Câu hỏi ôn tập quản trị rủi ro

  • Số trang: 30 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 24 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24635 tài liệu

Mô tả:

QUẢN TRỊ RỦI RO MỤC LỤC 1 1 Câu 1: Có quan điểm cho rằng: Quản trị rủi ro trong ngân hàng là công việc của riêng khối quản lí rủi ro. Bạn có đồng ý với quan điểm này không? Tại sao? Bộ phận quản lý rủi ro trong ngân hàng không chỉ đơn thuần là một bộ phận theo dõi và kiểm soát rủi ro. Thực ra, việc kiểm soát rủi ro phải được triển khai ở tất cả các bộ phận khác như bộ phận tín dụng, nguồn vốn, thanh toán quốc tế, marketing và các bộ phận hỗ trợ của ngõn hàng như kế toán, pháp chế và đào tạo, và phải được thực hiện ở các khâu thấp nhất trong cơ cấu tổ chức là các giao dịch viên. Bộ phận quản lý rủi ro chỉ cú chức năng theo dõi, báo cáo và có các đề xuất để điều chỉnh. Ví dụ, chúng ta có thể xây dựng cơ chế phòng ngừa rủi ro của ngân hàng gồm 3 phòng tuyến: phòng tuyến thứ nhất là tất cả các cán bộ kinh doanh đối diện trực tiếp với rủi ro hàng ngày như đối diện với khách hàng…; phòng tuyến thứ hai là bộ phận quản lý rủi ro, theo dõi tất cả các báo cáo, vấn đề rủi ro; phòng tuyến thứ ba là ban kiểm toán nội bộ và ban kiểm soát của ngân hàng. Với 3 phòng tuyến như thế, ngân hàng xây dựng những chốt chặn, trạm kiểm soát để sàng lọc và ngăn chặn rủi ro, phát hiện rủi ro và kiểm soát rủi ro. Bên cạnh xây dựng những cơ chế phòng ngừa và quản lý rủi ro, ngân hàng cũng cần phải xây dựng một “văn hóa rủi ro”, có nghĩa là tất cả cán bộ, nhân viên cần phải nâng cao nhận thức về rủi ro trong mọi giao dịch. Không những tín dụng chứa đựng rủi ro, mà ngay cả huy động vốn cũng chứa đựng rủi ro. Những dòng tiền “bẩn” luôn tìm cách len lỏi vào ngân hàng để “rửa tiền”, để hợp pháp hóa đồng tiền thu về từ những hoạt động bất hợp pháp. Các cán bộ nhân viên ngân hàng nếu không có ý thức rủi ro cao sẽ dễ dàng thu nhận những loại tiền này, vô hình chung tiếp tay cho các nhóm tội phạm, các hoạt động phi pháp. Hiện tại, Ngân hàng Nhà nước đã xây dựng một số quy định nhưng chưa đầy đủ, cần có sự hoàn thiện bổ sung, quy định rõ ràng về các loại rủi ro, cơ chế, quy trình quản lý rủi ro, và nhân sự liên quan đến quản lý rủi ro... Chỉ có như vậy, việc triển khai áp dụng Basel II mới có thể thành công và có ý nghĩa trên thực tế. 2 2 Câu 3: Trình bày quan điểm cá nhân của Anh (chị) về giải pháp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính của NHTM hiện nay? Xét về tổng thể hiện nay, hoạt động của các công ty CTTC là khá an toàn và ổn định. Tình trạng nợ xấu là tương đối thấp, nằm trong phạm vi an toàn và không ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của các công ty CTTC. Tuy nhiên, do tính đặc thù trong hoạt động của mình nên hoạt động của công ty CTTC vẫn còn tiềm ẩn những rủi ro. Trường hợp thứ nhất, đó là rủi ro xuất phát từ việc tập trung hoạt động cho thuê vào một số ít khách hàng hoặc một ít nhóm khách hàng có chung lĩnh vực kinh doanh hoặc cùng ngành nghề kỹ thuật. Sự rủi ro cũng có thể xuất phát từ phạm vi và các nghiệp vụ hoạt động của công ty CTTC chưa đa dạng. (Công ty CTTC chủ yếu thực hiện nghiệp vụ CTTC, còn các nghiệp vụ khác như cho thuê vận hành, mua và cho thuê lại… đang trong giai đoạn triển khai thực hiện hoặc chưa được phép thực hiện). Ngoài ra còn có thể phát sinh những rủi ro khác trong hoạt động CTTC như rủi ro về lãi suất cho thuê (do thời gian cho thuê dài), rủi ro về tỷ giá đối với các tài sản đầu tư bằng ngoại tệ, hoặc rủi ro về mặt pháp lý như trường hợp các công ty CTTC phải mất nhiều thời gian và chi phí tốn kém để thu hồi lại tài sản cho thuê khi bên thuê vi phạm hợp đồng… Để khắc phục tình trạng này, Ngân hàng Nhà nước có một số khuyến nghị đối với các công ty CTTC. Để hạn chế rủi ro trong quá trình hoạt động, các công ty CTTC cần xây dựng một chiến lược về khách hàng, về các loại tài sản cho thuê và địa bàn hoạt động trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cho phù hợp với mô hình tổ chức, cơ chế quản lý và điều hành của công ty CTTC và phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Các công ty CTTC cũng cần nhanh chóng triển khai các nghiệp vụ mới như: cho thuê vận hành, mua và cho thuê lại… để làm đa dạng hoá nội dung hoạt động và giảm thiểu tỷ trọng vốn kinh doanh tập trung vào nghiệp vụ đơn thuần như hiện nay của công ty CTTC. Câu 4: Thế nào là rủi ro tín dụng? Nhận xét của Anh chị về thực tế rủi ro tín 3 3 dụng tại các NHTM Việt Nam thời gian qua? Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng; nó thường chiếm phần lớn trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng cả về khối lượng công việc cũng như mức độ tạo thuận lợi. Tỷ lệ thuận với nó là mức độ rủi ro của nghiệp vụ này cũng chiếm phần lớn trong tổng mức rủi ro của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra biến cố từ các khoản tín dụng gây tổn thất cho ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng tín dụng. Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay. Nói cách khác, “rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra do khách hàng không thực hiện trả nợ theo các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng”. Rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra khi bên đi vay, trong một giao dịch nào đó, không thực hiện được việc thanh toán tiền vay theo thời hạn và điều kiện trong hợp đồng làm cho người cho vay phải gánh chịu tổn thất tài chính. Rủi ro tín dụng có muôn hình muôn vẻ, với nhiều hình thái, cung bậc khác nhau, chúng tiềm ẩn trong suốt quá trình trước, trong và sau khi cho vay và biểu hiện ra bên ngoài là món vay không thu hồi được, nợ quá hạn, nợ khó đòi, mất vốn... Để xem xét thực trạng rủi ro tín dụng của một ngân hàng, người ta thường phải xét đến tỷ trọng nợ quá hạn cao hay thấp. Trong tỷ trọng nợ quá hạn, người ta lại chia ra tỷ trọng nợ quá hạn dưới sáu tháng, nợ quá hạn dưới một năm, nợ quá hạn trên một năm, nợ quá hạn khó đòi, nợ không có khả năng thu hồi... Các tỷ trọng này càng cao thì khả năng bảo toàn vốn tín dụng của ngân hàng càng thấp. Ngày nay, các Ngân hàng Thương mại dù đã mở rộng kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng hoạt động cho vay vẫn là nguồn cơ bản tạo nên thu nhập của 4 4 ngân hàng. Đặc biệt, ở những nước đang phát triển như ở Việt Nam, hoạt động cho vay chiếm tới 90% hoạt động của ngân hàng, và vì thế mà rủi ro tín dụng là vấn đề cần được quan tâm đặc biệt trong hoạt động của các ngân hàng Thương mại ở nước ta hiện nay. Nhìn lại 2 năm 2012 và 2013, có thể thấy các ngân hàng đang tập trung xử lý nợ xấu vốn là hệ quả của việc tăng trưởng tín dụng rất nóng. Hiện nay tín dụng được đẩy ra nền kinh tế một cách chậm chạp và thận trọng hơn rất là nhiều. Vấn đề quản trị rủi ro tín dụng đang là ưu tiên hàng đầu trong quản trị rủi ro trong ngân hàng hiện nay. Trong năm nay, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Agribank đã ký hợp đồng với tổng công ty café Việt Nam về gói tín dụng tài trợ: 4.165 tỷ đồng cho Vinacafe thu mua chế biến café xuất khẩu; và 2110 tỷ đồng cho trồng, tái canh café; 3000 tỷ đồng cho Đắc Lắc trồng, chăm sóc, tái canh café; 2800 tỷ đồng cho Lâm đồng trồng, chăm sóc, tái canh café. Ngân hàng đã cho vào hoạt động kho café có sức chứa 1000 tấn, doanh nghiệp muốn vay tiền bằng hình thức cầm cố café sẽ phải lưu giữ tại kho sau khi được kiểm tra chất lượng kỹ càng. Hàng muốn xuất thì tiền phải được chuyển về cho ngân hàng mặc dù ngân hàng sẽ tốn thêm chi phí cho đất đai, kho bãi, nhân lực. Đồng nghĩa với việc giá vốn doanh nghiệp được vay từ ngân hàng cao hơn hoặc lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm đi để đáp ứng phần nào chi phí. Nhưng bù lại tính an toàn của khoản vay vì thế lại được đảm bảo. Ngoài các gói tín dụng tài trợ café còn có các gói tín dụng tài trợ cá ba sa và bất động sản. Qua kinh nghiệm hoạt động thực tế của các ngân hàng, các tranh chấp có liên quan đến hàng hóa xảy ra tương đối là nhiều, trong đó đặc biệt là tranh chấp các kho hàng. Chính vì vậy, ngân hàng đã phải đưa ra một sản phẩm mới cho vay đối với café. Sản phẩm này được coi là biện pháp hữu hiệu trong việc quản trị rủi ro tín dụng về cho vay thế chấp đảm bảo bằng hàng hóa. tỷ lệ nợ xấu tại các nhà băng hiện nay đang tăng lên so với cuối năm 2013. Nợ xấu cao nhất là PvcomBank với tỷ lệ 5.2%, NVB là 4,83%,Techcombank xếp thứ ba tại mức 4.12%. Tỷ lệ nợ xấu của ACB cũng tăng đáng kể lên 3.65%.Trích lập dự phòng rủi ro khiến cho lợi nhuận của ngân hàng bị teo tóp. Do vậy, tăng cường quản 5 5 trị rủi ro, nhất là rủi ro tín dụng là con đường duy nhất đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Dưới sự hợp tác hỗ trợ của đối tác Standard Chartered bank một bộ phận chuyên quản lý rủi ro tại ACB đã được đi vào hoạt động. Nếu khách hàng gặp rủi ro thì ngân hàng phải nhìn thấy trước, dự báo và có biện pháp để hỗ trợ khách hàng vượt qua khó khăn. Nếu khách hàng ko thể vượt qua khó khăn thì ngân hàng phải có các biện pháp xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi được vốn và lãi cho ngân hàng. Để giảm thiểu rui ro phát sinh, cán bộ tín dụng phải sâu sát hơn trong hoạt động của doanh nghiệp. Điều đó, đồng nghĩa với việc có yêu cầu cao hơn về trình độ và năng lực của cán bộ ngân hàng, cũng như quy trình quản trình hoạt động chuẩn mực hơn của chính nhà băng. Theo lãnh đạo của các tổ chức tín dụng, nếu làm được điều này thì tài sản đảm bảo không còn là điều kiện kiên quyết để giải ngân các khoản vay. Về lâu về dài, việc cho vay về cơ bản phải dựa trên đánh giá khả năng hấp thụ tín dụng cũng như khả năng sản xuất kinh doanh, phương án khả thi, dòng tiền của doanh nghiệp và tài sản đảm bảo của doanh nghiệp được xếp ở vị trí thứ 2. Hiện nay hệ thống quản trị rủi ro ở ngân hàng nào cũng được xây dựng, nhưng quy chuẩn và thang bậc đánh giá của mỗi ngân hàng lại mỗi khác. Thế nên mới có chuyện cùng một doanh nghiệp nhưng có ngân hàng đánh giá là khách hàng tốt, có ngân hàng lại xếp loại khách hàng có mức độ rủi ro cao. Vì vậy, quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam hiện nay cần có hệ thống và có chuẩn mực cụ thể rõ ràng cho tất cả các ngân hàng. Đồng thời cần có sự kiểm soát gắt gao của NHNN về tình hình nợ xấu của các ngân hàng để có n=biện pháp kịp thời xử lý. Đánh tan cục máu đông một cách nhanh chóng. Câu 7: Hãy trình bày nội dung các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của NHTM. Phân tích các nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến các chỉ tiêu đó? Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng 6 6 Tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của NHTM. Do đó, đo lường chất lượng tín dụng là một nội dụng quan trọng trong việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Tuỳ theo mục đích phân tích mà người ta đưa ra nhiều chỉ tiêu khác nhau, tuy mỗi chỉ tiêu có nội dung khác nhau nhưng giữa chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau. Trong phạm vi bảng báo cáo tổng hợp kết quả hoạt động kinh doanh, ta có thể áp dụng các chỉ tiêu sau để đánh giá tình hình chất lượng tín dụng của ngân hàng. *Chỉ tiêu sử dụng vốn Đây là chỉ tiêu hiệu quả phản ánh chất lượng tín dụng, cho phép đánh giá tính hiệu quả trong hoạt động tín dụng của một ngân hàng. Chỉ tiêu này càng lớn thì càng chứng tỏ ngân hàng đã sử dụng một cách hiệu quả nguồn vốn huy động được. * Chỉ tiêu dư nợ: Dư nợ ngắn hạn (hoặc trung-dài hạn) / Tổng dư nợ Đây là một chỉ tiêu định lượng, xác định cơ cấu tín dụng trong trường hợp dư nợ được phân theo thời hạn cho vay (ngắn, trung, dài hạn). Chỉ tiêu này còn cho thấy biến động của tỷ trọng giữa các loại dư nợ tín dụng của một ngân hàng qua các thời kỳ khác nhau. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ mức độ phát triển của nghiệp vụ tín dụng càng lớn, mối quan hệ với khách hàng càng có uy tín. * Chỉ tiêu nợ quá hạn Nợ quá hạn / Tổng dư nợ Nợ quá hạn khó đòi / Tổng dư nợ Nợ quá hạn khó đòi / Tổng nợ quá hạn Chỉ tiêu nợ quá hạn là một chỉ số quan trọng để đo lường chất lượng nghiệp vụ tín dụng. Các ngân hàng có chỉ số này thấp đã chứng minh được chất lượng tín dụng cao của mình và ngược lại. Thông thường thì tỷ lệ nợ quá hạn tốt nhất là ở mức <= 5%. Tuy nhiên, chỉ tiêu này đôi khi cũng chưa phản ánh hết chất lượng tín dụng của một ngân hàng. Bởi vì bên cạnh những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý do đã thực hiện tốt các 7 7 khâu trong qui trình tín dụng, còn có những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn thấp thông qua việc cho vay đảo nợ, không chuyển nợ quá hạn theo đúng qui định,… * Chỉ tiêu về tốc độ chu chuyển vốn tín dụng (vòng quay vốn tín dụng) Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn của ngân hàng được sử dụng cho vay mất lần trong một năm. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, nó chứng tỏ nguồn vốn của ngân hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. * Lãi treo: là khoản lãi tính trên nợ quá hạn mà ngân hàng chưa thu được và như vậy chỉ số này càng thấp càng tốt. Ngoài việc sử dụng các chỉ tiêu định lượng trên, hiện nay nhiều ngân hàng cũng đã sử dụng các chỉ tiêu định tính để đánh giá chất lượng tín dụng như việc tuân thủ các quy chế, chế độ thể lệ tín dụng, lập hồ sơ cho vay, phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả,… Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Chất lượng tín dụng là kết quả của cả một quá trình tính từ khi khoản tín dụng được ngân hàng xét duyệt, phát ra cho đến khi được thu hồi. Trong quá trình đó có rất