Chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo

  • Số trang: 117 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 29 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Có những cây bút sau một vài sáng tác đầu tay đã bắt đầu cảm thấy lúng túng và ngòi bút dường như chững trước những phạm vi hiện thực mới. Có người làm thơ chuyển sang viết văn xuôi và ngược lại. Riêng Thanh Thảo là một hiện tượng đặc biệt. Trường ca đầu tay: “Những người đi tới biển” (1977), đã khẳng định và đưa Thanh Thảo trở thành một gương mặt tiêu biểu trong đội ngũ các nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ. Và cũng từ đó cho tới nay, Thanh Thảo vẫn không ngừng tìm tòi, sáng tạo, vẫn kiên tâm trên con đường mình đã chọn: sáng tác trường ca. Thanh Thảo viết nhiều trường ca và đó là thể loại chính ghi nhận những thành công, đóng góp quý báu của thơ anh trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn cho rằng: Thanh Thảo là “ông hoàng của trường ca”. Thanh Thảo quả là có một năng lực trường ca kỳ diệu và hiếm có. Sau trường ca “Những người đi tới biển” (1977), anh cho xuất bản liên tiếp các trường ca: “Những nghĩa sĩ Cần Giuộc” (1982), “Bùng nổ của mùa xuân) (1982), “Trẻ con ở Sơn Mỹ” (1982), “Đêm trên cát” (1985), “Trò chuyện với nhân vật của mình” (2002), “Cỏ vẫn mọc” (2002) và gần đây nhất có “Trường ca Metro”... Trường ca cũng là nơi thể hiện đậm nét dấu Ên cá tính sáng tạo của ngòi bút Thanh Thảo: ý tứ sâu xa, giọng thơ trầm, giàu suy tư với những liên tưởng độc đáo, bất ngờ mang chiều sâu khái quát. 1.2. Thanh Thảo là một nhà thơ áo lính– mét nhà thơ tiêu biểu cho phong trào thơ trẻ chống Mỹ. Sau những trường ca đầu tay viết về cuộc đấu tranh giành tự do của dân tộc, Thanh Thảo tiếp tục sáng tác khá sung sức với ý thức cách tân không ngừng. Thanh Thảo tạo ra trong sáng tác của mình một giọng điệu riêng, giàu những suy tư, trăn trở, có chiều sâu “thơ Thanh Thảo có dáng dấp riêng. Đọc anh, chỉ một lần cũng cảm thấy ngay dáng Êy. Nó đủ sức gây chú ý và gợi suy nghĩ”– Thiếu Mai. Thanh Thảo còn là tác giả khá 1 gần gũi và quen thuộc với văn học nhà trường. Vì thế, người viết mong muốn thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu về Thanh Thảo sẽ tích luỹ, mở rộng được vốn kiến thức để phục vụ cho công tác giảng dạy của mình. 1.3. Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, thể trường ca nói chung và trường ca Thanh Thảo nói riêng, từ lâu đã được độc giả mến mộ, đặc biệt được giới nghiên cứu phê bình hết sức quan tâm bởi những vấn đề mà nó đặt ra, phạm vi hiện thực mà nó phản ánh. Có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu tìm hiểu về trường ca Thanh Thảo ngay sau năm 1975 và cả những trường ca sau này của anh. Tuy nhiên đề cập đến chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo chỉ có một số bài viết riêng lẻ có khi chỉ đề cập đến một ý nhỏ, một khía cạnh mang tính khái quát; có một báo cáo về chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo, có thể do dung lượng còn hạn chế nên mới chỉ dừng ở dạng sơ lược, gợi mở. Và, theo thời gian, sức sống lâu bền của tác phẩm bao giờ cũng tiềm Èn những giá trị đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục công cuộc khám phá. Đây còn là khoảng đất trống khiến tác giả luận văn mong muốn được đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu. 1.4. Có ai đó nói rằng, trong suốt ba mươi năm qua, con người thơ của Thanh Thảo vẫn là con người sáng tạo của những trường ca lớn, vì có thể hơi thở máu thịt chính của đời anh là hơi thở của trường ca, anh đã đưa hơi thở đời sống và thời đại vào trường ca của mình. Bởi “trường ca là thể loại nghệ thuật tổng hợp, có nhiều ưu thế trong việc chiếm lĩnh và phản ánh cả một khoảng không gian, thời gian rộng lớn”... Với ưu thế của thể loại, trường ca có khả năng giãi bày cảm xúc suy tư, những trăn trở của người viết trên bình diện không gian rộng lớn. Với giọng thơ sắc sảo thông minh, đôi khi khách quan đến lạnh lùng, đây chính là mảnh đất màu mỡ để Thanh Thảo bộc lộ tài năng. 1.5. Mấy năm gần đây, yếu tố triết luận, chất triết luận ngày càng được nhiều người quan tâm, có nhiều luận văn đã nghiên cứu về chất triết luận của nhiều tác giả khác nhau. Thanh Thảo cũng không là ngoại lệ. Nhưng, nh chúng tôi đã nói ở trên, cái làm nên tầm vóc, phong cách nhà thơ 2 là ở tầm tư tưởng, thái độ, những suy ngẫm của nhà thơ đó trước con người và cuộc đời. Và cơ sở của tầm tư tưởng, thái độ đó là yếu tố triết học. Xuất phát từ những cơ sở đó, người viết chọn đề tài cho luận văn này là: “Chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo”. 