CHẤT SỬ THI VÀ CHẤT TRỮ TÌNH TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN MINH CHÂU

  • Số trang: 107 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 42 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH LẠI THỊ HỒNG VÂN CHẤT SỬ THI VÀ CHẤT TRỮ TÌNH TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN MINH CHÂU LUẬN ÁN THẠC SĨ NGỮ VĂN TP.HCM – 2001 MỤC LỤC MỤC LỤC ......................................................................................................................... 5 DẪN LUẬN ....................................................................................................................... 7 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ........................................................................................................ 7 2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ ............................................................................................................... 9 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................................................... 17 4.CẤU TRÚC LUẬN VĂN..................................................................................................... 18 CHƯƠNG 1:THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT TRONG SỰ NGHIỆP NGUYỄN MINH CHÂU .............................................................................................................................. 20 1.1.NGUYỄN MINH CHÂU CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP ............................................ 20 1.1.1.Con người Nguyễn Minh Châu ................................................................................. 20 1.1.2.Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu ............................................................. 24 1.2.TIỂU THUYẾT VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN MINH CHÂU ........... 32 CHƯƠNG 2: CHẤT SỬ THI TRONG TIÊU THUYẾT NGUYỄN MINH CHÂU 43 2.1.KHÁI NIỆM CHẤT SỬ THI: ......................................................................................... 43 2.2.CHIẾN TRƯỜNG VÀ HẬU PHƯƠNG ......................................................................... 45 2.3.CÁ NHÂN VÀ LỊCH SỬ ................................................................................................. 52 2.4.CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH : ................................................................................. 61 CHƯƠNG 3: CHẤT TRỮ TÌNH TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN MINH CHÂU .............................................................................................................................. 70 3.1.CHẤT TRỮ TÌNH TRONG BỨC TRANH THIÊN NHIÊN ........................................ 70 3.2.CHẤT TRỮ TÌNH TRONG MIÊU TẢ NỘI TÂM NHÂN VẬT ................................... 77 3.3.CHẤT TRỮ TÌNH TRONG GIỌNG VĂN: .................................................................... 90 KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 96 THƯ MỤC THAM KHẢO .......................................................................................... 101 DẪN LUẬN 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Luận văn "Chất sử thi và chất trữ tình trong tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu" đi sâu tìm hiểu sáng tác của một nhà văn tiêu biểu cho cả hai giai đoạn trước và sau chiến tranh, ở nước ta. Ba mươi năm chiến tranh là một điều kiện xã hội đặc biệt của văn học Việt Nam. Trong những bộn bề của sáng tác và phê bình văn học ngày hôm nay, vấn đề văn học ba mươi năm chiến tranh vẫn là mối quan tâm đặc biệt. Nỗi đau và mất mát còn đó hằn lên số phận con người với nhiều dáng vẻ khác nhau. Sáng tác của thế hệ nhà văn cầm súng là chiếc cầu nối thực sự giữa quá khứ và hiện tại. Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu trong giai đoạn chống Mỹ và giai đoạn đổi mới văn học những năm tám mươi. Di sản văn học của ông vừa đậm đà chất anh hùng ca vừa day dứt trăn trở về nỗi đau của đời người, nhưng trước sau ông vẫn là một ngòi bút đầy tâm huyết với nghề, với đời. Đối với người đọc, ngòi bút nhân hậu ấy ngày càng sâu sắc hơn, người hơn, đời hơn. Khi viết về Nguyễn Minh Châu nhiều học giả đã đánh giá vị trí quan trọng của ông đối với lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Bên cạnh đó sáng tác của Nguyễn Minh Châu gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ xung quanh vấn đề văn học và con người trong chiến tranh. Chưa có điều kiện bao quát toàn bộ sự nghiệp của Nguyễn Minh Châu nên ở luận văn này chúng tôi chỉ tìm hiểu các tiểu thuyết của ông. Luận văn góp phần đánh giá sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Minh Châu ở thể loại tiểu thuyết. Trong đời văn của mình, ông đã để lại chín quyển tiểu thuyết: Cửa sông (1967), Dấu chân người lính (1972), Từ giã tuổi thơ (1974), Miền cháy (1976), Lửa từ những ngôi nhà (1977), Những ngày lưu lạc (1981), Những người đi từ trong rừng ra (1982), Đảo đá kỳ lạ (1985) và Mảnh đất tình yêu (1987). Đó là một khối lượng tác phẩm không nhỏ, chưa kể có một tiểu thuyết đã được ấp ủ đến chín muồi nhưng ông chưa kịp hoàn thành. Nguyễn Minh Châu đã có những trăn trở và đổi mới trong lĩnh vực truyện ngắn, và cũng phải thừa nhận rằng ông đã tạo ra một diện mạo mới cho truyện ngắn trong thập niên tám mươi. Khác với truyện ngắn, tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu vẫn nằm trong dòng văn học truyền thống của giai đoạn 1945 - 1980. Những năm dài viết tiểu thuyết đã hình thành nên vốn sống và quan niệm nghệ thuật ngày càng sâu sắc hơn trong ngòi bút Nguyễn Minh Châu. Tuy nằm trong dòng chảy chung của văn học thời đại nhưng tiểu thuyết của ông lại có những nét riêng độc đáo. Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu được hình thành và phát triển trong bối cảnh của một thời kỳ lịch sử đặc biệt. Là nhà văn tiêu biểu của nền văn xuôi chống Mỹ, Nguyễn Minh Châu vừa nhận diện con người trong mối quan hệ với cộng đồng vừa soi chiếu nhân vật của mình trong mối quan hệ đa chiều. Đó là quan hệ giữa cá nhân và cách mạng, quan hệ gia đình, trong tình yêu, bạn bè, giữa những giá trị truyền thống với những thách thức và vấn đề của thời đại v.v... Trong tương quan đó, hiện thực trong tác phẩm càng được nới rộng hơn, nó bao gồm cả hiện thực xã hội, hiện thực tâm lý và hiện thực tâm linh. Và vì vậy càng ngày cuộc đời và con người trong tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu càng hiện lên với tầng sâu nhân bản và những vấn đề đặt ra trong tác phẩm càng vươn tới tầm của những triết lý nhân sinh. Bên cạnh việc phản ánh tư thế hào hùng của cuộc chiến đấu giữ nước, Nguyễn Minh Châu đã đi sâu vào tâm lý, số phận cá nhân để khám phá những dáng vẻ khác nhau của đời sống con người. Vì vậy ngòi bút của Nguyễn Minh Châu là ngòi bút trữ tình. Giọng điệu trữ tình càng về sau càng thâm trầm, xuyên suốt trong tất cả tiểu thuyết của ông. Bên một Nguyễn Khải hóm hỉnh, thông minh, sẳn sàng rình chộp lấy ở cuộc sống cái khía cạnh ngộ nghĩnh hoặc thâm sâu; một Ma Văn Kháng tinh tế, sâu sắc trong khám phá lẽ đời ; lòng người, một Nguyễn Trung Thành hào sảng, thiết tha; một Nguyễn Thành Long tài hoa, lặng lẽ, kín đáp ... là một Nguyễn Minh Châu thâm trầm, sâu sắc trong cách nhìn đời, nhìn người. Điều này khiến cho tác phẩm của Nguyễn Minh Châu có một chỗ đứng vững vàng và không bị lẫn vào xu thế chung. Đâu là những đặc điểm riêng độc đáo? Đâu là sự gặp gỡ giữa tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu với tiểu thuyết đương thời ? Đấy là vấn đề mà luận văn này cố gắng tìm hiểu. Như vậy mục đích luận văn là tìm hiểu chất sử thi và chất trữ tình đã được thể hiện như thế nào trong tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu. Đó chính là hai vấn đề để bước đầu khám phá nét riêng độc đáo của tác giả và ảnh hưởng của xu thế thời đại trong tiểu thuyết của ông. ở đây, luận văn chỉ khảo sát trực tiếp các tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu. Nếu có đề cập đến truyện ngắn thì chỉ là để so sánh, đối chiếu, làm nổi bật vấn đề. Bên cạnh đó, Nguyễn Minh Châu còn là một tác giả chọn học ở chương trình lớp mười hai phổ thông trung học. Vì vậy đề tài này ngoài r mục đích đáiứi giá tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu còn có tác dụng đào sâu để nâng cao chất lượng giáo án khi giảng dạy. 2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Sáng tác của Nguyễn Minh Châu luôn luôn