nhiều những tác động gây rủi ro dẫn đến việc ngân hàng không thu hồi được vốn và phải chịu thua thiệt. Để quản lý chất lượng tín dụng đòi hỏi phải hiểu rõ về các nhân tố gây ảnh hưởng tới nó. Các yếu tố chủ quan (hay nhóm nhân tố từ phía ngân hàng) * Chính sách tín dụng: chính sách tín dụng phản ánh định hướng cơ bản cho hoạt động tín dụng, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của ngân hàng. Để đảm bảo và nâng cao chất lượng tín dụng, ngân hàng cần phải có chính sách tín dụng phù hợp với đường lối phát triển kinh tế, đồng thời kết hợp được lợi ích của người gửi tiền, của ngân hàng và người vay tiền. * Quy trình tín dụng: quy trình tín dụng là trình tự tổ chức thực hiện các bước kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản, chỉ rõ cách làm, trình tự các bước từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một giao dịch thuộc chức năng, nhiệm vụ của cán bộ tín dụng và lãnh đạo ngân 8 8 hàng có liên quan. Quy trình tín dụng là yếu tố quan trọng, nếu nó được tổ chức khoa học, hợp lý sẽ cho phép bảo đảm thực hiện các khoản vay có chất lượng. * Kiểm soát nội bộ: đây là hoạt động mang tính thường xuyên và cần thiết đối với mọi ngân hàng. Công tác kiểm tra nội bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng thường xuyên, chặt chẽ sẽ càng làm cho hoạt động tín dụng đúng hướng, thực hiện đúng các nguyên tắc, yêu cầu thể lệ trong qui chế tín dụng cũng như qui trình tín dụng. Kiểm soát nội bộ là biện pháp mang tính chất ngăn ngừa, hạn chế những sai sót của cán bộ tín dụng, giúp cho hoạt động tín dụng kịp thời sửa chữa, tạo điều kiện thuận lợi nâng cao chất lượng tín dụng. * Tổ chức nhân sự: con người luôn là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong mọi hoạt động kinh doanh nói chung và tất nhiên nó cũng không loại trừ khỏi hoạt động của một ngân hàng. Muốn nâng cao được hiệu quả trong kinh doanh, chất lượng trong hoạt động tín dụng, ngân hàng cần phải có một đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi, được đào tạo có hệ thống, am hiểu và có kiến thức phong phú về thị trường đặc biệt trong lĩnh vực tham gia đầu tư vốn, nắm vững những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động tín dụng. Trong bố trí sử dụng, người cán bộ tín dụng cần phải được sàng lọc kỹ càng và phải có kế hoạch thường xuyên bồi dưỡng những kiến thức cần thiết để bắt kịp với nhịp độ phát triển và biến đổi của nền kinh tế thị trường. Ngoài ra, họ còn phải có tiêu chuẩn về đạo đức và sự liêm khiết, bởi lẽ nếu người cán bộ tín dụng thiếu trách nhiệm hay cố tình vi phạm có thể sẽ gây tổn thất rất lớn cho ngân hàng. * Thông tin tín dụng: hoạt động tín dụng muốn đạt được hiệu quả cao, an toàn cần phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ cho công tác này. Vai trò và yêu cầu thông tin phục vụ công tác tín dụng và kinh doanh ngân hàng là hết sức quan trọng. Muốn nâng cao chất lượng tín dụng, ngân hàng cần xây dựng được hệ thống thông tin đầy đủ và linh hoạt, nhờ đó cung cấp các thông tin chính xác, kịp thời, tăng cường khả năng phòng ngừa rủi ro tín dụng. Các yếu tố khách quan Nhóm nhân tố từ phía khách hàng * Uy tín, đạo đức của người vay 9 9 Trong qui trình tín dụng các ngân hàng thường chỉ đưa ra quyết định cho vay sau khi đã phân tích cẩn thận các yếu tố có liên quan đến uy tín và khả năng trả nợ của người vay nhằm hạn chế thấp nhất các rủi ro do chủ quan của người vay có thể gây nên. Đạo đức của người vay là một yếu tố quan trọng của qui trình thẩm định, tính cách của người vay không chỉ được đánh giá bằng phẩm chất đạo đức chung mà còn phải kiểm nghiệm qua những kết quả hoạt động trong quá khứ, hiện tại và chiến lược phát triển trong tương lai. Thực tế kinh doanh đã cho thấy, tính chân thật và khả năng chi trả của người vay có thể thay đổi sau khi món vay được thực hiện. Khách hàng có thể lừa đảo ngân hàng thông qua việc gian lận về số liệu, giấy tờ, quyền sở hữu tài sản, sử dụng vốn vay không đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, phương án kinh doanh,…Việc khách hàng gian lận tất yếu sẽ dẫn đến những rủi ro cho ngân hàng. Uy tín của khách hàng cũng là một yếu tố đáng quan tâm, uy tín của khách hàng là tiêu chí để đáng giá sự sẵn sàng trả nợ và kiên quyết thực hiện các nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng từ phía khách hàng. Uy tín của khách hàng được thể hiện dưới nhiều khía cạnh đa dạng như: chất lượng, giá cả hàng hoá, dịch vụ, sản phẩm, mức độ chiếm lĩnh thị trường, chu kỳ sống của sản phẩm, các