2. Lịch sử vấn đề 2.1. Những ý kiến chung về Thanh Thảo và thơ Thanh Thảo Xuất hiện vào cuối phong trào thơ chống Mỹ, Thanh Thảo đã trở thành gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ trẻ thời chống Mỹ. Chùm thơ đầu tay của Thanh Thảo “Dấu chân qua trảng cỏ” gồm 13 bài từ chiến trường Miền Nam gửi ra, được đăng trên tạp chí “Tác phẩm mới” số 36, tháng 4 1974, được giải thưởng thơ Hội Nhà văn Việt Nam 1979, gây nhiều chú ý trong giới nghiên cứu phê bình. Nhà thơ Chế Lan Viên, khi giới thiệu những sáng tác này của Thanh Thảo đã viết: “Giữa những tháng ngày ác liệt nhất của năm 1972 rền tiếng bom giặc Mỹ một anh bạn trẻ chuyển đến tôi một bài thơ của bạn anh ở chiến trường. Bài thơ hay nhưng mà đau xót quá... Nhưng lần này không phải một bài mà là một tập. Và cái riêng anh đã rắn rỏi lên trong cuộc chiến đấu chung. Có thể nói đây là một tập thơ làm cho cả tổ thơ đều phấn khởi”. Với con mắt tinh tường của một nhà thơ lớn, Chế Lan Viên đã phát hiện tài năng, khẳng định sự hứa hẹn những thành công sau này của hồn thơ Thanh Thảo. Có khá nhiều bài phê bình, nghiên cứu về thơ Thanh Thảo. Năm 1980, trong tập tiểu luận phê bình “Những vẻ đẹp thơ” (Nhà xuất bản Nghĩa Bình), tác giả Nguyễn Đức Quyền có vài nét phác hoạ chân dung nghệ thuật của Thanh Thảo: “Thơ chống Mỹ đến Thanh Thảo đã lắng vào chiều sâu. Cái xô bồ của chiến tranh, cái tàn bạo của giặc Mỹ, cái gian khổ của người lính được Thanh Thảo nhìn với cái nhìn trầm tĩnh lạ thường”. Tác giả Thiếu Mai trong bài “Thanh Thảo: thơ và trường ca” (Tạp chí văn học số 2– 1980) chủ yếu đánh giá về phong cách: “Thơ Thanh Thảo có chiều sâu, có lẽ ai đọc thơ anh cũng đều dễ chấp nhận ý kiến đó... Thơ Thanh 3 Thảo có dáng riêng. Đọc anh dù chỉ một lần cũng cảm thấy ngay dáng Êy. Nó đủ sức gây chú ý và gợi suy nghĩ... Thơ Thanh Thảo có khả năng gợi dậy những suy nghĩ của người đọc, bởi vì thơ Êy là thơ của một tâm hồn giàu suy tưởng, giàu trí tuệ. Trước một sự việc, sự vật nhỏ bé cũng như trước những vấn đề của cuộc sống, của con người, Thanh Thảo bao giờ cũng khát khao muốn hiểu biết một cách thấu đáo, và anh muốn thơ mình góp phần lý giải mọi vấn đề đó... Thơ Thanh Thảo có chiều sâu. Có nhiều nguyên nhân nhưng phải chăng một nguyên nhân khá quan trọng là ở chỗ bao giê anh cũng muốn vượt qua những hiện tượng bên ngoài để tìm đến bản chất đích thực, cái lõi của sự vật...”. Tác giả Lại Nguyên Ân với: “Dấu chân những người lính trẻ và thơ Thanh Thảo” (Văn học và phê bình – Nhà xuất bản Tác phẩm mới – 1982), nhấn mạnh chân dung và sự tự khẳng định mạnh mẽ của người lính trong thơ Thanh Thảo: “Thanh Thảo đã tìm được khá nhiều cung bậc, nhiều sắc thái để tô đậm nét vô danh, bình thường ở những người lính cùng thế hệ”... và những nét vô danh bình thường này “như báo trước một thầm thì gì nữa, một xác nhận về đặc điểm thế hệ, hơn nữa, một thứ tuyên ngôn”. Năm 1983, các tác giả Sử Hồng và Trần Đăng Suyền đã đi sâu vào phân tích một chủ đề tư tưởng nổi bật của thơ Thanh Thảo trong bài “Suy nghĩ về nhân dân trong “Những ngọn sóng mặt trời” của Thanh Thảo” (Báo Văn nghệ tháng 6 – 1983): “Những tập thơ của Thanh Thảo đã góp phần làm sâu sắc thêm quan niệm về nhân dân trong văn học”... Thơ Thanh Thảo được xem xét và đánh giá một cách khái quát trong bài “Thanh Thảo - một gương mặt tiêu biểu trong thơ từ sau 1975” của Bích Thu đăng trên Tạp chí văn học sè 5 + 6 năm 1985: “Thanh Thảo đã đem đến cho người đọc “một thực đơn tinh thần” mới mẻ và độc đáo góp phần làm phong phú thêm tiếng nói của thơ hôm nay”. Tác giả Nguyễn Thuỵ Kha với “Lời quê góp nhặt” (Nhà xuất bản Hội nhà văn 1999), đề cập đến người lính trong thơ Thanh Thảo, nhưng tác giả lại đề cập đến chất dân tộc, chất “Việt” rất độc đáo từ các anh chiến sĩ: 4 “Sức tự ý thức đến ngột ngạt trong thơ Thanh Thảo như đã khắc hoạ rõ sự riêng biệt của thơ chống Mỹ”... “Theo tôi cái chất Việt đã ngấm vào từng con người khiến cho anh khi viết ra những câu thơ của mình, ở đó đã có bản sắc dân tộc rồi”. Một số tác giả khi đánh giá chung về thơ và thơ trẻ chống Mỹ cũng đề cập đến Thanh Thảo: tác giả Mai Hương trong: “Nghĩ về đóng góp của đội ngũ trẻ trong thơ chống Mỹ” (Tạp chí văn học số 1 - 1981) khi nhận xét chung về sự đóng góp của các nhà thơ trẻ trong việc tăng cường chất khái quát, chính luận đã coi Thanh Thảo cùng với một số cây bút khác là những người tiêu biểu và tiên phong cho khuynh hướng này. Vũ Quần Phương với “Thơ hôm nay” (Văn nghệ quân đội, số 6 – 1982) nói về các nhà thơ trẻ chống Mỹ cũng đề cập đến Thanh Thảo: “Họ biết nhìn thẳng vào mình, vào thế hệ mình mà cất lên tiếng hát. Khi Thanh Thảo viết “Bài ca ống cóng”... cũng là lúc thơ của lớp trẻ phát hiện ra mình”. Các bài viết về thơ Thanh Thảo tuy mức độ dài ngắn khác nhau song đều nói được cái hay, cái riêng, cái