Chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ ở công ty vật tư kỹ thuật xi măng

  • Số trang: 78 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TIỂU LUẬN: Chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ ở Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng Lời nói đầu Từ sau Đại hội Đảng cộng sản Việt nam lần thứ sáu (1986) đất nước ta đã thực sự chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp được chủ động trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu thụ và hướng tới mục tiêu lợi nhuận đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu. Muốn có được nhiều lợi nhuận thì hàng hoá các công ty phải có thị trường tiêu thụ tức là phải bán được. Vì vậy đối với bất kỳ công ty nào thì việc hoạch định ra chiến lược phát triển thị trường trong tương lai là rất cần thiết. Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng là một doanh nghiệp nhà nước và là một đơn vị thành viên của Tổng công ty xi măng Việt Nam, trong quá trình kinh doanh công ty đã đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên trước đây xi măng là một mặt hàng độc quyền của nhà nước vì vậy mà trước đây có thể nói không cần phải có chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ nhưng nay thì khác, xi măng của công ty bây giờ phải cạnh tranh với xi măng của địa phương, xi măng liên doanh và đặc biệt trong tương lai tới đây khi lộ trình cắt giảm thuế quan đang đến gần, xi măng của các nước asean chỉ chờ dịp là có thể xuất sang Việt nam nó cạnh tranh trực tiếp với xi măng của công ty bán ra trên các địa bàn. Vì vậy việc có chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ ở Công ty là hoàn toàn cần thiết Với nhận thức trên trong thời gian thực tập tại Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng được sự giúp đỡ của GS-TS Vũ Thị Ngọc Phùng và tập thể lãnh đạo Công ty cùng các phòng ban có liên quan em đã chọn đề tài “Chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ ở Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng ” Bài viết được chia làm 3 chương. Chương I: Vai trò và sự cần thiết phải có chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ ở Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng. Chương II: Thực trạng tiêu thụ ở Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng Chương III: Chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ ở Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng Chương I Vai trò và sự cần thiết phải có chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ ở Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng I.-Tổng quan ngành công nghiệp xi măng Việt Nam 1.-Tóm lược quá trình phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam Công nghiệp xi măng Việt Nam đến nay đã hình thành và phát triển trên 100 năm, bắt đầu hoạt động từ năm 1989 bằng việc xây dựng nhà máy xi măng đầu tiên ( lò đứng ) tại Hải Phòng. Từ năm 1924 đến năm 1980 đã xây tiếp 9 lò quay sản xuất theo phương pháp ướt với thiết bị của Công ty F. L Smith(FLS) - Đan Mạch và của Rumani cung cấp ở miền Nam tại Hà Tiên tỉnh Kiên Giang, nhà máy xi măng Hà tiên 2 đã được lắp đặt năm 1964 với 2 lò quay sản xuất theo phương pháp ướt ( kích thước 3,3m* 100m) do hãng Venot -pic của Pháp cung cấp Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, Chính phủ đã quyết định xây dựng thêm các thêm các nhà máy mới có công suất lớn để đáp ứng nhu cầu trong công cuộc tái thiết đất nước. Đầu tiên là nhà máy xi măng Bỉm Sơn - tỉnh Thanh Hoá được đưa vào vận hành năm 1981 với hai lò quay sản xuất theo phương pháp ướt có kích thước 5.0m*185m do Liên Xô cung cấp, năng suất là 2*1750 tấn clinker /ngày tương đương 1,2 triệu tấn xi măng/năm. Tiếp đó là nhà máy xi măng Hoàng Thạch tỉnh Hải Hưng đã được xây dựng và bắt đầu vận hành vào năm 1983 với công nghệ lò quay sản xuất theo phương pháp khô đầu tiên, có kích thước 5,5*89m do công ty F.L.S mith(FLS)- Đan Mạch cung cấp năng suất là 3100 tấn clinker/ngày tương đương 1.1 triệu tấn/năm. Năm 1991 lắp đặt thêm tại Hà Tiên một dây chuyền sản xuất nữa với một lò quay sản xuất theo phương pháp khô (kích thước 4.8*64m) do hãng Polysius của Pháp cung cấp. Clinker sản xuất tại nhà máy này một phần chuyển đến Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh bằng đường thuỷ để nghiền. Ngoài các nhà máy xi măng lò quay lớn còn có một số nhà máy xi măng lò đứng do các địa phương, các ngành quản lý và nằm rải rác ở các tỉnh, tập trung nhiều tại các tỉnh