tuy nhiên, chính sách  thắt chặt tiền tệ có thể sẽ gây ra một số hậu quả như: khởi phát và đẩy mạnh cuộc  đua tăng lãi suất, tạo áp lực lên tăng trưởng và việc làm, trở ngại cho thu hút vốn  gián tiếp.  1.3.4.2 Ổn định tỷ giá, đảm bảo sức mua đối ngoại của đồng tiền  NHTW can thiệp vào thị trường ngoại hối để giử  vững tỷ giá hối đoái hoặc  chủ  động điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo mục tiêu phát triển kinh tế  ­ xã hội, góp  phần  ổn định sức mua đối ngoại của đồng tiền quốc gia. Để điều chỉnh tỷ giá hối ­ 17 ­  đoái có thể sử dụng các biện pháp như điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu, can thiệp  ngoại hối, phá giá, nâng giá tiền tệ.  Thực tế cho thấy, khi các  yếu tố khác không đổi, nếu NHTW tăng mức lãi  suất tái chiết khấu sẽ làm cho mặt bằng lãi suất thị trường cũng tăng lên, lãi suất thị  trường tăng lên sẽ là lực hút các luồng vốn ngoại tệ trên các thị trường khu vực và  quốc  tế  đổ  về  nước,  dần  dần  làm  cho  đồng  nội  tệ  sẽ  lên  giá  và  ngược  lại.  Nếu  NHTW hạ thấp mức lãi suất tái chiết khấu thì ngoại tệ sẽ chạy ra nước ngoài, dần  dần tỷ giá ngoại tệ sẽ tăng lên.  1.4  Cơ  chế  điều  hành  lãi  suất  của  NHTW  một  số  quốc  gia  &  những  kinh  nghiệm cho Việt Nam.  ­ Trong giai đoạn năm 2001­2003, hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới  đều áp dụng chính sách tài chính và tiền tệ nới lỏng nhằm kích cầu trong nước và  ngăn chặn hiện tượng kinh tế suy giảm trên toàn cầu do tác động của khủng hoảng  tài chính­tiền tệ những năm trước đó. Trong giai đoạn này, tăng trưởng của hầu hết  các nước trên thế giới có xu hướng giảm sút ­ kể cả khối các nước phát triển và khối  các nước đang phát triển. Thương mại quốc tế cũng có sự giảm sút mạnh mẽ. Đầu  tư quốc  tế  trong  giai  đoạn  này  cũng  có  dấu  hiệu  suy  giảm.  Theo  Ngân  hàng  Thế  giới, dòng FDI đã giảm từ 818 tỷ USD năm 2001 xuống còn 681 tỷ USD năm 2002  và 580 tỷ USD năm 2003. Để khắc phục tình trạng tăng trưởng kinh tế, thương mại  và đầu tư giảm sút, các nước, đặc biệt là các nước phát triển buộc phải lựa chọn giải  pháp nới lỏng CSTT nhằm thúc đẩy tăng trưởng.  Đi đầu trong việc thực hiện chính sách tài chính­tiền tệ nới lỏng giai đoạn  2001­2003  là  Mỹ.  Từ  năm  2001  đến  cuối  năm  2003,  để  kích  thích  tăng  trưởng,  chống giảm phát, FED đã 13 lần cắt giảm lãi suất, đưa mức lãi suất cơ bản từ 6%  năm 2001  xuống còn  1%  (mức  thấp kỷ  lục  kể  từ  năm  1958)  vào 25/6/2003.Cũng  theo chiều hướng này, từ 2001 đến tháng 6/2003, NHTW Châu Âu (ECB) cũng đã  13 lần điều chỉnh chính sách lãi suất, đưa mức lãi suất của khu vực này xuống còn  2%  ­  mức  thấp  nhất  kể  từ  sau  Thế  chiến  II.Việc  Mỹ  và  EU  cắt  giảm  lãi  suất  đã ­ 18 ­  khiến  hàng  loạt  các  NHTW  khác phải  cắt  giảm  lãi  suất  theo.Trung  Quốc  đã  phải  giảm lãi suất liên tục trong giai đoạn 1998­2003 nhằm kích cầu trong nước.  CSTT nới lỏng của các nước trong giai đoạn này đã góp phần thúc đẩy tăng  trưởng kinh tế, hoạt động đầu tư và thương mại toàn cầu. Năm 2004, GDP thực tế  toàn cầu đạt 5,3% ­ mức cao nhất trong vòng 20 năm trước đó. Tốc độ tăng thương  mại toàn cầu cũng đạt mức 10,8%, cao hơn so với mức 5,5% của năm 2003 và mức  0,2% của năm 2001. Năm 2004, lượng vốn FDI của toàn thế giới đạt khoảng 612 tỷ  USD,  tăng  14%  so  với  năm  2003.  Đây  là  năm  đầu  tiên  FDI  toàn  cầu tăng  so  với  năm trước sau khi đạt mức cao nhất vào năm 2000.  ­  Sau  khoảng  gần 3 năm  áp dụng  CSTT nới  lỏng,  cùng  với  sự phục hồi  về  kinh tế, đầu tư và thương mại, hầu hết các nước trên thế giới phải đối mặt với lạm  phát leo thang mà biểu hiện là giá cả nguyên nhiên vật liệu, giá cả hàng tiêu dùng  và lương thực thực phẩm đều tăng mạnh. Thêm vào đó, cuộc chiến Iraq và khủng  hoảng dầu mỏ  cũng  làm  cho mặt bằng  giá  thế  giới  tăng  cao. Chỉ  số  giá  tiêu dùng  (CPI)  của  các  nước  đặc  biệt  là  Mỹ  trong  giai  đoạn  2003­2005  có  dấu  hiệu  tăng  mạnh. Tốc độ tăng GDP thực tế của Mỹ năm 2005 là 3,1% trong khi CPI cùng năm  lên tới 3,4%. Đứng trước nguy cơ lạm phát leo thang, từ giữa năm 2004 đến năm  2006,  Mỹ  và  các  nền  kinh  tế  lớn bắt  buộc phải  chấm dứt  CSTT nới lỏng và  từng  bước chuyển sang chu kỳ điều hành CSTT theo hướng bắt buộc hơn. Từ giữa năm  2004  đến  hết  năm  2006,  FED  đã  liên  tiếp  17  lần  điều  chỉnh  tăng  lãi  suất  cơ  bản  đồng USD, đưa lãi suất cơ bản của đồng USD từ 1% lên 5,25% năm 2006 và tiếp  tục duy trì trong nửa đầu năm 2007, tạo nên một làn sóng tăng lãi suất mạnh mẽ ở  hầu hết các nước trên thế giới. Cùng với Mỹ, trong giai đoạn này, ECB cũng đã 3  lần tăng lãi suất từ 2% lên 2,75%.  Tuy chậm hơn, song từ năm 2006, làn sóng tăng lãi suất cũng đã lan tới châu  Á với việc NHTW các nước Hàn Quốc, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ liên tiếp tăng mạnh  lãi suất vào năm 2006 nhằm kiềm chế lạm phát.Trong năm 2006, NHTW Hàn Quốc  đã  bất ngờ  tăng  lãi  suất  tiền  gửi  đồng nội  tệ  của mình  lên mức  4,25%  ­  mức  cao  nhất trong vòng 3 năm trước đó nhằm bình ổn giá cả. NHTW Thái Lan cũng quyết ­ 19 ­  định  tăng  lãi  suất  tiền  gửi  đồng  nội  tệ  của  mình  thêm  0,25%  lên  mức  5%.  Tăng  mạnh nhất là Thổ Nhĩ Kỳ, NHTW nước này đã tăng lãi suất tiền gửi đồng nội tệ của  mình từ mức 13,25% lên mức 15% nhằm bình ổn thị trường sau khi lạm phát ở đây  có dấu hiệu tăng mạnh và đồng Lira của Thổ Nhĩ Kỳ đang mất giá. Ngay cả Nhật  Bản,  từ  năm  2006  cũng  đã  hướng  tới  điều  chỉnh  CSTT  theo  hướng  thắt  chặt  khi  tuyên bố từ bỏ chính sách lãi suất bằng 0 kéo dài suốt giai đoạn 2001­2005.  Từ năm 2006, Trung Quốc bắt đầu thực hiện CSTT thắt chặt, từ 10/4/2006  đến nay, Trung Quốc đã liên tục tăng lãi suất cơ bản và nâng tỷ lệ  DTBB  đối với  các NHTM. Từ tháng 4/2006, lãi suất cơ bản cho vay bằng đồng USD kỳ hạn 1 năm  được điều chỉnh 3 lần, mỗi lần tăng 0,27% từ mức 5,13% lên mức 6,31%. Lãi suất  tiền gửi bằng đồng NDT sau đó đã được điều chỉnh hai lần, từ mức 1,98% lên mức  2,25%. Trong năm 2006, tỷ lệ DTBB cũng đã liên tục được điều chỉnh 3 lần, nâng  tỷ lệ DTBB tăng lên 1,5% trong năm lên mức 9%. Năm 2007, Trung Quốc tiếp tục  nâng tỷ DTBB lên 12,5%. CSTT thắt chặt được các nước áp dụng trong giai đoạn  2004­2006  đã  khiến  tăng  trưởng,  lạm  phát  của  các  nền  kinh  tế  lớn  như  Mỹ,  EU,  Nhật Bản có chiều hướng chửng lại sau khi đã tăng đỉnh điểm vào năm 2004.  ­  Sau  thời  gian  dài  liên  tục  áp  dụng  CSTT  thắt  chặt  nhằm  ngăn  chặn  tình  trạng lạm phát leo thang, bước sang năm 2007, dường như mọi dự báo của các tổ  chức kinh tế quốc tế đều cho thấy, nền kinh tế thế giới có dấu hiệu tăng trưởng khả  quan và các hoạt động kinh tế tài chính vĩ mô tương đối ổn định, lạm phát của các  khối kinh tế lớn đã từng bước được kiểm soát. Tuy nhiên, đến giữa năm 2007, dấu  hiệu nguy cơ khủng hoảng tín dụng của các khối kinh tế lớn bắt đầu xuất hiện. Đây  là hệ quả của việc tăng lãi suất liên tục của FED giai đoạn 2004­2006.  Khởi đầu là tình trạng nợ xấu gia tăng trong lĩnh vực cho vay cầm cố ở Mỹ.  Để  khuyến  khích  người dân  vay  tiền  mua nhà,  các  TCTD  đã  áp dụng  cơ  chế  cho  vay  linh  hoạt  mà  không  tính  tới  khả  năng  chi  trả  của  khách  hàng.  Cụ  thể  là,  các  công ty địa ốc của Mỹ đã đưa ra những sản phẩm vay trả góp mới với lãi suất thả  nổi. Rủi ro phát sinh khi FED liên tục tăng lãi suất cơ bản của đồng USD trong thời  gian dài làm cho lãi suất cho vay cầm cố của Mỹ cũng tăng theo, dẫn đến người dân
- Xem thêm -