Chính sách kiều hối của một số nước châu á và bài học kinh nghiệm cho việt nam

  • Số trang: 155 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 466 |
  • Lượt tải: 3
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan bản luận án này được hoàn thành là cả quá trình nghiên cứu với tinh thần nghiêm túc của bản thân, cùng với sự giúp đỡ tận tình của tập thể giảng viên hướng dẫn. Các số liệu, kết quả, trích dẫn nêu trong luận án có nguồn gốc rõ ràng và trung thực. Tác giả luận án NCS. Nguyễn Thị Ngọc Loan 1 MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN.........................................................................................................................i DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT............................................................................................iii DANH SÁCH BIỂU, BẢNG......................................................................................................v DANH SÁCH CÁC HÌNH.........................................................................................................vi PHẦN MỞ ĐẦU.........................................................................................................................1 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỀU HỐI....................................16 VÀ CHÍNH SÁCH KIỀU HỐI...............................................................................................16 1.1 Tổng quan về kiều hối.......................................................................................................16 1.1.1 Khái niệm về kiều hối---------------------------------------------------------------------------16 1.1.2 Sơ lược về dòng chu chuyển kiều hối toàn cầu----------------------------------------------17 1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới dòng kiều hối giữa các quốc gia-------------------------------26 1.1.4 Tác động của kiều hối đến phát triển kinh tế xã hội của các nước đang phát triển-----30 1.1.4.1 Những tác động tích cực của kiều hối đến phát triển kinh tế xã hội của các nước đang phát triển------------------------------------------------------------------------------------------30 1.1.4.2 Những tác động tiêu cực của kiều hối đến phát triển kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển------------------------------------------------------------------------------------------38 1.2 Tổng quan về chính sách kiều hối....................................................................................44 1.2.1 Khái niệm và nội dung chính sách kiều hối--------------------------------------------------44 1.2.2 Chính sách kiều hối ở các nước đang phát triển---------------------------------------------49 1.2.2.1 Chính sách nhằm thu hút dòng kiều hối phục vụ cho phát triển kinh tế và xã hội ở các nước đang phát triển-------------------------------------------------------------------------------49 1.2.2.2 Chính sách quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng dòng kiều hối----------------------50 CHƯƠNG II: KIỀU HỐI VÀ CHÍNH SÁCH KIỀU HỐI..................................................55 CỦA MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á............................................................................................55 2.1 Kiều hối và vai trò của kiều hối ở các nước Châu Á......................................................55 2.2.1 Ở Ấn Độ------------------------------------------------------------------------------------------57 2.2.1.1 Chính sách kiều hối của Ấn Độ--------------------------------------------------------------57 2.2.1.2 Tác động của kiều hối đến phát triển kinh tế xã hội Ấn Độ-----------------------------63 2.2.2 Ở Trung Quốc-----------------------------------------------------------------------------------66 2 2.2.2.1 Chính sách kiều hối của Trung Quốc-------------------------------------------------------67 2.2.2.2 Tác động của kiều hối đến phát triển kinh tế xã hội Trung Quốc-----------------------69 2.2.3 Ở Philippines---------------------------------------------------------------------------------------73 2.2.3.1 Chính sách kiều hối của Philippines--------------------------------------------------------73 