Chiến lược tự do hoá & mở của thị trường dịch vụ viễn thông vn trước xu thế hội nhập quốc tế

  • Số trang: 129 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

lời nói đầu 1. Tính Cấp thiết của đề tài nghiên cứu. Trong công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, ngành Viễn thông Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định. Viễn thông Việt Nam đã nhanh chóng hiện đại hoá được mạng lưới, rút ngắn đáng kể khoảng cách về cơ sở hạ tầng Viênx thôngvới các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Đến hết năm 1998, đã có 61/61 tỉnh thành phố, 100% số huyện đã được trang bị tổng đài điện tử kỹ thuật số, gần 7000/9330 xã có máy điện thoại. Hầu hết các tỉnh, thành phố, thị xã đã liên lạc trực tiếp khắp cả nước và các nước trên thế giới qua 3 tổng đài, 6 trạm vệ tinh và các tuyến cáp quang biển. Đến nay Viênx thôngViệt Nam đã hoà nhập với mạng thông tin toàn cầu. Tuy nhiên so với thế giới, mật độ điện thoại của Việt Nam vẫn còn rất thấp. Mật độ điện thoại năm 1997 ở nước ta mới đạt 1,58 máy/100 dân và trong khi đó ở Châu á trung bình 5 máy/100 dân, toàn thê giới trung bình 12 máy/100 dân, Hàn Quốc 43,04 máy/100 dân, Singapore là 55 máy/100 dân, Đài Loan là 46,62 máy/100 dân... Mục tiêu đến năm 2020 ngành Viễn thôngViệt Nam đã phấn đấu đưa mật độ điện thoại lên 30 - 35 máy/100 dân tức là gấp 10 - 15 lần hiện nay và phải tiếp tục phát triển và hiện đại hoá mang thông tin liên lạc quốc gia, mở liên lạc điện thoại đến hầu hết các xã do đại hội VIII đảng cộng sản Việt Nam đề ra. Để đạt được mục tiêu đó, trong giai đoạn từ nay đến hết năm 2020, Viễn thông Việt Nam đòi hỏi một khối lượng vốn khổng lồ, (khoảng 25 tỷ USD) để phát triển. Bên cạnh đó, trước xu thế hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng: Từ sản xuất hàng hoá thuần tuý nay đã lan sang cả lĩnh vực dịch vụ trong đó có dịch vụ Viễn thông diễn ra ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Đây là một vấn đề, một đòi hỏi cấp bách đối với dịch vụ Viễn thông Việt Nam khi bước vào thế kỷ 21. Đứng trước những yêu cầu như vậy, thì từ nay đến năm 2020 dịch vụ Viễn thông Việt Nam phải có một chiến lược phát triển phù hợp với tình hình kinh tế xã hội đất nước, phù hợp với hiện trạng Viễn thông Việt Nam; để có thể phát huy được nội lực, thu hút vốn nước ngoài và hội nhập quốc tế. Từ tình hình đó, đề tài “Chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông Việt Nam trước xu thế hội nhập quốc tế” mang tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn quan trọng. 2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn: - Khái quát tình hình hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời gian vừa qua, các xu hướng phát triển Viễn thông trên thế giới và kinh nghiệm mở cửa, hội nhập của một số quốc gia trên thế giới. - Phân tích thực trạng phát triển và mở cửa hội nhập của Bưu điện Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ Viễn thông trong thời gian qua. - Xây dựng một chiến lược tổng thể về tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông từ nay đến năm 2020, từ đó đề xuất một số kiến nghị và giải pháp cả về phía Nhà nước và các doanh nghiệp để thực hiện được chiến lược đã đề ra. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Với tính đa dạng của đề tài, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ trên phương diện tổng thể sau khi đã nghiên cứu một cách cụ thể tình hình hội nhập kinh tế nói chung và lĩnh vực dịch vụ Viễn thông nói riêng trên thế giới, và tình hình phát triển hội nhập của Bưu điện Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ Viễn thông trong thời gian qua. 4. Kết cấu nội dung của bài viết. Bài viết gồm 122 trang, được kết cấu thành 3 chương chủ yếu sau: Chương I - Tính tất yếu khách quan của hội nhập quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với lĩnh vực dịch vụ Viễn thông Việt Nam. Chương II - Tình hình phát triển và mở cửa hội nhập của Bưu điện Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ Viễn thông trong thời gian qua. Chương III - Chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông Việt Nam trước xu thế hội nhập quốc tế. Chương I Tính tất yếu khách quan của hội nhập quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với lĩnh vực dịch vụ Viễn thông Việt Nam Mục đích của chương này đi vào tìm hiểu tình hình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong thời gian qua. Đồng thời nêu lên các xu hướng phát triển Viễn thông trên thế giới và nghĩa vụ tự do hoá dịch vụ Viễn thông của Việt Nam khi tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế. Để rút ra được những kinh nghiệm và bài học cho chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông của Việt Nam trong thời gian tới, trong chương này khái quát một số kinh nghiệm và bài học mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông của một số nước trên thế giới. Chương I bao gồm 4 vấn đề được trình bày sau: I. Hội nhập quốc tế -Một xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế giới II. Viễn thông Việt Nam trước xu thế hội nhập III. Tính cấp thiết phải xây dựng chiến lược tự do hóa và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông Việt Nam IV. Kinh nghiệm và lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông các nước trong khu vực và trên thế giới I - Hội nhập quốc tế -Một xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế giới Hội nhập đã trở thành một trào lưu không thể đảo ngược, và việc tham gia của các quốc gia vào tiến trình này là tất yếu với thực tế là các thể chế chính trị, kinh tế thương mại toàn cầu, liên khu vực vẫn không ngừng được củng cố và phát triển cả về lượng và chất 1.Tình hình hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian qua Hai thập kỷ qua, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đã thực sự bước sang một giai đoạn mới -Giai đoạn toàn cầu hoá “Cơn lốc hoà nhập kinh tế “đã cuốn tất cả các nước trên thế giới từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam với tốc độ nhanh đến chóng mặt. Các nền kinh tế trên hành tinh xâm nhập lẫn nhau, liên kết với nhau, đưa nền kinh tế thế giới thành một nền kinh tế hoà nhập ngày càng đậm nét với một thị trường buôn bán toàn cầu sôi động. Đối với các quốc gia công nghiệp phát triển, hội nhâp kinh tế quốc tế là con đường ngắn nhất để họ nhanh chóng xác lập vị thế quốc tế, là phương thức phát triển giúp họ đẩy mạnh chi phối và dẫn dắt các xu thế kinh tế toàn cầu. Còn đối với các quốc gia đang phát triển hội nhập kinh tế quốc tế không những là chiến lược quan trọng thúc đẩy nhịp độ phát triển kinh tế xã hội mà còn là sự lựa chọn không thể tránh khỏi để đạt được sự tăng trưởng kinh tế bền vững. Hơn nữa ngày nay đông lực của hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ nhằm khai thác lợi thế so sánh mà còn là tiến bộ khoa học kỹ thuật và mở rộng cơ chế thị trường. Điều này càng làm cho các quan hệ đầu tư, thương mại, chuyển giao công nghệ, quản lý...