mới và “lạ”, một bản lĩnh thơ luôn táo bạo, gai góc, khẳng định thơ Thanh Thảo có chiều sâu, một giọng thơ luôn trăn trở, day dứt trước hiện thực. 2.2. Những bài viết về trường ca Thanh Thảo Với tập trường ca đầu tay “Những người đi tới biển” (1977), Thanh Thảo thực sự đã gây được sự chú ý lớn đối với độc giả còng nh các cây bút phê bình. Năm 1979, trên báo văn nghệ số 24, bài viết: “Từ “Những người đi tới biển” tới “Đường tới thành phố” của Tế Hanh đã so sánh để thấy được sự tương đồng và khác biệt giữa hai tập trường ca này: “Họ giống nhau ở chất nghệ thuật: nghệ thuật của sự sống của cuộc đời chiến đấu, “Thanh Thảo viết phóng khoáng nhưng có khi lỏng lẻo; Hữu Thỉnh thì chắc chắn nhưng đôi khi hơi khô...”. 5 Lại Nguyên Ân với “Bàn góp về trường ca (Văn nghệ quân đội số 1 - 1981) đánh giá về cấu trúc trường ca Thanh Thảo: “Nhan đề của nó có chất thơ ở nghĩa bóng, thống nhất với các chương của nó”. Theo tác giả đó là dạng “cấu trúc trữ tình triết lý”. Nhan đề thống nhất với ý tứ sâu xa của trường ca... “Những người đi tới biển” mang bình diện triết lý ngay ở cách xâu chuỗi các chương”. Trong tác phẩm “Văn học và phê bình” (Nhà xuất bản Tác phẩm mới 1984), tác giả Lại Nguyên Ân đưa ra một vài suy nghĩ về cấu trúc trường ca, về tính nhân dân của trường ca... (đặc biệt là trường ca “Những ngọn sóng mặt trời”)... để từ đó, tác giả tìm ra sự mới mẻ và sự kế thừa truyền thống trong những trường ca của Thanh Thảo và một số nhà thơ khác... Sử Hồng - Trần Đăng Suyền trong: “Hình tượng nhân dân trong “Những ngọn sóng mặt trời”” (Báo Văn nghệ tháng 6 - 1983), đã giúp độc giả khám phá ra những suy nghĩ mới mẻ của Thanh Thảo về đất nước và nhân dân: “tư tưởng nhân dân được khơi sâu và phong phú hơn, nó đánh dấu một bước tiến mới trong tư tưởng thẩm mỹ của anh”... BÝch Thu với bài viết: “Thanh Thảo – một gương mặt tiêu biểu trong thơ từ sau 1975” (Tạp chí văn học số 5 + 6 năm 1985) cho rằng: “Trường ca của Thanh Thảo mang đậm dấu vết cá nhân, không lặp lại bất cứ ai. Các sáng tác của anh thường mang vẻ đẹp trong một chỉnh thể, có một hơi trường ca không dễ lẫn. Tác phẩm hấp dẫn người đọc ở ý tứ sâu xa”... Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đề cập đến những yếu tố khác trong trường ca Thanh Thảo nh câu thơ, thể thơ, các hình ảnh so sánh độc đáo, mới lạ: “Thanh Thảo sử dụng linh hoạt các thể thơ. Đối với câu thơ tự do, anh tá ra phóng khoáng trong phong cách diễn đạt. Dường nh trong trường ca đòi hỏi thơ phải nói bằng giọng thật gần với nội dung hiện thực. Thanh Thảo đã viết những câu thơ không câu nệ vào vần luật mà người đọc vẫn cảm nhận được chất thơ của đời sống”. Năm 1988 trong tạp chí văn học sè 5/6, tác giả Mã Giang Lân với bài viết: “Thử phân định ranh giới giữa trường ca và thơ dài” để tìm hiểu hình 6 thức trường ca cho rằng: “Những người đi tới biển” từng mảng, từng khối chất liệu, cảm xúc, suy nghĩ đồng hiện. Đường dây liên tưởng giữ vị trí quan trọng góp phần tạo nên cấu trúc tác phẩm. Trữ tình là phương thức biểu hiện chủ yếu nhưng vẫn xuất hiện nhiều mảng, nhiều đoạn tự sự mô tả để khắc hoạ cuộc sống bề bộn nhiều màu sắc”. Nguyễn Trọng Tạo trong “Văn chương cảm và luận” (Nhà xuất bản Văn hoá thông tin - 1998) nhận xét riêng về trường ca Thanh Thảo: “trường ca của Thanh Thảo có nhiều đoạn thơ, câu thơ đẹp. Nếu như buổi đầu thơ chống Mỹ chỉ chú ý đến cái hay của toàn bài mà Ýt chó ý đến cái hay của từng câu, từng đoạn thì thơ Thanh Thảo, thơ trẻ cuối chống Mỹ đã phấn đấu khắc phục những nhược điểm trước đây”. Năm 1999, tác giả Vũ Văn Sỹ trong tác phẩm “Về một đặc trưng thi pháp thơ Việt Nam” (Nhà xuất bản Khoa học xã hội) cho rằng, trường ca của Thanh Thảo “thiên về hình thức kết cấu lấy tư tưởng cảm xúc làm chỗ dựa”. Trong “Văn học 1975 - 1985, tác phẩm và dư luận” (Nhiều tác giả, Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội, 1997), tác giả Phong Lan cho rằng: “Nếu cần nhận diện chân dung thơ Thanh Thảo thì đó là một tiếng thơ chân thành, thủ thỉ, day dứt đáng quý. Người viết cốt diễn tả cái tâm trạng thực của mình... Anh Ýt chó ý đến hình thức, vần điệu bên ngoài bài thơ, mà chỉ cốt diễn tả thật hiệu quả cái mạch ngầm cảm xúc suy nghĩ bên trong. Cho nên Thanh Thảo hay dùng lối viết gọn lời, gọn chữ và dồn nén dưới nhiều hình ảnh liên tưởng, móc xích chồng chất lên nhau, hay dùng thể thơ tự do không vần và ngay ở những bài làm theo từng thể nhất định, tác giả cũng không tuân theo quy tắc vần luật một cách câu nệ hình thức, vậy mà đọc lên vẫn thấy êm xuôi lôi cuốn”. Nhìn một cách tổng quát, những nhận xét, đánh giá của giới nghiên cứu phê bình đều có đặc điểm chung là khẳng định những đóng góp lớn về trường ca của Thanh Thảo cho nền văn học nước nhà. Ở mỗi bài, mỗi tác giả đều đã đề cập đến một khía cạnh hay một số đặc điểm về nội dung và nghệ 7 thuật, một số bài khẳng định yếu tố triết luận trong trường ca Thanh Thảo ở những phương diện khác nhau như: cấu trúc, câu thơ, giọng điệu, thể thơ, hình tượng nhân dân, hình tượng đất nước... Nh tác giả Bích Thu nhận xét: trong trường ca Thanh Thảo “người đọc nhận thấy lúc nào anh cũng muốn nói lên được những suy nghĩ tận cùng nhất của mình bằng một giọng lắng lại, trầm tư”. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu, những bài viết có đề cập đến chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo song chỉ là những nhận xét mang tính phát hiện, hoặc khẳng định về một khía cạnh, khuynh hướng, đặc điểm nào đó liên quan đến chất triết luận, chưa có tính chất chuyên sâu, toàn diện, hệ thống. Những ý kiến trên đây của các nhà nghiên cứu thực sự là những phát hiện mới mẻ về chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo. Điều đó có ý nghĩa khai phá, định hướng cho chúng tôi khi tìm hiểu đề tài. Trên cơ sở tiếp nhận, kế thừa ý kiến những người đi trước và phát triển hướng thẩm định đánh giá giá trị trường ca cũng như phong cách nghệ thuật Thanh Thảo, người viết đã đi vào tìm hiểu một cách hệ thống chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo. 3. Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo, từ đó đi sâu vào khai thác những nội dung triết luận chủ yếu và những phương thức nghệ thuật thể hiện chất triết luận... Qua đó, thấy được sự phong phú và đặc sắc trong sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, người viết xác định phạm vi nghiên cứu bao gồm một số trường ca của Thanh Thảo: “Những người đi tới biển”, “Những nghĩa sĩ Cần Giuộc”, “Bùng nổ của mùa xuân”, “Trẻ con ở Sơn Mỹ”, “Đêm trên cát”, “Trò chuyện với nhân vật của mình”, “Cỏ vẫn mọc”. 3.3. Mục đích nghiên cứu 8 Tìm hiểu chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo trên cơ sở những biểu hiện của nó để nhận diện, đánh giá diện mạo, vai trò của chất triết luận trong thế giới nghệ thuật thơ Thanh Thảo nói chung, trong chỉnh thể phong cách nghệ thuật trường ca Thanh Thảo nói riêng. Đồng thời thấy được chiều sâu, tầm khái quát của tư duy và đặc sắc trong trường ca Thanh Thảo đối với trường ca hiện đại Việt Nam. 4. Phương pháp nghiên cứu Tìm hiểu trường ca Thanh Thảo với mục đích và hướng nghiên cứu trên, luận văn sử dụng một số phương pháp cơ bản: - Phương pháp thống kê phân loại: Dùng để tập hợp, thống kê phân loại các dữ liệu, trên cơ sở đó khảo sát theo các chủ đề. Sau đó, khái quát tổng hợp thành các chủ đề triết luận trong trường ca Thanh Thảo. - Phương pháp tiếp cận hệ thống: Tác phẩm văn học nói riêng và thế giới nghệ thuật của nhà văn nói chung bao giờ cũng tồn tại nh một hệ thống, một chỉnh thể. Phương pháp tiếp cận hệ thống nhằm giúp tái lập đối tượng trong chỉnh thể hệ thống nghệ thuật trường ca Thanh Thảo. - Phương pháp phân tích - tổng hợp: Để xác định bản chất của đối tượng cũng nh quy luật chi phối chúng, bao giờ cũng phải qua những phân tích cụ thể. Người viết dùng phương pháp này để phân tích các thành tố tạo nên diện mạo triết luận trong trường ca Thanh Thảo, từ đó có thể tổng hợp định dạng cho diện mạo Êy. - Phương pháp so sánh: Sử dụng phương pháp so sánh để làm rõ nét đặc sắc, độc đáo, riêng biệt của chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo trong tiến trình Thơ Việt Nam hiện đại. 5. Đóng góp của luận văn Luận văn đã tiến hành nghiên cứu chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo từ quan niệm đến biểu hiện và giá trị nghệ thuật của nó trong thế giới nghệ thuật của nhà thơ. 9 Chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo được tiếp cận một cách hệ thống từ quan niệm, ý thức triết luận, chủ đề triết luận đến hình thức triết luận nổi bật. Luận văn đề cập đến chất triết luận để thấy được những đóng góp độc đáo về tư tưởng, làm nổi bật tài năng và cá tính sáng tạo của Thanh Thảo. Tìm hiểu chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo không chỉ là cơ sở để thâm nhập vào thế giới nghệ thuật thơ Thanh Thảo mà còn giúp thấy được phần nào diện mạo và quá trình phát triển của thơ Việt Nam trước và sau 1975. Mặt khác, luận văn cũng cho thấy những đóng góp của Thanh Thảo cho kho tàng lý luận và kinh nghiệm sáng tác của văn học Việt Nam hiện đại. 6. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương: - Chương I: Triết luận và những yếu tố, tiền đề của chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo - Chương II: Những chủ đề triết luận trong trường ca Thanh Thảo - Chương III: Những phương thức nghệ thuật thể hiện chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo 10 PHẦN NỘI DUNG Chương I TRIẾT LUẬN VÀ NHỮNG YẾU TÈ, TIỀN ĐỀ CỦA CHẤT TRIẾT LUẬN TRONG TRƯỜNG CA THANH THẢO 1. Khái niệm về chất triết luận 1.1. Yếu tố triết học Triết học là hệ thống lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy, được coi là hạt nhân của thế giới quan diễn tả thế giới bằng lý luận, nghiên cứu xem xét thế giới như là một chỉnh thể và tìm cách đưa ra hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Với chức năng thế giới quan của mình, triết học ngày càng bắt rễ sâu vào đời sống. Trong lĩnh vực văn học, từ thuở xa xưa, người ta đã nói đến hiện tượng “văn - sử - triết” bÊt phân và càng về sau, văn học và triết học hiện đại đã tách rời nhau chuyên biệt để phát huy đặc thù của mỗi lĩnh vực. Văn học thuộc lĩnh vực nghệ thuật. Mà, về căn bản nghệ thuật là làm theo qui luật của tình cảm. Tư duy nghệ thuật thiên về cảm xúc– hình tượng. Còn triết học lại nghiêng về khoa học, nó tuân theo những qui luật của lý trí.Tư duy triết học nghiêng về kiểu tư duy lớ trớ - trừu tượng. Song, giữa chúng vẫn có sự xâm nhập, bổ sung lẫn nhau - hiện tượng này thực chất là mang tính qui luật. Yếu tố triết luận trong nghệ thuật chính là kết quả của trỡnh đú. 1.2. Yếu tố triết luận 11 “Triết” có nghĩa là “có trí tuệ”, bao hàm sự hiểu biết sâu rộng, đạo lý [II.74]. Nghĩa hẹp của “triết” và “luận”chớnh là những luận bàn, luận giải mang tính triết học. Trên bình diện nhận thức, cả văn học và triết học đều phản ánh những vấn đề phổ quát của con người, tìm kiếm con đường giải phóng con người, cắt nghĩa thế giới... nhà triết học đi tìm ý nghĩa của cuộc sống khi hướng tới việc khám phá những qui luật từ nhiều hiện tượng của đời sống. Còn người nghệ sỹ lại dựa vào sự đúc kết kinh nghệm từ những số phận và những mối quan hệ cá biệt... Những triết luận mà người nghệ sỹ rút ra từ những trải nghiệm của mình mang bản sắc cá nhân và gắn bó mật thiết với thế giới hình tượng. Trong sáng tạo nghệ thuật, triết luận nảy sinh khi chủ thể có nhu cầu nhận thức đời sống trên tinh thần triết học... Yếu tố này đậm nét sẽ làm nên diện mạo, phong cách và cả cá tính sáng tạo của nghệ sỹ. Bằng tác phẩm nghệ thuật của mình, người nghệ sỹ sẽ chuyển tải, thể hiện ý tưởng nghệ thuật mang chiều sâu triết học có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Tác phẩm văn học nào cũng chứa đựng tư tưởng của người nghệ sỹ nhưng không phải bất cứ sáng tạo nghệ thuật nào cũng có chất triết luận. Trong mỗi thời đại, khi yêu cầu của lịch sử có những vấn đề bức xúc đặt ra với con người ở những thời điểm cụ thÓ thì trong nghệ thuật có cả một khuynh hướng văn chương mang tính triết luận nảy sinh để giải quyết những vấn đề của đời sống, của tư tưởng con người. Triết luận trở thành một trong những khuynh hướng tư tưởng của văn học, thấm nhuần trong toàn bộ tác phẩm văn học. Triết luận ấy được rút từ hiện thực nhân sinh xã hội. Hiệu quả nghệ thuật của nó là nhà văn vẫn nói chuyện chÝnh trị, thế sự nhưng từ đó mà khái quát được những điều sâu xa có ý nghĩa phổ quát về đời sèng xã hội trong mọi sự biến thiên của thời cuộc. 12 Như vậy: yếu tố triết luận là khái niệm nhằm chỉ khía cạnh triết học tiềm ẩn trong một sáng tạo nghệ thuật nào đó. Nó gồm hai thành tố căn bản là chủ đề triết luận và hình thức triết luận. Đi tìm chất triết luận trong văn học là thông qua những yếu tố nghệ thuật được chi phối bởi những yêu cầu của nội dung để từ đó rút ra những tư tưởng, triết lý về đời sống xã hội mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm. Trong “Đại từ điển tiếng Việt” cho rằng: “Triết lý là quan niệm chung và sâu sắc nhất của con người về những vấn đề nhân sinh và xã hội” [II.74]. Còng theo “Từ điển tiếng Việt tường giải và liên tưởng” thì “triết lý là quan niệm về cuộc sống và cách giải quyết những vấn đề mà nó nêu lên” [II.24]. Ở đây, có thể hiểu triết lý là những ý tưởng có tính triết học, được diễn đạt thành mệnh đề và có thÓ đứng tỏch riờng độc lập; triết luận bao gồm cả ý tưởng triết học và hình thức triển khai ý tưởng đó trong một chỉnh thể nghệ thuật nhất định. Vì thế, triết luận có phạm vi lớn hơn và bao chứa cả triết lý. Triết luận và tư tưởng chủ đề là hai khái niệm gần gũi nhau, thậm chÝ có thÓ trùng nhau nhưng không đồng nhất. Tư tưởng chủ đề của tác phÈm là tâm sự ý tưởng mà nhà văn muốn gửi gắm. Tác phẩm nào cũng có chủ đÒ nhưng chỉ khi nào chủ đề đó mang tầm triết học, được triển khai trong một mạch vận động, được luận giải bằng thao tác tư duy triết học thì mới được xem là có tính triết luận. 2. Những yếu tố, tiền đề của chất triết luận trong trường ca Thanh Thảo 2.1. Thời đại chống Mỹ cứu nước Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1964– 1975) nằm trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ chống chủ nghĩa xã hội và phong trào giải phúng dân tộc. Đối với dân tộc Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc là một thử thách vô cùng ác liệt nhưng cũng rất vĩ đại. 13 Đây là cuộc chiến tranh có tương quan lực lượng chênh lệch nhất về tiềm lực kinh tế giữa ta và địch trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.