Chăm sóc sức khỏe sinh sản phụ nữ dao tỉnh bắc cạn

  • Số trang: 116 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Sức khỏe của phụ nữ và trẻ em là những vấn đề quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Phụ nữ là cốt lõi của sự phát triển kinh tế xã hội. Sức khỏe và cuộc sống của phụ nữ có ý nghĩa quan trọng đối với gia đình, bản thân và cộng đồng. Hơn thế nữa, đời sống và sức khỏe phụ nữ là yếu tố cơ bản và có ảnh hưởng trực tiếp tới thế hệ tương lai [4]. Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu tiên nhằm nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc sống ở vùng sâu, vùng xa cũng như đẩy mạnh sự phát triển của miền núi. Trong đó, sức khoẻ của phụ nữ người dân tộc càng là vấn đề đáng quan tâm trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ nhân dân khu vực miền núi, dân tộc ít người. Chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ đến nay đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, nhiều chỉ số cơ bản liên quan đến chăm sóc sức khoẻ sinh sản đã đạt và vượt mục tiêu đề ra [9], [11], [13], [24]. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội của khu vực miền núi vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với các khu vực khác của cả nước [12], [24], [65], [66]. Mức sống thấp, trình độ dân trí chưa được nâng cao, hệ thống giao thông đi lại khó khăn, điều kiện chăm sóc y tế còn thiếu thốn... là những vấn đề đang đòi hỏi cần phải có sự đầu tư hơn nữa của Chính phủ cho các dân tộc sống ở những vùng khó khăn này, trong đó có tỉnh Bắc Kạn. Bắc Kạn là một tỉnh miền núi, vùng cao. Theo niên giám thống kê 2009 [8], Bắc Kạn có 295.296 người. Trên địa bàn tỉnh có 23 dân tộc, đông nhất là dân tộc Tày chiếm 54,3%; dân tộc Kinh chiếm 13,3%; dân tộc Dao chiếm 16,5%; dân tộc Nùng (5,4%) và các dân tộc khác. Huyện Bạch Thông là một trong những huyện mang đầy đủ những nét đặc trưng của tỉnh Bắc Kạn. Huyện Bạch Thông gồm 1 thị trấn và 16 xã. Tại đây, người Dao sống tập trung ở một số xã vùng cao như: xã Đôn Phong, 2 Dương Phong, Cao Sơn… Bên cạnh những tiến bộ đáng kể thì nơi đây vẫn còn tồn tại nhiều các tập quán văn hoá lạc hậu có ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ đặc biệt là sức khoẻ phụ nữ và trẻ em như: Bói cúng ma khi ốm đau, tự mua thuốc chữa bệnh, đẻ ở nhà không có nhân viên y tế giúp, kiêng khem khi sinh đẻ, tâm lý muốn sinh nhiều con… Đồng thời, hệ thống chăm sóc y tế vừa thiếu, vừa yếu chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Khoảng cách xa trạm y tế, đường giao thông khó khăn, thiếu phương tiện thông tin liên lạc, kém hiểu biết… cũng phần nào ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người dân. Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu và đánh giá từng khía cạnh về tình trạng sức khỏe, bệnh tật của người dân tộc thiểu số [2], [5], [9], [11], nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về những yếu tố liên quan đến dịch vụ y tế cho người Dao nói chung và cho phụ nữ người Dao nói riêng trên một số khía cạnh văn hoá - xã hội. Việc phân tích những ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa, xã hội đến dịch vụ y tế của người Dao nói chung và của phụ nữ người Dao nói riêng là thực sự cần thiết nhằm góp phần tìm ra giải pháp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ dân tộc thiểu số. Chính vì vậy, đề tài này được tiến hành nhằm các mục tiêu: 1. Mô tả và phân tích nhu cầu, thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ y tế của phụ nữ người Dao trên một số khía cạnh văn hoá, dân tộc và xã hội tại một số xã thuộc huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. 2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ hiện có tại địa phương. 3 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Một số khái niệm 1.1.1. Định nghĩa văn hóa Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Do vị trí của văn hoá trong đời sống nên văn hoá đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu và đưa ra hàng trăm định nghĩa về văn hoá [3], [40], [44], [47]. Văn hóa trong tiếng Hán được hiểu là những hình xăm trên cơ thể, qua đó người khác nhìn vào để nhận biết và phân biệt mình với người khác, biểu thị sự quy nhập vào thần linh và các lực lượng bí ẩn của thiên nhiên, chiếm lĩnh quyền lực siêu nhiên. Theo ngôn ngữ của phương Tây, từ tương ứng với văn hóa của tiếng Việt (culture trong tiếng Anh và tiếng Pháp, kultur trong tiếng Đức,...) có nguồn gốc từ các dạng của động từ Latin colere là colo, colui, cultus với hai nghĩa: (1) giữ gìn, chăm sóc, tạo dựng trong trồng trọt; (2) cầu cúng. Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh... Các “trung tâm văn hóa” có ở khắp nơi chính là cách hiểu này. Một cách hiểu thông thường khác: văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri thức...Vì thế chúng ta nói một người nào đó là văn hóa cao, có văn hóa, văn hóa thấp hoặc vô văn hóa. Trong nhân loại học và xã hội học, khái niệm văn hóa được đề cập đến theo một nghĩa rộng nhất. Văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ vốn là một bộ phận trong đời sống con người. Văn hóa không chỉ là những gì liên quan đến tinh thần mà bao gồm cả vật chất. Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau [40]: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người 4 trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”. Tóm lại, văn hoá gắn bó hữu cơ với con người, là sản phẩm hoạt động của con người hay nói cách khác: Văn hoá vừa là vật chất, vừa là tinh thần, vừa mang tính chất xã hội lại vừa có tư cách cá nhân. Chúng ta cũng có thể hiểu một khía cạnh của văn hóa đó là những phong tục, tập quán, thói quen, nếp sống của con người được hình thành, tồn tại và phát triển trong đời sống của con người. Các thành tố của văn hoá bao gồm 9 nội dung cơ bản: Ngôn ngữ, ăn uống, ở, mặc, tín ngưỡng, lễ hội, văn nghệ dân gian, tri thức dân gian và các phong tục tập quán khác (ma chay, cưới xin, vào nhà mới, chữa bệnh, dòng họ, gia đình...) [40]. 1.1.2. Khái niệm phong tục tập quán Phong tục, tập quán là một khái niệm phức tạp, theo từ điển tiếng Việt thì phong tục tập quán được định nghĩa [84]: “Những thói quen đã được mọi người tuân thủ tại một địa phương trong một hoàn cảnh bắt buộc phải chấp nhận lề thói ấy như một phần luật pháp của địa phương”. Như vậy, phong tục, tập quán thực chất là những qui tắc xử sự mang tính cộng đồng, phản ánh nguyện vọng qua nhiều thế hệ của toàn thể dân cư trong một cộng đồng tự quản (làng, xã, khu vực). Các qui tắc này được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung, quan hệ hôn nhân và gia đình nói riêng mang tính tộc người hoặc mang tính khu vực. “Tục lệ” là những tập quán có tính chất xã hội được nêu lên thành nghi thức, có thể lệ, có tiêu chuẩn bắt buộc, truyền miệng hay thành văn, được dư luận xã hội rộng rãi thừa nhận, ủng hộ, bảo vệ và yêu cầu mọi người tuân thủ [31]. 1.1.3. Khái niệm dân tộc, quốc gia dân tộc, dân tộc thiểu số Trong tiếng Việt cũng như trong ngôn ngữ của nhiều dân tộc trên thế giới, thuật ngữ dân tộc và thuật ngữ Quốc gia dân tộc chỉ rõ hai khái niệm, hai phạm trù riêng biệt. Quốc gia dân tộc mang tính lãnh thổ, chính trị, Nhà nước; còn dân tộc lại mang tính lịch sử cộng đồng ngôn ngữ, văn hóa tự nhiên. Một quốc gia có thể có một hay nhiều dân tộc sinh sống. Trái lại, một dân tộc cũng có thể phân bố trên lãnh thổ nhiều quốc gia [79]. 5 Việt Nam là một nước có nhiều dân tộc. Theo từ điển tiếng Việt, dân tộc được định nghĩa: “Cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hoá và tính cách” [74]. Thuật ngữ dân tộc thiểu số, dân tộc ít người, dân tộc dân số ít là dựa trên sự so sánh tỷ lệ dân số của từng dân tộc trong mỗi nước để gọi. Ở Việt Nam, tộc người Việt (dân tộc Kinh) chiếm 82,6% dân số cả nước. Trừ dân tộc Kinh, các dân tộc còn lại được coi là dân tộc thiểu số. 1.1.4. Một số thuật ngữ khác Dịch vụ [81]: Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng phi vật chất, gồm các tính chất sau: - Tính đồng thời: Sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời; - Tính không thể tách rời: Sản xuất và tiêu dùng dịch vụ không thể tách rời. Thiếu mặt này thì sẽ không có mặt kia; - Tính chất không đồng nhất: Không có chất lượng đồng nhất; - Vô hình: Không có hình hài rõ rệt. Không thể thấy trước khi tiêu dùng; - Không lưu trữ được: Không lập kho để lưu trữ như hàng hóa được. Dịch vụ y tế [93]: Dịch vụ y tế là một dịch vụ khá đặc biệt. Về bản chất, dịch vụ y tế bao gồm các hoạt động được thực hiện bởi nhân viên y tế như khám, chữa bệnh phục vụ bệnh nhân và gia đình. 1.2. Một số đặc điểm văn hóa - xã hội dân tộc Dao liên quan đến sức khoẻ 1.2.1. Ngôn ngữ Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Mông - Dao. Ngôn ngữ giao tiếp khá thống nhất giữa các nhóm Dao. Do ngôn ngữ văn chương mượn chữ Hán cấu tạo sắp xếp lại và gần như khác hẳn với ngôn ngữ giao tiếp nên số lượng người thông thạo ngôn ngữ văn chương không nhiều [78]. Do đặc thù về ngôn ngữ, nên trong quá trình giao tiếp các cán bộ y tế gặp rất nhiều khó khăn do bất đồng ngôn ngữ. 6 1.2.2. Nhà ở Nhà ở của người Dao có 3 loại khác nhau: nhà sàn; nhà nửa sàn nửa đất và nhà đất (nhà trệt) nhưng chủ yếu là nhà trệt. Nhà người Dao thường làm mái thấp, ít cửa sổ nên trong nhà luôn ẩm thấp, thiếu lưu thông không khí và bị thiếu ánh sáng. Hơn nữa do tập quán nên trong nhà người Dao thường có 2 đến 3 bếp đun. Việc đun nấu trong nhà gây ô nhiễm môi trường không khí dễ làm cho các bệnh đường hô hấp phát triển, đặc biệt là nhiễm khuẩn hô hấp trẻ em. Nghiên cứu của Nguyễn Đình Học (2004) [41] về mô hình bệnh tật trẻ em dân tộc Dao cho thấy: Nhóm bệnh đường hô hấp chiếm 29,4% xếp thứ tư sau nhóm bệnh về nội tiết - dinh dưỡng - chuyển hoá (45,3%), nhiễm khuẩn nhiễm ký sinh trùng (33,3%), bệnh đường tiêu hoá (32,3%). Người Dao không chú trọng làm công trình phụ và nhà tắm. Đại đa số các hộ người Dao không sử dụng hố xí và nhà tắm. Không sử dụng hố xí cũng là một tập quán của một số dân tộc thiểu số khác ở khu vực miền núi. 1.2.3. Ăn, uống Lương thực chính của người Dao là gạo tẻ và gạo nếp. Thức ăn chủ yếu là các loại rau rừng và rau tự trồng. Sau khi đẻ, sản phụ được nấu ăn riêng, thức ăn chủ yếu là thịt gà, thịt lợn được nấu với các loại thuốc nam có tác dụng nhanh khỏe người, giúp sản phụ có nhiều sữa để nuôi con. Uống: Thức uống của người Dao trong sinh hoạt hàng ngày là nước chè. Một số loại lá cây có vị thơm mát, dễ uống dùng để chữa bệnh gan, thận, tim hoặc bổ máu cũng được người Dao chế biến và sử dụng. Loại đồ uống phổ biến nữa là rượu được ủ bằng men lá. Hầu hết các gia đình người Dao đều biết nấu rượu và cất giữ rượu. Báo cáo kết quả điều tra y tế quốc gia năm 2001 - 2002 của Bộ Y tế [17] cho thấy: Tỷ lệ uống rượu vùng Tây Bắc, Đông Bắc và Tây Nguyên cao hơn vùng đồng bằng sông Hồng. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu về tỷ lệ lạm dụng rượu và nghiện rượu được tính chung cho cả nước. 1.2.4. Tục lệ sinh đẻ và nuôi con Trước đây, khi sinh con người phụ nữ thường đẻ tại nhà và phải tự đỡ đẻ, rốn trẻ được cắt bằng nứa, khi đẻ khó thì chỉ biết mời thầy cúng về cúng bái... 7 Những năm gần đây, việc sinh đẻ của người Dao đã có nhiều thay đổi, phụ nữ khi có thai đã đi khám thai và đến trạm y tế để đẻ. Tai biến sản khoa, tỷ lệ chết ở trẻ sơ sinh... đã được hạn chế tối đa, dân số người Dao tăng lên rõ rệt. Sau khi sinh sản phụ được chăm sóc chu đáo, họ thường được ăn cháo gạo nếp nấu với thịt gà, nghệ hoặc cháo nấu với xương lợn và đu đủ hoặc cháo gạo nếp nấu với trứng và đu đủ. Sản phụ ăn như vậy trong khoảng mười ngày, sau đó ăn cơm nóng với trứng luộc, canh đu đủ, rau ngải cứu, đậu tương hầm, canh gừng. Người Dao không cho sản phụ ăn thức ăn nguội, thịt chua, hoa quả chua, rau cải... vì họ quan niệm rằng ăn những thứ đó sẽ làm người mẹ mất sữa và làm cho con mắc một số bệnh [39]. 1.2.5. Tín ngưỡng liên quan đến bệnh tật Người Dao quan niệm khi hồn đầy đủ trong cơ thể thì con người khỏe mạnh. Nếu hồn ở vị trí nào đó vắng thì sẽ gây ốm đau ở chỗ đó. Hồn chính mà vắng thì con người sẽ bị bệnh nặng, nguy hiểm đến tính mạng, thậm chí bị chết. Nguyên nhân sự vắng mặt của hồn là do chúng “mải chơi” hoặc bị các thần thánh bắt không trở về nơi trú ngụ của mình trong cơ thể. Để tránh hậu quả xấu, người ta phải mời thầy cúng làm mâm lễ gọi hồn trở về hoặc chuộc hồn. 1.2.6. Phong tục tập quán Tục cúng ma [31]: Khi ốm đau, người Dao thường bói ma. Bói ra thứ ma nào thì cúng thứ ma đó. Họ thường dùng đồng xu treo vào sợi dây, khi gọi đến tên con ma nào mà thấy đồng xu “động đậy” thì cúng con ma đó. Cúng tổ tiên: Người Dao quan niệm tổ tiên cũng là ma, duy có loại ma này được coi là ma phúc thần luôn phù hộ, giúp đỡ con cháu trong đời sống sinh hoạt, chăm lo sức khoẻ con cháu. Trước đây, mỗi khi ốm đau, người Dao thường chỉ làm lễ cúng, ít tin vào việc dùng thuốc và cán bộ y tế. Mặt khác, các thầy thuốc dân gian thường kiêm luôn cả nghề cúng bái nên việc chữa bệnh bao gồm cả dùng thuốc và cúng bái. Ngày nay, mỗi khi có ốm đau, người Dao đã đến cơ sở y tế để chữa bệnh. Tuy nhiên, nhiều người vẫn cúng bái, đặc biệt là những trường hợp bệnh hiểm nghèo. 8 1.2.7. Một số kiêng kỵ Kiêng kỵ khi có thai [31]: Khi có thai, người phụ nữ kiêng các công việc nặng nhọc, kiêng bước qua dây thừng buộc trâu, bò, ngựa (vì họ cho rằng sau này đứa trẻ sẽ bị tràng hoa quấn cổ và khó đẻ), không được đánh rắn (vì sợ sẽ đau đẻ quằn quại như rắn bò), kiêng ăn thịt gà rừng (vì sợ sau này đứa trẻ sẽ chạy nhảy nhiều), không ăn nhộng ong (vì sợ sau này đứa trẻ chỉ thích ở nhà, không dám ra ngoài), kiêng các thức uống từ cây có gai (vì quan niệm cây đó sẽ làm cho đứa trẻ bị mụn nhọt, ngứa ngáy)... Kiêng kỵ sau khi sinh: Sau khi sinh, sản phụ kiêng ăn các món ăn nguội, các loại thịt chua, hoa quả chua, các loại rau có nhiều nước như rau cải, bắp cải... vì quan niệm rằng ăn những thức ăn đó không tốt sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người mẹ và con, có thể là nguyên nhân gây mất sữa hoặc làm cho đứa trẻ chê bú sữa mẹ. Kiêng bế con đến chỗ khác trong nhà nhất là nơi đặt bàn thờ tổ tiên và khu tiếp khách của nam giới. Kiêng đến gia đình người khác vì sợ mang theo những thứ “không sạch sẽ” sẽ làm ảnh hưởng đến gia đình họ. Kiêng người lạ đến nhà, cho nên dấu hiệu để nhận biết khi trong nhà có người đẻ là người Dao thường treo cành lá hoặc hoa chuối rừng trước cửa. Những kiêng kỵ có lợi cho sức khỏe bà mẹ và trẻ em [39]. Khi