đan chéo hoà nhập vào nhau hơn trong một chỉnh thể thống nhất mà trong đó các nền kinh tế quốc gia chỉ là một bộ phận hợp thành của kinh tế toàn cầu 1.1 Tiến bộ khoa học kỹ thuật thúc đẩy toàn cầu hoá. Với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ trong thời gian vừa qua đã làm cho hội nhập kinh tế bước vào một giai đoạn mới -Giai đoạn toàn cầu hoá và khu vực hoá. Những tiến bộ to lớn về công nghệ thông tin cũng như trong lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ khác đã cho phép tổ chức sản xuất và tiến hành buôn bán trên quy mô toàn cầu. Các máy Fax,cáp sợi thuỷ tinh,máy vi tính...tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty đa quốc gia tổ chức điều khiển từ xa các chi nhánh bố trí chằng chịt của họ một cách nhanh chóng, kịp thời. Các phương tiện vận chuyển khổng lồ rất hiện đại có tốc độ cao giúp cho việc tổ chức sản xuất, chế tạo, lắp ráp, và buôn bán các sản phẩm làm ra ở nhiều địa bàn khác nhau, có khi xa nhau hàng nghìn, hàng vạn km, nhằm khai thác lợi thế so sánh ở mỗi nơi. Điều này đã làm cho biên giới quốc gia đặc biệt là về kinh tế ngày càng mất tác dụng. Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cộng với sức mạnh khổng lồ của các công ty xuyên quốc gia đã và đang làm thay đổi bộ mặt thế giới từng phút từng giờ 1.2 Thúc đẩy tự do hoá thương mại thế giới Từ những năm 1990, xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá của nền kinh tế thế giới đã tạo điều kiện cho thương mại thế giới phát triển một cách nhanh chóng. Việc tự do hoá mậu dịch với biện pháp bãi bỏ hàng rào thuế quan đã giúp cho nền thương mại thế giới phát triển một cách ngoạn mục một sự phát triển “trong cạnh tranh gay gắt”, thị trường của các quốc gia trên thế giới được khai thông và mở rộng trên mọi lĩnh vực. Nếu như trước kia thương mại thế giới chỉ tập trung vào những mặt hàng truyền thống thì nay nó còn lan ra cả dịch vụ, bất động sản...Theo nhận xét của báo “Tấm gương” (Đức)tốc độ tăng trưởng thương mại thế giới từ năm 1991 cho tới năm 1998 nhanh hơn gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP của thế giới ví dụ :Tốc độ tăng trưởng GDP của thế giới năm 1994 là 3,9% trong khi đó tốc độ tăng trưởng thương mại thế giới là 9,5%. Tương tự năm 1995:3,6%và 8%;năm 1996:4,1%và 7% ;năm 1997:4,1% và 9,4%. Mặc dù trong năm 1998,bị tác động bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á nhưng tốc độ tăng trưởng thương mại thế giới vẫn đạt 3,7%. Tổ chức thương mại thế giới - WTO và các tổ chức mậu dịch tự do khu vực như liên hiệp châu âu -EU, diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái bình dương APEC, khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ-NAFTA, khu vực mậu dịch tự do ASEANAFTA..đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tự do hoá thương mại thế giới. Trong đó tổ chức thương mại thế giới WTO ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy xu hướng toàn cầu hoá thương mại. Tại hội nghị cấp bộ trưởng lần thứ nhất của WTO họp ở xingapore với 128 nước tham gia đã thông qua được hiệp định công nghệ thông tin ITA bao gồm việc xoá bỏ hàng rào thuế quan đối với các mặt hàng bán dẫn, các sản phẩm thông tin Viễn thông và các thiết bị máy tính, phần mềm và các thiết bị khoa học. Tiếp nối các hiệp định ban đầu của vòng đàm phán uruguay, vòng đàm phán Singapore càng thúc đẩy hơn nữa trong quá trình tự do hoá thương mại toàn cầu Như vậy toàn cầu hoá với việc ra đời của EU, NAFTA, AFTA...và đặc biệt là WTO đã đánh dấu thời đại của hàng rào thuế quan cao, của cách thức đóng cửa khác nhau ở các thị trường, của một số đặc quyền ít ỏi trong mậu dịch quốc tế dành cho các nước phát triển đã chấm dứt. Buôn bán quốc tế đã chuyển sang một thời đại mới, thời đại của tự do hoá thương mại thế giới 1.3 FDI và vai trò của các công ty đa quốc gia Vai trò ngày càng tăng của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một nhân tố rất quan trọng để thúc đẩy xu thế toàn cầu hoá. Tổng giá trị FDI toàn thế giới năm 1994 là 209 tỷ USD; năm 1995 là 260 tỷ USD; năm 1996 là 320 tỷ USD; năm 1998 là 450 tỷ USD. Với việc đầu tư ra nước ngoài đã góp phần làm tăng nhanh quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế Thế giới, cả trong lĩnh vực sản xuất lẫn thương mại quốc tế. Nhưng ngược lại chính xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế quốc tế càng thúc đẩy các công ty đa quốc gia đầu tư ra nước ngoài. Các nước G7 là các nước đứng đầu về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. FDI vào châu á chiếm khoảng 1/3 FDI toàn thế giới Các công ty đa quốc gia MNCs là lực lượng chủ chốt đầu tư ra nước ngoài. Hàng năm các MNCs đầu tư ra khoảng 300-350 tỷ USD. Hoạt động của MNCs đã có vai trò to lớn trong phát triển thương mại quốc tế. Theo số liệu ước tính, những năm gần đây giá trị xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của các MNCs đạt khoảng 6,5 đến 7 nghìn tỷ USD trong đó xuất khẩu nội bộ của MNCs đạt khoảng 2000 tỷ USD. Đến hết năm 1998 trên thế giới có khoảng 39000MNCs và có 300000 chi nhánh (công ty con) ở nước ngoài với tổng số vốn đầu tư trực tiếp ở nước ngoài FDI lên tới 3000 tỷ USD Bên cạnh những đóng góp lớn về vốn cho phát triển sản xuất và thương mại quốc tế, các MNCs có vai trò to lớn trong chuyển giao công nghệ. Việc chuyển giao công nghệ là điều kiện khách quan giúp cho các MNCs chiếm lĩnh thị trường và nâng cao lợi nhuận, đồng thời có khả năng chi phối các đối tác trong hoạt động kinh doanh. Các MNCs có thể chuyển giao kỹ thuật công nghệ hiện đại trong nội bộ công ty mà chuyển giao kỹ thuật công nghệ ở cấp thấp hơn cho các nước khác, công ty khác 1.4 Liên kết kinh tế quốc tế mở rộng trên các cấp độ khác nhau Hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian vừa qua theo nhiều chiều hướng và tầng nấc khác nhau: Song phương, tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực và toàn cầu. Cùng với việc ra đời diễn đàn hợp tác kinh tế châu á Thái Bình Dương-APEC, khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ NAFTA, khu vực mậu dịch tự do ASEAN/AFTA...