Chiến tranh qua cái nhìn của bảo ninh và erich maria remarque trong nỗi buồn chiến tranh và phía tây không có gì lạ

  • Số trang: 126 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 28 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH _______________________ Nguyễn Thị Thoa CHIẾN TRANH QUA CÁI NHÌN CỦA BẢO NINH VÀ ERICH MARIA REMARQUE TRONG NỖI BUỒN CHIẾN TRANH VÀ PHÍA TÂY KHÔNG CÓ GÌ LẠ LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH _______________________ Nguyễn Thị Thoa CHIẾN TRANH QUA CÁI NHÌN CỦA BẢO NINH VÀ ERICH MARIA REMARQUE TRONG NỖI BUỒN CHIẾN TRANH VÀ PHÍA TÂY KHÔNG CÓ GÌ LẠ Chuyên ngành : Lí luận văn học Mã số : 60 22 32 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHẠM THỊ PHƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn trên là công trình nghiên cứu của riêng tôi và chưa được công bố ở đâu. Tác giả HV: NGUYỄN THỊ THOA LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo cùng các cơ quan đoàn thể gồm: Khoa Ngữ văn trường ĐH Sư phạm Tp. HCM; Phòng Sau đại học; Trường Dân lập Quốc tế Việt Úc đã giúp đỡ, ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Đặc biệt, tôi rất biết ơn PGS.TS.Phạm Thị Phương, người đã không ngại khó khăn, tận tình hướng dẫn và động viên tôi mọi mặt về tinh thần cũng như những kiến thức quý báu, giúp tôi hoàn thành luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn! TP. Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 03 năm 2012 Người thực hiện Học viên: Nguyễn Thị Thoa MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài......................................................................................... 2 2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 3 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ................................................................. 8 4. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 8 5. Đóng góp của luận văn .............................................................................. 9 6. Cấu trúc luận văn ....................................................................................... 9 Chương 1: NỖI BUỒN CHIẾN TRANH VÀ PHÍA TÂY KHÔNG CÓ GÌ LẠ QUA SỰ TIẾP NHẬN CỦA ĐỘC GIẢ ...................... 12 1.1. Quá trình tiếp nhận................................................................................ 12 1.2. Khuynh hướng tiếp nhận....................................................................... 17 1.2.1. Khuynh hướng “hiện thực sử thi” ................................................... 18 1.2.2. Khuynh hướng “hiện thực tâm lí” .................................................. 21 Chương 2: NỖI BUỒN CHIẾN TRANH VÀ PHÍA TÂY KHÔNG CÓ GÌ LẠ QUA SỰ THỂ HIỆN MỘT KĨ THUẬT MỚI VỚI CÁI NHÌN CHIẾN TRANH .................................................... 29 2.1. Điểm nhìn trần thuật ............................................................................. 31 2.1.1. Ngôi kể ............................................................................................ 32 2.1.2. Thời điểm truyện được kể............................................................... 38 2.2. Kết cấu trần thuật .................................................................................. 42 2.2.1. Kết cấu dòng ý thức ........................................................................ 43 2.2.2. Kết cấu tiểu thuyết tự thuật ............................................................. 49 2.3. Cấu trúc hình tượng nghệ thuật............................................................. 56 2.3.1. Hình tượng nhân vật ....................................................................... 56 2.3.2. Hình tượng không – thời gian ......................................................... 