có thai được 3 - 4 tháng, phụ nữ người Dao chủ động kiêng sinh hoạt vợ chồng để thai nhi được lành lặn, tránh tổn thương cho thai và sảy thai. Trong thời kỳ mang thai, mỗi khi ra khỏi nhà, thai phụ phải đội nón vì họ cho rằng Ngọc Hoàng nhìn thấy “người bẩn’’ sẽ trị tội và làm sảy thai. Khi đi trên đường không được bước qua thừng trâu, chạc ngựa. Khi có thai người phụ nữ phải kiêng ăn tất cả các loại thịt ôi, thiu và kiêng ăn nhộng ong, nhộng tằm. Sau đẻ sản phụ ăn cơm nóng với trứng luộc, canh gừng, uống nước lá thuốc rồi ăn cơm nếp với thịt gà, thịt lợn. Khi nhà có người sinh đẻ họ dùng lá cây cài trước cửa để cảnh báo người lạ không được vào. 9 Người Dao ít khi mắng, chửi, đánh đập con cái, không thích nói to tiếng vì sợ hồn vía trẻ nhỏ bị thất lạc sẽ ốm đau. Những kiêng kỵ bất lợi cho sức khỏe bà mẹ và trẻ em [39]: Phụ nữ người Dao Thanh y không muốn ai hỏi tới chuyện họ có thai, nên khi mang thai họ thường giấu giếm. Các cô dâu mới về nhà chồng rất giữ ý kiêng khem trong ăn, uống song vẫn phải cáng đáng mọi công việc nên sức khỏe dễ suy giảm, ảnh hưởng đến phát triển của thai nhi. 1.2.8. Tri thức y học dân gian Trong nhiều cộng đồng dân tộc ở miền núi, ngoài các dạng thuốc truyền thống thường gặp như thuốc sắc, rượu thuốc, cao thuốc để uống, thuốc đắp bó gẫy xương... còn có thuốc tắm của người Dao. Đó là một dạng đặc trưng về cách sử dụng cây cỏ làm thuốc để chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh đã có từ rất xa xưa, một nét đẹp văn hoá y học gia truyền trong cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam. Thuốc tắm (tiếng Dao gọi là Đìa dảo xin) không chỉ của người Dao đỏ ở Bắc Kạn mà còn là dạng thuốc của các nhóm người Dao khác ở Việt Nam. Trong cộng đồng người Dao, hầu hết các thành viên trong mỗi hộ gia đình đều biết cây thuốc tắm. Tuy nhiên, phụ nữ người Dao thường biết nhiều hơn, biết rõ nơi mọc của chúng và cách khai thác bền vững nguồn tài nguyên để còn có thể sử dụng lâu dài. Theo Trần Văn Ơn [58], nghiên cứu điều tra về bài thuốc tắm của người Dao thì bài thuốc tắm của người Dao đỏ ở Sa Pa gồm nhiều loại cây hơn so với bài thuốc của các nhóm người Dao khác, từ 10 đến 120 loài, trong đó có khoảng 5-10 cây thuốc được coi là quan trọng nhất. Phần lớn phụ nữ người Dao đều biết lấy cây thuốc nam để điều trị các bệnh thông thường, còn bệnh nặng phải nhờ tới thầy lang chuyên nghiệp. Người Dao có tập quán chữa bệnh đến đâu lấy thuốc đến đấy, ít khi lấy thuốc dự trữ. Kinh nghiệm chữa một số bệnh thông thường của người Dao: + Chữa bệnh cảm cúm: Lấy lá rau ngải, lá cam, lá chanh, lá bưởi, lá tre đun sôi rồi cho người ốm xông ra được nhiều mồ hôi là khỏi hoặc lấy lá tía tô (mía đang sa) rửa sạch cho vào nước nóng uống vài lần là khỏi. 10 + Chữa bệnh bị sốt cao: Dùng lá chanh vò ra hoà nước cho người bệnh uống một vài lần là hạ sốt. + Chữa bệnh chướng hơi đầy bụng: Lấy củ canh chì đòi cho vào rượu ngâm uống vài lần là khỏi. Loại rượu này uống chữa khỏi bệnh đái dắt. + Chữa bệnh đau xương khớp: Lấy cây thanh thảo (bùng leo), lá cây dâu tằm (phong lốm mòm) đem giã nhỏ trộn với nước vo gạo, rang lửa cho ấm lên rồi đắp vào chỗ đau. + Người bị ngã gãy xương: Dùng lá và thân cây “Tồm bùng lao tòn” và cây tầm gửi mọc trên cây tre. Hai thứ này giã nhỏ trộn với nước vo gạo và rang qua lửa cho ấm lên rồi đắp vào chỗ xương gãy. Trước khi đắp phải nắn lại chỗ xương bị gãy cho thẳng và dùng nẹp bằng cây mía đỏ (tăm tía xi). Mỗi ngày thay thuốc 1 lần, khoảng 10 hôm là đỡ đau, khoảng 1 tháng sẽ liền xương. + Chữa bệnh đau thận: Lấy cây tầm gửi mọc trên cây gạo hoặc cây dâu, cây môn gai (hậu giàng gim), cây “choang xi”, tất cả đem thái nhỏ, sắc nước uống. Sau đó lấy thêm 2 loại lá cây “mắc nai nòm” và “mắc phường nòm”, giã nhỏ ngâm vào nước vo gạo, rang nóng bọc vào mảnh vải sát vào chỗ phù. Ngày sát 2 lần, sát từ trên xuống dưới. + Chữa rắn cắn: Lấy lá cây khoai môn nhai nát đắp vào chỗ rắn cắn sẽ khỏi. Ngoài ra, họ dùng lá “tụp bầy” vò nhàu, bọc vào mảnh vải hơ nóng trên lửa xoa vào chỗ rắn cắn và đắp vào chỗ rắn cắn vài lần là khỏi. + Chữa rết cắn: Lấy củ cây “tộp rùi” giã nhỏ rồi cho vào lá dong (lòm) bọc lại hơ trên than hồng cho nóng lên rồi đắp vào chỗ rết cắn, cứ nguội lại thay, cho đến khi không đau nữa thì thôi. + Để phòng bệnh và giữ gìn sức khoẻ hàng ngày, người Dao có kinh nghiệm là khi đi ra ngoài nắng phải đội mũ, đội khăn, đi giầy dép. Khi đông về giá lạnh, trong nhà thường xuyên đốt lửa và dùng nệm ấm khi ngủ. 1.3. Tình hình sức khỏe, sức khỏe sinh sản của phụ nữ 1.3.1. Đặc điểm cơ thể liên quan đến bệnh tật ở nữ giới Cơ thể nữ giới được tạo hoá ban cho cấu tạo giải phẫu phù hợp với các chức năng riêng của mình. Ngoài công tác xã hội, người phụ nữ còn là trung 11 tâm của gia đình về mọi mặt. Những yếu tố đó liên quan không ít đến người phụ nữ, nhiều khi là nguyên nhân dẫn tới tình trạng sức khoẻ yếu ở cộng đồng nữ giới, nhất là phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ, trong thời kỳ mang thai và nuôi con nhỏ [30], [59], [75], [76]. Tỷ lệ mắc bệnh nói chung ở nữ giới cao hơn nam giới, cả bệnh cấp và mạn tính, tỷ lệ chung là 2,5 bệnh/người [90], [100]. Về cơ cấu bệnh tật giữa nam và nữ, các kết quả nghiên cứu nước ngoài và trong nước hầu như có sự tương đồng. Nam giới có xu hướng mắc các bệnh hô hấp, tai mũi họng, bệnh tiêu hoá mạn tính và tai nạn nhiều hơn nữ giới từ 1,3 đến 1,7 lần. Trong khi đó, nữ giới lại mắc các bệnh thuộc hệ sinh dục, tiết niệu cao hơn đến 3 lần [34], [92], [107]. 