đã chứng minh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng củng cố và phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu . Trong năm 1996, hội nghị cấp cao á -âu(ASEM) lần thứ nhất họp tại Băng cốc (Thái lan) với sự tham dự của vị nguyên thủ quốc gia và lãnh đạo chính phủ 10 nước châu á và các nước trong EU nhằm xây dựng thể chế liên kết kinh tế liên lục địa á-âu. Sự kiện này đã khép kín cạnh thứ ba của tam giác liên kết kinh tế liên lục địa trên thế giới, mà hai cạnh trước đã có từ trước là diễn đàn kinh tế châu á Thái bình dương APEC gắn liền với các nước châu á và châu mỹ ở ven hai bờ Thái bình dương, và khu vực mậu dịch xuyên Đại Tây Dưong TAFTA giữa Hoa Kỳ và Bắc Mỹ với EU và Tây Âu Trong những năm qua, các tổ chức liên kết tiểu khu vực và khu vực tiếp tục phát triển. ở châu Phi, cộng đồng kinh tế các nước Tây phi (ECOWAS) nằm trong khu vực nghèo nhất thế giới gồm 16 nước thành viên trong đó có Nigeria, Ghana, Mali, Senegan...đã xúc tiến từng bước việc thiết lập liên minh hải quan vào năm 2000 và liên minh kinh tế toàn diện vào năm 2005. Cũng tại lục địa đen, 12 nước thành viên Cộng đồng phát triển phía nam Châu phi -SADC đã ký nghị định thư vào năm 1996 thành lập khu vực mậu dịch tự do với 130 triệu dân và kêu gọi cắt giảm thuế quan trong thời hạn tối đa 8 năm Các nước ở Nam Mỹ đang tiến tới thiết lập khu vực buôn bán tự do châu Mỹ khổng lồ FTAA vào năm 2005, tạo ra một khối buôn bán tự do lớn thứ tư trên thế giới với 250 triệu người tiêu dùng và có GĐP là 800 tỷ USD. Các hàng rào thuế quan giữa các nước này dự định sẽ huỷ bỏ vào năm 2004 Tại châu á, trong những năm qua xu hướng hợp tác tiểu khu vực phát triển mạnh.Việc Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên, Hàn Quốc, Mông Cổ, Nga ký kết các hiệp định thành lập khu vực phát triển kinh tế vùng sông Turmen ở Đông Bắc A hồi tháng 12/1995 đã mang đến sinh khí mới cho hợp tác kinh tế ở vùng này. Tại hội nghị quốc tế ở Bắc Kinh với chủ đề đẩy mạnh phát triển và hợp tác khu vực giữa các nước đông Bắc á trong thế kỷ 21, các học giả nhất trí cho rằng khi nền kinh tế khu vực Thái Bình Dương phát triển mạnh, vùng Đông Bắc á nên tăng cường hợp tác khu vực nhằm tạo một thị trường có tiềm lực lớn. Tại khu vực Nam á, 7 nước trong tổ chức SAARC -Hiệp hội các quốc gia Nam á vì sự hợp tác khu vực trong đó có ấn Độ, Pakistan đã đồng ý huỷ bỏ hàng rào buôn bán càng nhanh càng tốt nhằm tăng cường buôn bán và hợp tác khu vực trong các liên doanh, đầu tư và kỹ thuật với hy vọng thành lập được một khu vực buôn bán giống như ASEAN Việc tổ chức ASEAN chính thức kết nạp Lào và Myanmar trong thời gian vừa qua đã mở ra triển vọng to lớn hình thành Tổ chức hiệp hội các nước Đông Nam á ASEAN và khu vực mậu dịch tự do thương mại AFTA bao gồm toàn thể 10 nước ở trong khu vực. Hiện tại ASEAN với 9 nước thành viên là khu vực kinh tế lớn thứ tư trên thế giới, có diện tích 3,3 triệu km với 400 triêu dân, có GDP hơn 550 tỷ USD, xuất khẩu hơn 300tỷ USD/năm. AFTA đang đẩy mạnh việc thực hiện kế hoạch tự do buôn bán vào năm 2003 hoặc sớm hơn, thúc đẩy hình thành khu vực đầu tư tự do ASEAN và sau đó từng bước tiến tới nhất thể hoá ASEAN về kinh tế trong vùng vài ba chục năm tới Tóm lại, toàn cầu hoá đang tạo ra những tác động tích cực và có những ảnh hưởng tiêu cực, những cơ hội to lớn và những thách thức nghiêm trọng, nó kích thích sự phát triển đối với những ai biết khai thác lợi thế của xu hướng lịch sử mới này và khiến những ai chậm chân, đứng bên lề có thể bị tụt hậu ngày càng xa 2. Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong thời gian qua Hội nhập kinh tế quốc tế vừa là một xu hướng vừa là yêu cầu của các quốc gia trên thế giới. Đối với Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tìm kiếm những nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài để hỗ trợ cho sự nghiệp cải cách và công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để thực hiện mục tiêu đó, trong những năm vừa qua Việt Nam đã thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ để thực hiện từng bước hội nhập. Việt Nam tích cực mở rộng các mối quan hệ thương mại, hợp tác kinh tế với nhiều nước và tổ chức quốc tế theo nhiều tầng nấc khác nhau: Song phương, tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực và toàn cầu. Năm 1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của ASEAN và đang nỗ lực tham gia thực hiện các chương trình hợp tác kinh tế ASEAN, đặc biệt là chương trình khu vực mậu dịch tự do AFTA. Cùng với việc tham gia AFTA/ASEAN Việt Nam cũng đã tham gia diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM) ngay từ khi hình thành vào tháng 3/1997 với tư cách là thành viên sáng lập. Đặc biệt, năm 1997 đánh dấu một sự kiện quan trọng và có ý nghĩa lớn lao đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Sau một thời gian nỗ lực vận động và chuẩn bị, Việt Nam đã được các nhà lãnh đạo APEC tuyên bố sẽ kết nạp làm thành viên vào năm 1998. Đối với tổ chức thương mại thế giới (WTO) Việt Nam cũng đã đệ đơn xin gia nhập và trong hai năm 1997, 1998 Việt Nam đã chuẩn bị cho các vòng đàm phán gia nhập WTO với tổ công tác và các nước quan tâm. Trong thời gian qua, tiếp theo việc bình thường hoá quan hệ ngoại giao giữa Việt nam và Mỹ, hai nước đã tiến hành nhiều vòng đàm phán để ký kết các hiệp định kinh tế song phương về các vấn đề về nợ , bản quyền, từng bước bình thường hoá quan hệ kinh tế thương mại. Song song với những việc trên, trong những năm qua Việt Nam tích cực hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF... nhằm tận dụng một cách có hiệu quả sự hợp tác của các tổ chức đó phục vụ tiến trình phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của mình. Nhưng có một điều là tất cả sự hợp tác, quan hệ trên đều phải lấy các nguyên tác của WTO làm tiêu chuẩn. 