gây được sự chú ý và hấp dẫn đối với bạn đọc nói chung và giới phê bình nói riêng. Ông là một trong số không nhiều những tác giả đương đại mà mỗi sáng tác ra đời thường được bạn đọc chú ý và có sức hấp dẫn đối với các cây bút phê bình. Chỉ nói riêng trong khoảng trên năm năm, với "Cửa sông" (1967) và "Dấu chân người lính" (1972), đã có hơn mười bảy bài phê bình đăng trên các báo và tạp chí trung ương. Đặc biệt vào những năm tám mươi khi yêu cầu đổi mới tư duy nghệ thuật bắt đầu xuất hiện trong các sáng tác của ông thì có thể nói rằng : "từ đấy cho đến khi ông mất, sáng tác của ông trở thành nơi thể nghiệm cho các phương pháp phân tích mới, những gốc độ tiếp cận mới". Số bài viết về con người và tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đăng trên các báo, tạp chí trung ương và địa phương cho đến trước ngày ông mất phần lớn đã được tập hợp, chọn lọc, phân loại và lên danh mục trong cuốn sách tư liệu "Nguyễn Minh Châu con người và tác phẩm" (tác giả Tôn Phương Lan - Lại Nguyên Ân (52) và tiếp đó là cuốn "Nguyễn Minh Châu - kỷ yếu Hội thảo nhân 3 năm ngày mất (85) của ông. Một số tác phẩm như "Mảnh trăng, Miền cháy, Khách ở quê ra, Cơn giông,Cỏ lau, Bức tranh", đã được chuyển thể sang kịch bản điện ảnh trong đó có những phim gây tiếng vang và được giới phê bình điện ảnh đánh giá cao ở góc độ văn học. Ngoài ra, một số tác phẩm của ông còn được dịch ở nước ngoài. Ở Liên Xô (cũ) "từ đầu những năm bảy mươi, độc giả đã biết đến ông như một trong những nhà văn hiện đại nổi tiếng". Khảo sát trên cơ sở các tư liệu đó, chúng tôi thấy rằng Nguyễn Minh Châu là một nhà văn được tiếp cận khá kỹ lưỡng ở góc độ tác giả -một nhà văn có tư chất nghệ sĩ luôn khao khát đổi mới tư duy, nghệ thuật, người rất coi trọng số phận văn chương của dân tộc nói chung và cá nhân nói riêng; và ở góc độ tác phẩm đó là những sáng tác luôn tạo được sức hấp dẫn trong nền văn xuôi đương đại. Cho đến thời điểm những năm cuối cùng của thập kỷ bảy mươi, đa phần các bài viết đều thống nhất trong sự phân tích cảm hứng của tác giả trước hiện thực cuộc sống chiến đấu và sản xuất của nhân dân ta trong các thời kỳ trước và sau chiến tranh. Các bài phê bình này chủ yếu tập trung vào phân tích nội dung xã hội của tác phẩm và đánh giá cao sự cố gắng của ông trong việc phản ánh hiện thực anh hùng, truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta. Về nghệ thuật các bài viết đó cũng đều thống nhất với nhau trong việc đánh giá cảm quan nghệ sĩ của Nguyễn Minh Châu qua khả năng miêu tả thiên nhiên, khả năng xây dựng nhân vật người lính, người nông dân ... những con người đã đóng vai trò quan trọng nhất làm nên chiến thắng của dân tộc. Trong khi phân tích tác phẩm nhiều bài viết cũng đã ghi lại những kỷ niệm đặc sắc về con người Nguyễn Minh Châu trong đời thường và trong công việc. Trong cuộc hội thảo "Trao đổi về truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu trong những năm gần đây " (Văn nghệ tháng 6/1985), nổi lên sự khác nhau giữa hai luồng ý kiến. Một bên tỏ ra nghi ngại, dè dặt về hướng tìm tòi đổi mới của ông. Một bên khác khẳng định sự tìm tòi của Nguyễn Minh Châu xem những tìm tòi đó là cần thiết và có hiệu quả tích cực. Những ý kiến đó là tương đối tập trung tiêu biểu cho thái độ và cách đánh giá khác nhau buổi đầu đối với sự tìm tòi đổi mới của Nguyễn Minh Châu. Còn thì trước và sau thảo luận, các bài viết của Nguyễn Thị Minh Thái, Huỳnh Như Phương, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Ngọc Trai, Võ Hồng Ngọc, Ni-cu-lin đăng trên "Văn nghệ", tạp chí "Văn học", "Văn nghệ quân đội" về các tập sách cụ thể, mặc dù không ít chỗ chỉ ra những điểm yếu, những điểm còn bất cập thì hầu như tiếp tục khẳng định sự đóng góp của ông trên cơ sở một sự đóng góp cũng như sự ủng hộ sự tìm tòi của ông trên cơ sở một sự phân tích kỹ lưỡng, thấu đáo và khoa học. Riêng về chất sử thi và chất trữ tình trong tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu các bài phê bình ít nhiều đề đề cập đến khi bình luận các tiểu thuyết của ông. Sự nhìn nhận đánh giá của các bài phê bình về tiểu thuyết Nguyễnh Minh Châu có thể chỉ dừng lại một trong hai khía cạnh của sử thi hoặc trữ tình, có thể đánh giá có sự kết hợp giữa hai yếu tố ấy. Theo thứ tự