64 2.3.3. Biểu tượng....................................................................................... 75 Chương 3: NỖI BUỒN CHIẾN TRANH VÀ PHÍA TÂY KHÔNG CÓ GÌ LẠ QUA SỰ THỂ NGHIỆM MỚI VỀ CÁI NHÌN CHIẾN TRANH ........................................................................ 86 3.1. Chiến tranh qua cái nhìn của người lính thời hậu chiến ....................... 86 3.1.1. Thân phận người lính chiến ............................................................ 89 3.1.2. Số phận con người thời hậu chiến .................................................. 93 3.2. Giá trị vĩnh hằng cất lên từ hủy diệt ..................................................... 97 3.2.1. Khát vọng sống, khát vọng tình yêu ............................................... 98 3.2.2. Lý tưởng nhân văn ........................................................................ 103 3.2.3. Sự trăn trở, tìm tòi sáng tạo của người nghệ sĩ ............................. 106 KẾT LUẬN .................................................................................................. 110 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 113 MỞ ĐẦU Từ xưa tới nay, chiến tranh vẫn là một đề tài lớn của nhân loại. Những sáng tác nổi tiếng như: Chiến Tranh và Hòa Bình, Phía Tây không có gì lạ… đã phác họa lại một thời nhưng lại sống lâu cả đời và thành những tác phẩm kinh điển. Và mỗi khi nhắc đến văn học của thế kỉ XX, chúng ta không thể nào quên một bộ phận văn học chống chiến tranh rất nổi tiếng trên thế giới với những đại diện tiêu biểu như H. Barbuse, E. Hemingway và E. M. Remarque… Nếu như Barbuse được coi là người đi tiên phong trong phong trào chống chiến tranh đế quốc thì Hemingway, Remarque là những tác giả đã góp phần làm cho dòng văn học này phát triển và đạt được những đỉnh cao nhất định trên diễn đàn văn nghệ thế giới. Có thể xem những sáng tác của họ về Thế chiến thứ nhất là những áng văn chương giàu giá trị nghệ thuật và thấm đẫm tính chất nhân văn, tiêu biểu cho bộ phận văn học chống chiến tranh thời bấy giờ. Vì vậy khi nói đến văn học viết về Chiến tranh Thế giới thứ nhất, người ta thường nghĩ ngay đến những sáng tác của Hemingway và Remarque, đặc biệt là tác phẩm Phía Tây không có gì lạ của Erich Maria Remarque. Riêng ở Việt Nam, hai cuộc chiến tranh thần thánh đã đi qua, chúng ta được gì và mất gì? Như người “thư kí trung thành” của thời đại, nền văn học Việt Nam đã ghi lại từng bước hành quân của dân tộc qua chiều dài năm tháng từ 1945 đến 1975. Những tác phẩm văn học chiến tranh trong suốt thời kì bom đạn ấy phần nhiều nói đến những chiến công. Nhưng đằng sau mỗi trận bom chẳng lẽ không có nước mắt và nỗi đau buồn, không có cái giật mình hoảng hốt ghê sợ thần chết? Với tư cách là kí giả của tâm hồn, văn nghệ đã sử dụng “tiếng nói” của mình để ghi lại những cảm xúc chân thực nhất về những năm tháng đạn bom, trong đó có cả ánh hào quang của chiến thắng lẫn sự đau thương mất mát của một dân tộc. Niềm đau ấy được lột tả qua từng số phận của con người cá nhân. Đó cũng chính là những thành tựu nghệ thuật không thể phủ nhận của văn học viết về chiến tranh ở Việt Nam từ sau năm 1975 đến nay. 1. Lí do chọn đề tài Chúng tôi chọn đề tài này vì những lí do sau: (1). Thế kỉ XX được biết đến như một kỉ nguyên tàn khốc nhất chưa từng có trong lịch sử nhân loại, với những cuộc đại chiến quy mô và có sức huỷ diệt khủng khiếp, để lại vết tích thương tàn trên thân thể và tinh thần của thế hệ bị quăng vào máu lửa – “thế hệ mất mát”. Vì vậy đề tài chiến tranh sẽ còn tiếp tục nóng trên diễn đàn văn học, được nhìn thấy trong những lối khai thác mới, khơi sâu hơn nữa mối quan hệ phức tạp giữa số phận con người với số phận dân tộc, số phận nhân loại. Qua đó, chúng tôi nhận thấy chiến tranh là vấn đề lớn