3. Những cơ hội và thách thức với Việt Nam trong quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế. Đối với Việt Nam là một nước đang phát triển, có nền kinh tế chuyển đổi, tham gia hội nhập với xuất phát điểm thấp hơn nhiều so với nhiều nước trên thế giới.Vì vậy, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế một mặt đang mở ra nhiều cơ hội cho chúng ta, mặt khác cũng đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức lớn lao. 3.1. Những lợi ích của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế. Hiện tại Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu của công cuộc công nghiệp hoá đất nước. Việt Nam mở cửa và hội nhập vào kinh tế quốc tế sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam thay đổi cơ cấu kinh tế thích hợp hướng công nghiệp hoá và xuất khẩu, tạo cơ hội để phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ. + Việt Nam sẽ không bị phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế và mở rộng được nhiều thị trường xuất khẩu ra bên ngoài do việc được hưởng quy chế tối huệ quốc (MFN) và ưu đãi quốc gia (NT) của các nước thành viên, đặc biệt là các mặt hàng xuất khẩu mà ta có lợi thế so sánh như gạo, cà phê, hải sản, may mặc, dày dép... Ví dụ: Việc Việt Nam tham gia vào APEC sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam hợp tác về thương mại với các nước khu vực châu á - Thái Bình dương. Thương mại giữa Việt Nam và các nước trong khu vực châu á - Thái Bình Dương chiếm hơn 80% tổng lượng thương mại quốc tế của Việt Nam. Tham gia vào APEC sẽ giúp Việt Nam khai thác được lợi thế, tận dụng những ưu đãi của APEC dành cho các nước đang phát triển, tránh rơi vào thế bị cô lập trong xu thế hợp tác và cạnh tranh khu vực. + Khi tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế Việt Nam phải tiến hành cải cách thể chế, chính sách, luật pháp cho phù hợp với yêu cầu của các tổ chức này. Điều này công với các lợi thế so sánh mà lâu nay Việt Nam có như lao động, vị trí địa lý... sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam có cơ hội thu hút được vốn đầu tư nước ngoài nhiều hơn. + Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo ra động lực để các công ty trong nước đổi mới công nghệ, cải tiến phương pháp quản lý, tăng cường hiệu quả kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm để cạnh tranh và tồn tại trong điều kiện kinh tế mở. Ngoài ra, hội nhập kinh tế quốc tế còn tạo điều kiện cho các công ty Việt Nam bước vào thị trường thế giới để mở rộng sản xuất kinh doanh, cạnh tranh trực tiếp với các công ty nước ngoài. + Trong quá trình hội nhập vào các tổ chức kinh tế quốc tế, Việt Nam sẽ sử dụng được cơ chế giải quyết tranh chấp đa phương để bảo vệ được lợi ích và giảm bớt được sức ép của các nước lớn trong thương mại. Đồng thời nâng cao được vai trò của Việt Nam trong các cuộc đàm phán thương lượng thương mại trong tương lai. 3.2. Những nghĩa vụ và thách thức của Việt Nam. Cùng với những lợi ích mang lại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thì bên cạnh đó quá trình hội nhập buộc Việt Nam phải thực hiện những nghĩa vụ của mình theo những tiêu chuẩn quốc tế và tất yếu Việt Nam sẽ gặp phải những khó khăn, thách thức. 3.2.1. Nghĩa vụ của Việt Nam. + Việt Nam sẽ phải mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ thông qua việc giảm thuế và các biện pháp phi thuế quan trong khi luật lệ, kinh nghiệm và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp, nhất là lĩnh vực dịch vụ bao gồm: Ngân hàng, Bảo hiểm, Vận tải, Bưu chính - Viễn thông, Xây dựng và Tư vấn. + Việt Nam sẽ phải có sự bảo vệ hợp lý đối với quyền tác giả của các sản phẩm trí tuệ như: Mẫu mã, bằng sáng chế, nhãn hiệu thương mại, chương trình máy tính và thu thanh thông qua các quy định pháp lý phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. + Việt Nam cần phải sửa đổi các qui định về đầu tư nước ngoài không phù hợp, phải thực hiện các nghĩa vụ đối với quốc gia và giảm hoặc loại trừ những hạn chế liên quan đến đầu tư nước ngoài như yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá, phần trăm hàng xuất khẩu trong các dự án đầu tư. + Việt Nam phải tiếp tục cải cách hệ thống thương mại và kinh tế của mình phù hợp với các qui định của các tổ chức kinh tế quốc tế. Các khu vực cần phải cải cách hơn nữa gồm hệ thống giá, chế độ xuất nhập khẩu, hệ thống thuế và tài chính, các hoạt động thương mại của khu vực doanh nghiệp Nhà nước và bảo hộ quyền tác giả. Các nghĩa vụ khác Việt Nam sẽ phải thực hiện bao gồm: Minh bạch hoá chế độ thương mại, áp dụng thống nhất chính sách thương mại trên phạm vi cả nước; và có thời gian biểu cho quá trình cải cách kinh tế. 3.2.2. Những thách thức: + Nền kinh tế Việt Nam còn nhiều yếu kém. Việc mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế có nhiều nội dung liên quan đến tự do hoá thương mại và đầu tư, và điều này trong thời gian đầu sẽ gây cho Việt Nam những khó khăn nhất định. Cùng với những khía cạnh tích cực của tự do cạnh tranh, thì mặt tiêu cực cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn nếu như cải cách trong nước không được thực hiện kịp thời và đúng lượng. + Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp vả lại đang trong quá trình chuyển đổi. Vì vậy việc hoạch định một chính sách kinh tế thương mại sao cho phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa tạo được những điều kiện hợp lý để tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế vẫn là một điều nan giải khó có thể giải quyết được trong thời gian ngắn. + Một điều tất yếu là trong quá trình hội nhập Việt Nam sẽ phải giảm thuế xuất nhập khẩu. Việc giảm thuế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu ngân sách vốn thu đã không đủ chi. + Hội nhập kinh tế quốc tế là một lĩnh vực hoàn toàn mới lạ đối với Việt Nam. Trong khi đó đội ngũ cán bộ của Việt Nam còn khá yếu kém cả về kiến thức chung, cũng như kiến thức chuyên ngành có liên quan đến vấn đề hội nhập. + Một thực tế cho chấy, hiện nay hầu hết các ngành kinh tế Việt Nam từ sản xuất đến dịch vụ chưa chuẩn bị hay chưa xây dựng một chiến lược thống nhất về hội nhập để tăng cường sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam, biểu tượng Việt Nam trên thương trường quốc tế. + Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Đông Nam á có phần nào tác động tới nền kinh tế Việt Nam. Do vậy trong thời gian tới quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ít nhiều gì cũng sẽ gặp khó khăn. II - Viễn thông Việt Nam trước xu thế hội nhập. Trong thời gian tới xu hướng hội nhập nói chung vẫn tiếp tục được củng cố và phát triển cả bề rộng và bề sâu, trong đó đáng chú ý là xu hướng đẩy nhanh việc mở cửa thị trường trong nhiều lĩnh vực. Kể cả lĩnh vực được coi là phức tạp và có nhiều gay cấn là lĩnh vực thương mại dịch vụ mà trong đó dịch vụ Viễn thông được đặt lên hàng đầu. 1. Các xu hướng phát triển Viễn thông trên thế giới. Trong 2 thập kỷ qua đã diễn ra những sự thay đổi mạnh mẽ trong Viễn thông, sự thay đổi công nghệ một cách nhanh chóng và đưa vào nhiều ứng dụng công nghệ mới. Thị trường Viễn thông tăng trưởng rất nhanh, theo dự báo số thuê bao điện thoại cố định vào năm 2005 sẽ gấp đôi năm 1994 (trên 1,2 tỷ), số thuê bao điện thoại di động từ 80 triệu năm 1994 tăng đến 400 triệu, số thuê bao Internet từ 65 triệu năm 1997 sẽ lên đến 570 triệu năm 2000. Tại hội nghị phát triển Viễn thông thế giới do ITU tổ chức tại Malta từ 23/3 - 1/4/1998, sau khi đánh giá môi trường Viễn thông hiện nay đã nêu bật lên các xu hướng phát triển Viễn thông là: 1.1. Xu hướng toàn cầu hoá, tự do hoá, mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông ở mức quốc gia, khu vực và quốc tế. Việc toàn cầu hoá về kinh tế đã thúc đẩy nhanh quá trình tự do hoá thương mại toàn cầu, làm cho giao lưu kinh tế mậu dịch toàn cầu ngày càng sôi động. Vấn đề thương mại hoá dịch vụ được đặt ra trong tất cả các tổ chức thương mại toàn cầu và khu vực như WTO, APEC, ASEAN... trong đó có dịch vụ Viễn thông. Các tổ chức này đều nhằm mục đích là đến năm 2020 sẽ tiến tới việc tư do hoá hoàn toàn thương mại dịch vụ trong khu vực và trên thế giới. Hiện nay trong hiệp định chung về thương mại dịch vụ (Ganeral Agreement on trade in servies - GATS) của WTO, các dịch vụ Viễn thông được chia làm hai loại - đó là các dịch vụ cơ bản và các dịch vụ giá trị gia tăng trong đó các dịch vụ cơ bản đóng vai trò quan trọng hơn xét từ góc độ kinh tế, kỹ thuật cũng như chủ quyền an ninh quốc gia. Nói chung trong thời gian tới việc tự do hoá, mở cửa thị trường Viễn thông ở các quốc gia, các tổ chức khu vực đều dựa trên nguyên tắc của WTO về dịch vụ Viễn thông trong hiệp định chung về thương mại dịch vụ. Phân loại dịch vụ Viễn thông trong WTO/ GATS I. Các dịch vụ Viễn thông cơ bản: 1. Các dịch vụ thoại. 2. Các dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch gói. 3. Các dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch kênh. 4. Các dịch vụ TELEX. 5. Các dịch vụ Telegraph. 6. Các dịch vụ Facsimile. 7. Các dịch vụ cho thuê kênh riêng. 8. Các dịch vụ nhắn tin. 9. Các dịch vụ di động tế bào số/analogue. 10. Các dịch vụ thông tin vệ tinh. 11. Các dịch vụ thông tin các nhân (PCS) 12. Các dịch vụ dữ liệu di động. 13. Các dịch vụ khác. II. Các dịch vụ giá trị gia tăng. 1. Dịch vụ thư điện tử (E mail) 2. Dịch vụ thư thoại. 3. Dịch vụ khôi phục thông tin và cơ sở dữ liệu trực tuyến (on line) 4. Dịch vụ trao đổi dữ liệu điện tử (EDI). 5. Dịch vụ Facsimile gia tăng giá trị/cải tiến tính năng (gồm cả dịch vụ lưu trữ và tự động chuyển, lưa trữ và khôi phục). 6. Dịch vụ chuyển đổi mã và giao thức. 7. Dịch vụ xử lý thông tin và / hoặc số liệu trực tuyến (kể cả dịch vụ xử lý các giao dịch kinh doanh). 8. Các dịch vụ khác. Đối với các dịch vụ giá trị gia tăng (VAS) là những dịch vụ Viễn thông đầu tiên được đưa ra đàm phán và cam kết trong GATT 93 (tiền thân của WTO). Kết thúc vòng đàm phát GATT93, đã có 68 nước trên thế giới có cam kết với cấc dịch vụ Viễn thông VAS . Sở dĩ các nước bàn và cam kết mở cửa các dịch vụ VAS trước vì đây là những dịch vụ dễ triển khai về kỹ thuật và ít ảnh hưởng đến quyền lợi kinh tế cũng như an ninh quốc gia của các nước. Tuy nhiên, hoạt động có ý nghĩa nhất và có ảnh hưởng sâu rộng nhất về thương mại dịch vụ Viễn thông trong WTO chỉ bắt đầu khi có vòng đàm phán về mở cửa thị trường các dịch vụ Viễn thông cơ bản (Group on basis telecom -GBT). Đây là lĩnh vực dịch vụ Viễn thông quan trọng mà bất cứ quốc gia nào cũng muốn bảo hội vì lý do an ninh, chủ quyền quốc gia và lợi nhuận. Ngày 15/2/1997, 69 quốc gia thành viên WTO đã ký nghị định thư thứ 4 của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ liên quan đến dịch vụ Viễn thông cơ bản, có hiệu lực từ 5/2/1998. Cho tới nay con số các nước tham gia ký kết hiệp định về Viễn thông cơ bản đã tăng lên 72 nước, có thể nói thế giới Viễn thông đã thay đổi một cách căn bản nhớ kết quả của hiệp định này. 72 nước đã đưa ra cam kết trong hiệp định chiếm tới 93% giá trị thị trường Viễn thông thế giới. Trong hiệp định này, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, tiến trình phát triển Viễn thông của từng nước, các quốc gia đều đưa ra các cam kết về lộ trình hội nhập và mở cửa của thị trường dịch vụ Viễn thông từ nay đến năm 2020. Đối với nhóm các nước phát triển như EU, Bắc Mỹ, Nhật Bản... tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông bắt đầu từ năm 1998. Đây là những nước chiếm tới 75% thị trường dịch vụ Viễn thông trên toàn thế giới do vậy quá trình tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển dịch vụ Viễn thông của các nước còn lại. Các nước công nghiệp mới như Singapore, Hàn Quốc... mặc dù Viễn thông của các nước này không phát triển bằng các nước công nghiệp phát triển nhưng các nước này cũng đưa ra cam kết sẽ tự do hoa và mở cửa thị trường hoàn toàn trong một vài năm tới. Còn đối với các nước đang và chậm phát triển, mặc dù biết rằng tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông sẽ đem đến nhiều bất lợi nhưng trước xu thế toàn cầu hoá tất cả các lĩnh vực kinh tế đồng thời trước sức ép của các nước phát triển, các nước này cũng đã cam kết sẽ tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông từ nay đến năm 2020. Hiện tại giá trị doanh thu từ Viễn thông