1.3.2. Sức khỏe sinh sản - nguy cơ bệnh tật cao nhất ở nữ giới Sức khoẻ là một trong những điều kiện cơ bản để mang lại giá trị cuộc sống cho con người [4], [6], [10]. Nói đến sức khoẻ phụ nữ là nói đến sức khoẻ sinh sản, cho nên đầu tư cho sức khoẻ nói chung và sức khoẻ sinh sản nói riêng cũng chính là đầu tư cho phát triển [14], [15], [16]. Nội dung của sức khoẻ sinh sản theo Chương trình hành động Cairo bao gồm [105]: Các biện pháp kế hoạch hoá gia đình; sức khoẻ vị thành niên; dịch vụ chăm sóc bà mẹ bao gồm chăm sóc trước trong và sau khi đẻ; phòng và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục, các bệnh lây truyền qua đường tình dục; điều trị vô sinh; xử trí các vấn đề sức khoẻ phụ nữ như vấn đề phụ khoa, giáo dục tình dục học cho cả nam và nữ. Ở Việt Nam, chăm sóc sức khoẻ sinh sản được chi tiết hoá thành 8 nội dung [19] với các dịch vụ tương ứng: Thông tin, giáo dục, truyền thông và tư vấn; làm mẹ an toàn; kế hoạch hoá gia đình; nạo hút thai; sức khoẻ sinh sản vị thành niên; các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản bao gồm các bệnh lây truyền qua đường tình dục (trong đó có HIV/AIDS); các bệnh ung thư sinh sản, ung thư vú; vô sinh. 12 Sức khoẻ sinh sản nữ vị thành niên Việt Nam là nước có tỷ trọng dân số vị thành niên vào hàng cao nhất trong khu vực châu Á, tác động của nền kinh tế thị trường đã làm ảnh hưởng đạo đức của một bộ phận thanh thiếu niên, không ít vị thành niên sống buông thả, mà một trong hành động đáng báo động là hoạt động tình dục trước hôn nhân và các hậu quả nghiêm trọng của nó [33], [51], [57], [82], [94]. Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá nguy cơ tử vong do thai sản ở phụ nữ tuổi 15 đến 19 cao gấp 2 lần so với người từ 20 đến 24. Còn những em gái tuổi 10 - 14 nếu có thai thì nguy cơ tử vong cao gấp 5 lần so với tuổi ngoài 20 [95], [96]. Phụ nữ và nhiễm khuẩn đường sinh sản Bệnh phụ khoa là bệnh của nữ giới, trong đó tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và bệnh lây truyền qua đường tình dục khá cao, đặc biệt là ở những nước chậm hoặc đang phát triển [42]. Kết quả điều tra ở Thái Bình, Hải Phòng, Lâm Đồng, Hậu Giang (cũ), Hà Sơn Bình (cũ), Hà Tuyên (cũ) cho thấy: Trong cơ cấu bệnh tật của nữ theo độ tuổi, bệnh phụ khoa chiếm tỷ lệ cao nhất và tăng dần theo độ tuổi sinh sản, cao nhất là ở độ tuổi 41 - 55, chiếm 60% [1]. Sự thiếu hụt kiến thức, thiếu hụt chăm sóc y tế, cũng như tình trạng mại dâm hiện nay cũng là những yếu tố rất quan trọng để làm tăng tỷ suất của bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản (NKĐSS) [73]. Trên thế giới, NKĐSS hay gặp nhất là viêm âm đạo, rồi đến một số bệnh lây qua đường tình dục như trichomonas, lậu, giang mai. Tỷ lệ NKĐSS cao nhất là ở châu Mỹ La tinh, châu Phi và châu Á [90], [91]. Ở Việt Nam, các nhiễm khuẩn đường sinh sản thường gặp là: Tạp khuẩn (44%), Candida (28,5%), Candida + tạp khuẩn (27,5%) [22], [23], [24], [30]. 13 Phụ nữ và HIV/AIDS Đại dịch HIV/AIDS gây nên những hậu quả nặng nề cho sức khoẻ cá nhân, hạnh phúc gia đình và an toàn xã hội. Từ ca bệnh đầu tiên phát hiện năm 1990, đến nay trên thế giới đã có hơn 40 triệu người nhiễm HIV, trong đó có 18,5 triệu người là phụ nữ [89], [99]. Ở Việt Nam, trong giai đoạn 2003 - 2005, mỗi năm có thêm 37.000 người mắc mới. Riêng năm 2005, đã phát hiện 13.731 ca mắc mới HIV, 2.861 ca bị AIDS và 1.673 ca chết do HIV/AIDS [8], [11], [25], [106]. Nạo phá thai và sức khoẻ phụ nữ Bình quân cứ một phụ nữ ra khỏi độ tuổi sinh đẻ thì có 3 phụ nữ khác bước vào độ tuổi này [15], [87], [104]. Theo thống kê của Vụ Sức khoẻ sinh sản Bộ Y tế năm 2005, tỷ lệ nạo hút thai trên tổng số đẻ trong cả nước là 20,8%; tỷ lệ tai biến do nạo hút thai là 1,4%. Các vùng có tỷ lệ cao là miền núi phía Bắc, đồng bằng Sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long [11], [27]. Sức khoẻ thai phụ và tình hình tai biến sản khoa Tình trạng thiếu dinh dưỡng ở phụ nữ mang thai: Thiếu năng lượng trường diễn đối với thai phụ ở nước ta chiếm tới 30% [26]. Chất lượng và số lượng khẩu phần của phụ nữ có thai nhìn chung chưa được cải thiện. Tai biến sản khoa: Là tai biến trước, trong khi sinh và ngay sau đẻ, rất khó lường trước, xảy ra ngoài kiểm soát và gây tử vong cao [11], [51]. Theo thống kê của Vụ Sức khoẻ sinh sản Bộ Y tế năm 2004 [23], tỷ lệ tai biến sản khoa còn khá cao. Cơ cấu tai biến là băng huyết, nhiễm trùng, sản giật, vỡ tử cung và nạo phá thai. Tử vong mẹ - nguy cơ hàng đầu của thai sản Tỷ suất chết mẹ ở Việt Nam đã liên tục giảm. Theo số liệu của tổng cục thống kê [22], tỷ suất này đã giảm dần từ 130/100.000 trẻ đẻ ra sống năm 1992 xuống còn 95/100.000 (năm 2000), sau đó tiếp tục giảm đi còn 85/100.000 (năm 2002) và 80/100.000 (năm 2005). 