và có nhiều ý nghĩa đối với mọi thời đại rất đáng để mọi người quan tâm. (2). Sở dĩ người viết chọn so sánh Nỗi buồn chiến tranh (từ đây xin viết tắt là NBCT) và Phía Tây không có gì lạ (từ đây xin viết tắt là PTKCGL) vì đây là những tác phẩm kinh điển, có cách tiếp cận đầy hiệu quả về đề tài chiến tranh. Hơn nữa giữa hai nhà văn còn có sự tương đồng trong cảm hứng, nội dung và trong việc đi tìm những phương thức nghệ thuật mới cho một cách nhìn mới trong cùng một đề tài,… Thiết nghĩ việc tiếp cận so sánh cách nhìn chiến tranh của Bảo Ninh và Remarque thông qua hai tiểu thuyết đầu tay của họ là việc làm mới mẻ và có ý nghĩa thiết thực đối với quá trình nghiên cứu hai nhà văn này. (3). Chấm dứt chiến tranh, hòa bình vĩnh viễn là ước mơ của nhân loại. Nhưng ngày nay nhiều nước trên thế giới vẫn đang quằn quại thương đau trong biển lửa của bom đạn chiến tranh. Vì vậy những tác phẩm có tinh thần phản chiến như PTKCGL (Remarque), Chuông nguyện hồn ai; Giã từ vũ khí (Hemingway), NBCT (Bảo Ninh)… lại càng có ý nghĩa thiết thực đối với mọi dân tộc trên thế giới. Nó nhắc nhở cho chúng ta nhớ lại quá khứ để không bao giờ được quên quá khứ, bởi lẽ “quá khứ sẽ quay trở lại với những kẻ quên quá khứ” (Tạ Duy Anh). 2. Lịch sử vấn đề Tính đến thời điểm hiện tại chưa có một công trình nghiên cứu nào tập trung đi sâu vào việc so sánh Bảo Ninh và Remarque trong cách “chiêm nghiệm chiến tranh”. Rải rác đâu đó trong các công trình nghiên cứu cũng như trong một số bài viết riêng lẻ từng tác phẩm của từng nhà văn, một số nhà phê bình đã gặp gỡ nhau trong cách đánh giá sơ bộ về nội dung tư tưởng được thể hiện trong NBCT và PTKCGL. Nhiều độc giả ở Mĩ thường nhắc đến cuốn tiểu thuyết của Remarque để khen ngợi và lấy làm điểm quy chiếu khi đọc NBCT của Bảo Ninh. Leif A. Torkelsen (Columbus, OH United States) một độc giả Mỹ đã đánh giá về NBCT như sau: Liệt kê đầy đủ các phẩm chất của sách này ở đây là không thể. Liên quan đến văn học Việt Nam, đây là một tác phẩm ngoại hạng so với tất cả các tác phẩm khác cùng lĩnh vực. Liên quan đến văn học chiến tranh thì chỉ có Phía Tây không có gì lạ là may ra có thể so sánh được. Bảo Ninh đã viết nên bản tụng ca đẹp đẽ đầy ám ảnh về sự trong trắng bị mất đi trong dòng xoáy chiến tranh. Tờ Independent, một trong những nhật báo có uy tín của nước Anh đã nhận xét về cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh: “Vượt ra ngoài sức tuởng tượng của người Mỹ, Nỗi buồn chiến tranh đi ra từ chiến tranh Việt Nam đã đứng ngang hàng với cuốn tiểu thuyết chiến tranh vĩ đại của thế kỷ, Mặt trận phía Tây vẫn yên tĩnh của Erich Maria Remarque […]. Một cuốn sách viết về sự mất mát của tuổi trẻ, cái đẹp, một câu chuyện tình đau đớn… một thành quả lao động tuyệt đẹp”. Đã có nhiều công trình nghiên cứu đi sâu khai thác mặt nội dung tư tưởng và kĩ thuật kể chuyện của từng nhà văn trong từng tác phẩm. Maxwell Geismar trong Writers in Crisis đã đề cập đến vấn đề nhân tính trong sáng tác của Remarque. Theo tác giả, Remarque rất chú ý đến phẩm chất của con người trong chiến tranh để lột tả những cú sốc về mặt tinh thần của bản thân. Còn James Dews ở The language of war lại cho rằng chiến tranh đối với Remarque là sự khủng hoảng thuộc về ngữ nghĩa. Sự khủng hoảng này dựa trên sự mất niềm tin về khả năng hiệu quả của ngôn ngữ để liên hệ và can thiệp vào thế giới thực tại hữu hình hay vô hình. Ngôn ngữ trở nên vô nghĩa và thất bại trong việc diễn đạt trước sự hung bạo của chiến tranh. Riêng ở Việt Nam, khoảng đầu những năm 60 của thế kỉ XX, PTKCGL đã được tác giả Lê Huy dịch và giới thiệu với bạn đọc trong nước. Đâu đó trong các công trình nghiên cứu văn học Phương Tây nói chung và văn học Đức nói riêng, các tác giả không thể không nhắc tới Remarque