thời gian, các bài phê bình bàn bạc đến chất sử thi trong tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu như sau : Năm 1972 sau khi tiểu thuyết "Dấu chân người lính" vừa ra đời, trong bài "Những con người đáng quý nhất" (đọc Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu)(93), Vũ Tú Nam nhận xét "Dấu chân người lính" xuất bản lúc này thật có ý nghĩa - Trong khi cuộc chiến đấu chống bè lũ, Mỹ Thiệu của quân dân ta đang diễn ra hết sức hào hùng, quyết liệt ở Trị Thiên và các mặt trận khác, Nguyễn Minh Châu đã kịp thời cho chúng ta đọc cuốn tiểu thuyết về sự anh dũng ngoan cường của bộ đội ta ở đường 9 - Khe Sanh vào một mùa khô thắng lợi năm trước". Cùng năm 1972, với sự phân tích sâu hơn, tác giả Song Thành (89) cho rằng : "Ngòi bút Nguyễn Minh Châu đã lột tả được vẻ đẹp tinh thần phong phú và đằng sau những khuôn mặt phong trần ấy, anh đã làm ánh lên những nét chính hào hoa không phải là không có sức hấp dẫn, vẫy gọi đối với bạn đọc thanh niên. "Như vậy những con chim đại bàng phải tìm đến những cánh rừng đại thụ". "Tìm chỗ đặt chân trên các mỏm núi cao", bạn đọc thanh niên cũng qua họ mà thấy được vị trí xứng đáng nhất của mình hiện nay là cùng đứng trong chiến hào với những người anh hùng đánh Mỹ để cho tuổi trẻ của mình cũng trải qua những ngày sôi nổi và ý nghĩa nhất. Đó là một thành công quan trọng của "Dấu chân người lính". Phấn đấu của Nguyễn Minh Châu là làm sao trên cái nền chung ấy, bật lên được một hình tượng đột xuất, các sức sống bền vững trong tâm trí người đọc. Có thể coi nhân vật Lữ là cố gắng đầu tiên của tác giả để vươn tới một hình tượng trong đó "chứa đựng cả niềm vui, nỗi buồn, cả hoài bão và lý tưởng của cả một thế hệ tuổi trẻ"... Ý nghĩa sâu sắc của hình tượng này là ở chỗ nó đã giải đáp được đầy đủ và có sức thuyết phục cho những câu hỏi về mục đích, động cơ nguồn sức mạnh trong chiến đâu của ừng hồng trong vườn nhà mình để cầm súng đi chiến đấu". Ngô Thảo, trong bài "Dấu chân người lính" của Nguyễn Minh Châu (91) phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết "Dấu chân người lính" - một thư pháp nghệ thuật nhằm miêu tả những con người anh hùng. "Trong quá trình giới thiệu nhân vật, hình như thư pháp được tác giả sử dụng bao trùm là sự so sánh các nhân vật luôn đi từng đôi để soi sáng, phát hiện, bổ sung cho nhau. Nhẫn - Kinh, Khuê - Lữ ... Quan hệ tay đôi giữa các nhân vật khiến họ nhìn rõ mình và tự đánh giá khách quan hơn. Và kết quả là cả hai nhân vật bộc lộ rõ hơn trước mắt người đọc. Trong tay nhiều người viết truyện, sự so sánh này thường là giữa người xấu và người tốt, cố vạch ra cái dở của người này để chứng minh cái hay của người kia. Một quan niệm như vậy có lẽ Nguyễn Minh Châu cho là không phù hợp với thực tiễn quân đội chúng ta. Thủ pháp so sánh ở đây chỉ để bộc lộ mặt khác nhau trong sự phong phú, đa dạng của những con người một lòng một dạ chiến đấu cho độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc". Và tác giả kết luận 'với "Dấu chân người lính", Nguyễn Minh Châu đã đóng góp vào văn học chống Mỹ một tác phẩm xuất sắc nhất về người lính. Từ "Cửa sông" đến "Dấu chân người lính" là tựa đề bài phê bình của Vương Trí Nhàn (83). Trong đó tác giả viết : "Điều dể nhận ra là Dấu chân người lính tiếp được một không khí chung, không khí chiến trường trong những năm tháng sôi động. Cả một khung cảnh bề bộn, ngỗn ngang hiện ra ngay từ những trang sách đầu tiên. Chúng ta bắt gặp nhiều bộ mặt, cảm nghe cái tiếng nói đám đông hết sức ồn ào, nhiều người, nhiều việc". Năm 1978 , Ngô Thảo trong bài "Thử nhìn lại đời sống văn học năm 1977" (92) đã nhận xét ưu điểm qua sáng tác của Nguyễn Minh Châu : "Đáng chú ý có lẽ là tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu : Miền cháy. Nội dung tập tiểu thuyết về những chuyện xảy ra ở Bình Trị Thiên từ những ngày toàn thắng. Nhưng gánh nặng cuộc chiến tranh vừa qua in đậm bóng lên từng con người thuộc về hai phía, từng gia đình, nhiều giạ đình, và cả giải đất Trị Thiên. Từ khảo sát đó mà làm sáng tỏ chính nghĩa cách mạng, lòng ưu ái bao dung của quần chúng và hình đẹp đẽ, rạng rỡ của con người chiến sĩ quân đội". Lại Nguyên Ân trong bài "Tiểu thuyết Miền cháy''' câu chuyện của đất nước sau chiến tranh" cho rằng