có đá vôi ở Miền Bắc. Năm 1993 Chính Phủ chỉ đạo triển khai chương trình cải tạo và đầu tư xi măng lò đứng để đạt 3 triệu tấn xi măng trong giai đoạn 1993-1997. Thực hiện chủ trương này nhiều nhà máy xi măng lò đứng được cải tạo mở rộng và đầu tư mới sử dụng công nghệ lò đứng cơ giới hoá có một phần tự động hoá theo mô hình công nghệ xi măng lò đứng của Trung Quốc. Hiện nay đã có 55 nhà máy xi măng lò đứng có công suất thiết kế từ 5000 đến 82000 tấn/năm Từ năm 1992 một mô hình hợp tác mới trong công nghiệp sản xuất xi măng ra đời đó là các liên doanh với các đối tác nước ngoài. Đến thời điểm 3/2002 đã có 5 công ty liên doanh sản xuất xi măng tại Việt Nam đang hoạt động và triển khai bao gồm : +4 liên doanh với tổng công suất 5, 81 triệu tấn đã triển khai xây dựng xong và đi vào sản xuất có hiệu quả là xi măng Chinfon-Hải Phòng 1.4 triệu tấn / năm, xi măng Sao Mai 1,76 triệu tấn/năm, xi măng Vân Xá 0,5 triệu tấn/năm, xi măng Nghi Sơn 2,15 triệu tấn/năm +1 liên doanh triển khai với tiến độ rất chậm là xi măng Phúc Sơn 1,8 triệu tấn/năm Năm 1998 xuất hiện mô hình đầu tư mới là các địa phương vay vốn xây dựng nhà máy có công suất lớn như Hoàng Mai 1,4 triệu tấn/năm và Tam Điệp 1,4 triệu tấn/năm. Tuy nhiên hiện nay 2 nhà máy này đã đựơc chuyển giao về Tổng công ty xi măng Việt Nam quản lý Từ 2001 đến nay xuất hiện thêm mô hình đầu tư xây dựng do một số Tổng công ty nhà nước đang triển khai thực hiện như Tổng công xây dựng Miền Nam với dự án xi măng sông Gianh, Tổng Công ty xây dựng Công nghiệp với dự án xi măng Thái Nguyên, Tổng Công ty xây dựng Sông Đà với dự án xi măng Hạ Long, Tổng công ty xi măng Việt Nam với dự án xi măng Bình Phước, Tổng Công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam với dự án xi măng Cẩm Phả. Bên cạnh đó theo xu thế phát triển chung của xã hội, một số công ty cổ phần (do các đơn vị thuộc các thành phần kinh tế góp cổ phần) trong lĩnh vực sản xuất xi măng cũng đã được thành lập từ quy mô nhỏ như Việt Trung, Hải Thịnh (công suất khoảng 0,1 triệu tấn/năm) đến quy mô lớn như Công ty xi măng Thăng Long có công suất 2,3 triệu tấn/năm (đang triển khai công tác chuẩn bị đầu tư) Với quá trình phát triển trên 100 năm lịch sử của nghành công nghiệp xi măng Việt Nam được đánh dấu bằng những sự đổi mới và phát triển rất nhanh cả về quy mô đầu tư, phương thức đầu tư, trình độ công nghệ sản xuất và đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng xi măng của xã hội theo từng thời kỳ lịch sử. Cũng trong tiến trình phát triển này việc ứng dụng về công nghệ sản xuất, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường cũng như việc đào tạo nguồn nhân lực có đủ trình độ kỹ thuật, quản lý để nhanh chóng tiếp nhận, làm chủ công nghệ tiên tiến, hiện đại của công nghiệp trên xi măng thế giới luôn được chú trọng và trên thực tế chúng ta đã đưa vào vận hành khai thác an toàn nhiều công trình mới có trình độ công nghệ cao, nhanh chóng phát huy hết công suất thiết kế nên đã góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế chung của đất nước 2.-Công nghệ sản xuất xi măng a.-Phương pháp sản xuất Hiện nay ở Việt nam đang tồn tại song song cả 3 phương pháp sản xuất xi măng là: Ướt, khô và bán khô. -Phương pháp ướt hiện còn tồn tại ở 3 công ty là: Bỉm Sơn, Hải Phòng,Hà Tiên. Công suất (theo thiết kế ) clinker sản xuất theo phương pháp ướt là 1,129 triệu tấn/năm, chiếm 8,6 % (trong đó Bỉm Sơn: 550.000 tấn/năm; Hải Phòng 324.000tấn/năm; Hà Tiên 2: 255000tấn/năm Phương pháp khô: Tất cả các nhà máy được đầu tư ở giai đoạn 3 (Từ sau 1991) và dây chuyền của 1 nhà máy xi măng Hoàng Thạch (được đầu tư ở giai đoạn 2) đều sản xuất theo phương pháp khô. Công suất (theo thiết kế) clinker sản xuất theo phương pháp khô là 8,971 triệu tấn/năm chiếm 71,2 % Phương pháp khô: Tất cả các nhà máy xi măng lò đứng đều sản xuất theo phương pháp bán khô. Công suất (theo thiết kế) clinker sản xuất theo phương pháp bán khô là 2,5 triệu tấn/năm chiếm 19,84 %. Các nhà máy sản xuất theo phương pháp ướt đang chuyển đổi sang sản xuất theo phương pháp khô. Các nhà máy sản xuất theo phương pháp bán khô hiện tại vẫn duy trì phương pháp sản xuất này, chưa có phương hướng chuyển đổi cụ thể. b.