khi đề cập đến văn học chống chiến tranh. Tác giả Lê Đình Cúc trong luận án tiến sĩ Tiểu thuyết viết về chiến tranh của Hemingway đã có những so sánh thú vị giữa Hemingway và Remarque. Theo ông, tác phẩm của họ phản ánh sự chua chát, cay đắng của một thế hệ thanh niên bị Chiến tranh Thế giới nghiền nát. Họ là nạn nhân và đã bị làm vật hi sinh trong cuộc chiến tranh bẩn thỉu. Tương tự, bài “Sự tham dự của nhà văn trong chiến tranh” Vương Trí Nhàn cho rằng, Remarque ở PTKCGL đã tự nhận mình muốn “viết về một thế hệ bị chiến tranh giết, tức viết về những người trở thành vật hi sinh, ngay cả khi họ tránh được những loạt đại bác […] hình ảnh con người đối mặt với chiến tranh hiện ra chủ yếu ở dạng những nạn nhân, những kẻ bị chiến tranh làm cho biến dạng mọi vui buồn yêu thích bình thường. Chẳng qua họ chỉ như một hạt cát trong sa mạc, còn hay mất chả có nghĩa lý gì hết” [54]. Lương Ngọc Bính trong cuốn Văn học Đức chống phát xít – những vấn đề mĩ học và thi pháp đã nhắc đến Remarque như chủ soái của một khuynh hướng nghệ thuật: khuynh hướng hiện thực tâm lí. Tác giả đã đánh giá cao “tư tưởng phản chiến” và “giá trị nhân văn” cao đẹp được thể hiện trong sáng tác của nhà văn. Như vậy, PTKCGL (Remarque) không hề xa lạ với độc giả Việt Nam. Nhiều nhà phê bình nghiên cứu trong nước đã có những công trình so sánh tác phẩm viết về Đại chiến Thế giới thứ nhất giữa E. Hemingway và E. Remarque. Từ sau Đổi mới năm 1986, người ta lại bắt gặp đâu đó tư tưởng của Remarque trong nhiều tiểu thuyết hậu chiến nói chung và sáng tác của Bảo Ninh nói riêng. Trong Thi pháp học hiện đại, Đỗ Đức Hiểu dành một bài viết riêng về NBCT. Tác giả đã đối chiếu mô hình tiểu thuyết của Bảo Ninh với một số tiểu thuyết Châu Âu thế kỉ XX như Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Prout. Trong Tự sự học – một số vấn đề lí luận và lịch sử có đăng bài viết của TS. Nguyễn Đăng Điệp với tựa đề "Kĩ thuật dòng ý thức qua NBCT của Bảo Ninh" đã đi sâu khám phá kĩ thuật dòng ý thức qua việc nghiên cứu những giấc mơ đứt gãy, trạng thái ngủ “mở mắt” của nhân vật Kiên. Từ đó tác giả rút ra kết luận về sức hấp dẫn của thiên tiểu thuyết: “Văn Bảo Ninh hấp dẫn người đọc ở chính khoảng lặng của ngôn từ, ở màu sắc các biểu tượng được dệt lên từ những giấc mơ, những độc thoại của con người về mình và về chính cõi người” [23, tr.408]. Đào Duy Hiệp trong Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại đã nghiên cứu thời gian trong tiểu thuyết NBCT. Một trong những kết luận quan trọng mà tác giả đã rút ra là: “Chính những thủ pháp “sai trật, ngoái lại, đón trước” ở đây đã dệt nên trong tác phẩm của Bảo Ninh một mạng lưới tâm lí truyện kể được xem như một ý thức về thời gian hoàn toàn rõ rệt và những mối liên hệ không mập mờ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai” [34]. Nhìn chung, qua những tài liệu nghiên cứu mà chúng tôi tập hợp được thì vấn đề về nội dung, nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết đã được các nhà nghiên cứu từng đưa ra bàn luận trong nhiều năm trở lại đây. Tuy vậy việc khẳng định giá trị của cuốn tiểu thuyết vẫn là công việc lâu dài của giới phê bình và công chúng văn học. Riêng ở nước ngoài, đã có rất nhiều độc giả cùng các tờ báo nổi tiếng dành nhiều lời đẹp đẽ để ngợi ca sáng tác của Bảo Ninh. Như tờ báo Anh The Guardian đã viết: "Một cuốn tiểu thuyết không thể đặt xuống. Bất kỳ nhà chính trị hoặc nhà hoạch định chính sách nào của Mỹ cũng cần nên đọc cuốn sách này. Nó lẽ ra phải được giải Pulitzer, nhưng đã không được. Nó quá hấp dẫn để xứng được thế". Một nhà phê bình khác táo bạo hơn cho rằng NBCT vượt lên trên tất cả các tác phẩm văn xuôi của Mỹ đã viết về cuộc chiến Việt Nam. Dennis Mansker, thành viên của Hội cựu binh vì hòa