quan hệ kinh tế tài chính, vay vốn, trả nợ với khách hàng, bạn hàng và ngân hàng. Uy tín được khẳng định và kiểm nghiệm bằng kết quả thực tế trên thị trường qua thời gian càng dài càng chính xác. Do đó, ngân hàng cần phân tích các số liệu và tình hình trong suốt quá trình phát triển của khách hàng với những thời gian khác nhau mới có kết luận chính xác. * Năng lực, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng Chất lượng tín dụng phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của người vay. Đây chính là tiền đề tạo ra khả năng kinh doanh có hiệu quả của khách hàng, là cơ sở cho khách hàng thực hiện cam kết hoàn trả đúng hạn nợ ngân hàng cả gốc lẫn lãi. Nếu trình độ của người quản lý còn bị hạn chế về nhiều mặt như học vấn, kinh nghiệm thực tế,…thì doanh nghiệp rất dễ bị thua lỗ, dẫn đến khả năng trả nợ kém, ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng của ngân hàng. Nhóm nhân tố thuộc môi trường 10 10 * Mối trường kinh tế Tính ổn định hay bất ổn định về kinh tế và chính sách kinh tế của mỗi quốc gia luôn có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường. Tính ổn định về kinh tế mà trước hết và chủ yếu là ổn định về tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát là những điều mà các doanh nghiệp kinh doanh rất quan tâm và ái ngại vì nó liên quan trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nền kinh tế ổn định sẽ là điều kiện, môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và thu được lợi nhuận cao, từ đó góp phần tạo nên sự thành công trong kinh doanh của ngân hàng. Trong trường hợp ngược lại, sự bất ổn tất nhiên cũng bao chùm đến các hoạt động của ngân hàng, làm ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng, gây tổn thất cho ngân hàng. * Môi trường chính trị Môi trường chính trị đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh, đặc biệt đối với các hoạt động kinh doanh ngân hàng. Tính ổn định về chính trị trong nước sẽ là một trong những nhân tố thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Nếu xẩy ra các diễn biến gây bất ổn chính trị như: chiến tranh, xung đột đảng phái, cấm vận, bạo động, biểu tình, bãi công,…có thể dẫn đến những thiệt hại cho doanh nghiệp và cả nền kinh tế nói chung (làm tê liệt sản xuất, lưu thông hàng hoá đình trệ,…). Và như vậy, những món tiền doanh nghiệp vay ngân hàng sẽ khó được hoàn trả đầy đủ và đúng hạn, ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng. * Môi trường pháp lý Một trong những bộ phận của môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng là hệ thống pháp luật. Với một môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh, thiếu tính đồng bộ, thống nhất giữa các luật, văn bản dưới luật, đồng thời với nó là sự sắc nhiễu của các có quan hành chính có liên quan sẽ khiến cho doanh nghiệp gặp phải những khó khăn, thiếu đi tính linh hoạt cần thiết, vốn đưa vào kinh doanh dễ bị rủi ro. Do đó, xây dựng môi trường pháp lý lành mạnh sẽ tạo thuận lợi trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong đó có các NHTM. 11 11 * Môi trường cạnh tranh Có thể nói đây là yếu tố tác động mạnh mẽ đến chất lượng tín dụng nói riêng và hoạt động kinh doanh chung của NHTM. Sự tác động đó diễn ra theo hai chiều hướng: thứ nhất, để chiếm ưu thế trong cạnh tranh ngân hàng luôn phải quan tâm tới đầu tư trang thiết bị tốt, tăng cường đội ngũ nhân viên có trình độ, củng cố và khuyếch trương uy tín và thế mạnh của ngân hàng. Hướng tác động này đã tạo điều kiện nâng cao chất lượng tín dụng. Tuy nhiên, ở hướng thứ hai, dưới áp lực của cạnh tranh gay gắt các ngân hàng có thể bỏ qua những điều kiện tín dụng cần thiết khiến cho độ rủi ro tăng lên, làm giảm chất lượng tín dụng. * Môi trường tự nhiên Các yếu tố rủi ro do thiên nhiên gây ra như lũ lụt, hoả hoạn, động đất, dịch bệnh, … có thể gây ra những thiệt hại không lường trước được cho cả người vay và ngân hàng. Mặc dù những rủi ro này là khó dự đoán nhưng bù lại nó chiếm tỷ lệ không lớn, mặt khác ngân hàng thường được chia sẻ thiệt hại với các Công ty Bảo hiểm hoặc được Nhà nước hỗ trợ. Câu 1: cho thuê tài chính Phân biệt cho thuê tài chính và cho thuê vận hành Tiêu chí Thời hạn thuê Quyền hủy bỏ hợp đồng Cho thuê tài chính Cho thuê vận hành Trung và dài hạn Ngắn hạn Không được phép Có thể hủy ngang HĐ hủy ngang HĐ Trách nhiệm bảo trì, đóng bảo Bên đi thuê Bên cho thuê hiểm, thuế tài sản Hiện giá của tổng số tiền thuê Tổng số tiền thuê của Tổng số tiền thuê của 1 phải trả 1 HĐ bằng hoặc lớn HĐ nhỏ hơn nhiều so với hơn