- Dây chuyền công nghệ Hiện tại ở Việt nam đang tồn tại 2 loại hình dây chuyền công nghệ sản xuất xi măng là : Dây chuyền thiết bị hoàn chỉnh sản xuất xi măng từ các nguyên vật liệu ban đầu và dây chuyền công nghệ nghiền xi măng chỉ gồm công đoạn nghiền đóng bao. Cả 2 loại hình công nghệ này về cơ bản đều đầy đủ các thiết bị công nghệ tương tự như công nghệ sản xuất xi măng hiện đại đang tồn tại trên thế giới . Các dây chuyền sản xuất xi măng lò quay (sản xuất theo phương pháp khô và ướt ): Thiết kế và thiết bị công nghệ chính đều do nước ngoài cung cấp . +Dây chuyền công nghệ phương pháp ướt : Các nhà máy sản xuất xi măng bằng lò quay phương pháp ướt có các chỉ tiêu tiêu hao về nhiên liệu và năng lượng lớn, đặc biệt là gây ô nhiễm nặng nề cho môi trường sinh thái. Các dây chuyền này hiện nay không còn phù hợp với sự phát triển chung của công nghiệp xi măng Việt nam. Trong thời gian tới việc cải tạo chuyển đổi hoặc loại bỏ công nghệ sản xuất theo phương pháp ướt sang phương pháp khô sẽ được thực hiện triệt để nhằm bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất. Trước năm 2010 sẽ không còn sử dụng phương pháp công nghệ ướt trong công nghiệp sản xuất xi măng tại Việt nam +Dây chuyền công nghiệp phương pháp khô Hầu hết các dây chuyền loại này đạt được trình độ tiên tiến của thế giới đều được trang bị hệ thống máy nghiền đứng để nghiền liệu, lò nung có tháp trao đổi nhiệt và buồng phân huỷ (calcineri) cùng với thiết bị làm lạnh kiểu ghi, nghiền xi măng theo chu trình kín có phân ly, dây chuyền được trang bị hệ thống điều khiển tự động và kiểm tra đo lường với mức độ tiên tiến hiện nay của thế giới -Các dây chuyền sản xuất xi măng lò đứng theo phương pháp bán khô: Thiết bị chính của Trung Quốc, Việt nam đã thiết kế một số nhà máy và sản xuất một phần thiết bị chính trong dây chuyền. Cả nước đã xây dựng 55 cơ sở xi măng lò đứng với tổng công suất 3 triệu tấn/năm là công nghệ bán khô, chủ yếu được xây dựng trong giai đoạn 1993-1997 tại 28 tỉnh thành phố trong cả nước với quy mô công suất của mỗi dây chuyền từ 5000tấn/năm; 40000 tấn/năm ; 60000 tấn/năm đến 82000tấn/năm. Các cơ sở xi măng lò đứng phần lớn tập trung ở Miền Bắc nơi có sẵn nguồn nguyên liệu đá vôi và đất sét cho sản xuất. Dây chuyền nghiền xi măng: Tính đến thời điểm 2001trong toàn quốc đã có 40 cơ sở nghiền xi măng với tổng công suất thiết kế 4.350.000 tấn/năm, các trạm nghiền này chủ yếu được tập trung tại khu vực miền Trung và miền Nam với quy mô công suất từ 20000 tấn/năm đến 520000 tấn/năm và được phân chia như sau: +2 dây chuyền có công suất > 100.000 tấn/năm +24 dây chuyền có công suất 100.000 tấn/năm +22 dây chuyền có công suất <100.000 tấn/năm Các trạm nghiền có quy mô công suất từ 100.000 tấn trở lên đều nhập thiết bị của Trung Quốc ngoại trừ trạm nghiền Hải Vân nhập thiết bị của Đức, các trạm nghiền < 100000 tấn/năm phần lớn thiết bị được chế tạo trong nước. Các trạm nghiền đều sử dụng nguồn clinker từ các nhà máy xi măng lò quay phía Bắc và clinker nhập khẩu. Do quy mô công suất khác nhau nên mức độ đầu tư trang thiết bị cũng khác nhau, nhiều trạm nghiền quy mô nhỏ không được trang bị phòng thí nghiệm kiểm tra sản xuất, không đầu tư thiết bị lọc bụi dẫn đến chất lượng sản phẩm không ổn định và vệ sinh môi trường không đảm bảo. c.- Khả năng khai thác công suất Có thể nói rằng khả năng khai thác công suất của các nhà máy xi măng của Việt nam là lớn. Khi có thị trường tiêu thụ thì hầu hết các nhà máy xi măng đều đạt và vượt công suất thiết kế. Đây là một đặc điểm tốt của công nghiệp xi măng Việt nam. Tuy nhiên mức độ khai thác công suất ở mỗi loại hình công nghệ và mỗi nhà máy có khác nhau *Xi măng lò quay: Tất cả các dây chuyền sản xuất xi măng bằng lò quay đều có khả năng khai thác hết công suất thiết kế. Tuy nhiên thời gian để đạt được công suất thiết kế của từng nhà máy là có khác nhau. Những nhà máy đầu tư trước 1996 phải 3-4 năm mới đạt công suất thiết kế do chưa đủ trình độ quản lý, tiếp cận công nghệ mới. Những dây chuyền được đầu tư sau năm 1996 do đã có kinh nghiệm trong công tác vận hành, quản lý nên thời gian phát huy hết công suất thiết kế đã được rút ngắn chỉ còn khoảng 2-3 năm. Trong đó có một số dây chuyền không đạt công suất thiết kế ngay do chưa phát triển được thị trường tiêu thụ +Xi măng lò đứng: Trong khoảng 3-4 năm đầu hầu hết các cơ sở xi măng lò đứng chỉ phát huy được 60-80% công suất thiết kế do khả năng tiêu thụ xi măng lò đứng bị hạn chế và chưa làm chủ được công nghệ. Tuy nhiên từ năm 1999 các nhà máy xi măng lò đứng đã bắt đầu nâng cao công suất đạt và vượt công suất thiết kế. Cho đến nay hầu hết các nhà máy đều vượt công suất thiết kế. +Trạm nghiền : Thời gian phát huy công suất của các trạm nghiền ít phụ thuộc vào trình độ công nghệ, thiết bị mà phụ thuộc chủ yếu vào địa điểm thị trường và trình độ quản lý. Các trạm nghiền nếu có thị trường thì ngay năm đầu tiên hoàn toàn có khả năng khai thác hết công suất thiết kế. Đặc biệt các trạm nghiền do Tổng công ty xi măng Việt Nam quản lý hầu hết đều vượt công suất thiết kế 3.