Ở miền Nam đÕ quốc Mỹ ồ ạt đổ quân vào chiến trường, không ngừng tăng thêm lực lượng cho đội quân viễn chinh; liên tiếp tung ra hai cuộc phản công chiến lược và hàng ngàn cuộc hành quõn tìm diệt của quân Mỹ và chư hầu, nhanh chóng áp dụng những âm mưu thâm độc và xảo quyệt như dồn dân lập ấp, Việt Nam hoá chiến tranh... Những âm mưu và hành động điên cuồng của đế quốc Mỹ đÒu thất bại. Thua đau ở miền Nam, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, leo thang bắn phá miền Bắc. Ngày 05.08.1964, Mỹ cho máy bay bắn phá một số địa điểm ở miền Bắc hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn. Với quyết tâm phi thường, cả dân tộc ta cùng ra trận “Ba mươi mốt triệu dân - Tất cả hành quân - Tất cả là chiến sĩ”(Tố Hữu). Việt Nam được coi là lương tâm của thời đại, là “vàng của lòng người hôm nay” (Tố Hữu). Hơn lúc nào hết, truyền thống yêu nước của dân tộc được phát huy cao độ với tinh thần “khụng cú gỡ quớ hơn độc lập tự do”, hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi (Hồ Chí Minh). Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trở thành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện. Đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị. Đánh địch ở rừng núi, đô thị, miền Bắc và miền Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đồng tâm hiệp lực, vững vàng từng bước đi lớn với mục đÝch cao cả “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược”. Cuộc kháng chiến chống Mỹ trên cả hai miền kéo dài hơn mười năm (1964 - 1975) với nhiều giai đoạn và diễn biến phức tạp: chiến thắng mùa khô (1965 - 1966) đến cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968, chiến thắng đường Chín - Nam Lào, chiến thắng cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ cuối năm 1972, lập nên một “Điện Biên Phủ trên không”, cuối cùng là chiến dịch Hồ ChÝ Minh toàn thắng– cái mốc vinh quang nhất giải phãng miền Nam, thống nhất đất nước. 14 Từ sau cuộc tiến công Mậu Thân, cuộc kháng chiến tiếp tục trải qua những chặng đường phức tạp, với nhiều khó khăn thử thách mới đi tới thắng lợi cuối cùng. Cái không khí háo hức, sôi nổi, giàu tÝnh lãng mạn ở hồi đầu dần lắng lại, nhưng ý chí quyết thắng và khát vọng độc lập, thống nhất của cả dân tộc vẫn không hề lay chuyển. Chiến tranh không thể không tránh khỏi những tổn thất hy sinh vô cùng to lớn của dân tộc ở cả hai miền Nam - Bắc. Nhưng cuộc chiến tranh cũng là một hoàn cảnh đặc biệt làm bộc lộ và phát huy đến tận độ mọi sức mạnh, tiềm năng của cả dân tộc, trong hiện tại và quá khứ, cùng với sức mạnh của thời đại, của chủ nghĩa xã hội. Không khí thời đại đã tác động trực tiếp tới đội ngũ người cầm bút. Là người phát ngôn của thời đại, đội ngũ văn nghệ ba lô lên đường đi vào cuộc chiến đấu, bình thường và giản dị, sống lại những ngày toàn quốc kháng chiến trước kia. Không còn băn khoăn trong buổi “nhận đường”, mà trái lại, tâm hồn họ háo hức, nhanh chóng nhập cuộc để viết về hiện thực vĩ đại những năm đánh Mỹ. Họ sẵn sàng có mặt ở những nơi thử thách quyết liệt của cuộc chiến tranh chống xâm lược, thể hiện không khí thời đại, nhạy bén trước các vấn đề thời sự và dấy lên ngọn lửa yêu nước trong mỗi con người. Viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đó không chỉ là đòi hái của thời đại mà còn là sự thôi thúc tù bên trong của các nhà thơ. Nhanh nhạy và kịp thời, nền thơ nóng bỏng tính thời sự, hừng hực tinh thần chiến đấu của chúng ta đã “nhập cuộc”, tham gia vào cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của toàn dân tộc. Suốt trong những năm tháng chiến tranh, các thế hệ nhà thơ đã tiếp bước nhau dàn quân trên nhiều mặt trận với cảm hứng chủ đạo là thể hiện khát vọng độc lập tự do và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong thời đại chống Mỹ. Trường ca là một trong những đóng góp quý báu của thơ ca chống Mỹ. Chính cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc đã tạo ra một tiền đề quan trọng cho thể loại này phát triển. Theo sự vận động và phát triển của trường ca thời 15 kỳ chống Mỹ, ta có thể thấy trường ca được chia làm hai chặng: Những trường ca viết trong chiến tranh chống Mỹ và những trường ca viết sau chiến tranh chống Mỹ. Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, trường ca ra đời và phát triển rầm rộ nhưng những tác phẩm đặc sắc còn hiếm. Từ 1950 - 1960, số lượng tác giả viết trường ca rất Ýt: Khương Hữu Dụng, Xuân Hoàng, Thu Bồn... đến những năm 1965 - 1975, các tác giả viết trường ca xuất hiện nhiều hơn mà chủ yếu là những cây bút trẻ: Lê Anh Xuân, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Khoa Điềm... Có khá nhiều nhà thơ trẻ bắt đầu viết trường ca từ những năm này song cũng có nhiều bản trường ca phải đợi sau khi chiến tranh kết thúc mới hoàn thành. Những trường ca ra đời trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ còn giới hạn ở một số đối tượng hay nhân vật cụ thể. Về sau khi cuộc chiến tranh được mở rộng mang tính toàn dân, toàn diện ở cả hai miền đất nước, các tác giả thật sự được chứng kiến và được sống trong những cuộc chiến đấu sôi động, ác liệt, thì hiện thực trong trường ca càng được mở rộng. Những trường ca viết sau chiến tranh chống Mỹ có những bước tiến rõ rệt. Cùng với trường ca của các nhà thơ trẻ khác: Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Trọng Tạo, Anh Ngọc... trường ca Thanh Thảo xuất hiện ở chặng thứ hai này. 2.2. Tiểu sử và con người nhà thơ Vào cuối những năm 1970, các nhà thơ trẻ xuất hiện từ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ đã dần tự ổn định phong cách của mình và đang có những hướng thể nghiệm mới trong thơ, sau những thành tựu ban đầu. Khi tên tuổi của Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Nguyễn Khoa Điềm, Vũ Quần Phương... đó định hình trong tâm trí bạn đọc thì Thanh Thảo với trường ca “Những người đi tới biển” (1977), và tập thơ “Dấu chân qua trảng cỏ” (1979), mới bắt đầu xuất hiện. Sự hiện diện của Thanh Thảo trong thời điểm 16 này như một sự tiếp sức trong đội ngũ những người làm thơ trên chặng đường sáng tạo. Với thi phẩm “Hoa Niờn”, Tế Hanh đã từng nhận giải thưởng Tự lực văn đoàn 1939, trước khi Thanh Thảo ra đêi 7 năm. Là một người có vị trí vững chắc trong nền thi ca lúc sinh thời nhà thơ Tế Hanh đã từng nói về những nhà thơ của quê hương ông như sau: “... Tôi chỉ là cái gạch nối giữa Bớch Khờ và Thanh Thảo...”. Với một lời nhận xét như thế, chúng ta trân trọng sự khiêm tốn của Tế Hanh và thấy ông đánh giá cao về Thanh Thảo. Theo thời gian, chúng ta càng nhận thấy những đánh giá của Tế Hanh về Thanh Thảo càng chính xác. Thanh Thảo tên thật là Hồ Thành Công, sinh năm 1946 tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học tổng hợp Hà Nội, Thanh Thảo vào công tác ở chiến trường miền Nam trong chiến tranh chống Mỹ. Ở chiến trường miền Nam, Thanh Thảo làm phúng viờn, công tác tại đài phát thanh Giải Phóng. Trong giai đoạn này Thanh Thảo đã đóng góp những bài thơ “nhập cuộc”, mang hơi thở nóng báng của thời đại. Anh đại diện cho kiểu nhà thơ - chiến sĩ, vừa cầm súng vừa cầm bút. Sau ngày đất nước thống nhất, Thanh Thảo chuyên hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật và báo chí. Thanh Thảo xuất hiện trên bầu trời thi ca vào những năm cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Những trang thơ của Thanh Thảo viết từ miền Nam máu lửa, ác liệt, nóng bỏng, dữ dội, trần trụi đã tạo được nột riờng: Một thế hệ thức nhiều hơn ngủ Xoay trần đào công sự Xoay trần trong ý nghĩ... Thế hệ chúng tôi trắng từng đêm lội nước Sính bết từ chân bết đến đầu (Một người lính nói về thế hệ mình) 17 Những bài thơ với nội dung quá gai góc và một tư duy thơ lạ lẫm, táo bạo lúc bấy giờ của Thanh Thảo đã khiến ông nổi tiếng từ đó và rồi gặp ngay “tai nạn văn chương” cũng từ đó. Cũng chớnh cỏi “án treo văn chương” lơ lửng này mà sau ngày miền Nam giải phóng, từ chiến khu trở về, Thanh Thảo trở thành một nhà thơ không có nơi công tác, chỉ có vui một niềm vui lớn cùng đất nước hoà bình. Lang thang ở phố xá Sài Gòn chưa định hướng là sẽ về đâu, may sao nhà văn Nguyễn Chí Trung xuất hiện. Biết Thanh Thảo là người em đồng hương “khu eo” đã từng nổi tiếng từ án treo văn chương thời chiến, ông đưa Thanh Thảo trở về trại sáng tác quân khu V (Đà Nẵng) và từ trại viết này hàng loạt bài thơ, đặc biệt là trường ca “Những người đi tới biển” đã chào đời. Rồi những năm của xã hội thời bao cÊp ở Qui Nhơn chính lại là những tháng năm Thanh Thảo phát tiết tinh anh bao tháng năm dồn nén. Anh dồn dập viết trường ca như một sự giải thoát những ứ đọng cảm xúc của chính mình. Và 7 trường ca nữa ra đời (không tớnh một trường ca còn dang dở) trong vòng chưa đầy mười năm (1976 – 1984). Ba trường ca “Trẻ con ở Sơn Mỹ”, “Những nghĩa sĩ Cần Giuộc”, “Bùng nổ của mùa xuân” in ra để rồi sau đó nhận giải thưởng thơ Hội nhà văn Việt Nam (1996). Còn lại bốn trường ca hơi gai góc lại phải chờ thời cơ xuất hiện. May sao lóc Êy Nguyễn Khoa Điềm được tín nhiệm làm Tổng biên tập tạp chí sông Hương. Bằng uy tÝn của mình ông đã in “Đêm trên cát”– Thanh Thảo