2.2.3.2 Tác động của kiều hối đến phát triển kinh tế xã hội của Philippines-------------------78 2.3 Kết luận rút ra từ việc phân tích chính sách kiều hối của Ấn độ, Trung Quốc và Philippines................................................................................................................................86 CHƯƠNG III: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆC HOẠCH ĐỊNH VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH KIỀU HỐI CỦA VIỆT NAM.......................................................................90 3.1 Bài học kinh nghiệm về chính sách kiều hối của ba quốc gia Ấn Độ, Trung Quốc và Philippines................................................................................................................................90 3.2 Thực trạng và tác động của kiều hối đến phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam......92 3.2.1 Cơ sở pháp lý về kiều hối tại Việt Nam---------------------------------------------------------92 3.2.2 Phương thức chuyển tiền kiều hối tại Việt Nam------------------------------------------------97 3.2.3 Thực trạng của dòng kiều hối chảy vào Việt Nam---------------------------------------------98 3.2.4 Phân tích tác động của kiều hối đến phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam----------------107 3.2.4.1 Những tác động tích cực của kiều hối đến phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam--107 3.2.4.2 Những tác động tiêu cực của kiều hối đến phát triển kinh tế - xã hội-----------------113 3.3 Vận dụng bài học kinh nghiệm về thu hút, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn kiều hối của Ấn Độ, Trung Quốc và Philipines trong chính sách kiều hối của Việt Nam.......123 3.4 Một số kiến nghị về chính sách kiều hối của Việt Nam................................................128 KẾT LUẬN............................................................................................................................134 3 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT STT 1 2 3 4 5 6 TỪ VIẾT TIẾNG ANH TIẾNG VIỆT TẮT ADB BSP Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á Bangko Sentralng Ngân hàng nhà nước Phillipines BPO Philipinas Business Process Gia công một số công đoạn sản FDI Foreign Direct xuất kinh doanh Đầu tư trực tiếp nước ngoài IMF Investment International Monetary Quỹ tiền tệ quốc tế IMD Fund Institute of Management Viện quản lý phát triển Development 7 8 IT NRI Non Resident Indian City 9 10 11 NHNN NHTM ODA Official Development Công nghệ thông tin Thành phố dành riêng cho Ấn kiều Ngân hàng nhà nước Ngân hàng thương mại Viện trợ phát triển chính thức Assistance 12 13 14 15 16 17 18 TSC TSN UNCTAD United Nations Tài sản có Tài sản nợ Hội nghị Liên hợp quốc về Conference on Trade and thương mại và phát triển RBI RGE Development Reserve Bank of India Roubini Global Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ Công ty phân tích kinh tế tài WEF WB Economics World Economics Forum World Bank chính Diễn đàn kinh tế thế giới Ngân hàng thế giới 4 5 DANH SÁCH BIỂU, BẢNG STT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Tran STT bảng Danh mục các biểu, bảng Bảng 1.1 Bảng 1.2 Bảng 1.3 Bảng 1.4 Bảng 2.1 Bảng 2.2 Bảng 2.3 Bảng 2.4 Bảng 3.1 Thu hút kiều hối từ các châu lục Số lượng kiều bào sinh sống tại một số các quốc gia Số lượng lao động Việt Nam tại một số quốc gia châu Á Tổng hợp những đóng góp và hạn chế của dòng kiều hối Lượng kiều hối chuyển về Trung Quốc Một số chỉ số kinh tế quan trọng về kinh tế Trung Quốc Lượng kiều hối chuyển về Philippines Một số chỉ số kinh tế quan trọng về kinh tế Philippines Chi phí can thiệp của NHNN Việt Nam trên thị trường 20 24 25 42 65 69 73 77 ngoại hối 116 6 g DANH SÁCH CÁC HÌNH STT 2 3 STT hình Hình 1.2 Tran Danh mục các hình g Nhóm nước nhận kiều hối lớn nhất thế giới Thứ bậc của kinh tế Trung Quốc có sự nhảy vọt trong vòng 23 Hình 3.1 Hình 3.2 Hình 3.3 6 năm qua Dòng kiều hối vào Việt Nam giai đoạn 1995 - 2010 Diễn biến của kiều hối, tiết kiệm và đầu tư tại Việt Nam Dòng vốn FDI và kiều hối vào Việt Nam giai đoạn 1996 - 70 101 108 Hình 3.4 Hình 3.5 2011 Tỷ giá thực song phương USD/VND từ 1995-2010 Cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn quý I/2005 đến quý 112 114 115 9 Hình 3.6 IV/2008 Mối quan hệ giữa lạm phát và cung ứng tiền M2 từ quý 116 10 III/2005 đến quý I/2010 Hình 3.7 Mối quan hệ giữa kiều hối và tiền gửi ngoại tệ của Việt 118 11 Nam giai đoạn 1996 - 2009 Hình 3.8 Lượng ngoại tệ trong lưu thông của Việt Nam từ quý 4 5 6 7 8 Hình 1.1 I/1996 đến quý IV/2009 7 119 PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Dưới tác động mạnh mẽ của làn sóng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin điện tử và viễn thông, kể từ đầu thập kỷ 70 cùng với sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ Bretton Woods (1973), quá trình di chuyển vốn diễn ra nhanh chóng và rộng khắp ở nhiều nước khác nhau trên thế giới. Các nhu cầu về giao dịch tài chính quốc tế gia tăng nhanh chóng do sự gia tăng thương mại quốc tế trong những năm 1960 và việc thực hiện cơ chế quản lý tỷ giá thả nổi vào đầu năm 1980 đã thúc đẩy mạnh mẽ làn sóng di chuyển vốn và ngoại tệ giữa các quốc gia nhằm đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi ích của quá trình toàn cầu hóa thương mại và đầu tư. Các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước có tỷ lệ tiết kiệm nội địa thấp, luôn có nhu cầu rất lớn về nguồn vốn cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, nhất là xóa đói giảm nghèo. Đối với các nước này, nguồn lực trong nước là cơ bản, nhưng nguồn lực từ bên ngoài luôn có vai trò đặc biệt quan trọng cho sự tăng trưởng bứt phá, đuổi kịp các nền kinh tế phát triển khác. Nhằm đáp ứng yêu cầu vốn, nhiều quốc gia thường tìm đến thị trường tài chính trong nước và quốc tế như phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu quốc tế hay đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhận viện trợ phát triển chính thức (ODA) mà còn ít quan tâm đến những khoản tiền của các cá nhân chuyển từ nước ngoài về cho thân nhân trong nước, đó là dòng tiền kiều hối ... Kiều hối ngày càng có khuynh hướng quan trọng đối với các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp. Song, tại một số quốc gia, dòng kiều hối hiện lại bị giới hạn bởi các yếu tố nội tại thuộc các nước tiếp nhận kiều hối như chính sách quản lý của nhà nước, mức phí chuyển tiền, hệ thống dịch vụ ngân hàng trong nước… đòi hỏi phải cải thiện các chính sách để tối ưu hóa vai trò cũng như các lợi ích tiềm năng của dòng kiều hối 1 có thể mang lại cho nền kinh tế. Có rất nhiều quốc gia trên thế giới có nguồn kiều hối lớn hơn và ổn định hơn nguồn FDI rất nhiều và thậm chí còn lớn hơn cả nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA). Ở các nước đang phát triển nói chung và một số nước Châu Á nói riêng mà điển hình như Ấn độ, Trung Quốc, Philippines…dòng kiều hối chảy về trong nước ngày càng tăng lên đáng kể. Trên khắp thế giới, nhóm nước nhận kiều hối nhiều nhất trong năm 2013 bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Mêhicô, Philippines và Pháp. Ở các nước châu Á, ba quốc gia đứng đầu về thu hút kiều hối đó là Ấn Độ, Trung Quốc, Philippines và Việt Nam đứng hàng thứ tư. Đối với Việt Nam, kiều hối ngày càng trở nên quan trọng. Những năm gần đây, dòng kiều hối vào Việt Nam tăng cả về số tuyệt đối và tương đối so với GDP. Thống kê cho thấy, từ năm 1993 đến 2009, lượng kiều hối đã tăng lên khoảng 45 lần, từ 141 triệu USD năm 1993 lên 6,28 tỷ USD năm 2009 và năm 2013 Việt Nam đã đạt hơn 12 tỷ USD kiều hối thu hút từ nước ngoài.[19] Thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, Việt Nam đã thực hiện các chính sách nới lỏng đối với dòng kiều hối từ năm 1989. Những thay đổi trong chính sách quản lý ngoại hối cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các dòng vốn nói chung và kiều hối nói riêng. Song các chính sách liên quan đến kiều hối vẫn còn nhiều bất cập, chưa thu hút tối đa các nguồn kiều hối để phát huy những tác động tích cực và có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế tác động tiêu cực của kiều hối. Để tối ưu hóa nguồn vốn kiều hối cho phát triển đòi hỏi phải có một hệ thống chính sách kiều hối đồng bộ và khoa học, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam. Học hỏi kinh nghiệm của những quốc gia điển hình về thu hút và sử dụng kiều hối có hiệu