- Tình hình đầu tư và phát triển công nghiệp xi măng trong những năm qua a.-Quá trình đầu tư và phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt nam trong những năm qua Có thể chia quá trình đầu tư phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt nam thành 3 giai đoạn : Từ 1975 trở về trước; từ 1976-1990; từ 1991 đến nay *Giai đoạn từ 1975 trở về trước Ngành công nghiệp xi măng Việt nam còn rất nhỏ bé. ở Miền Bắc chỉ có 1 nhà máy xi măng Hải Phòng và một số nhà máy xi măng lò đứng thủ công lạc hậu. ở miền Nam, nhà máy xi măng Hà Tiên sản xuất theo phương pháp ướt với công suất khoảng 0,25 triệu tấn/năm. Tổng công suất toàn ngành chưa đạt 1,0 triệu tấn/năm *Giai đoạn từ 1976-1990 Trong giai đoạn này có 2 nhà máy xi măng mới được đầu tư là Hoàng Thạch và Bỉm Sơn. Đầu tư xi măng Hoàng Thạch đánh dấu một bước đổi mới cơ bản tư duy về công nghệ xi măng của chúng ta. Có thể nói từ khi có nhà máy xi măng Hoàng Thạch thì công nghiệp xi măng mới bắt đầu làm quen với công nghệ sản xuất xi măng hiện đại. Tuy nhiên do cơ chế kinh tế lúc đó còn nhiều ràng buộc nên việc đánh giá hiệu quả đầu tư gặp khó khăn. Ngoài mục đích kinh tế việc đầu tư các nhà máy xi măng còn giải quyết các vấn đề xã hội khác. *Giai đoạn từ 1991 đến nay Trong giai đoạn này việc đầu tư xây dựng các nhà máy xi măng có nhiều thay đổi. Thứ nhất: nhu cầu sử dụng xi măng trong xã hội tăng đòi hỏi phải tăng sản lượng sản xuất. Thứ hai do thực hiện chính sách cải cách mở cửa mà chúng ta có cơ hội tiếp xúc với nhiều loại hình công nghệ và thiết bị sản xuất xi măng khác nhau của thế giới. Thứ ba: tác động của cơ chế thị trường đến việc đầu tư, sản xuất xi măng. Hoàn cảnh kinh tế của chúng ta trong giai đoạn này vẫn khó khăn, nguồn vốn đầu tư phát triển công nghiệp xi măng còn hạn chế Trong bối cảnh như vậy, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo đầu tư xây dựng mới một số nhà máy xi măng lò quay công suất lớn có công nghệ hiện đại và thực hiện chương trình đầu tư sản xuất 3 triệu tấn xi măng bằng công nghệ lò đứng cơ giới hoá. Ngoài việc đầu tư các nhà máy xi măng lò quay và phát huy công suất của các nhà máy xi măng lò đứng trong giai đoạn này còn tiến hành đầu tư xây dựng 40 trạm nghiền xi măng với công suất mỗi tram nghiền từ 200000tấn/năm tới 520.000 tấn/năm tổng công suất 40 trạm nghiền là 4,35 triệu tấn/năm b.-Một số nhận định về tình hình đầu tư phát triển xi măng trong thời gian qua *Quy mô và tốc độ đầu tư Quy mô đầu tư: Trong giai đoạn vừa qua quy mô đầu tư tương đối đa dạng. Có thể phân thành 3 loại quy mô như sau: +Quy mô lớn: Dây chuyền công nghệ sản xuất có công suất thiết kế từ 3000 tấn clinker/ ngày trở lên. +Quy mô vừa: Dây chuyền công nghệ sản xuất có công suất thiết kế từ 10003000 tấn clinker / ngày. +Quy mô nhỏ: Dây chuyền công nghệ sản xuất có công suất thiết kế dưới 1000 tấn clinker /ngày. Tốc độ đầu tư : Việc xác định tốc độ đầu tư các dự án phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên tốc độ hoàn thành các dự án đầu tư để đi vào khai thác thường bị chậm. Có 3 nguyên nhân làm chậm các dự án là: Trình độ triển khai quản lý dự án, tốc độ giải quyết tài chính và các thủ tục hành chính trong đầu tư xây dựng cơ bản, giải phóng mặt bằng. *Suất đầu tư: Kinh phí đầu tư cho một tấn công suất xi măng ở nước ta còn cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, các dự án triển khai gần đây đang có xu thế giảm dần (125-135 USD/tấn công suất) do giảm được chi phí xây dựng kết cấu hạ tầng ngoài nhà máy ( đường giao thông, đường điện) và tập trung thi công đảm bảo tiến độ để giảm chi phí lãi vay trong thời gian thi công. Qua tình hình đầu tư phát triển ngành công nghiệp xi măng ta nhận thấy số lượng các nhà máy xi măng ngày càng tăng lên, nhu cầu xi măng cũng ngày càng tăng lên. Điều này có được là do vai trò to lớn của xi măng đối với sự phát triển của con người II.- Vai trò tác dụng của nguyên liệu xi măng đối với sự phát triển ngành công nghiệp xây dựng 1.