để rồi sau đó vài năm (1985) Nhà xuất bản Tác phẩm mới in chung vào tập trường ca “Khối vuông Ru bích”, còn lại hai trường ca “Trò chuyện với nhân vật của mình” và “Cỏ vẫn mọc” phải đến năm 2002, Nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân mới cho ra mắt cùng bạn đọc. Thanh Thảo được xem là “ông vua trường ca”, và đó là thể loại chính ghi nhận những thành công, đóng góp đáng quí của thơ anh. Là một trong những nhà thơ viết nhiều về trường ca, Thanh Thảo đã có những quan niệm riêng về thể loại này. Theo anh, trường ca không chỉ đơn thuần là kể, tả lại những sự việc có thật mà còn thể hiện cái nhìn của cái tôi cá nhân đối với vấn 18 đề được phản ánh và nhận quyền phát ngôn trước lịch sử. Về hiện thực phản ánh, trường ca không chỉ phản ánh những chiến công, chiến thắng vẻ vang mà phải phản ánh đúng hiện thực, đào bới mổ xẻ sự thật dù cho đó là sự thật nghiệt ngã nhất; chính vì thế bên cạnh tính chất hùng tráng, trường ca còn mang tính chất bi tráng. Người viết trường ca phải không ngừng đổi mới, tìm tòi, chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống dưới nhiều góc độ để phản ánh vào trường ca chứ không phải tuân theo khuôn mẫu đúc sẵn. Sau trường ca “Những người đi tới biển” (1977); năm 1982, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân Ên hành trường ca “Những ngọn sóng mặt trời” bao gồm ba trường ca: “Những nghĩa sỹ Cần Giuộc”, “Bùng nổ của mùa xuân”, “Trẻ con ở Sơn Mỹ”, năm 2002 trường ca: “Trò chuyện với nhân vật của mình” và “Cỏ vẫn mọc” ra đời. Víi những tập trường ca này, Thanh Thảo trở về lý giải cội nguồn sâu xa làm nên chiến thắng của dân tộc. Những năm gần đây, ngoài sáng tác thơ (“Khối vuông Ru bích” – (1985), “Tàu sắp vào ga”, “Từ một đến một trăm”– (1986); “Bạch đàn gửi bạch dương” – (1987); Thanh Thảo còn hướng sự chó ý đến sáng tác của bạn bè, đồng nghiệp qua những tập tiểu luận phê bình. Độ lượng và trân trọng, mỗi tiểu luận của Thanh Thảo như: “Ngón thứ sáu của bàn tay”– Nhà xuất bản Đà Nẵng 1995, là một phát hiện tâm đắc về những nét đáng quý riêng của bạn hữu đồng nghiệp và thêm một đóng góp của anh vào đời sống văn học đương thời. Mỗi tập trường ca của Thanh Thảo là một khám phá mới. Đối với thơ nói riêng và trường ca Thanh Thảo nói chung, chóng ta càng đọc nhiều lần càng thấy hay, thấm đẫm đầy chất thơ. Như những vì sao trong đêm, chóng ta càng nhìn càng thấy sáng và rực sáng hơn. Khác với những tác giả cùng thời, trường ca của Thanh Thảo là những bản giao hưởng hoành tráng với nhiều cung bậc, ngữ nghĩa đa dạng, độc đáo và đầy thông minh Thanh Thảo đã đưa hơi thở thời 19 đại, hơi thơ Việt Nam vào trường ca của mình. Và anh đã thành công. Thanh Thảo đã xác lập, khẳng định vị trí của mình trong nền thi ca Việt Nam. Từ sau năm 1975, Thanh Thảo không ngừng sáng tác. Nhà thơ đã hoà nhập với nhịp sống đương đại, dụng công nhiều cho việc đổi mới thơ theo chiều hướng cách tân hiện đại, bắt đầu là từ tác phẩm “Khối vuông Ru bích”, Thanh Thảo đã xuất bản được nhiều tập thơ, trường ca, có nhiều bài tiểu luận phê bình, tản văn đăng trên các báo, tạp chí trong nước. Năm 1979, Thanh Thảo nhận giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam. Năm 1995, nhận giải thưởng văn học của Hội nhà văn Việt Nam. Năm 2001, anh được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Thơ của Thanh Thảo đã được đưa vào sách giáo khoa giảng dạy trong trường học. Hiện nay, anh là phó chủ tịch Hội đồng thơ Hội nhà văn Việt Nam và chủ tịch Hội văn học nghệ thuật Quảng Ngãi. 3. Triết luận trong trường ca thời kỳ chống Mỹ và sự hình thành yếu tố triết luận trong trường ca Thanh Thảo 3.1. Triết luận trong trường ca thời kỳ chống Mỹ Trên cái nền của hiện thực chiến tranh, của đời sống chiến trường, thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ đã cất lên tiếng thơ mang sắc thái trí tuệ, chính luận riêng của thế hệ mình, tiếp nối khuynh hướng tăng cường chất trí tuệ, chính luận trong thơ hiện đại Việt Nam. Nói đến thơ chủ yếu là nói đến tính trữ tình. Tuy vậy trữ tình không phải là phẩm chất duy nhất của thơ. Thơ là tiếng nói của cảm xúc. Song những cảm xúc hời hợt không làm nên thơ. Cảm xúc chỉ đạt độ sâu và tầm cao khi “kết hợp” với “lý trí” một cách nhuần nhuyễn và có “nghệ thuật” (Sóng Hồng). Khi bàn về chất triết luận trong thơ, Hoàng Kim Ngọc trong “Những đóng góp của thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ” cho rằng: “Nói về chất trí tuệ chính luận trong thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ thì cần hiểu đó là thứ trí tuệ, chính luận không tách rời cảm xúc, mét thứ triết luận không xa rời đặc trưng nghệ thuật của thơ”. Trong thơ phải có trí tuệ, có triết học, song “triết học 20
- Xem thêm -