giá trị tài sản giá trị tài sản Quyền sở hữu tài sản trước khi Có thể ko thuộc sở Đã thuộc quyền sở hữu ký HĐ hữu của bên cho thuê của bên cho thuê mà do bên đi thuê tìm, lựa chọn yêu cầu bên cho thuê mua để 12 12 cho thuê Chuyển quyền sở hữu hoặc Có điều khoản thỏa Ko có thỏa thuận chuyển bán tài sản khi kết thúc HĐ thuận chuyển quyền quyền sở hữu hoặc bán tài sở hữu hoặc bán hoặc sản cho bên đi thuê cho thuê tiếp Trách nhiệm rủi ro liên quan Bên đi thuê chịu Bên cho thuê chịu phần đến tài sản phần lớn các rủi ro lớn các rủi ro trừ rủi ro do lỗi của bên đi thuê gây ra Thực trạng Hiện nay Việt Nam đã có 8 công ty CTTC, trong đó có 5 công ty trực thuộc ngân hàng thương mại Nhà nước và 3 công ty có vốn nước ngoài. Theo đánh giá của Phó Thống đốc thường trực Ngân hàng Nhà nước Trần Minh Tuấn thì từ khi ra đời đến nay, các công ty CTTC đã phát triển nhanh chóng cả về quy mô và mạng lưới hoạt động. Cụ thể: đã thực hiện được nhiều nghiệp vụ cho thuê khác nhau, đa dạng hoá các tài sản cho thuê, phương thức cho thuê và đối tượng khách hàng. Trong 8 năm, các công ty CTTC đã từng bước phát huy được vai trò quan trọng là hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư chiều sâu, đổi mới máy móc thiết bị, cải tiến kỹ thuật. Tuy nhiên,Trong số 8 công ty CTTC trong nước, chỉ một vài công ty trực thuộc các NHTM lớn mới đủ tiềm lực về vốn và khách hàng để hoạt động ổn định và có lợi nhuận. Số còn lại cũng đang chật vật để tồn tại. Theo ông Đàm Đức Long, Tổng thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cho biết, trong số các công ty CTTC đang hoạt động, hiện chỉ có Công ty CTTC ACB, Công ty CTTC Vietinbank và Công ty CTTC Vietcombank là báo lãi. Lợi thế lớn trong việc nguồn khách hàng tốt và nguồn vốn ban đầu từ công ty mẹ giúp cho các công ty CTTC này kinh doanh ổn định, có lãi với mức tăng trưởng trung bình 20-30%/năm. 13 13 Ngoài ra, dư nợ trong hoạt động CTTC lại đang rơi vào những ngành nghề hiện đang gặp nhiều khó khăn như vận tải biển, đóng tàu… vì vậy, nợ xấu cao và gần như không có khả năng thu hồi tài sản. Thách thức: - Tuy nhiên cũng cần phải nhìn nhận một thực tế là thời gian qua còn ít doanh nghiệp mặn mà với hoạt động này. Nếu như ở các nước đang phát triển, tỷ trọng của thị trường cho thuê tài chính so với thị trường tín dụng vào khoảng từ 15 đến 20% thì ở Việt Nam, tỷ lệ này mới chỉ đạt khoảng 1,4%. Như vậy, cứ 100 doanh nghiệp thì chưa đến 2 doanh nghiệp sử dụng những tiện ích của hoạt động cho thuê tài chính. - Hiện nay, hoạt động của các công ty CTTC đang chịu sự điều chỉnh của Luật các TCTD, Nghị định số 16/2001/NĐ-CP 02/5/2001 về tổ chức và hoạt động của các công ty CTTC và Nghị định số 65/2005/NĐ-CP 19/5/2005 quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2001/NĐ-CP. Cùng với đó là một số thông tư hướng dẫn thực hiện bổ sung. Tuy nhiên, những nghị định này ban hành đã khá lâu và có nhiều điểm không còn phù hợp. - Hiện NHNN quy định rất chặt chẽ việc ngân hàng thương mại cho các công ty “con” là công ty CTTC vay. Vì vậy, để các công ty CTTC có thêm nguồn vốn hoạt động ngoài nguồn vốn ban đầu, NHNN cần nghiên cứu đặc điểm riêng biệt của cho thuê tài chính để có quy định phù hợp, để các ngân hàng mẹ có thể cung ứng vốn cho các công ty cho thuê tài chính hoặc cho phép các công ty CTTC được huy động vốn, tạo điều kiện cho các công ty này phát triển. - Mặt khác, quy định không chặt chẽ về thuê tài sản là một trong những nguyên nhân đẩy các công ty CTTC vào tình trạng rủi ro cao. Hiện rất nhiều doanh nghiệp sau khi thuê tài sản của các công ty CTTC đã tẩu tán tài sản hoặc chây ỳ không trả lại tài sản, chiếm giữ tài sản trái phép hoặc trả lại trong tình trạng 14 tài sản hư hỏng nặng. Những sự việc trên theo quy định có thể kiện ra tòa án 14 nhưng quá trình kiện tụng và thi hành án thường kéo dài, tốn nhiều chi phí và công sức, vì vậy, nhiều trường hợp trong khi chờ được tòa án giải quyết thì công ty CTTC đã lâm vào tình trạng mất thanh khoản, hoạt động cầm chừng. - Ngoài ra, việc thực hiện quy định tỷ lệ an toàn của NHNN, các công ty CTTC chỉ được sử dụng 85% vốn huy động để cấp tín dụng và giới hạn dư nợ tối đa đối với một khách hàng chỉ là 25% vốn điều lệ cũng gây khó khăn cho không ít các công ty CTTC. Với đặc thù nguồn vón nhỏ dao động 150-500 tỉ đồng, chỉ đủ để các công ty CTTC hoạt động trong vài năm, hoặc tài trợ một vài dự án trong khi các công ty này lại không được phép huy động vốn ngắn hạn để bổ sung vào nguồn vốn hoạt động. Biện pháp phát triển 1. Cần xây