-Đặc điểm của nguyên liệu xi măng Xi măng được sản xuất từ 2 nguyên liệu chính là đá vôi và đất sét ngoài ra còn có thêm các nguyên liệu điều chỉnh và phụ gia khoáng cho xi măng Công nghệ sản xuất xi măng không phức tạp nó được chuẩn hoá sản phẩm sản xuất trên dây chuyền công nghệ khép kín vì thế mà chất lượng xi măng được đảm bảo Xi măng được đóng thành bao do vậy nó có thể vận chuyển một cách dễ dàng. Xi măng được vận chuyển tới các công trình bằng đường sắt, đường thuỷ, đường bộ mà không gặp phải một sự trở ngại nào Xi măng không chịu được nước và thời gian lưu kho ngắn Xi măng có thời gian đông cứng nhanh có sức mài mòn và chịu va đập tốt Bảng các đặc tính kỹ thuật của xi măng Tên chỉ tiêu Xi măng Portland Tiêu chuẩn Việt Xi măng Portland hỗn hợp Xi măng Bút Sơn Tiêu chuẩn Xi măng Bút nam (TCVN 2682- Việt nam Sơn 1999) (TCVN 62601997) PC30 PC40 PC50 PC30 PC40 PC50 PCB30 PC40 PCB30 PC40 Độ Phần còn lại trên mịn sàn0,08mm,%,max Bể mặt riêng 15 12 12 10 12 12 2700 2800 3000 3200 2700 3000 cm2/g, min Thời Bắt đầu phút gian không sớm hơn ninh Kết thúc phút kết không muộn hơn Độ Xác định theo ổn Lechatelier định thể tích 45 60 45 60 375 375 600 600 10 10 10 10 Hàm 5,0 5,0 lượng mất khi nung Giới Sau 3 ngày hạn N/mm2, min bền Sau 28 ngày nén N/mm2,min 16 21 31 20 25 35 14 18 18 22 30 40 50 35 45 52 30 40 32 42 2.-Vai trò của nguyên liệu xi măng đối với ngành công nghiệp xây dựng a-Đối với ngành công nghiệp xây dựng nói chung Trước khi tạo ra nguyên liệu xi măng thì trong xây dựng con người đã sử dụng các nguyên liệu khác như vôi, đất tuy nhiên các nguyên liệu này không đáp ứng được yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng, từ khi tạo ra nguyên liệu xi măng thì nó đã khắc phục được các điểm yếu của các nguyên liệu trước. Xi măng với các đặc tính như có độ mài mòn tốt, có sức va đập mạnh, khả năng đông cứng nhanh, độ ổn định thể tích lớn vì thế nó đặc biệt thích hợp trong xây dựng. Kinh tế thế giới trong vài thập kỷ qua đã có sự tăng trưởng nhanh chóng, các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Châu Âu muốn thể hiện tiềm lực kinh tế của mình đã cho xây dựng các khu nhà cao ốc như muốn thể hiện sự văn minh, tiềm lực kinh tế đồng thời còn giải quyết được nhu cầu nhà ở khi dân cư đô thị ngày càng tăng lên. Trong các công trình xây dựng này thì xi măng đóng vai trò quan trọng nó vừa là nguyên liệu chính trong qúa trình xây dựng vừa có thể tạo ra các nét hoa văn cho các công trình. Ví dụ :Toà nhà trung tâm thương mại Thế Giới, trụ sở của Liên hợp quốc, toà tháp đôi Petronat của Malaysia Không chỉ đáp ứng cho xây dựng nhà cao tầng mà nó còn phục vụ cho việc xây dựng các nhà máy, xí nghiệp, nhà ở hay trong các công trình quốc phòng như để xây dựng các công sự, lô cốt. Vì xi măng được sản xuất theo dây chuyền sản phẩm được chuẩn hoá, nguyên liệu sản xuất xi măng dễ khai thác, phân bố ở khắp mọi nơi trên thế giới vì vậy giá thành sản xuất xi măng không cao người dân có thể mua được Xi măng còn được sử dụng trong việc xây dựng các cây cầu, các công trình thuỷ lợi, đê đập do khả năng mài mòn tốt, khả năng đông cứng nhanh. Các công trình thuỷ lợi hay các con đập do phải tiếp xúc với nước nên các nguyên liệu trước đây thường hay bị bở do bị ẩm nhưng xi măng là loại nguyên liệu chịu được nước nên nó được sử dụng để xây dựng các công trình thuỷ lợi. Từ khi tìm ra nguyên liệu xi măng nó đã thúc đẩy ngành xây dựng phát triển. Các công trình được hoàn thiện nhanh hơn có quy mô lớn hơn bên cạnh đó nó cũng thúc đẩy ngành giao thông vận tải phát triển thông qua việc hoàn thiện các cây cầu, các cảng biển giúp cho giao thông đi lại thuận tiện từ đó mà giúp thúc đẩy phát triển kinh tế giữa các vùng b.- Vai trò của xi măng đối với ngành xây dựng Việt nam Các khó khăn đối với ngành xây dựng Việt nam : +Khí hậu Việt nam là nhiệt đới gió mùa, mùa mưa thường tập trung vào tháng 7, tháng 8, tháng 9. Mưa thường lớn kéo dài kèm theo đó là gió to nếu các công trình xây dựng bằng các loại nguyên vật liệu thông thường thì khó có thể tồn tại lâu được vì gió to có thể làm đổ nhà bên cạnh đó thời gian đông cứng của các loại nguyên vật liệu này thường là rất lớn từ 3-5 ngày mà điều này thì không cho phép vì nó làm chậm tiến độ thi công, khả năng chịu lực của các nguyên liệu này thường là kém Địa hình của Việt nam dốc theo hướng từ núi ra biển. Với địa hình này thì khi mùa mưa về nó sẽ tạo ra các thác nước từ trên cao đổ xuống vùng đồng bằng hạ lưu với sức công phá lớn đòi hỏi các công trình thuỷ lợi, bờ đê phải có khả năng chịu được lực tốt Thu nhập của người dân Việt nam thấp do vậy trong xây dựng đòi hỏi phải sử dụng các nguyên liệu phù