những suy tư chính luận có khá nhiều trang trong Miền Cháy (hoặc trực tiếp của người kể chuyện, hoặc qua tâm trạng nhân vật). Đó chính là mạch tư tưởng chủ yếu của cuốn tiểu thuyết. Nguyễn Minh Câu đã tìm phổ tư tưởng ấy vào giọng trầm - có phần trầm ngâm, nhưng chung quy vẫn là trầm hùng - ưu tư, trách nhiệm ... Thiếu Mai trong bài từ "Dấu chân người lính" đến "Những người đi từ trong rừng ra", nghĩ về Nguyễn Minh Châu (67) đã nhận xét hai tiểu thuyết "Miền cháy" và "Những người đi trong rừng ra" : "Có lẽ tác giả muốn giải quyết cùng một lúc quá nhiều vấn đề nên đã khiến tác phẩm rời rạc không tạo được sức "xoáy" cần thiết. Tất cả đều chưa được chuẩn bị và giải thích chu đáo, nên gây một cảm giác là mọi việc đều do một bàn tay sắp xếp, vừa lộ liễu và giản đơn. Do ôm đồm quá nhiều vấn đề nên đọc xong cứ thấy châng lâng, không thỏa mãn". Tham luận tại một hội thảo "Năm mươi năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám"; "Những đổi mới về thi pháp trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975" (76), Nguyễn Tri Nguyên đã nhận xét về các tác phẩm viết về chiến tranh của Nguyễn Minh Châu như sau : "Cũng như tất cả các nhà văn chiến sĩ khác suốt ba mươi năm chiến tranh giải phóng, Nguyễn Minh Châu từng có chung một nguyên tắc sáng tạo nghệ thuật. Nhân vật của nhà văn không chỉ là những đại diện của nhân dân mà chính là toàn thể nhân dân, toàn thể cộng đồng đã tự đứng lên bảo vệ những lý tưởng cao đẹp và quan hệ xã hội mới. Chính nhân dân đó, cộng đồng đó đã tự trở nên anh hùng với tư cách người sáng tạo nên lịch sử, đã được thể hiện có tính nghệ thuật, với một niềm say mê ca ngợi, trân trọng, yêu thương thật chân thành, giàu lý tưởng, nhiều chất thơ và vẻ đẹp lãng mạn". Còn về chất trữ tình trong tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu, số ý kiến phê bình cũng hết sức phong phú. Tiêu biểu là các ý kiến sau: Trong bài: "Hướng đi và triển vọng của Nguyễn Minh Châu (86) Nguyễn Đăng Mạnh và Trần Hữu Tá đã phát hiện và phân tích ngòi bút trữ tình của Nguyễn Minh, Châu ; "Nhân vật của Nguyễn Minh Châu là những con người giàu tư tưởng và cũng giàu tình cảm. Họ thường trầm lặng ít nói. Nhưng những cảm nghĩ của họ về cuộc đời thì lại có bao điều đáng nói. Biểu hiện những con người như vậy, Nguyễn Minh Châu thường mượn cảnh để tả tình. Đối với bất cứ tâm trạng nào, anh cũng tìm ra được một khung cảnh phù hợp ... Trong "Cửa sông" không phải ngẫu nhiên mà tác giả chú ý: đến những búi cỏ lông chông cứng sắc mạ sức sống dai dẳng của nó, như muốn thách thức với lửa thiêu và cát bỏng, vì đó cũng chính là hình ảnh của những con người làng Kiều. Cứ thế, như là thói quen của bứt pháp, Nguyễn Minh Châu nói đến một ngôi sao sáng xanh và lấp lánh khi nhân vật của anh đang suy nghĩ về những cái chết anh hùng anh nói đến mùa nắng bắt đầu sau những ngày mưa sùi sụt khi trong tâm hồn nhân vật của mình bừng tỉnh một niềm tin v.v..." Nhị Ca trong bài "Sắc điệu mới trong ngòi bút Nguyễn Minh Châu" (3) có viết : "... Nguyễn Minh Châu đã phát triển ngòi bút phân tích tâm lý. Anh làm nảy ra các nét nội tâm, nhân vật không chỉ hướng ngoại mà còn quay nhìn vào bên trong, để tìm hiểu, cân nhắc, đánh giá các diễn biến tâm trạng, các động cơ hành động. Một Phong gan dạ và trịch thượng, chỉ phủi tay một cái là xong hết nợ nần, tình cảm, bên cạnh cô Lan quen quát tháo ở chiến trường để chế ngự lên im lặng, lo âu, rồi quay về với nữ tính nhu mì. Và tâm trạng người chiến thắng, kẻ chiến bại, các thành kiến ấn tượng... Cả trực giác, tiềm thức, như cảm tưởng mơ hồ của Hiển khi gặp tên lính ngụy đeo kiếng trắng, thấy nó hết sức xa lạ mà vô cùng thân quen. Hoặc ảo giác của mẹ Êm mỗi lần nhìn thấy bóng dáng chồng con bị hy sinh ... Viết về gia đình, viết về vùng mới giải phóng, Nguyễn Minh Châu viết gì cũng không quên nguồn gốc và mục đích của mọi hành vi là hạnh phúc nhọc nhằn của con người. Viết về gia đình, tất nhiên không thể mang nỗi buồn khuê phụ mùa xuân nhìn sắc xanh dương liễu, nhưng anh cũng không bỏ qua các khắc khoải xa cách, không lảng tránh cảnh vợ góa con coi”. Trong bài "Mảnh đất tình yêu" - sự tiếp nối những câu chuyện tình đời (79), Võ Hồng Ngọc cho rằng : "Con người trong Mảnh đất tình yêu sống, làm lụng, suy nghĩ, giao