dựng Hiệp hội Cho thuê tài chính tại Việt Nam Mặc dù đã đạt được những kết quả bước đầu, song sự hiểu biết nói chung của công chúng đối với hoạt động của các công ty CTTC còn hạn chế. Nhiều khách hàng tiềm năng chưa tiếp cận và tận dụng được những lợi ích của phương thức hoạt động do loại hình tổ chức này mang lại. Điều này đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải phối hợp với các công ty CTTC có chiến lược tuyên truyền, quảng bá rộng rãi về hoạt động CTTC tại Việt Nam nhằm nâng cao sự hiểu biết cho công chúng, đồng thời cần có chương trình đào tạo và xây dựng trung tâm hỗ trợ hoặc tư vấn cho khách hàng, đặc biệt đối với khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ và cá nhân. Bên cạnh đó cần thiết phải tạo lập Hiệp hội CTTC để các công ty CTTC chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm, hợp tác và cùng phát triển. 2. Nên cho phép công ty cho thuê tài chính tham gia thị trường liên ngân hàng” Việc huy động vốn nói chung và huy động vốn trung và dài hạn để cho thuê tài chính trong điều kiện hiện nay và tương lai có nhiều khó khăn bởi tính chất nguồn vốn ở đây là nguồn vốn trung và dài hạn, mà công ty CTTC lại không có lợi thế do số lượng 15 15 lao động hạn chế, mạng lưới hẹp. Do vậy, các công ty CTTC rất cần sự quan tâm của Ngân hàng Nhà nước và các bộ, ngành liên quan để tháo gỡ các cơ chế chính sách như cho phép các công ty CTTC tham gia thị trường liên ngân hàng, được tiếp xúc với các tổ chức đầu tư quốc tế hoặc tiếp nhận các nguồn vốn tài trợ Chính phủ hoặc phi Chính phủ để tạo nguồn vốn trung và dài hạn lớn hơn, ổn định hơn cho đầu tư. 3. Doanh nghiệp thuê tài chính cũng cần được hưởng hỗ trợ lãi suất sau đầu tư” Trong vấn đề hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, đối với cùng một dự án, cùng một khách hàng khi vay trung và dài hạn tại các ngân hàng thì doanh nghiệp ược hưởng hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, nhưng nếu thuê tài chính thì doanh nghiệp không được hưởng ưu đãi này, mặc dù thuê tài chính thực chất là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn. Vì vậy, đề nghị Bộ Tài chính cân nhắc về vấn đề này để tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp khi tìm đến với hoạt động của các công ty CTTC hiện nay. Câu 2: tầm quan trọng của công tác xếp hạng tín dụng nội bộ trong quy trình quản trị rủi ro tín dụng trong NHTM Tại Việt Nam, các tổ chức tín dụng (TCTD) đã và đang phải đương đầu với những thử thách thực sự từ rủi ro thanh khoản và suy giảm chất lượng tín dụng. Dù cơ quan quản lý chưa đưa ra quy định cụ thể, nhưng một số TCTD đã xác định tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro và xây dựng chương trình xếp hạng tín dụng nội bộ có định hướng lượng hóa các yếu tố rủi ro, đáp ứng các yêu cầu của Basel II. (*). a. tầm quan trọng của XHTD nôi bộ - Hỗ trợ phê duyệt tín dụng: cải thiện tính chính xác và hiệu lực của việc ra quyết định cấp tín dụng, cung cấp phương tiện hỗ trợ để quá trình này trở nên hiệu quả, tiết kiệm thời gian, chi phí và giảm bớt sự can thiệp từ con người. - Thực hiện quản trị rủi ro tín dụng: XHTD nội bộ là một công cụ để đánh giá mức rủi ro của khách hàng. Nhờ tích hợp các nguyên tắc, khung chính sách và tiêu chuẩn tín dụng căn bản của ngân hàng, hệ thống XHTD là căn cứ độc lập để TCTD đánh giá hiệu quả quá trình quản trị rủi ro của các bộ phận liên quan, bảo đảm việc cấp tín 16 16 dụng được quản lý phù hợp, các tài sản có rủi ro tín dụng nằm trong các giới hạn, thống nhất với các tiêu chuẩn thận trọng và khả năng phát hiện rủi ro sớm. - Hỗ trợ xác định giá khoản tín dụng: mức giá chào cho khoản tín dụng phải phù hợp và đủ để bồi hoàn tổn thất tín dụng. XHTD phân loại các mức độ rủi ro và là một trong những căn cứ tin cậy để xác định giá cho các khoản tín dụng, theo nguyên tắc mức XHTD thấp (rủi ro cao) có mức giá cao và ngược lại. - Hỗ trợ quản lý và quản trị khách hàng: quan hệ khách hàng của các TCTD phụ thuộc vào mức độ XHTD của khách hàng đó. Những khoản vay có mức rủi ro cao cần phải kiểm soát, đánh giá thường xuyên, những khách hàng vay có mức XHTD thấp cũng cần phải được chú trọng theo dõi. Ngược lại, những khách hàng tốt với mức XHTD cao sẽ được ưu ái hơn trong các quan hệ giao dịch. - Làm căn cứ để lập dự phòng tín dụng: mức dự phòng các khoản cấp tín dụng phụ thuộc vào mức độ rủi ro của khoản tín dụng đó. XHTD nội bộ cho phép tính toán, ước lượng các yếu tố rủi ro PD, LGD và EAD. (**) - Hỗ trợ công tác quản lý thông tin (MIS) theo danh