quả, phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội không những có ý nghĩa về thực tiễn mà còn mang giá trị lý luận cao. Trong bối cảnh như trên, việc 2 nghiên cứu chính sách kiều hối của ba quốc gia Ấn Độ, Trung Quốc, Philippines để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam là rất cấp thiết. Vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Chính sách kiều hối của một số nước Châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu cho luận án. 2. Tình hình nghiên cứu Các công trình nghiên cứu về chính sách kiều hối cũng như tổng quan lý luận về kiều hối có thể kể đến những nghiên cứu sau: - Khái niệm, bản chất của kiều hối/chuyển tiền kiều hối, phân loại kiều hối, biện pháp tăng cường hiệu quả của kiểu hối (Tasneem Siddiqui, 2008) [29]. - Mối quan hệ kiều hối, đói nghèo và đầu tư (Samuel Munzele Mainmbo and Dilip Ratha, 2005) [28] - Vai trò, tầm quan trọng của kiều hối, chuyển tiền từ nước ngoài đối với các nước phát triển, đang phát triển (Admos O. Chimhowu, Jenifer Piesse, and Caroline Pinder, 2005) [1] - Nghiên cứu về thúc đẩy, tăng cường năng lực, cải thiện cơ sở hạ tầng của khu vực tài chính cho việc cải thiện tiếp nhận nguồn kiều hối (David C. Grace, 2005) [4] - Tăng cường tính minh bạch đối với khu vực tài chính không chính thức nhằm hỗ trợ cho kiều hối (Nikos Passas và Samuel Munzele Mainbo, Abdusanlam Omer và Gina El Koury, Abdusanlam Omer và Gina El Koury, 2005) [16] - Di dân, phát triển và vấn đề kiều hối (Rechard H. Adams Jr. và John Page, Devesh Kapur, Devesh Kapur, 2005)[27] - Tình hình di dân và chuyển tiền kiều hối ở khu vực Châu Á-Thái Bình dương (John Connell và Richard P.C. Brown, 2005) [15]. - Công cụ tài chính sử dụng trong huy động kiểu hối (Dilip Ratha Sanket Mohapatra và Sonia Plaza (2008) [6]. 3 - Phân tích các hệ thống chuyển tiền kiều hối (Raul Hernandez-Coss, 2005) [24] - Hạn chế chính sách cấm đoán của nước sở tại đối với kiều hối (Mark P. Sullivan, 2009) [18]. - Tác động của di cư quốc tế và kiều hối về nghèo đói (Richard H. Adams Jr. và John Page, 2005) [27] Sự tăng trưởng nhanh chóng của các nghiên cứu thực nghiệm cũng như lý thuyết về kiều hối đã định hình nên một nhánh kinh tế học về kiều hối. Các nghiên cứu về kiều hối có thể được chia làm hai mảng: mảng thứ nhất tập trung nghiên cứu động cơ gửi và cách sử dụng kiều hối, mảng thứ hai tập trung nghiên cứu đánh giá tác động vĩ mô của kiều hối”. Các tác động ngắn hạn có thể được xem xét một cách đơn giản nhất thông qua khuôn khổ lý thuyết Keynes. Theo cách tiếp cận này, lượng kiều hối được bơm vào nền kinh tế có thể đóng vai trò như một cú sốc tăng chi tiêu trong các mô hình truyền thống. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế mở, khi ta có thể áp dụng mô hình Mundel-Flemming dạng đơn giản với giá cả cố định và một hàng hóa hỗn hợp, kết quả của cú sốc kiều hối có thể không đơn giản. Có thể thấy là tác động tổng hợp của bất cứ cú sốc nào từ phía cầu (kể cả kiều hối) phụ thuộc vào mức độ linh hoạt của dòng vốn quốc tế và chế độ tỷ giá hối đoái. Ví dụ, trong trường hợp dòng vốn hoàn toàn tự do di chuyển đi liền với chế độ tỷ giá hối đoái hoàn toàn thả nổi, mức tổng sản lượng cân bằng hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường tiền tệ và do đó thường không bị ảnh hưởng bởi dòng kiều hối. Dòng kiều hối cũng có thể dẫn tới thay đổi trong mức giá tương đối giữa các loại hàng hóa khác nhau, và do đó là sự tái phân bổ các nguồn lực, đến lượt nó, sự thay đổi này lại có thể tác động đến các nhóm xã hội khác nhau ở những mức độ khác nhau. Do đó, tác động của kiều hối có thể trở nên phức tạp. 4 Xét trên góc độ dài hạn hơn, vai trò của kiều hối với phát triển dài hạn đã tạo những cuộc tranh luận trong suốt vài thập kỷ qua. Điểm chính yếu ở đây là người tiếp nhận nguồn kiều hối sử dụng khoản tiền nhận được cho tiêu dùng trực tiếp hay là cho đầu tư sản xuất trong tương lai. Di cư lao động quốc tế và kiều hối có tác dụng tháo gỡ những khó khăn về nguồn lực ở các nước nhận kiều hối, như các hạn chế về tín dụng, tài chính, về con người và tinh thần doanh nghiệp. Kiều hối có thể góp phần làm giảm bất bình đẳng trong thu nhập và thông qua đó đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế. Các nghiên cứu trên, nhìn chung đã cung cấp hệ thống cơ sở lý luận khá chuẩn mực và toàn diện về vấn đề kiều hối và chính sách kiều hối phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là các nước đang phát triển. Các nghiên cứu và các bài viết cũng đã nghiên cứu rất nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề kiều hối: bản chất kinh tế xã hội của kiều hối; khuynh hướng kiều hối; các yếu tố quyết định lượng kiều hồi chảy vào một nền kinh tế; vai trò của kiều hối; tác động kinh tế xã hội của kiều hối; các chính sách kiều hối tối ưu... Tuy nhiên các công trình nghiên cứu chưa đánh giá phân tích một cách toàn diện về chính sách kiều hối của một số nước châu Á để đưa ra sự so sánh cũng như bài học kinh nghiệm cho các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng. 2.2 Những thảo luận về mặt thực tiễn Trong những năm gần đây, do sự tăng trưởng khá mạnh của nguồn kiều hối về Việt Nam nên những vấn đề liên quan đến luồng vốn tài chính này dường như ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu. Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu điển hình về vấn đề kiều hối như Lê Minh Tâm và Nguyễn Đức Vinh (1999), Nguyễn Anh Dũng và cộng sự (2005), Đặng Nguyên Anh (2005), Hernández-Coss (2005), Sakr (2006), Pfau & Giang Thanh Long 5 (2006), Nguyễn Thị Thùy Linh (2006), Nguyễn Đức Thành (2007), Đỗ Thị Đức Minh (2007), Nguyễn Minh Thao (2009). Nghiên cứu của Lê Minh Tâm và Nguyễn Đức Vinh (1999) là nghiên cứu có tính gợi mở về tiền gửi về (bao gồm trong nước và từ nước ngoài) và đã có phát hiện rằng, người dân Việt Nam di cư thường có thói quen gửi tiền để hỗ trợ gia đình, người thân của mình về chi phí sinh hoạt, chữa bệnh, chi phí học hành và đầu tư kinh doanh; lượng kiều hối (tiền chuyển từ nước ngoài về) hàng năm, trong những năm 1990 ước khoảng 1 tỷ USD tương đương khoảng 5%GDP (theo thời điểm đó). Tác giả chỉ mới có cơ hội đánh giá mối quan hệ giữa tiền gửi về và thu nhập mà chưa có điều kiện nghiên cứu về kiều hối và đầu tư, kiều hối và xóa đói giảm nghèo và đặc biệt chưa có nghiên cứu nào về kiều hối và chính sách tiền tệ, tài chính ngân hàng: như kiều hối và tỷ giá; kiều hối và hệ thống dịch vụ ngân hàng, hệ thống thanh toán; kiều hối và nhập khẩu... [30] Hernández-Coss (2005) [12] đã có một nghiên cứu tổng kết khá đầy đủ về các kênh chuyển kiều hối từ Canada về Việt Nam, cả chính thức và không chính thức. Theo nghiên cứu này, hệ thống chuyển tiền không chính thức đã và đang đóng một vai trò quan trọng, và nhờ uy tín đã được thừa nhận rộng rãi, mức phí hợp lý, tốc độ và tính gần gũi về văn hoá, hệ thống này có thể cạnh trạnh hiệu quả với hệ thống chuyển tiền chính thức mới chỉ bắt đầu phát triển mạnh gần đây. Tuy nhiên, cả ba nghiên cứu trong năm 2005 trên đây mới chỉ dừng ở việc phân tích các kênh, diễn biễn và tác động của nguồn kiều hối tới nền kinh tế một cách định tính chứ chưa dùng các mô hình định lượng. Trong một nghiên cứu định lượng năm 2006, Khaled Sakr đã sử dụng một mô hình hồi quy đơn giản OLS để ước lượng những nhân tố chi phối lượng kiều hối chảy về Việt Nam. Trong mô hình này, biến phụ thuộc chính là lượng kiều hối chảy vào Việt Nam, biến độc lập bao gồm thu nhập bình quân đầu người của 6 Việt Nam, thu nhập bình quân đầu người của Mĩ (đại diện cho thu nhập của Việt Kiều), lượng vốn FDI vào Việt Nam. Số liệu được sử dụng trong mô hình được thu thập theo năm trong giai đoạn 1991-2005, số liệu năm 2005 là số liệu dự tính. Kết quả hồi quy cho thấy kiều hối có khuynh hướng tăng lên khi điều kiện kinh tế trong nước và môi trường đầu tư được cải thiện (thể hiện qua mức GDP trên đầu người và lượng vốn FDI). Ngoài ra, sự cởi mở hơn về các điều kiện thể chế từ nửa sau thập kỷ 1990 cũng là một nhân tố quan trọng trong việc thu hút luồng kiều hối. Nghiên cứu của Pfau và Long (2006) cung cấp nhiều thống kê mô tả hữu ích về vấn đề kiều hối ở Việt Nam thông qua các bộ số liệu VHLSS (Viet Nam household living standards surveys - điều tra về mức sống của hộ gia đình Việt Nam). Nghiên cứu này cho thấy sự dịch chuyển trong phân phối của kiều hối trong thời gian gần đây: từ thành thị dịch dần sang nông thôn, từ vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ dịch dần sang vùng