quốc tế chỉ chiếm khoảng trên 10% trong tổng số 670 tỷ USD của thị trường Viễn thông toàn cầu. Tuy nhiên, với kết quả đạt được của GBT trong WTO, với xu thế toàn cầu hoá ngày càng tăng, sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và xu thế cạnh tranh ngày càng tăng, tỷ lệ trên có thể tăng lên 15-20% vào đầu thế kỷ tới. 1.2. Xu hướng cải cách mạnh mẽ ngành Viễn thông theo hướng khuyến khích cạnh tranh và khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân trong khai thác dịch vụ Viễn thông. Hiện nay trên thế giới đặc biệt là ở các nước đang phát triển, thị trường dịch vụ Viễn thông vẫn do một hoặc hai công ty khai thác Viễn thông duy nhất thống trị về mặt truy nhập nội hạt và lưu lượng đường dài trong nước và quốc tế. Đồng thời các công ty này cũng thống trị luôn trong lĩnh vực thông tin di động. Với việc độc quyền đã làm cho giá cả thường mất cân đối, các công ty thống trị không khuyến khích giảm chi phí hay nâng cao hiệu quả kinh doanh. Tất nhiên vấn đề độc quyền trong Viễn thông có liên quan đến an ninh quốc phòng. Nhưng trước xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá trong khai thác dịch vụ Viễn thông, hầu như Chính phủ các nước trên thế giới đã cho phép thêm nhiều công ty được tham gia vào thị trường dịch vụ Viễn thông. Các lĩnh vực khuyến khích các công ty tham gia khác thác thường là các lĩnh vực hấp dẫn, có lợi nhuận cao như là các dịch vụ đường dài quốc tế, di động, các thiết bị đầu cuối khách hàng và các dịch vụ giá trị gia tăng. Việc tăng số công ty được tham gia khai thác dịch vụ Viễn thông nhằm tăng cường sự tham gia của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia vào quá trình cạnh tranh, tạo động lực thúc đẩy Viễn thông phát triển. Tuy nhiên việc đưa cạnh tranh vào lĩnh vực dịch vụ Viễn thông không phải là một quá trình xảy ra nhanh chóng kể cả những nước công nghiệp phát triển như Anh, Mỹ, Pháp.... Thông thường lúc đầu Chính phủ chỉ cho phép hai hoặc ba công ty cạnh tranh khai thác các dịch vụ Viễn thông, và các công ty mới thành lập thường bị hạn chế về phạm vi khai thác.Ví dụ:Như ở các nước đang phát triển các công ty mới thành lập lúc đàu chỉ được khai thác dịch vu nội hạt, các dịch vụ giá trị gia tăng và thông tin di động.Sau một thời gian mới cho phép tham gia khai thác các dịch vụ cơ bản, có phạm vi đường dài và quốc tế. Tuy nhiên hầu như các nước đều duy trì một công ty chủ đạo như công ty NTT của Nhật Bản, BT của Anh, ATT của Mỹ ,FT của Pháp... Thông thường trên thế giới, dịch vụ thông tin di động, nhắn tin được khuyến khích sự tham gia của nhiều công ty, tại vì: + Dịch vụ thông tin di động và nhắn tin thường không ảnh hưởng đến nhiều doanh thu của thông tin cố định. + Việc xây dựng kết cấu mạng lưới của các công ty kinh doanh dịch vụ thông tin di động, nhắn tin thường không ảnh hưởng đến mạng cố định. Ngoài ra trong thời gian gần đây để khuyến khích cạnh tranh trong khai thác dịch vụ Viễn thông cũng như thu hút được nguồn lực để phát triển Viễn thông, chính phủ của nhiều nước đã cho phép khu vực tư nhân tham gia vào việc cho phép khu vực tư nhân tham gia vào hiện tại các nước sử dụng hai phương pháp chủ yếu sau: Phương pháp thứ nhất: Cho các công ty tư nhân tham gia vào khai thác dịch vụ Viễn thông, cùng cạnh tranh với các công ty nhà nước. Tuy nhiên các dịch vụ này thường bị giới hạn ở các dịch vụ giá trị gia tăng và các dịch vụ bán lại, phương pháp này được sử dụng phổ biến ở các nước công nghiệp phát triển đặc biệt là Mỹ, Anh, Canađa và Nhật Bản. Phương pháp thứ hai: Tư nhân hoá hay ở Việt Nam còn gọi là cổ phần hoá các công ty khai thác dịch vụ Viễn thông thuộc sở hữu Nhà nước, tất nhiên Chính phủ vẫn nắm cổ phàn khống chế. Việc cổ phần hoá nhằm giúp Chính phủ nhận được nguồn vốn cần thiết từ khu vực tư nhân và tận dụng ưu thế của thị trường cổ phiếu đang phát triển. Rất nhiều nước đang áp dụng phương pháp này và tất nhiên ở các thị trường Viễn thông tiên tiến và phát triển thì tốc độ tư nhân hoá càng nhanh chóng. Và các nước ở Đông Âu và cộng đồng các quốc gia độc lập - SNG thường thực hiện theo phương pháp này. Ví dụ: ở Bungary Chính phủ bán 25% cổ phần của công ty BTC (công ty Viễn thông Bungary). Tốc độ tư nhân hoá những năm gần đây đã phát triển nhanh chóng kể cả ở các nước phát triển và các nước đang phát triển. Xu thế này ngày càng tăng khi mà tự do hoá Viễn thông đang diễn ra sôi động trên toàn thế giới Tóm lại, xu hướng cải cách mạnh mẽ ngành Viễn thông theo hướng khuyến khích cạnh tranh và khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân trong khai thác dịch vụ Viễn thông ngày càng phổ biến gần như toàn bộ các nước trên thế giới với mục tiêu tăng cường hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng về thông tin Viễn thông của xã hội và người sử dụng Khi xem xét hai xu hướng chủ yếu về Viễn thông kể trên phải kể đến vai trò của các công ty đa quốc gia - MNCs trong lĩnh vực khai thác dịch vụ Viễn thông. Chính các công ty này là chất xúc tác cho quá trình toàn cầu hoá, tự do hoá Viễn thông. Các MNCs đã xây dựng một mạng lưới thông tin có tính toàn cầu từ đầu này đến đầu kia, không chia cắt, phục vụ thông tin quá "tất cả một cửa". Khi các hiệp ước, hiệp định về tự do hoá thương mại dịch vụ Viễn thông giữa các nước được thực hiện thì các MNCs thường thường hay liên minh với các công ty khai thác nhà nước ở nước sở tại để xâm nhập vào thị trường các nước này. Hiện tại, các MNCs trong Viễn thông chủ yếu tập trung ở các nước phát triển Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản. Với lợi thế về vốn, công nghệ, thị trường các MNCs ngày càng xâm nhập sâu vào tất cả các loại hình dịch vụ Viễn thông, từ dịch vụ giá trị gia tăng cho đến dịch vụ cơ bản. 1.3. Xu hướng hội tụ công nghệ Viễn thông - Tin học - Phát thanh truyền hình và đa phương tiện. Bước vào thập kỷ 90, đi đôi với sự tiến bộ và hoà nhập vào nhau của kỹ thuật Viễn thông và kỹ thuật tin học, đi đôi với việc thúc đẩy tin học hoá toàn cầu và dần dần nới lỏng việc quản chế thị trường Viễn thông, ngành Viễn thông, ngành tin học và phát thanh truyền hình trên thế giới đã hoà quyện, xâm nhập, chồng lấn nghiệp vụ lẫn nhau, ranh giới phân cách giữa các ngành nghề trước kia ngày càng không