bình và hội cựu binh Việt Nam chống chiến tranh, tác giả cuốn sách A Bad Attitude: A Novel from the Vietnam War, đã bất ngờ khi đọc NBCT. Ngày 3/10/2008, ông viết trong niềm xúc động choáng váng: Đây là một bức tranh trung thực và tàn nhẫn đến kinh ngạc về bi kịch của một người lính Bắc Việt bị tê liệt hết nhân tính của mình sau mười năm tham chiến. Đã đến lúc thế giới phải thức tỉnh trước nỗi đau mang tính phổ quát của những người lính ở mọi bên xung đột, và cuốn sách này là nên đọc đối với những ai chọn nghề "binh nghiệp". Tôi đặc biệt giới thiệu nó cho các bạn bè cựu binh của mình; Bảo Ninh thực sự là "bạn chiến đấu" của chúng tôi, bất kể việc anh ta đứng ở phía bên kia. Hết sức giới thiệu [52]. Như vậy, NBCT cũng không hề xa lạ với giới phê bình nghiên cứu lẫn độc giả trong nước cũng như ở nước ngoài. Đâu đó trong các bài viết về văn học Việt Nam từ sau những năm Đổi mới người ta đã ít nhiều đề cập đến tiểu thuyết của Bảo Ninh. Trong giới hạn của công trình này, chúng tôi không đi sâu tìm hiểu và liệt kê hết những “chặng lịch sử vấn đề” về tình hình nghiên cứu tác phẩm mà chỉ tìm hiểu ở cấp độ khái quát nhằm phục vụ trực tiếp cho đề tài so sánh “cách nhìn” chiến tranh của Bảo Ninh và Remarque thông qua hai tác phẩm NBCT và PTKCGL. Trong giáo trình Văn học Phương Tây, khi bàn về Hemingway và Remarque, Đặng Anh Đào đã khẳng định có một mạch nối giữa họ và các nhà văn thời hậu chiến. Đối lập với cái tàn khốc, ác liệt của chiến tranh là những tình bạn, tình yêu như những “sợi chỉ xanh óng ánh” đang bị hủy hoại giữa làn mưa bom bão đạn. Môtip này nổi lên trong hầu hết các tác phẩm của ông với một kết cục vô hậu, đau thương và sự tan vỡ của tình yêu cùng những giá trị thiêng liêng khác. Đây cũng chính là điều mà ta bắt gặp trong dòng chảy của tiểu thuyết NBCT. Tình yêu và chiêm nghiệm chiến tranh là hai mạch chủ đề song song, cùng hòa quyện vào nhau làm nên tác phẩm này. Chung quy lại, đã nhiều bạn đọc nhận ra sự gặp gỡ của hai tác phẩm nhưng hầu như không có bằng cớ nào cho thấy Bảo Ninh có “ảnh hưởng” sáng tác của Remarque. Tuy các sách báo, công trình nghiên cứu đã có đề cập đến vấn đề so sánh hai tiểu thuyết trên nhưng chỉ dừng ở những nhận định rất chung và thoáng qua chứ chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu cụ thể cách nhìn về chiến tranh của hai nhà văn xem có gì tương đồng và khác biệt. Chính vì vậy, trên cơ sở tìm hiểu và tổng hợp những ý kiến, nhận định của các độc giả, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, chúng tôi đã nhận ra sự tương đồng thú vị trong cách nhìn chiến tranh của hai tác giả để từ đó đi vào nghiên cứu đề tài: Chiến tranh qua cách nhìn của Bảo Ninh và Remarque trong NBCT và PTKCGL. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đề tài sẽ được tiến hành nghiên cứu trong phạm vi cụ thể là hai tiểu thuyết NBCT của Bảo Ninh và PTKCGL của Remarque. Ngoài ra, để đảm bảo tính khách quan, ở cả chiều sâu lẫn chiều rộng, chúng tôi có đọc tìm hiểu thêm về đề tài văn học chiến tranh được viết trước đó cũng như bây giờ qua một vài tác phẩm của Việt Nam lẫn của nước ngoài. 4. Phương pháp nghiên cứu Chúng tôi đã thực hiện đề tài với sự kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, trong đó có một số phương pháp chủ yếu sau: Phương pháp hệ thống: phương pháp này giúp cho luận văn trở nên chặt chẽ, logic, hiệu quả cao. Đồng thời nó còn giúp cho người nghiên cứu nhìn nhận các vấn đề khái quát, có định hướng, từ đó đưa ra các nhận xét, đánh giá có sức thuyết phục. Nhìn chung chúng tôi sử dụng phương pháp này trong toàn luận văn, nhưng chủ lực vẫn tập trung ở chương 2. Phương pháp đối chiếu so sánh: là phương pháp chủ đạo xuyên suốt bài nghiên cứu. Phép so sánh dùng để làm nổi bật những điểm