Bắc Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra, hai tác giả còn tập trung vào tìm hiểu mục đích sử dụng của các nguồn kiều hối này. Số liệu thống kê cho thấy, 73% lượng kiều hối được phân bổ cho tiêu dùng trực tiếp, trong khi 14% được dùng cho xây (và sửa) nhà, và chỉ có 6% là được dùng cho đầu tư nói chung, tức là kể cả đầu tư cho giáo dục và đầu tư vào sản xuất nông nghiệp. Dưới góc độ tác động của kiều hối tới phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế hộ gia đình, Nguyễn Thị Thùy Linh (2006) thực hiện một nghiên cứu định lượng và phát hiện một số kết quả đáng lưu ý. Dựa vào kết quả điều tra VHLSS 2002, tác giả đã nghiên cứu tác động của việc nhận tiền (cả từ trong nước lẫn nước ngoài) đến cách thức chi tiêu của hộ gia đình ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy những hộ gia đình nhận kiều hối có khuynh hướng sử dụng một phần lớn hơn trong thu nhập tăng thêm cho việc xây và sửa nhà. Tuy nhiên có sự khác 7 nhau về chi tiêu kiều hối giữa nhóm hộ nghèo nhất và giàu nhất. Trong khi nhóm hộ nghèo dùng kiều hối để đáp ứng nhu cầu cơ bản cho cuộc sống, thì nhóm hộ giàu hơn có thể sử dụng kiều hối dưới dạng đầu tư vào bất động sản. Tác giả Nguyễn Đức Thành (2007) sử dụng kỹ thuật mô hình hoá cân bằng tổng thể (CGE) để phân tích tác động của kiều hối lên nền kinh tế Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu này củng cố quan điểm cho rằng ảnh hưởng của kiều hối lên nền kinh tế của các nước đang phát triển là phức tạp và pha trộn nhiều khuynh hướng khác nhau. Trong khi hộ gia đình có khuynh hướng thu được lợi ích từ việc tăng thêm thu nhập, thì ảnh hưởng lên khu vực sản xuất lại không rõ ràng như vậy. Trong bối cảnh Việt Nam, khi dòng kiều hối tăng nhanh đi kèm với việc hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, kết quả ước lượng từ nghiên cứu này cho thấy giá của tất cả các nhân tố đều tăng, trong khi khu vực sản xuất công nghiệp chịu ảnh hưởng lớn nhất và có khuynh hướng bị thu hẹp (các điều kiện khác không đổi). Điều này hàm ý rằng ảnh hưởng dài hạn của kiều hối lên mặt cung của nền kinh tế có thể theo chiều hướng tiêu cực, và có thể lấn át những ảnh hưởng tích cực mang tính ngắn hạn từ phía cầu nếu kiều hối không được sử dụng cho các mục đích đầu tư. Cũng nghiên cứu về tác động của kiều hối đến nền kinh tế Việt Nam, Đỗ Thị Đức Minh và cộng sự (2007) đã xây dựng thành công một mô hình cân bằng tổng thể khả toán (CGE) để thực hiện những phân tích định lượng đầu tiên về ảnh hưởng của kiều hối đến nền kinh tế Việt Nam. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã xây dựng mô hình mẫu gồm 7 ngành sản xuất, 3 nhân tố sản xuất, 2 nhóm hộ gia đình, 1 nhóm doanh nghiệp và 4 loại thuế. Kết quả cho thấy ảnh hưởng của kiều hối tới nền kinh tế là phức tạp và pha trộn nhiều khuynh hướng khác nhau. Trong khi hộ gia đình có khuynh hướng thu lợi ích từ việc tăng thêm thu nhập thì ảnh hưởng của kiều hối lên khu vực sản xuất lại không rõ ràng. 8 Các nghiên cứu khác chủ yếu nghiên cứu kiều hối dưới giác độ là một khoản mục trong cán cân thanh toán quốc tế, do đó ảnh hưởng tới tình trạng cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối, và phần nào ảnh hưởng đến tình trạng đô la hóa, lạm phát trong những điều kiện cụ thể. Hoặc kiều hối như một yếu tố trong tiến trình tự do hóa tài chính... Các kết quả đan xen giữa lý luận và thực tiễn về kiều hối, có nhiều mối quan tâm và nhiều quan điểm khác nhau, có thể tạm thời chia làm 3 nhóm quan điểm như sau: Nhóm thứ nhất, bao gồm các tác giả lạc quan về vai trò của kiều hối. Ví dụ, Adam và Page (2003) phát hiện ra rằng cả quy mô di cư quốc tế (được đo bằng tỷ trọng dân số sống ở nước ngoài) và quy mô kiều hối gửi về (được đo bằng tỷ lệ của lượng kiều hối trên GDP) đều có tác động đáng kể trong việc xóa đói giảm nghèo ở các nước đang phát triển. Ratha (2003) thừa nhận kiều hối là nguồn tài chính tăng trưởng nhanh, quy mô lớn và ổn định (ít bị phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế). Nhờ những đặc điểm đó, tác giả đặt nhiều kỳ vọng vào kiều hối với tư cách là nguồn tài chính hữu hiệu cho phát triển. Ngân hàng thế giới (World Bank 2003, 2004, 2006) công khai ủng hộ quan điểm này. Giuliano và Ruiz-Arranz (2005) lập luận rằng kiều hối có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhờ đóng vai trò như một nguồn thay thế cho nguồn tín dụng trên thị trường nội địa. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của họ cho thấy ảnh hưởng tăng trưởng của kiều hối phát huy tác dụng rõ nhất ở các nền kinh tế có thị trường tài chính còn kém phát triển. Bugamelli và Paternof (2005) cho rằng dòng kiều hối có thể giúp làm ổn định cán cân vãng lai của các nền kinh tế mới nổi, và nhờ thế giúp giảm khả năng tháo lui tư bản ồ ạt ở các nước này. Leon-Ledesma và Piracha (2004) phát triển một mô hình để nghiên cứu hiệu ứng tích cực của kiều hối trên thị 9 trường lao động (tạo công ăn việc làm), và khảo sát thực trạng sử dụng kiều hối ở một loạt nước Đông Âu. Nhóm thứ hai, bi quan về vai trò của kiều hối. Lucas (2004) tóm tắt các lập luận chính yếu của nhóm này như sau: khía cạnh tác động tiêu cực của kiều hối nằm ở khả năng làm suy giảm cung hoặc nỗ lực lao động bắt nguồn từ việc nhận được nguồn tiền chuyển về, cùng với hiệu ứng gần như “căn bệnh Hà Lan” do tỷ giá hối đoái bị giữ ở mức cao và do đó làm giảm động lực sản xuất các mặt hàng có tham gia thương mại quốc tế. Thêm vào đó, Bracking (2003) lập luận rằng một trong những ảnh hưởng xấu của kiều hối nằm ở chỗ những thành viên không được tiếp nhận nguồn kiều hối sẽ trở nên nghèo đi tương đối mà thậm chí còn có thể là tuyệt đối do hiệu ứng lạm phát xuất hiện do những người nhận kiều hối tăng chi tiêu. Nói cách khác, những hộ gia đình nhận kiều hối làm xói mòn sức mua của những hộ không tiếp nhận nguồn kiều hối. Chami, Fullenkamp và Jahjah (2005) cho rằng vì các dòng kiều hối tác động đến tăng trưởng không như mong muốn. Lập luận của họ dựa trên một mô hình kinh tế vi mô cho phép người ta dự đoán hành vi của hộ gia đình tiếp nhận nguồn tiền kiều hối. Tiếp đó, nhóm tác giả sử dụng một chuỗi số liệu cho 113 nước trong quãng thời gian 19 năm để kiểm định giả thuyết của họ. Ngay cả niềm tin truyền thống rằng các dòng kiều hối thường đối nghịch với các vận động chu kỳ và do đó đóng vai trò như một nhân tố bình ổn cũng bị thách thức. Thông qua việc sử dụng một chuỗi số liệu của 87 nước đang phát triển từ năm 1970 đến 2000, Buch và Kuckulenz (2004) phát hiện ra rằng các dòng kiều hối thực ra có đặc điểm khá tương đồng với các dòng vốn khác như đầu tư trực tiếp (FDI) và nhận viện trợ phát triển chính thức (ODA), nhưng về tổng thể dòng kiều hối ổn định hơn. Thêm vào đó, Sayan (2006) chỉ ra rằng không có bằng chứng rõ ràng ủng hộ giả thuyết chống chu kỳ của các dòng kiều 10 hối đối với nhóm nước trong nghiên cứu của mình. Một lần nữa, tác động của kiều hối có thể phụ thuộc vào đặc điểm riêng của từng quốc gia trong từng thời điểm. Kể cả khi các dòng kiều hối có khuynh hướng đi ngược lại các chu kỳ, thì Chamietal (2006) cũng chỉ ra rằng các tác động của chúng là rất phức tạp. Nhóm tác giả sử dụng mô hình cân bằng tổng quát ngẫu nhiên để khảo sát tác động của dòng kiều hối đi ngược chu kỳ trong việc hình thành chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, rồi sau đó xem xét các hiệu ứng tác động đến các biến thực và danh nghĩa trong môi trường nền kinh tế đang diễn biến theo chu kỳ. Nghiên cứu này cho thấy kiều hối làm tăng thu nhập khả dụng và tiêu dùng, và có tác dụng chống lại các cú sốc thu nhập, do đó làm tăng phúc lợi hộ gia đình. Tuy nhiên, kiều hối lại làm thay đổi mối tương quan giữa sản lượng và lao động. Ví dụ, trong thời kỳ suy thoái, sản lượng có khuynh hướng giảm và tiền công có khuynh hướng giảm. Trong điều kiện không có kiều hối, cung lao động sẽ tăng để bù đắp thu nhập có chiều hướng giảm, góp phần giảm bớt tốc độ giảm của sản lượng. Tuy nhiên do kiều hối đóng vai trò như một phần “bảo hiểm” chống lại cú sốc về sự giảm thu nhập nên thực tế cung lao động tăng lên nhiều, do đó chu kỳ kinh tế có thể diễn ra nghiêm trọng hơn và làm tăng rủi ro cả về sản lượng lẫn việc làm. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả cho rằng chính sách tiền tệ tối ưu trong bối cảnh có kiều hối sẽ chệch khỏi nguyên tắc của Friedman (tăng cung tiền ở mức độ vừa phải), và do đó nhấn mạnh sự cần thiết cần phải có thêm các chính sách bổ trợ khác. Nhóm thứ ba, theo quan điểm thận trọng, tùy tình huống. Bao gồm những người thận trọng với tác động hai chiều, hỗn hợp của kiều hối. Ví dụ, Glytsos (2002) khảo sát tác động của kiều hối đến cán cân thanh toán, cán cân tiết kiệm-đầu tư, tác giả phát triển một mô hình kiểu Keynes để nghiên cứu các 11 hiệu ứng vĩ mô của kiều hối. Kết quả cho thấy ảnh hưởng của kiều hối mang tính hỗn hợp tức có tác động hai chiều và phụ thuộc vào đặc điểm riêng của từng nước. Kapur (2003) thảo luận về những ảnh hưởng có thể của kiều hối trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực ở những nấc thang khác nhau (hộ gia đình, quốc gia và cộng đồng). Drinkwateretal (2003) đánh giá các tác động của kiều hối lên thị trường lao động bằng cách liên kết hai hiệu ứng ngược chiều nhau: thứ nhất là hiệu ứng kiểu “căn bệnh Hà Lan”, hay giả thuyết cho rằng kiều hối đóng vai trò như một loại bảo hiểm thất nghiệp và do đó làm tăng tỷ lệ thất nghiệp; thứ hai là hiệu ứng được cho là tích cực của kiều hối, nghĩa là kiều hối giúp nới lỏng ràng buộc tín dụng và do đó tạo công ăn việc làm. Tác động tổng hợp phụ thuộc vào việc hiệu ứng lấn át giữa hai chiều hướng ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của kiều hối đến phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia tiếp nhận kiều hối. Như vậy, vai trò của kiều hối luôn là những đề tài thú vị cho giới nghiên cứu, rất khó có thể kết luận là kiều hối thuần túy tốt hay xấu. Đứng trên góc độ kinh tế vĩ mô về kiều hối, luận án đi sâu nghiên cứu những tác động của kiều hối đến phát triển kinh tế xã hội của một số nước châu Ấ trên cơ sở so sánh vai trò của chính sách kiều hối đến việc thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn kiều hối. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: - Phân tích và làm rõ cơ sở lý luận về kiều hối và chính sách kiều hối. - Đánh giá phân tích thực trạng về chính sách kiều hối của Ấn độ, Trung Quốc và Philippines, luận án tìm hiểu bài học kinh nghiệm trong việc thu hút, quản lý và sử dụng nguồn kiều hối một cách có hiệu quả để phát huy tối đa mặt tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của dòng kiều hối đến nền kinh tế, xã hội (như hạn chế tình trạng gia tăng bất bình đẳng thu nhập, phân hóa giàu nghèo; hạn chế tác động tiêu cực đến tỷ giá hối đoái, tình trạng đô la hóa nền kinh tế,…) 12 - Đánh giá phân tích thực trạng thu hút kiều hối ở Việt Nam trong những năm gần đây, luận án rút ra những bài học kinh nghiệm của ba quốc gia Ấn độ, Trung Quốc và Philippines trong việc thu hút, quản lý và sử dụng nguồn kiều hối một cách có hiệu quả để hoạch định chính sách kiều hối của Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: - Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về kiều hối và chính sách kiều hối: Khái niệm về kiều hối và chính sách kiều hối; Bản chất của nguồn kiều hối (dòng kiều hối); Những yếu tố kinh tế xã hội quyết định đến nguồn kiểu hối đối với một quốc gia; - Phân tích và làm rõ tác động của kiều hối đến nền kinh tế ở cấp độ vi mô và vĩ mô, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Dưới góc độ vi mô, đề tài sẽ làm rõ tác động của kiều hối đến đời sống kinh tế của những gia đình trực tiếp nhận kiều hối, cũng như các tác động thứ cấp lên đời sống cộng đồng; đến các dịch vụ tài chính ngân hàng và hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ. Ở cấp độ vĩ mô, đề tài sẽ tập trung vào phân tích: (i) tác động của kiều hối đến hệ thống tài chính-ngân hàng, cung cầu tiền, dự trữ ngoại hối quốc gia, tỷ giá hối đoái, (ii) tác động của kiều hối đến nhập khẩu; (iii) tác động đến tình hình đô la hóa nền kinh tế; (iv) tác động của kiều hối đến lạm phát trong nước; (v) tác động của kiều hối đến thị trường chứng khoán; (vi) tác động của kiều hối đến đến đầu tư và khuynh hướng tiêu dùng trong nước; (vii) tác động của kiểu hối đến đến thị trường nhà đất; (viii) tác động /mối quan hệ của kiều hối đến đến đến dịch chuyển lao động (xuất khẩu lao động); (ix) tác động của kiều hối đến xóa đói giảm nghèo/phân hóa giầu-nghèo; - Trên cơ sở tổng quan lý luận về kiều hối, luận án phân tích chính sách kiều hối của một số nước Châu Á, trong đó giới hạn phạm vi nghiên cứu đến ba quốc gia tiêu biểu nhất là Ấn Độ, Trung Quốc và Philippines. 13
- Xem thêm -