14 Điều tra tử vong mẹ năm 2000 - 2001 do Vụ Sức khoẻ sinh sản - Bộ Y tế hợp tác với WHO thực hiện ở 7 tỉnh thuộc 7 vùng sinh thái của Việt Nam cho thấy tỷ suất chết mẹ ở 7 tỉnh nghiên cứu là 130/100.000 trẻ đẻ ra sống [103]. Theo Trần Thị Trung Chiến (2006) [29], có sự khác nhau về chết mẹ giữa các vùng (269/100.000 ở vùng núi và trung du, 81/100.000 ở đồng bằng), giữa dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh (316 và 81/100.000), giữa nông thôn và thành thị (145 và 79/100.000). Nguyên nhân góp phần gây tử vong mẹ là do chậm trễ đến cơ sở y tế (46,3%), chậm gửi lên tuyến trên do đường giao thông đi lại khó khăn 41,3%; 40% do điều trị không kịp thời; ngoài ra còn do nhân viên y tế thiếu năng lực chuyên môn, thiếu thuốc, thiếu trang thiết bị cần thiết... Trên thế giới, các nguyên nhân trực tiếp gây tử vong mẹ chiếm 80%, nguyên nhân gián tiếp chiếm 20% [101], [102]. Ung thư ở nữ giới Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế [24], thì tỷ lệ ung thư thường gặp ở nữ là ung thư cổ tử cung chiếm 20,3%, ung thư vú (16,2%), ung thư dạ dày (10%), đại trực tràng (8,3%), ung thư phổi (7,3%). 1.4. Nữ giới trong tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế 1.4.1. Hệ thống cung ứng dịch vụ y tế Việt Nam Ở Việt Nam, hệ thống y tế được chia thành tuyến Trung ương, tuyến tỉnh và tuyến y tế cơ sở, trong đó có y tế Nhà nước và y tế tư nhân [55], [56]. Trạm y tế xã là đơn vị kỹ thuật đầu tiên tiếp cận với nhân dân nằm trong hệ thống y tế Nhà nước. Điều tra Y tế Quốc gia 2001 - 2002 cho biết bình quân mỗi xã có 4,34 CBYT; có 52,7% số xã có bác sỹ, 89% xã phường có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi [17]. 1.4.2. Hệ thống quản lý chăm sóc sức khoẻ ban đầu - công cụ đánh giá tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế CBM - Community Based Monitoring (Giám sát dựa vào cộng đồng) [20] được xem như là một phương pháp đánh giá khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế. Mục tiêu chính của CBM là xác định xem nhu cầu chăm 15 sóc sức khoẻ đã được đáp ứng hay chưa, đáp ứng như thế nào, nguyên nhân cản trở người sử dụng dịch vụ y tế và tồn tại của người cung ứng dịch vụ y tế thông qua các chỉ số: Sẵn có  tiếp cận  sử dụng  sử dụng đủ  sử dụng hiệu quả. Đánh giá tương quan giữa tiếp cận và sử dụng DVYT bằng các biểu đồ, xác định những vấn đề còn tồn tại dựa trên các chỉ số: Đối tượng đích: Là nhóm đối tượng mà ngành y tế hướng tới phục vụ. Tỷ lệ sẵn có: Là tỷ lệ những ngày mà trạm y tế có đầy đủ các điều kiện cần thiết phục vụ cho chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Tỷ lệ tiếp cận: Là tỷ lệ dân số trong xã có thể đến được trạm y tế trong khoảng thời gian dưới một giờ bằng phương tiện sẵn có của mình. Tỷ lệ sử dụng: Là tỷ lệ số người có sử dụng DVYT dù chỉ một lần trong kỳ theo dõi trên tổng số đối tượng. Tỷ lệ sử dụng đầy đủ: Là tỷ lệ số người được nhận đầy đủ các DVYT cần thiết có liên quan đến vấn đề sức khoẻ của họ. 1.4.3. Hệ thống tổ chức y tế tỉnh Bắc Kạn Theo niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn năm 2009 [83], toàn tỉnh có 8 bệnh viện (gồm 1 bệnh viện đa khoa tỉnh và 7 bệnh viện huyện), 10 phòng khám đa khoa khu vực, 122 trạm y tế xã phường. Số cán bộ ngành y tế là 1.197 người, trong đó có 354 bác sỹ, 326 y sỹ, 517 y tá. Tỷ lệ trạm y tế xã có bác sỹ là 59,01%; có nữ hộ sinh là 81,97%; hầu hết các xã đều có nhân viên y tế thôn bản. Theo niên giám thống kê y tế năm 2005 [21], tỷ lệ trạm y tế xã có bác sỹ và nữ hộ sinh của tỉnh Bắc Kạn thấp hơn cả nước nhưng cao hơn so với vùng Tây Bắc và Tây Nguyên. 1.4.4. Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế 1.4.4.1. Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ là sự cần thiết được CSSK theo các vấn đề sức khoẻ của người dân. Chúng ta cần phân định giữa nhu cầu (need - sự cần thiết) và cầu (demand - là thể hiện qua ý muốn chủ quan của người bệnh, phụ thuộc vào sức 16 mua và khả năng chi trả). Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong CSSK luôn gắn liền với nhu cầu chứ không gắn với sức mua [61]. Theo kết quả của VNHS 2001 - 2002 [17], bình quân sẽ có 1,5 đợt ốm_người/năm làm ảnh hưởng tới các hoạt động như đi học, đi làm. 1.4.4.2. Tiếp cận dịch vụ y tế “Tiếp cận dịch vụ y tế” là khả năng mà người sử dụng dịch vụ y tế (DVYT) khi cần có thể đến sử dụng DVYT tại nơi cung cấp. Tiếp cận bao hàm cả sự đánh giá, cách nhìn nhận DVYT trong tầm suy nghĩ của người dân về loại dịch vụ qua các yếu tố không gian, thời gian, chi phí và chất lượng dịch vụ y tế. Tiếp cận DVYT phụ thuộc vào nhiều nhóm yếu tố nhưng có 4 nhóm yếu tố cơ bản sau: * Khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế: Được tính bằng thời gian đi từ nhà đến cơ sở y tế. Nếu thời gian này trong vòng 60 phút đi bằng phương tiện thông thường thì coi là tiếp cận được. Cách tính và đo lường này hợp lý cho mọi trường hợp. Nếu càng tốn ít thời gian để đến với cơ sở y tế thì tính tiếp cận càng cao và ngược lại [70]. Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hùng (2007) [43] về chăm sóc sản khoa thiết yếu tại tỉnh Lạng Sơn cho thấy: Tỷ lệ tiếp cận trong chăm sóc trước và sau sinh đạt 85,9%. * Kinh tế: Yếu tố kinh tế có tác động rất lớn tới sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế [32]. Nghiên cứu của Trương Việt Dũng tại 4 xã tỉnh Quảng Ninh [35] cho thấy: 22% tự chữa lấy không mua thuốc, 20% đến bệnh viện huyện, 28% đến thầy thuốc tư. Theo báo cáo năm 2007 của đơn vị nghiên cứu chăm sóc sức khoẻ cộng đồng - Bộ Y tế [7]: Tỷ lệ người ốm không chữa gì là 2,7%; tự mua thuốc về chữa 32,8%; đến trạm y tế xã 22,4%; đến y tế tư nhân 19,6%... Những hộ có thu nhập thấp thì lựa chọn hình thức tự chữa là cao nhất (35,4%), hộ có thu 17 nhập trung bình và cao thì đến bệnh viện (13,5% và 22%), đến trạm y tế xã (22,5% và 16,8%). Kết quả nghiên cứu theo dõi điểm ở một số tỉnh do Bộ Y tế tiến hành năm 2001 - 2002 [17] cho thấy: Ở miền Bắc số người nghèo bị ốm không điều trị gì chiếm 40%; 32% không có tiền chữa. Lê Thị Hồng Thơm (2006) [66] nghiên cứu về tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế cho phụ nữ nông thôn cho kết quả: 48,6% phụ nữ chọn hình thức tự chữa bệnh, sau đó đến y tế tư (22,9%), tiếp đến là trạm y tế xã (13,8%). Nhóm phụ nữ nông thôn nghèo chọn hình thức tự chữa bệnh cao hơn so với nhóm phụ nữ có thu nhập từ khá trở lên (55,7% so với 23,7%), ngược lại, nhóm phụ nữ có thu nhập cao lựa chọn khám chữa bệnh tư (25,9%) cao hơn so với nhóm có thu nhập thấp hơn (18,1%). Nhà nước cũng như ngành y tế rất quan tâm và đã có nhiều giải pháp về chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo nhưng cho đến nay chúng ta vẫn chưa thể giải quyết được căn nguyên của vấn đề [2], [4], [5]. * Dịch vụ y tế: Nhóm này không đề cập đến giá dịch vụ đắt hay rẻ mà chỉ đề cập đến tính sẵn có của các dịch vụ mà người dân cần, tính thường trực, thời gian mở cửa thích hợp, thái độ của cán bộ y tế với bệnh nhân, chất lượng dịch vụ mà người dân yêu cầu. Nghiên cứu quá trình cung cấp dịch vụ chăm sóc trước sinh ở huyện Cần Đước - Long An [62] cho thấy: Yếu tố sẵn có của phương tiện khám thai, viên sắt, giấy thử albumin niệu... chưa đầy đủ (97%), trong khi đó tất cả phụ nữ đều có khả năng tiếp cận với dịch vụ. Như vậy, tồn đọng của dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ có thai trước sinh ở địa phương này chính là sử dụng hiệu quả. Báo cáo của sở Y tế tỉnh Thanh Hoá [63] về tính bao phủ của dịch vụ chăm sóc trước sinh cho thấy yếu tố sẵn có chỉ đạt 86%, trong khi đó yếu tố tiếp cận và sử dụng là 100%, tồn đọng của dịch vụ chăm sóc phụ nữ có thai trước sinh vẫn là tỷ lệ sử dụng hiệu quả (66%). 18 * Văn hoá - xã hội: Trình độ hiểu biết của người ốm, người chủ gia đình có ảnh hưởng rất lớn tới quyết định xử lý khi bị ốm đau và thông qua đó ảnh hưởng gián tiếp tới lựa chọn DVYT. Yếu tố văn hoá - xã hội còn chịu sự tác động của phong tục tập quán: Cúng bái trừ tà ma, kiêng khem, đẻ tại nhà, ngại phải thổ lộ bệnh tật của mình với người khác… 1.4.4.3. Sử dụng dịch vụ y tế Sử dụng DVYT là một quá trình tương tác của nhiều yếu tố. Hiện nay có 3 cách đề cập chính được sử dụng để xây dựng mô hình giải thích các mối quan hệ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc sử dụng DVYT của người dân: Kinh tế học, nhân học và ứng xử xã hội trong chăm sóc sức khoẻ [86]. * Kinh tế học: Cách đề cập này dựa trên nhận định rằng con người khi phải lựa chọn một dịch vụ nào đó, phải luôn tuân theo các nguyên lý kinh tế học nhằm đạt được lợi ích tối đa với mức chi phí có thể bỏ ra. * Nhân học: Cơ sở của cách đề cập này là sự lựa chọn cụ thể của người dân được xem là kết quả của quá trình ra những quyết định nhiều bậc. Do vậy, các mô hình phát triển từ cách đề cập này còn có tên là mô hình lý thuyết quyết định. * Mô hình quyết định: Cách đề cập này tập trung vào việc xem xét đồng thời sự tác động của tập hợp các biến giải thích sự lựa chọn DVYT của người dân. 1.4.4.4. Mối liên quan giữa yếu tố tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế Về mặt lý luận, hệ thống y tế được cấu thành bởi những cơ sở cung cấp DVYT, người sử dụng DVYT và hệ thống pháp lý cũng như môi trường, kinh tế xã hội chi phối mối quan hệ giữa bên cung và bên cầu. Nếu bên cung thiếu các nguồn lực cần thiết, tổ chức và quản lý dịch vụ chăm sóc sức khoẻ không tốt sẽ dẫn đến hiệu quả sử dụng nguồn lực thấp và ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng. Nếu bên “cầu” không có nhu cầu đúng, không chấp nhận, không sử dụng các DVYT mà bên “cung” sẵn sàng cung cấp, có nghĩa là không tham gia vào hệ thống y tế công cộng thì dẫn tới lãng phí nguồn lực và hiệu quả các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cộng đồng cũng bị hạn chế. 19 1.4.4.5. Tình hình sử dụng dịch vụ y tế ở nữ giới Nghiên cứu của Bùi Thanh Tâm ở Thái Bình [64] cho thấy: Ở Thái Bình hệ thống y tế của Nhà nước mới chỉ thu hút được 54% các trường hợp ốm, có 44,9% chữa bệnh ở trạm y tế xã; 9,77% đến bệnh viện hoặc phòng khám đa khoa khu vực; 23,13% tự chữa, còn 13,5% không chữa gì. Tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế cơ bản giữa các nhóm thu nhập khác nhau không giống nhau, người nghèo có xu hướng sử dụng dịch vụ trạm y tế xã nhiều hơn các đối tượng khác, trong khi đó người giàu có xu hướng sử dụng dịch vụ tư nhiều hơn [67], [68], [70]. Ở các nước công nghiệp phát triển, nữ giới sử dụng dịch vụ y tế nhiều hơn nam giới [77]. Ở Việt Nam, liên quan giới và sử dụng dịch vụ y tế còn rất ít tài liệu đề cập đến. Tuy nhiên, có thể đoán biết rằng trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay nhiều phụ nữ sống ở khu vực nông thôn miền núi khó có điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng. Điều tra tỷ lệ sử dụng dịch vụ cơ bản hàng năm (không kể bệnh viện) trên đầu người theo giới và tuổi cho thấy: Ở mọi lứa tuổi, nữ giới đều sử dụng dịch vụ y tế cao hơn nam giới [70]. Nghiên cứu của Trương Việt Dũng [34], [66] cho thấy: Nữ giới thường mua thuốc tự chữa bệnh cao hơn nam giới (38,7% so với 25,2%). Trong khi đó, nam giới có tỷ lệ đến bệnh viện cao hơn nữ giới (23,2% so với 18,1%). Sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh Theo Tổ chức Y tế thế giới, tình hình chăm sóc trước và trong sinh của phụ nữ ở các nước đang phát triển và các nước phát triển còn thấp so với nhu cầu. Chỉ có một nửa phụ nữ 15 đến 49 tuổi ở Nam Á và các nước kém phát triển được khám thai [90]. Trước Cairo (Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại Ai Cập), 43% phụ nữ không được khám thai, 15% các trường hợp đẻ không được y tế hỗ trợ, 43% đẻ tại nhà; 46,5% đẻ do bà đỡ dân gian hoặc y tế thôn bản đỡ, chỉ có 9,2% đẻ do cán bộ tuyến huyện và tỉnh thực hiện. Sau Cairo thì tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc thai sản đã có sự cải thiện, số 20 lần khám thai trung bình là 1,4; tỷ lệ phụ nữ có thai được tiêm uốn ván 2 lần trong thai kỳ là 82,1%; tỷ lệ thai phụ đẻ tại nhà là 50%, tỷ lệ đẻ được cán bộ y tế hỗ trợ 88% [13], [97]. Các số liệu điều tra cho thấy việc sử dụng dịch vụ chăm sóc thai nghén có chiều hướng gia tăng theo thời gian, nghĩa là tăng theo mức đời sống chung, theo mức học thức và hiểu biết tăng dần ở phụ nữ trong tình hình phát triển kinh tế xã hội chung của cả đất nước [67], [69], [70]. Điều tra y tế nhân khẩu học của Uỷ ban quốc gia dân số kế hoạch hoá gia đình, Dự án dân số sức khoẻ gia đình cho thấy: 56% phụ nữ có thai đăng ký chăm sóc trước sinh và số lần khám thai trung bình là 1,6; khoảng 1/3 số phụ nữ sinh con tại nhà [80]. Mặc dù tỷ lệ khám thai ở Việt Nam còn thấp hơn nhiều so với các nước công nghiệp và các nước thuộc Thái Bình Dương nhưng đã đạt gần tới mức chung của thế giới. Tỷ lệ phụ nữ khi đẻ được người có chuyên môn hỗ trợ đã đạt mức khá cao, cao hơn rất nhiều so với các nước đang phát triển và các nước kém phát triển, chỉ kém các nước công nghiệp [64], [98]. Theo Vụ Sức khỏe sinh sản Bộ Y tế, tỷ lệ phụ nữ có thai được khám thai từ 3 lần trở lên trong cả nước đạt 87,9% ; tỷ lệ phụ nữ có thai tiêm phòng uốn ván đủ 2 lần đạt 92% [23]. Dịch vụ chăm sóc trong và sau sinh Chăm sóc sau sinh cũng quan trọng không kém trước sinh, nó giúp kiểm tra sức khoẻ thai phụ, phát hiện ngăn ngừa và điều trị biến chứng sau sinh kịp thời. Công tác này không phụ thuộc các sản phụ, mà nó phụ thuộc hoàn toàn vào người cung cấp dịch vụ y tế. Theo báo cáo của Bộ Y tế: Tỷ lệ đẻ có chuyên môn trợ giúp năm 2004 cả nước đạt 87,9%; cao nhất là đồng bằng sông Hồng (97%), sau đó là duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ, thấp nhất là miền núi phía Bắc (73,1%) [23]. Cũng trong báo cáo này, tình hình tử vong sản phụ còn cao, mà nguyên nhân chính có liên quan đến cung cấp và sử dụng dịch vụ y tế. Có 90% trường hợp tử vong mẹ là do thiếu hụt trong hệ thống chăm sóc sản phụ [23].
- Xem thêm -