thiệp và đối xử với nhau không chỉ đơn thuần dưới cái "lý" của cách mạng, mà còn trong sự chi phối của cái "tình". Tình ở đây là một khái niệm rất rộng - nó là đỉnh cao của các giá trị nhân bản, bao hàm toàn bộ những quan hệ, thái độ ứng xử đã hình thành từ lâu đời giữa con người với nhau, giữa con người với tạo vật, giữa con người với hiện tại, con người của hôm nay với tổ tông dòng tộc, con người của truyền thống. Cái tình người, tình đời bền vững đó cho phép nối liên với những mẫu người cổ sơ nhân hậu như ông ngoại Quy, mụ Điểm ... với những người cộng sản trẻ tuổi như Tùng, Phan ... với tư cách một nghệ sĩ, anh cảm nhận sâu sắc một điều : tình yêu là nguồn mạch của sự sinh thành, là quy luật vĩnh hằng của đời sống con người... Nó chỉ là một cái nhìn trữ tình thi vị về sự vận động lịch sử. Đó là hạn chế khó tránh khỏi khi nhà văn có ý đồ tuyệt đối hóa lối tiếp cận nhân bản vào mọi lĩnh vực của thực tại, muốn khám phá quy luật vận động của lịch sử chỉ bằng các giá trị nhân bản vĩnh hằng. Nhưng điều đọ không dẫn tới sự phủ nhận những thế mạnh không thể chối cãi của lối tiếp cận này, như đã nêu ở trên và ở đây cần phải nhấn mạnh thêm : nó là nguồn mạch tạo nên chất thơ trong sự lĩnh hội và tái hiện đời sống của Nguyễn Minh Châu. "Mảnh đất tình yêu" như dựng lên trước mắt chúng ta một thế giới vĩnh hằng của cái đẹp, cái thiện, ở đó con người hiện lên như những giá trị tinh thần với chiều sâu nhân bản, trong sự hài hòa tuyệt đỉnh với tạo vật. Thêm vào đó, mạch suy tư trữ tình của tác giả như vô vàn những dòng suối, con sông tỏa đi khắp mọi miền của thế giới đó...". Ở trên là những ý kiến bình giá có đề cập đến chất sử thi và chất trữ tình một cách riêng lẻ. Tuy nhiên không thấy có sự đối lập nhau trong cách đánh giá. Đó là sự phân tích ở những khía cạnh khác nhau trong các tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu. Các ý kiến phân tích sự đan xen giữa hai yếu tố sử thi và trữ tình trong tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu, đã có được cái nhìn khái quát, toàn diện hơn. Trong bài "Dấu chân người lính" của Nguyễn Minh Châu,(91) Ngô Thảo phân tích yếu tố trữ tình trong chủ đề mang tính sử thi của tác phẩm : "Trong mối tình không thành của Xiêm và Lượng có mang một chủ đề phụ của tác phẩm : những giới hạn của nhiệm vụ người chiến sĩ và yêu cầu bức thiết của công việc, giải phóng con người sau khi có đất giải phóng. Xiêm đã yêu Lượng với tình yêu thiết tha của một con người bị chà đạp mong được giải phóng. Lượng cũng yêu Xiêm như ước nguyện được mang lại hạnh phúc của một người đang phải gánh chịu khổ đau. Nhưng anh là một người lính". Trong bài : "Nguyễn Minh Châu, một cây bút văn xuôi nhiều triển vọng" (32) nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đánh giá về "Dấu chân người lính": "Ngòi bút tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu đã vẽ lên một cuộc sống thực với tính chất nhiều mặt của nó: chiến đấu và sản xuất, lý tưởng và tình yêu, hiện tại và quá khứ, chiến trường và hậu phương v.v... Những màu sắc thẩm mỹ đa dạng và phong phú của cuộc sống như cái cao cá, cái thấp hèn, cái bi và cái hài, những phút làm nên lịch sử và những phút bình thường hàng ngày, chất anh hùng ca và chất trữ tình, chất thơ và chất văn xuôi cũng đan chéo lẫn nhau, chuyển hoa vào nhau". Vương Trí Nhàn trong bài: Từ "Cửa sông " đến "Dấu chân người lính " (83). Nhận xét: "Cửa sông nằm trọn trong những cốt cách quen thuộc. Một cô giáo dịu dàng, nghiêm chỉnh. Một người mẹ địch hậu tốt bụng. Một cán bộ cơ sở vững chãi. Họ vừa có gì mộc mạc, dân dã, lại vừa là những con người mới trải qua chín năm kháng chiến và gần mười năm hòa bình. Cái mới cách mạng mang lại trong họ nhuyễn chín, thành những phẩm chất bền chắc ... Cái nhìn của tác giả trong "Cửa sông" trong sáng, điềm tĩnh. Anh đôn hậu khi nhìn nhận mọi chuyện, thắm thiết cùng kỷ niệm, lắng nghe mọi diễn biến xảy ra trong mọi người". Lã Nguyên trong bài " Nguyễn Minh Châu những trăn trở trong đổi mới tư duy nghệ thuật" (75) có ý kiến rằng : "Cửa sông, Dấu chân người lính, Lửa từ những ngôi nhà" là những trang viết hào sảng bậc nhất trong lịch sử dân tộc. Hoàn toàn có thể chỉ ra tư tưởng của thời đại qua các tác phẩm này . Đồng thời có thể nhận