hợp, dễ sử dụng có giá thành thấp đồng thời chất lượng công trình vẫn phải đảm bảo Với những khó khăn ở trong ngành xây dựng nêu trên nên khi đưa xi măng vào sử dụng nó đã nhanh chóng trở nên phổ biến trong đời sống của người dân Việt nam. Vì nó đã khắc phục được các điểm yếu trong ngành xây dựng ngoài ra sản xuất xi măng đòi hỏi công nghệ không phức tạp, giá thành mua dây chuyền công nghệ không cao, nguyên liệu sản xuất xi măng có trữ lượng đủ lớn. Đời sống của người dân chưa cao nhà của người dân Việt nam chưa được kiên cố hoá do vậy nhu cầu xây dựng nhà cửa kiên cố là rất lớn. Với khả năng chịu mài mòn, chống chịu thời tiết khắc nghiệt tốt nó đã được sử dụng nhiều trong xây dựng nhà cửa của nhân dân Việt Nam là đất nước nông nghiệp với 3/4 dân số làm nghề nông nghiệp. Trong nông nghiệp nước tưới là rất quan trọng vì nó đảm bảo sự sống cho cây, xi măng với tính năng có độ kết dính tốt mài mòn cao đã được sử dụng trong chương trình kiên cố hoá hệ thống kênh mương của chính phủ Việt Nam có hệ thống sông ngòi chằng chịt và trên 2 triệu km đường bờ biển do địa hình phức tạp khó sử dụng các loại nguyên liệu khác để xây dựng vì vậy phải sử dụng xi măng Việt Nam là nước đang phát triển cơ sở hạ tầng chưa được hoàn thiện, hệ thống cầu cảng, sân bay chưa được hoàn thiện, những công trình này đòi hỏi phải sử dụng nguyên liệu có độ kết dính tốt chắc chắn mà điều này chỉ có thể dùng nguyên liệu xi măng Với tất cả những đặc tính kỹ thuật và công dụng của mình, xi măng nó đã và đang vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành xây dựng Việt Nam giúp cho ngành này phát triển từ đó cũng giúp cho nền kinh tế của Việt nam phát triển Với tầm quan trọng của mình xi măng hiện nay đang là một mặt hàng được nhiều người quan tâm và kinh doanh vì thế mà thị trường kinh doanh xi măng ngày càng trở nên chật hẹp, đối với mỗi công ty kinh doanh thì các công ty cần phải có chiến lược ngay từ bây giờ mới mong có sự phát triển dài hạn trong tương lai II.-Sự cần thiết phải có chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ ở Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng Khi mà nền sản xuất chưa phát triển thì các công ty không cần phải quan tâm đến việc sản phẩm của mình sẽ bán ở đâu và người mua là ai vì lúc đó công nghệ sản xuất chưa phát triển nhu cầu của con người về các mặt hàng là cao sự cạnh tranh giữa các công ty gần như là không có. Nhưng khi khoa học kỹ thuật phát triển với trình độ tự động hoá ở mức cao, sản phẩm sản xuất ra với số lượng lớn đồng thời với việc số lượng các nhà sản xuất sản phẩm cũng ngày càng lớn mạnh trong khi số lượng người có khả năng thực hiện việc mua sản phẩm là có hạn, trình độ nhận thức của người dân cũng ngày càng tăng lên. Người mua bây giờ đòi hỏi hàng hoá sản xuất ra phải bền và rẻ. Vì vậy việc tiêu thụ sản phẩm đối với các công ty trở nên khó khăn hơn, các công ty trong cùng ngành trở thành các đối thủ của nhau, họ cạnh tranh trực tiếp với nhau. Trong cuộc cạnh tranh này buộc các công ty phải có chiến lược đúng đắn để có thể cạnh tranh được với các đối thủ và chiến lược phát triển thị trường cũng đã được ra đời từ chính cuộc cạnh tranh này. 1.-Vai trò của chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ a.-Khái niệm Thuật ngữ “chiến lược” xuất phát từ lĩnh vực quân sự. Trong quân sự chiến lược được hiểu là “ Nghệ thuật phối hợp các lực lượng quân sự, chính trị, kinh tế được huy động vào chiến tranh nhằm chiến thắng kẻ thù ” Phát triển được hiểu là bao hàm cả sự gia tăng về số lượng và chất lượng Thị trường: Đó là nơi tập hợp những người mua và người bán thông qua đó người ta trao đổi với nhau và qua cuộc trao đổi đó họ đạt được độ thoả dụng tối đa Tiêu thụ: Đó là khâu thứ 3 trong quá trình sản xuất hàng hoá nhằm đưa hàng hoá đến tay người tiêu dùng và mang về lợi nhuận cho các nhà sản xuất Vì vậy có thể hiểu chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ đó là nghệ thuật phối hợp các nguồn lực của công ty nhằm mục tiêu gia tăng số lượng người mua cả về số lượng và chất lượng nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng là gia tăng lợi nhuận b.