rõ ràng. Sự hoà nhập về kỹ thuật thúc đẩy sự hoà nhập về mạng lưới, hoà nhập về nghiệp vụ và hoà nhập về thị trường. Xu hướng này được chứng minh bởi sự sáp nhập và liên hợp ngày càng nhiều của các công ty khai thác Viễn thông, máy tính truyền hình và hữu tuyến. Ví dụ: + Tháng 1/1998 Công ty Bell Tây Nam SBC của Mỹ đã bỏ ra 4,4 tỉ USD mua lại Công ty New Southern England để tiến vào thị trường điện thoại nội hạt Đông Bắc nước Mỹ. + Ngày 15/9/1998 Công ty Bell Tây Nam SBC của Mỹ lại cùng với công ty Viễn thông lớn thứ bảy của Hoa Kỳ, cũng là nhà đầu tư ngoại quốc lớn nhất vào thị trường Viễn thông Châu Âu, là công ty Ameritech, đã chính thức sáp nhập với giá đến 62 tỉ USD, trở thành vụ sáp nhập với mức tiền lớn nhất trong lịch sử Viễn thông nước Mỹ. + Ngày 15/6/1998, Công ty Viễn thông phương Bắc - Vortel Canada bỏ ra 9,1 tỉ USD mua công ty Bell Net Works, là nhà chế tạo thiết bị mạng Internet mới và ưu tú của nước Mỹ, cho thấy quyết tâm của các nhà cung ứng dịch vụ Viễn thông truyền thông tiến quân vào thị trường tin học mà cụ thể là thị trường thiết bị mạng dữ liệu. + Ngày 26/6/1998, công ty điện báo điện thoại - ATT của Mỹ tuyên bố bỏ ra 4 tỉ USD doanh thu mua công ty truyền hình hữu tuyến (truyền hình cáp) lớn thứ hai của nước Mỹ là TCI, trở thành vụ mua bán sáp nhập quy mô lớn nhất giữa hai ngành Viễn thông và truyền hình hữu tuyến. Vụ việc này được coi như là sự bắt đầu quan trọng của công ty điện thoại đường dài tiến quân vào thị trường nội hạt, cũng là bằng chứng tốt đẹp về việc hoà nhập giữa Viễn thông và truyền hình hữu tuyến. Ngoài ra còn có nhiều vụ thu mua, sáp nhập khác nữa giữa các hãng Viễn thông (Chế tạo và khai thác, đường dài và nội hạt, trong nước và quốc tế )với các hãng máy tính - tin học, các hãng truyền hình trong một nước, và giữa các nước và các khu vực khác nhau. Sáp nhập, tổ chức lại và liên hiệp giữa các ngành Viễn thôngTin học-Truyền hình đã làm cho tài nguyên, tư bản, kỹ thuật, thị trường... được tổ chức lại, bù đắp ưu thế cho nhau giữa các ngành, Ví dụ: Các công ty Viễn thông cần kỹ thuật ở các các công ty máy tính, còn các công ty máy tính thì cần thị trường ở các công ty Viễn thông. Điều này tạo điều kiện cho mạng Viễn thông phát triển nhanh chóng và trở thành cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu về dịch vụ thông tin và trở thành nền tảng hết sức quan trọng để "Xã hội công nghiệp" chuyển sang thời kỳ của "Xã hội thông tin". 2. Tự do hoá dịch vụ Viễn thông - nghĩa vụ của Việt Nam khi tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế. Năm 1995, việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN đã mở ra một thời kỳ mới cho kinh tế đối ngoại đó là thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Đến tháng 8 năm 1998, Việt Nam được kết nạp vào tổ chức kinh tế châu á - Thái Bình Dương - APEC. Và trong thời gian tới Việt Nam đang nỗ lực đàm phán, thương lượng để được gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới WTO, và cũng đang tiến hành thương lượng với Hoa Kỳ để đi đến ký hiệp định thương mại giữa hai nước. Tuy nhiên để hội nhập đầy đủ vào các tổ chức này thì Việt Nam phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà các tổ chức kinh tế quốc tế yêu cầu trong đó có nghĩa vụ tự do hoá thương mại dịch vụ. Trước xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông trên thế giới, thì vấn đề tự do hoá Viễn thông là một yêu cầu, một nghĩa vụ cấp bách đối với Việt Nam khi mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt để được gia nhập vào WTO cũng như ký được hiệp định thương mại Việt Mỹ thì tự do hoá dịch vụ Viễn thông là một trong những vấn đề luôn được đặt lên hàng đầu. 2.1. Trong tổ chức thương mại thế giới - WTO. Sau vòng đàm phán Uruguay, quá trình tự do hoá thương mại được mở rộng ra đối với cả thương mại dịch vụ. Hiệp định chung về thương mại dịch vụ GATS là nỗ lực đầu tiên để đưa lĩnh vực thương mại dịch vụ theo những nguyên tắc điều tiết của thương mại đa biên. GATS đưa ra một số quy định về nghĩa vụ chung và những yêu cầu cụ thể trong thương mại dịch vụ. GATS đề cập đến một số khái niệm, nguyên tắc và quy định cho phép các nước đang phát triển linh hoạt hơn trong việc điều chỉnh quá trình tự do hoá thương mại dịch vụ. Trong vòng đàm phán Uruguay về thương mại đa biên, 11 ngành dịch vụ đã được đưa ra đàm phán trong đó có lĩnh vực dịch vụ Viễn thông. Hiện tại, thị trường dịch vụ Viễn thông ở Việt Nam vẫn được chính phủ bảo hộ ở mức khá cao. Chỉ có 3 công ty được phép khai thác dịch vụ Viễn thông đó là: Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam - VNPT; Công ty Viễn thông quân đội - VIETTEL; Công ty cổ phần Viễn thông Sài Gòn - SPT. Còn đối với các công ty nước ngoài chỉ được khai thác dịch vụ Viễn thông dưới dạng hợp đồng hợp tác kinh doanh - BCC. Quy chế đối xử quốc gia (NT) vẫn chưa được dành cho các công ty dịch vụ Viễn thông nước ngoài. Các công ty này đang phải tiếp tục đối mặt với những hạn chế hành chính trong quá trình hoạt động tại Việt Nam. Ngoài ra, cũng như các lĩnh vực khác, việc thiếu tính minh bạch và một cơ chế luật pháp thiếu đồng bộ đã ảnh hưởng nhiều đến sự tiếp cận thị trường của các nhà cung cấp dịch vụ Viễn thông ở Việt Nam. Vì vậy để được gia nhập vào WTO, Việt Nam phải đưa ra biện pháp cho phép các công ty nước ngoài xâm nhập thị trường dịch vụ Viễn thông. Việt Nam cần phải có các nghiên cứu về tác động của sự tự do hoá dịch vụ Viễn thông đối với nền kinh tế và đưa ra các quyết định dịch vụ Viễn thông nào sẽ được mở, cho phép cạnh tranh nước ngoài đặc biệt là các dịch vụ cơ bản. Việt Nam vẫn là một đất nước đang phát triển, dịch vụ Viễn thông còn non trẻ và yếu kém. Tuy nhiên, một khi đã tham gia vào cuộc chơi thương mại toàn cầu, Việt Nam không thể không tính tới phải mở rộng lĩnh vực dịch vụ thương mại nói chung và lĩnh vực dịch vụ Viễn thông nói riêng. Việc mở cửa hội nhập dịch vụ Viễn thông trước hết là vì lợi ích phát triển của Việt Nam, tạo thuận lợi cho Viễn thông Việt Nam phát triển phù hợp với xu thế phát triển của thế giới hiện nay. 2.2. Trong ASEAN. Các quốc gia trên thế giới mở cửa và hội nhập vào các tổ chức kinh tế khu vực như ASEAN, APEC, EU... đều lấy các nguyên tắc hoạt động của WTO làm