tương đồng và khác biệt trong cách độc giả nhìn nhận, đánh giá tác phẩm của Bảo Ninh và Remarque. Đồng thời so sánh nhằm khắc hoạ những điểm giống và khác nhau trong quan điểm cũng như lối trần thuật của hai nhà văn. Phương pháp kí hiệu học: Phương pháp này được dùng để so sánh kí hiệu ngữ nghĩa của những hình ảnh tượng trưng, biểu tượng được sử dụng trong NBCT và PTKCGL, từ đó thống kê tần suất xuất hiện của các hình ảnh để đi đến kết luận chung. Bên cạnh đó, phân tích những hình thức có giá trị biểu đạt nội dung để làm cơ sở tìm ra những nét đặc thù trong cách nhìn của hai nhà văn. Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong chương 2, mục 2.3.3. Phương pháp tâm lí học: Áp dụng lĩnh vực tâm lí học sáng tác vào việc nghiên cứu nhằm góp phần lí giải cách nhìn chiến tranh của hai nhà văn so với hiện thực lịch sử trước đó. Phương pháp này được rải đều trong cả ba chương, nhưng vẫn tập trung chủ yếu ở chương 1, mục lí giải cách tiếp cận tác phẩm của Bảo Ninh và Remarque từ phía người đọc. Phương pháp tiếp nhận văn học: Đây là phương pháp chủ yếu được dùng trong chương 1, nhằm tập hợp những ý kiến có xu hướng đối lập từ các nhà phê bình để lí giải và đánh giá tác phẩm một cách khách quan hơn. Phương pháp loại hình: phương pháp này được áp dụng như một phương pháp nòng cốt của luận văn. Bằng việc xác định loại hình tiểu thuyết và tìm ra những sự gặp gỡ thú vị giữa hai tác phẩm thuộc loại "hiện tượng văn học" viết về đề tài chiến tranh, người viết tiến hành so sánh hai cách nhìn chiến tranh được biểu hiện trong hai tác phẩm này. 5. Đóng góp của luận văn Thông qua đề tài, người viết hi vọng sẽ góp một phần nhỏ trong cách nhìn nhận, tiếp cận đối với hai tác phẩm rất nổi tiếng viết về đề tài chiến tranh của Bảo Ninh và Remarque. Bên cạnh đó, luận văn cũng phần nào khái quát lại những ý kiến tản mạn xung quanh hai tác phẩm văn học thuộc loại “hiện tượng văn học”, để thấy được nét độc đáo trong sáng tác của Bảo Ninh cũng như Remarque. 6. Cấu trúc luận văn Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo ra, phần Nội dung của luận văn gồm ba chương, chiếm khoảng 2/3 số trang viết, trong đó chương 2 và chương 3 được xác định là những chương trọng tâm; chương 1 làm tiền đề cơ sở cho hai chương trên. Chương 1 – được trình bày từ trang 12 đến trang 29, chương này đi vào tìm hiểu một vài ý kiến tiếp nhận tác phẩm của Bảo Ninh và Remarque từ trước tới nay vì NBCT và PTKCGL là hai tác phẩm từng gây tranh cãi xôn xao từ phía các nhà phê bình lẫn công chúng văn học. Từ đó, chúng tôi cũng thử lí giải một vài nguyên nhân dẫn đến những cái nhìn trái chiều ấy. Chương này được coi là tiền đề cơ sở cho các chương sau trong luận văn vì từ đây chúng ta sẽ phần nào nhìn thấy sự khác biệt trong tư tưởng cũng như phong cách nghệ thuật của hai nhà văn thông qua bản tập hợp những đánh giá về tác phẩm của các nhà phê bình. Đồng thời chương 1 còn góp phần làm rõ tên đề tài là “cách nhìn chiến tranh” của hai nhà văn vì đây là vấn đề chính mà người ta thường đem ra bàn luận khi đề cập đến văn bản cũng như so sánh hai nhà văn với nhau. Chương 2 – được trình bày từ trang 30 đến trang 87 chiếm một vị trí trọng yếu trong bài luận. Nội dung chính của chương này là so sánh, đối chiếu với một số tiểu thuyết trước và trong chiến tranh, để làm rõ sự khác biệt căn bản về nghệ thuật xây dựng truyện của Bảo Ninh và Remarque so với các tác giả đi trước, nhằm tô đậm nét mới lạ, độc đáo trong lối viết của hai nhà văn. Đồng thời chúng tôi cũng tập trung so sánh hai tác phẩm để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt về mặt nghệ thuật của mỗi tác phẩm. Thông thường, người ta sẽ tập trung làm sáng tỏ nội dung trước khi đi vào nghệ thuật nhưng ở công trình này, chúng tôi