-Vai trò của chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ Đối với bất kỳ một công ty nào ngoại trừ các công ty hoạt động công ích thì mục tiêu cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận. Muốn có được nhiều lợi nhuận thì sản phẩm phải tiêu thụ được tức là phải bán được nhưng nếu thị trường đã bị các đối thủ cạnh tranh chiếm mất thì sản phẩm làm ra của công ty cũng không thể tiêu thụ được. Vì thị trường đó là nơi bán sản phẩm của công ty mất thị trường cũng là mất nơi bán vì vậy có thể nói thị trường có ảnh hưởng sống còn đến sự tồn tại của công ty. Các công ty đa quốc gia các tập đoàn kinh tế lớn của thế giới đã có mặt hầu hết ở trên thế giới. Ví dụ như tập đoàn Honda, Mitsubisi của Nhật hay như tập đoàn Daewoo của Hàn Quốc, Ford của Mỹ sự có mặt của các tập đoàn gần như hầu khắp trên thế giới. Mục đích của sự có mặt này không ngoài mục đích tìm kiếm phát triển thị trường tiêu thụ cho công ty nhằm củng cố địa vị của công ty ở trên thế giới giữ vị trí thống trị, ngoài ra còn mục đích khác là chi phối thị trường tạo ra sự độc quyền trong sản xuất kinh doanh nhằm thu các khoản lợi nhuận độc quyền, khai thác bóc lột tài nguyên, nhân công lao động ở các nước đang phát triển chi phối nền chính trị ở các nước mà các công ty đa quốc gia đầu tư Còn đối với các công ty nhỏ thì việc tìm kiếm phát triển thị trường tiêu thụ cũng không kém phần quan trọng. Các công ty nhỏ thường có vốn ít, thị trường nhỏ, sản phẩm thường không có uy tín bằng các công ty lớn nhưng lại phải thường xuyên cạnh tranh với các công ty lớn, nếu các công ty mà không có chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ, tìm kiếm thị trường mới củng cố thị trường cũ thì khó có thể cạnh tranh được với các công ty lớn Chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ nó còn tạo ra lợi thế cho công ty. Công ty nào có đường lối chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ một cách đúng đắn, rõ ràng thì sẽ tạo ra được lợi thế hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh. Bằng việc sử dụng các nguồn lực của công ty một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện để các công ty phát triển tìm kiếm thị trường tốt hơn. Không những thế với mục tiêu vươn tới các thị trường khác công ty sẽ xây dựng các phương án hành động để thực hiện mục tiêu này điều này sẽ tạo ra một hoạt động thống nhất trong toàn công ty tạo điều kiện để công ty có thể giữ vững được thị trường. Hơn nữa việc có chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ sớm sẽ tạo điều kiện để công ty vươn tới các thị trường nhiều tiềm năng hơn. ở các thị trường mới này thì sự cạnh tranh của các đối thủ là không có hoặc có nhưng cường độ cạnh tranh thấp việc này sẽ tạo điều kiện để công ty giảm thấp chi phí điều này rất có ý nghĩa đối với trong kinh doanh. Chiến lược phát triển thị trường là sản phẩm của các nhà hoạch định chiến lược. Có chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ đứng đắn sẽ nâng cao tầm quan trọng của các nhà hoạch định chiến lược. Các nhà hoạch định chiến lược tuy không phải là những người trực tiếp làm ra lợi nhuận cho công ty nhưng gián tiếp tạo ra lợi nhuận cho công ty. Chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ thể hiện ý tưởng của các nhà lãnh đạo qua chiến lược này lãnh đạo công ty biết cần phải làm gì từ đó đề ra những biện pháp để thực hiện chiến lược như vốn, nhân lực. Chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ sẽ tạo ra tâm lý tốt cho cán bộ công nhân viên của công ty. Họ sẽ lao động hăng say hơn bởi vì công ty họ đang làm việc thường gắn liền với địa vị của con người đó trong xã hội. Nếu công ty làm ăn phát đạt mạng lưới thị trường sâu rộng thì người công nhân đó cảm thấy tự hào vì đã làm việc ở công ty đó. Đối với một quốc gia chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ cũng không kém phần quan trọng. Trong lịch sử chúng ta đã chứng kiến những cuộc phát kiến địa lý vĩ đại của Colombo, Magenlăng. Những cuộc phát kiến địa lý vĩ đại này trước đó được lấy tên là “Đi tìm kiếm thị trường ” hay “Đi tìm miền đất hứa ” của các nước thực dân đế quốc hùng mạnh thời đó như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp. Việc đi tìm kiếm thị trường hay tìm miền đất hứa của các nước đế quốc này ngoài mục đích là bành trướng thế lực mở rộng ảnh hưởng của các nước thực dân, tăng cường khai thác bóc lột của các nước thực dân còn nhằm mục đích mở rộng thị trường cho các quốc gia thực dân đế quốc. Đi theo sau các cuộc chiến tranh xâm lược của các nước thực dân đó là các công ty các tập đoàn tư bản của nhà nước của tư nhân nhằm mục đích mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá công, nông nghiệp khi mà thị trường trong nước của các nước đế quốc hàng hóa đã không tiêu thụ được do trong nước không còn nhu cầu. Ví dụ công ty Đông