tiêu chuẩn. Do vậy mở cửa và hội nhập dịch vụ Viễn thông trong ASEAN cũng đều dựa trên các nguyên tắc của GATS/WTO. Nhưng các cam kết tự do hoá dịch vụ Viễn thông trong ASEAN phải sâu và rộng hơn so với các cam kết của các nước thành viên đã đưa ra trong GATS/WTO. Thực tế cho thấy, hết vòng I (1996-1998) về đàm phán dịch vụ Viễn thông trong ASEAN khó có thể đạt được những gì cao hơn so với đàm phán trong WTO vì các nước ASEAN đã phải nhượng bộ đáng kể trong hiệp định Viễn thông cơ bản (GBT) nên không thể đưa ra được các cam kết sâu hơn nữa trong ASEAN. Đối với Việt Nam, hiện tại chưa phải là thành viên của WTO nên trong quá trình đàm phán về tự do hoá thị trường dịch vụ Viễn thông trong ASEAN, Chính phủ Việt Nam đã tham gia cam kết trên cơ sở thể chế hiện hành. Do vậy trong thời gian Việt Nam chưa trở thành thành viên chính thức của WTO thì Viễn thông Việt Nam chưa phải chịu sức ép gì lớn về mở cửa thị trường. 2.3. Trong tổ chức kinh tế châu á - Thái bình dương (APEC). Về tiến trình tự do hoá các hoạt động Viễn thông trong APEC đều nhằm vào mục tiêu như đã đặt ra trong hội nghị cấp cao không chính thức AELM lần 2 (Bogor, 1994) và AELM lần 3 (Osaka, 1995), tức là thực hiện liên tục giảm những hạn chế, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại dịch vụ, dành cho nhau ưu đãi tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia đi theo tiến trình của hiệp định đàm phán Uruquay về thương mại dịch vụ GATS của tổ chức thương mại thế giới WTO. APEC hoạt động trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện thể hiện ở hai điểm:Thứ nhất, APEC chỉ là một diễn đàn tư vấn kinh tế liên chính phủ nhằm xúc tiến sự hợp tác, tăng trưởng và phát triển của khu vực. Thứ hai, APEC chỉ là một diễn đàn tư vấn kinh tế nên nó không đưa ra những chỉ thị, nguyên tắc có tính chất bắt buộc đối với các thành viên, mọi hoạt động hợp tác đều dựa trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với lợi ích của các bên. Do vậy trong quá trình hợp tác, Việt Nam có thể tham gia ở lĩnh vực và mức độ nào đó mà Việt Nam đủ khả năng. APEC đưa ra chương trình tự do hoá mậu dịch đối với cả hàng hoá và dịch vụ cuối cùng là năm 2010 với các nước phát triển và năm 2020 với các nước thành viên đang phát triển. Mỗi nước thành viên được tuỳ ý, căn cứ vào thực tiễn đất nước mình mà đưa ra một kế hoạch hành động trong đó vạch rõ lộ trình cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan khác gây cản trở thương mại và đầu tư. Vì vậy trước mắt Viễn thông Việt Nam sẽ không gặp nhiều khó khăn khi tham gia APEC vì Việt Nam có thể tạm thời dùng những cam kết của Việt Nam với ASEAN và trong hiệp định thương mại Việt-Mỹ để áp dụng với APEC. Ngoài ra một lợi thế khác là Việt Nam chưa gia nhập WTO. Tuy nhiên, xét về mặt lâu dài thì Việt Nam không tránh khỏi phải chịu một sức ép ngày càng tăng đối với tiến trình tự do hoá thương mại các dịch vụ Viễn thông, mốc cuối cùng đối với Việt Nam là 2020 - tức là đến 2020 Việt Nam phải tự do hoá thị trường dịch vụ Viễn thông dành cho nhau các ưu đãi tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia. Ngoài ra, do tính chất ràng buộc lẫn nhau của các nguyên tắc trong WTO, ASEAN và APEC, việc Việt Nam tham gia các hoạt động về Viễn thông trong APEC cũng sẽ gặp phải những thách thức lớn về mở cửa thị trường. Tại Hội nghị Vancouver APEC đã đề ra 9 lĩnh vực dịch vụ tự do hoá trong đó có dịch vụ Viễn thông . Do vậy lĩnh vực dịch vụ Viễn thông có thể được thúc đẩy tự do hoá sớm hơn thời hạn từ năm 2020. 2.4. Trong Hiệp định thương mại Việt - Mỹ. Việt Nam và Mỹ đã bình thường hoá quan hệ ngoại giao từ tháng 7/1995. Hiện nay hai nước đang tiến hành đàm phán Hiệp định thương mại song phương toàn diện, hiệp định này sẽ bao gồm nhiều vấn đề về thương mại dịch vụ trong đó có dịch vụ Viễn thông. Về cơ bản các điều khoản về thương mại dịch vụ Viễn thông trong dự thảo hiệp định này là chia theo các nguyên tắc của WTO. Trong dự thảo này, Mỹ yêu cầu Việt Nam phải mở cửa và tự do hoá tất cả các loại hình dịch vụ Viễn thông bao gồm cả dịch vụ giá trị gia tăng và dịch vụ giá trị cơ bản, yêu cầu Việt Nam đưa ra phụ lục nêu rõ các quy định của Việt Nam về truy nhập thị trường, đãi ngộ tối huệ quốc (Most Favored Nation - MFN), đãi ngộ quốc gia (National treatment - NT), và ngoài các hạn chế đó thì Việt Nam sẽ phải mở cửa hoàn toàn cho các dịch vụ và công ty khai thác dịch vụ của Mỹ tham gia vào thị trường dịch vụ Viễn thông của Việt Nam. Đây là một khó khăn đối với Việt Nam khi Việt Nam mới ở giai đoạn bắt đầu xem xét việc điều chỉnh chính sách theo các nguyên tắc của WTO. Các mối quan hệ thương mại và kinh tế song phương sẽ rất quan trọng đối với Việt Nam, bởi Mỹ không chỉ là một thị trường tiềm năng lớn cho các sản phẩm của Việt Nam và một nguồn cung cấp tài chính, kỹ thuật và kỹ năng quản lý mà còn là một trong những đối tác đàm phán quan trọng trong tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam. Tuy nhiên xét về thực trạng phát triển Viễn thông của Việt Nam hiện nay, thì những yêu cầu của Mỹ về mở cửa thị trường Viễn thông đối với Việt Nam là quá cao. Mỹ phải chấp nhận một khoảng thời gian chuyển đổi nhất định theo quy chế mà WTO cho phép Việt Nam khi đàm phán gia nhập tổ chức này. 3. Những thách thức và cơ hội đặt ra cho Viễn thông Việt Nam trước xu thế mở cửa và hội nhập quốc tế về dịch vụ Viễn thông. 3.1. Những thách thức. Qua phân tích 3 xu hướng chủ yếu của Viễn thông trên thế giới cũng như yêu cầu của các tổ chức thương mại quốc tế và khu vực, có thể thấy Viễn thông Việt Nam sẽ gặp phải một số thách thức chủ yếu khi tiến hành tự do hoá và hội nhập quốc tế về dịch vụ Viễn thông sau: + Hiện tại Việt Nam vẫn chưa có Luật Bưu chính - Viễn thông, hệ thống luật và văn bản pháp lý có liên quan nói chung cũng chưa được hoàn thiện và đồng bộ. Điều này gây khó khăn rất lớn cho Việt Nam trong việc công khai hoá thể chế chính sách của Viễn thông Việt Nam khi tham gia đàm phán với các tổ chức kinh tế quốc tế cũng như quá trình xây dựng lộ trình hội nhập về dịch vụ Viễn thông. Mặt khác với thể chế quản lý yếu kém và lạc hậu tồn tại trong một thời gian dài đã ảnh hưởng không ít tới sự phát triển của Viễn thông Việt Nam.
- Xem thêm -