đưa chương nghệ thuật lên trước vì người viết muốn nhấn trọng tâm của đề tài là sự cách tân về mặt nghệ thuật của hai tác phẩm, đặc biệt là trường hợp NBCT – một "thành tựu cao nhất của văn học Đổi mới" (Nguyên Ngọc). Sở dĩ đề tài chiến tranh trong tác phẩm của hai ông khác với đề tài văn học chiến tranh trước đó là do sự khác biệt về quan điểm. Và để làm rõ điểm nhìn của mình, nhà nghệ sĩ đã phải sáng tạo một lối viết khác – lối viết thiên về chiều sâu – đòi hỏi sự đồng tình, đồng điệu và sự đồng sáng tạo từ phía bạn đọc. Chương 3 – từ trang 88 đến trang 112 nhằm tái hiện lại những nội dung thể hiện cách nhìn chiến tranh của Bảo Ninh và Remarque. Qua đó, người viết cũng đặt các tác phẩm trong thế đối sánh để nhận biết điểm giống và khác nhau trong cách nhìn của từng nhà nghệ sĩ cũng như sự khác biệt so với tiểu thuyết chiến tranh trước đó. Điều này không những góp phần lí giải toàn bộ sự đổi mới trong nội dung của hai tác phẩm thời hậu chiến mà còn làm sáng rõ tư tưởng phản chiến được thể hiện trong tiểu thuyết của Bảo Ninh và Remarque. Trên thực tế, đề tài này có những khả năng cấu trúc khác, tùy theo dụng ý của người trình bày. Người viết chọn lối “diễn dịch” và khai thác từng phần theo bố cục của tiêu đề. Theo chúng tôi, hướng này khả thủ nhất cho việc làm rõ mục đích chủ yếu của luận văn là nêu bật được cách chiêm nghiệm chiến tranh trong hai tiểu thuyết của hai nhà văn thời hậu chiến dù họ có những khoảng cách nhất định về thời gian và không gian. Để đảm bảo tính hệ thống rõ ràng và tính chính xác khách quan thì khai thác theo bố cục của tiêu đề là hợp lí hơn cả. Bên cạnh đó, cấu trúc như trên sẽ mở ra chiều hướng thuận lợi trong khi tìm hiểu cho cả người nghiên cứu lẫn người đọc vì giữa các chương đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: nếu như nội dung chương sau bổ sung và làm rõ ý tưởng cho chương trước, thì nội dung chương trước làm tiền đề cơ sở cho chương sau. Chương 1 NỖI BUỒN CHIẾN TRANH VÀ PHÍA TÂY KHÔNG CÓ GÌ LẠ QUA SỰ TIẾP NHẬN CỦA ĐỘC GIẢ 1.1. Quá trình tiếp nhận Như một luồng gió mới thổi vào đề tài văn học chiến tranh, tác phẩm của Remarque và Bảo Ninh đã nhanh chóng chinh phục độc giả, gợi ra sự quan tâm đặc biệt đối với người hâm mộ lẫn những người phản đối tác phẩm. Ngay từ năm 1991, Hoàng Ngọc Hiến đã viết: “Cách tiếp cận đề tài của Bảo Ninh giống như một sự liều lĩnh. Có thể tác giả sẽ bị trả giá nhưng trong khi không ít người còn viết thiên về cách nghĩ bằng những “thuận lí”, “một nghĩa”, “bảo đảm an toàn”, thì cuốn tiểu thuyết khác thường của Bảo Ninh là “cái được” của văn chương”. Thế chiến thứ nhất cũng như cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã qua đi nhưng cho đến nay đứa con tinh thần của hai ông vẫn còn nhiều vấn đề tranh cãi, gây xôn xao dư luận trong nước suốt mấy mươi năm qua. Có nhiều lời ngợi ca dành cho tác phẩm, nhưng cũng không ít bạn đọc công kích, phản đối nội dung của câu chuyện. Nhờ những phân tích mổ xẻ trái chiều này, tiểu thuyết của Bảo Ninh và Remarque ngày càng được quảng bá rộng rãi hơn. Việc tạo ra “sự thay đổi tầm đón đợi [34, 3]" từ phía công chúng trong bản thân nội dung câu chuyện đã góp phần kiến tạo giá trị cho tác phẩm. Sáng tác chỉ mới là quá trình vận động tư tưởng. Phải kinh qua người đọc, giá trị, ý nghĩa tiềm năng của văn bản mới trở thành hiện thực. Hơn 10 năm sau khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc, tác phẩm của Remarque mới chính thức ra mắt bạn đọc. Với 20 triệu bản, in bằng 50 thứ tiếng và được coi là “cuốn tiểu thuyết hay nhất về Thế chiến thứ nhất” (Mencken), đó là PTKCGL của Erich Maria Remarque. Tác phẩm chính thức ra mắt bạn đọc vào ngày 31/1/1929. Ngay trong lần xuất bản đầu tiên, tiểu thuyết PTKCGL đã phát hành được