thấy ở đây những phẩm chất văn chướng của một tài năng văn chương độc đáo. Đó là năng lực quan sát tinh tế, là một ngòi bút giàu chất thơ và một tấm lòng đôn hậu rộng mở". Mai Ngữ trong bài "Sự ra đi của một tài năng" (80) có đề cập đến tiểu thuyết "Lửa từ những ngôi nhà". Tác giả cho rằng lần đầu tiên hậu phương của người ra trận được viết với những trang đằm thắm như vậy. "Lửa từ những ngôi nhà" không có cái dữ dội của đạn bom, không có những hy sinh mất mát, không có những cuộc đời khốc liệt nhưng nó giản dị y như nó vốn có. Bởi nó gần như điều dự báo những điều sẽ xẩy ra sau chiến tranh mà hôm nay chúng ta đang chịu đựng. Và điều quan trọng bởi nó rất thật nó như là phần tâm hồn, phần máu thịt của nhà văn đã gửi vào đó. Trong bài "Sợ hãi, tình yêu và hy vọng" (đọc tiểu thuyết "Mảnh đất tình yêu") (88) Nguyễn Thanh viết : "Mảnh đất tình yêu" của Nguyễn Minh Châu kể lại câu chuyện xảy ra ở một làng biển miền Trung (làng Hiền An), nằm bên cạnh căn cứ quân sự Nước Mặn của Mỹ, trong những năm trước và sau 1975, xung quanh một gia đình chài lưới được "kết dính bởi tình yêu vô cùng đối với nhau giữa những con người và những số phận đầu Ngô mình Sở, do những lớp sóng đầy nghiệt ngã của đời sống xô dạt lại bên cạnh nhau"... cuộc sống của họ cũng như của dân làng bị chà xát vùi dập bồi những cơn thịnh nộ khủng khiếp của thiên nhiên, bởi sự tàn khốc của chiến tranh, và từ sau 1975 bởi sự gian tham, hà khắc của một số người lãnh đạo chính trị trong vùng". “Ngay trong trang đầu của cuốn tiểu thuyết, Nguyễn Minh Châu đã để cho Qui kể lại người ông ngoại không chung dòng máu của mình nhiều khi có thể ngồi suốt ngày trò chuyện tâm sự với những con dã tràng. Và hình ảnh "dã tràng xe cát biển đông..." cứ trở đi trở lại như một ám ảnh, một chủ đề quán xuyến của tác phẩm. Phải chăng đối với Nguyễn Minh Châu, hình anh đó là biểu tượng của thân phận người dân quê Việt Nam mà xét cho cùng cũng là thân phận con người muôn nơi và muôn thuở...” Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh trong bài "Nguyễn Minh Châu, những năm tám mươi và sự đổi mới cách nhìn về con người" (40) có đánh giá về tiểu thuyết "Mảnh đất tình yêu". Theo giáo sư tiểu thuyết cuối cùng này mang đậm nhất dấu ấn tài năng và phong cách của nhà văn. Đó là tác phẩm viết về quê hương, về mảnh đất đã sinh ra, đã nuôi dưỡng, che chở những người lao động và những chiến sĩ cách mạng, về tình yêu và sự đóng góp của họ đối với mảnh đất đó. Theo tác giả bài viết, Nguyễn Minh Châu đã miêu tả cuộc sống và số phận từng con người, từng gia đình gắn liền với làng xóm, quê hương, với vận mệnh của đất nước, với thiên nhiên thân thiết, gần gũi nhưng cũng rất dữ dằn và đầy bí ẩn. Thử thách của chiến tranh thật ghê gớm, nhưng chiến tranh là chuyện một thời, chuyện đã qua. Quan hệ giữa con người và đất, giữa người và thiên, giữa con người với nhau trên mảnh đất ấy và đối diện với thiên nhiên, đó mới là chuyện lâu đời, thường xuyên, tạo nên tính cách, phẩm giá, vẻ đẹp và bi kịch cuộc đời của những người lao động. Nhìn chung tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu được đánh giá khảo sát ở từng tác phẩm cụ thể, ở từng giai đoạn sáng tác, nhưng nghiên cứu chất sử thi và chất trữ tình trong tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu như một đối tượng chuyên biệt thì chưa có một bài viết công phu hoặc một công trình khoa học. Cho nên, việc nghiên cứu về chất sử thi và chất trữ tình trong tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa vì nó đề cập đến một trong những phương diện quan trọng nhằm đánh giá thành tựu đầy sáng tạo của nhà văn về sự phát triển văn học của một giai đoạn. 