ấn một tập đoàn tư bản của thực dân Anh đã có mặt ở ấn Độ để bán sản phẩm của công ty và khai thác các nguồn lực của ấn Độ trong thế kỷ 18. Anh quốc đã từng là nước tư bản công nghiệp phát triển nhất trên thế giới: sản lượng công nghiệp của nước Anh sản xuất ra bằng 1/2 của thế giới, tỷ lệ thuận với sản lượng công nghiệp là số thuộc địa của nước Anh. Anh có trên 200 thuộc địa ở khắp mọi nơi trên thế giới, người ta đã từng nói “mặt trời không bao giờ lặn trên đất nước Anh”. Các thuộc địa là nơi để bán các sản phẩm của các công ty khi nhu cầu trong nước gần như đã hết hoặc sản phẩm đã cũ nhưng đối với các nước thuộc địa vẫn còn là mới do vậy các công ty vẫn bán được hàng và thu về một khoản lợi nhuận lớn. Chiến tranh thế giới thứ 1và thứ 2 đã xảy ra. Hàng triệu người chết, kinh tế thế giới bị sụt giảm nghiêm trọng, các quốc gia tham gia chiến tranh đều bị tổn thất nặng nề về kinh tế chỉ trừ Mỹ. Nguyên nhân của 2 cuộc chiến tranh này không ngoài mục đích nhằm phân chia lại thị trường thế giới. Các quốc gia gây chiến như Đức, áo, Hunggari trong chiến tranh thế giới thứ 1 hay Đức, Italia, Nhật trong chiến tranh thế giới thứ 2 đều là các nước tư bản phát triển sau do vậy khi kinh tế của các nước này phát triển, thị trường trong nước đã chật hẹp thị trường nước ngoài đã bị các nước tư bản già chiếm giữ như Anh, Pháp muốn thâm nhập vào thuộc địa của các nước đế quốc Anh, Pháp là rất khó khăn vì gặp phải sự phản kháng từ phía Anh, Pháp. Chính vì vậy các nước tư bản phát triển sau đã gây ra 2 cuộc chiến tranh thế giới qua điều này cho thấy phát triển thị trường tiêu thụ là rất quan trọng đối với các quốc gia. Ngày nay phát triển thị trường tiêu thụ cũng vẫn là mục tiêu hàng đầu của các quốc gia. Giữa các quốc gia tuy không xảy ra cuộc chiến tranh thế giới nữa nhưng xảy ra các cuộc chiến tranh thương mại. Đối với bất kỳ một quốc gia nào những mặt hàng nào quốc gia đó có thế mạnh thì quốc gia đó khuyến khích mặt hàng đó xuất khẩu thông qua các chương trình xúc tiến thương mại, tìm hiểu cơ hội làm ăn ở nước ngoài, còn những mặt hàng nào quốc gia đó yếu thế hơn gặp phải sự cạnh tranh gay gắt của hàng hoá các nước khác thì quốc gia đó bảo vệ mặt hàng đó thông qua các biện pháp như đánh thuế cao đối với hàng hoá của các nước khác nhập vào họ hoặc cấp hạn ngạch đối với sản phẩm đó. Thông qua các biện pháp này quốc gia đó hy vọng bảo vệ được thị trường trong nước tạo điều kiện cho ngành hàng yếu phát triển. Với tất cả các biện pháp trên một quốc gia bất kỳ đều mong muốn phát triển thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm do quốc gia mình sản xuất ra 2.-Sự cần thiết phải có chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ ở Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng. Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng là một đơn vị thành viên của Tổng công ty xi măng Việt nam đồng thời nó cũng là một đơn vị kinh doanh độc lập có đầy đủ các nghĩa vụ và quyền hạn của một pháp nhân kinh tế hoạt động vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy có thể phân tích sự cần thiết phải có chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ ở Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng từ 2 giác độ. Một là với tư cách là một đơn vị thành viên của Tổng công ty xi măng Việt Nam. Hai là với tư cách là một đơn vị kinh doanh độc lập. a.-Là một đơn vị thành viên của Tổng công ty xi măng Việt Nam chịu trách nhiệm kinh doanh trên địa bàn 17 tỉnh thành phố phía Bắc. Hiện nay Tổng công ty xi măng Việt Nam có 15 đơn vị thành viên trực thuộc gồm 13 đơn vị hạch toán kinh tế độc lập và 2 đơn vị sự nghiệp. Trong 13 đơn vị hạch toán kinh tế độc lập gồm 6 công ty sản xuất xi măng, 1 công ty tấm lợp Fibrô xi măng, 6 công ty làm nhiệm vụ kinh doanh xi măng, tổng số cán bộ công nhân viên của Tổng công ty xi măng Việt Nam chiếm khoảng 42% so với toàn ngành (toàn ngành có trên 40.000 người) và sản lượng tiêu thụ trên 52 % đang giữ vai trò chủ đạo trong sản xuất kinh doanh của ngành. Tổng công ty xi măng Việt Nam có nhiệm vụ chính là đảm bảo sản xuất tiêu thụ xi măng đáp ứng nhu cầu xi măng cho cả nước đồng thời đảm bảo bình ổn giá cả xi măng đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Xi măng hiện nay không còn là ngành độc quyền mà đã có sự tham gia của xi măng liên doanh, xi măng địa phương và tới đây là xi măng của các nước trong khối asean sẽ tràn vào Việt nam theo như hiệp định CEPT đã ký. Xi măng của các nước
- Xem thêm -