hơn triệu bản ở Đức. Tại Anh, Mỹ, sách còn bán chạy hơn. Tới năm 1932, PTKCGL đã được dịch ra 30 thứ tiếng, bán tới hơn 8 triệu bản. Cùng với những thế hệ nhà văn cùng thời như Hemingway, Remarque trở thành một nhà văn được ngưỡng mộ không chỉ ở Đức mà còn trên khắp các nước Châu Âu. Cuốn tiểu thuyết nhanh chóng được Emest Johannsen và Lewis Milestone chuyển thành phim. "Đây được xem là bộ phim nói đầu tiên trong lịch sử điện ảnh, chấm dứt thời kì phim câm. Bộ phim giành giải Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất và Cảnh quay xuất sắc nhất cùng năm đó. Ngoài ra phim còn có hai đề cử không thành công là Quay phim xuất sắc nhất và Kịch bản chuyển thể hay nhất. Năm 1979, tác phẩm được chuyển thể thành phim truyền hình bởi đạo diễn Delbert Mann chỉ đạo và nam diễn viên Richard Thomas đóng vai Paul Baumer. Hiện một dự án làm phim mới, Daniel Radcliffe dự kiến sẽ đóng vai chính trong phim, dự định khởi quay năm 2012 (theo Từ điển vi.wikipedia). Cuối tháng 2 năm 2009, giới văn học Đức đã kỉ niệm tròn 80 năm ngày ra đời của tác phẩm văn học bất hủ này. Tuy mang lại danh tiếng và tiền bạc nhưng PTKCGL cũng đã mang đến cho nhà văn không ít những rắc rối. Ban đầu, tác phẩm từng bị một nhà xuất bản danh tiếng từ chối (sau đó Samuel Fisher – Giám đốc Nxb đã thú nhận mình sai lầm khi bỏ qua một cơ hội về doanh thu khổng lồ). Remarque phải kí một bản cam kết nếu sách không bán chạy, ông sẽ phải hoàn trả chi phí cho việc xuất bản. Bản thân nhà văn mới đầu cũng không dám kí tên thật của mình, mà ghi “Kramer” (đọc ngược của từ Remarque). Vừa ra đời không được bao lâu, tác phẩm đầu tay của Remarque – PTKCGL đã gây nên những cuộc tranh cãi gay gắt. Nếu như một số nhà phê bình đánh giá cao cuốn sách và cho đây là một tác phẩm kinh điển nói cuộc Đại chiến Thế giới thứ nhất thì cánh hữu ở Đức lúc đó coi đây như một âm mưu nhằm bôi nhọ lực lượng quân nhân Đức. Ngày 12/12/1930, nước Đức cấm chiếu bộ phim được chuyển thể từ tác phẩm của Remarque. Tháng 5 năm 1933, sau khi Hitler lên nắm quyền, sách của Remarque cùng những tác phẩm có tinh thần phản chiến của những nhà văn đương thời đã bị đem ra thiêu rụi. Năm 1956, nước Ý cũng ra lệnh cấm chiếu phim này. Năm 1939, nhà văn bị tước quốc tịch Đức, bắt đầu sống lưu vong và trở thành công dân Mĩ năm 1947. Sau này, nhà cầm quyền ở Đức đã đặt tên Remarque cho một con đường lớn ở quê nhà và mời gọi ông về lại quê hương. Dù rất cảm động nhưng Remarque đã không bao giờ trở về thành phố quê hương vì cảm thấy thành phố mới xây lại này không còn là những gì thân quen mà nhà văn đã mô tả trong PTKCGL hay trong Đường về bia mộ đen nữa. Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh cũng có cuộc đời với nhiều biến động không kém gì PTKCGL của Remarque. Cuốn sách được in lần đầu tiên vào năm 1987 với nhan đề Thân phận của tình yêu do các biên tập viên nhà xuất bản Hội nhà văn lựa chọn. Chỉ một năm sau đó, tác phẩm được tái bản với tiêu đề do chính tác giả đặt tên từ trước Nỗi buồn chiến tranh. Đến năm 1991, NBCT trở thành một trong ba tác phẩm được giải văn xuôi của Hội Nhà văn Việt Nam – một giải thưởng danh giá nhất của làng văn nghệ nước ta trong nhiều năm qua. Nhà văn Nguyên Ngọc – người lãnh đạo Hội nhà văn hồi đó đã từng đánh giá cao thành quả sáng tạo của Bảo Ninh trong NBCT. Ông viết: Đây là cuốn tiểu thuyết về một cuộc chiến đấu của một con người tìm lẽ sống hôm nay. Bằng cách chiến đấu lại cuộc chiến đấu của đời mình. Cuốn sách này không mô tả chiến tranh. Nó "mô tả" một cuộc kiếm tìm nặng nhọc chính hôm nay. Hiện thực ở đây là hiện thực bên trong của một tâm hồn quằn quại và đầy trách nhiệm, quằn quại vì đầy trách nhiệm. Trách nhiệm lương tâm. Cuốn sách nặng nề này không bi quan. Vẫn thấm
- Xem thêm -