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Luận văn này được viết trên quan điểm Mác - Lênin về văn học nghệ thuật. Do đó nền tảng phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Phương pháp duy vật lịch sử nghiên cứu văn học như một loại hình thái ý thức xã hội đặc thù, song vẫn nằm trong kiến trúc thượng tầng, phản ánh bản chất và quy luật của hạ tầng cơ sở, của những điều kiện lịch sử cụ thể trong các hình thái kinh tế xã hội với tất cả tính năng động và tương đối độc lập của nó. Phương pháp duy vật biện chứng nghiên cứu văn học như là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Nghĩa là phải xem xét sự phản ánh trong văn học đi đôi với việc biểu hiện, sáng tạo, thông báo và tác động. Luận văn nghiên cứu hệ thống các tác phẩm trên bình diện cấu trúc văn bản nghệ thuật từ những mối liên hệ biện chứng nội tại, đến những mối liên hệ ngang trên bình diện tâm lý - xã hội và trên bình diện văn hoa, lịch sử. Phương pháp nghiên cứu nhân vật dựa trên cơ sở chức năng lịch sử, nghệ thuật (nhân vật là nhận thức nội dung đời sống được khái quát trong hình tượng bằng phương tiện văn hộc) nghiên cứu nhân vật trong chỉnh thể thông nhất toàn vẹn, soi sáng nhân vật trên quan điểm lịch sử phát sinh. Cụ thể các phương pháp trên được vận dụng ở chỗ đặt tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu trong bối cảnh xã hội và văn học thời đại của nó. Đó là trong chiến tranh và sau chiến tranh. Nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu trong sự vận động của toàn bộ văn học Việt Nam. Luận văn đánh giạ Nguyễn Minh Châu trong bối cảnh đó để thấy được sự đóng góp của ông về thể loại tiểu thuyết. Luận văn cũng sẽ sử dụng phương pháp phân tích để tìm hiểu thế giới tác phẩm, sự thống nhất giữa nội dung và hình thức, căn cứ vào các yếu tố của tác phẩm để thấy được cái độc đáo của nó. 4.CẤU TRÚC LUẬN VĂN Với mục đích luận văn đã đặt ra và phương pháp nghiên cứu như đã nói ở trên thì cấu trúc luận văn sẽ gồm những phần sau : DẪN LUẬN 1. Mục đích luận văn 2. Lịch sử vấn đề 3. Phương pháp nghiên cứu 4. Cấu trúc luận văn CHƯƠNG 1: THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT TRONG SỰ NGHIỆP VĂN HỌC NGUYỄN MINH CHÂU 1.1 Nguyễn Minh Châu con người và sự nghiệp. 1 .2 Tiểu thuyết trong sự nghiệp Nguyễn Minh Châu. CHƯƠNG 2: CHẤT SỬ THI TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN MINH CHÂU 2.1 Khái niệm về chất sử thi 2.2 Chiến trường và hậu phương 2.3 Cá nhân và lịch sử 2.4 Chiến tranh và hòa bình CHƯƠNG 3 : CHẤT TRỮ TÌNH TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN MINH CHÂU 3.1 Chất trữ tình trong miêu tả thiên nhiên 3.2 Chất trữ tình trong miêu tả nội tâm nhân vật 3.3 Chất trữ tình trong giọng văn KẾT LUẬN. THƯ MỤC THAM KHẢO. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1:THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT TRONG SỰ NGHIỆP NGUYỄN MINH CHÂU 1.1.NGUYỄN MINH CHÂU CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP 1.1.1.Con người Nguyễn Minh Châu Nguyễn Minh Châu (1930 - 1989) là một trong số các nhà văn tiêu biểu của nền văn học đương đại Việt Nam. Quê hương ông là Quỳnh Hải -Quỳnh Lưu, thôn Kẻ Thơi, vùng Lạch Thơi, Lạch Quèn - một làng biển có tên chữ là "Văn Thai" ở Nghệ Tĩnh. Đó là mảnh đất dữ dội và nghèo khó từ bao đời nay. Tuổi thơ của Nguyễn Minh Châu gắn chặt với làng xã thân yêu, nơi mà mãi sau này Nguyễn Minh Châu vẫn trăn trở với ý nghĩ: còn một món nợ văn chương với nó: "Tôi muốn thu xếp đi về vùng biển Quỳnh Lưu một chuyến có lẽ "cáo chết ba năm quay đầu về núi". Trước mắt chưa biết sẽ viết gì nhưng tôi tin rằng cuốn tiểu thuyết cuối đời mình là một cuốn sách viết về cái vùng quê mình. Và anh đã trở về với làng quê Quỳnh Hải xưa của anh với hai xóm, một xóm hành nghề chài lưới biển khơi và xóm kia dịch vụ ăn uống, rượu chè; ngày nay ở đây tuy đã khác nhiều nhưng vẫn còn phảng phất hình ảnh của những cuộc đời, những con người ngày trước. Đó là những vành khăn tang trắng của người vợ trẻ ngư dân, và những người đàn ông lấy thói lỗ mãng làm điều đắc sách trong cuộc sống. Anh chua chát nói chuyện với đám lái trâu, lái bò chợ Giát và nhiều đêm thú vị ngủ trong lều vịt người dân giữa đồng. Anh đau xót trước dấu vết đền chùa bị phá hoại và thức thâu đêm xem bài "văn tế quỷ" của một ông Nghè cũng dùng ngòi bút của mình giúp dân tránh khỏi cái nạn cháy nhà đã từng gãy bao nhiêu khủng khiếp. Anh trò chuyện với bà con các xã, với nhiều thanh niên, bộ đội phục viên trở về cổng tác ở các cơ quan xí nghiệp. Thời gian anh trỏ về ngắn ngủi, khi gần tháng, khi vài tuần với cái vẻ vội vàng. Sức yếu nhưng anh đi nhiều, nghe nhiều và day dứt nhiều ... Đã nhiều năm những gánh đất rẻ tiền vẫn mòn mỏi trên vai người dân những công trình phá đi xây lại, những sự hợm mình thiếu tính toán, sự đục khoét kinh tế đến mức trắng
- Xem thêm -