mục và tạo lập báo cáo: dữ liệu đưa vào hệ thống XHTD là rất phong phú liên quan đến khoản vay và hoạt động kinh doanh của khách hàng. Hệ thống XHTD thường được các TCTD thiết lập trên nền tảng công nghệ tin học cao, cho phép chiết xuất, quản lý các trường thông tin theo từng danh mục yêu cầu và đưa ra hệ thống báo cáo hiệu quả. Thực trạng Hệ thống XHTD của các TCTD và của Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC, thuộc Ngân hàng Nhà nước) hầu hết được xây dựng theo phương pháp chấm điểm các tiêu chí theo ý kiến chuyên gia. Phương pháp này chỉ dừng ở cho điểm định tính và chưa lượng hóa được các yếu tố rủi ro. Nguyên nhân là do: * Chưa có quy định, hướng dẫn, lịch trình chính thức áp dụng về XHTD theo chuẩn Basel II để các TCTD làm căn cứ thực hiện. * Các TCTD thiếu thông tin, hoặc chưa hiểu hết sự cần thiết phải thiết lập của XHTD theo chuẩn Basel II. 17 17 * Các TCTD thiếu cán bộ đủ năng lực xây dựng các mô hình tính toán để lượng hóa các yếu tố rủi ro. * Các TCTD thiếu dữ liệu cả về lượng (mẫu nghiên cứu) và chất (dữ liệu sạch) để đưa vào mô hình lượng hóa. Câu 3: bao thanh toán theo luật TCTD Việt Nam 2010, BTT là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Tại khu vực Châu Á, bao thanh toán phát triển mạnh ở các quốc gia và vùng lãnh thổ như Trung Quốc (378 tỷ EUR), Đài Loan (73 tỷ EUR. Quy mô, số lượng hợp đồng BTT và các tổ chức tài chính tham gia ở những quốc gia và vùng lãnh thổ trên đã cho thấy mức độ phổ biến sử dụng BTT trong hoạt động thanh toán của nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, ở Việt Nam, doanh số BTT năm 2013 chỉ dừng lại ở 100 triệu EUR và chưa được áp dụng rộng rãi tại các ngân hàng thương mại, đồng thời số lượng doanh nghiệp hiểu về BTT chỉ đếm trên đầu ngón tay. Với xu thế hội nhập, bắt buộc các doanh nghiệp Việt Nam, hoặc phải cạnh tranh trực tiếp các sản phẩm – dịch vụ từ các công ty đa quốc gia, hoặc trở thành chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu. Nguyên nhân - Có thể khẳng định, phần lớn nguyên nhân đến từ nhận thức của ngân hàng thương mại về tầm quan trọng của hoạt động BTT. Ngoài ra, sự hạn chế về kiến thức bao thanh toán cũng khiến nhiều ngân hàng ít mặn mà triển khai và tâm lý e dè sợ thất bại khi thực hiện một dịch vụ tài chính mới… - 18 Bên cạnh đó, doanh nghiệp Việt Nam phần lớn phụ thuộc nhiều vào phương thức thanh toán L/C, T/T, D/P…mà quên mất rằng, các nhà nhập khẩu lớn trên 18 thế giới đều ưa thích trả chậm và từ chối yêu cầu mở thư tín dụng (bởi thư tín dụng chỉ được mở khi hai bên không tin nhau). Biện pháp Hai là, NHNN cần sớm ban hành quy chế hoạt động của các công ty tài chính chuyên ngành, trong đó có hình thức công ty tài chính bao thanh toán. Đây sẽ là một tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính chuyên biệt và là chủ thể cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng thương mại; Ba là, các ngân hàng thương mại nhanh chóng tham gia Tổ chức Bao thanh toán quốc tế (FCI) và kết nối với các tổ chức cung ứng dịch vụ BTT thuộc tổ chức để trao đổi cơ sở dữ liệu khách hàng lẫn nhau; Bốn là, ngân hàng thương mại cần thiết kế dịch vụ BTT phù hợp từng loại hình doanh nghiệp và đẩy mạnh hoạt động marketing đến các doanh nghiệp tiềm năng; Năm là, tiếp cận các doanh nghiệp Việt Nam thông qua đội ngũ Sales và cung cấp đầy đủ nhất những lợi ích đem lại từ dịch vụ BTT cho doanh nghiệp trong thanh toán nội địa lẫn xuất khẩu; Sáu là, khi triển khai, các ngân hàng chú trọng hơn nữa đến hệ thống công nghệ thông tin nhằm phục vụ cho việc tổng hợp, quản lý, phân tích, đánh giá và đo lường các rủi ro… Câu 4: rủi ro thanh khoản, quản trị rủi ro thanh khoản Thanh khoản là thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm nhơ chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn.. Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng không có đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung cấp đủ nhưng với chi phí cao..nói cách khác rủi ro này xuất hiện khi ngân hàng không 19 19 đủ khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn đáp ứng nhu cầu của khả năng thanh toán Thực trạng Ngân hàng “bóc ngắn cắn dài”, nợ có khả năng mất vốn tăng mạnh Một trong những rủi ro các ngân hàng đang phải đối mặt hiện nay là vấn đề thanh khoản khi nguồn vốn huy động chủ yếu là ngắn hạn và phải bù đắp trong việc cho vay trung và dài hạn trong khi dư nợ cho vay không dễ thu hồi và nợ có khả năng mất vốn đang tăng nhanh. Lấy nguồn ngắn hạn cho vay trung dài hạn Trong số hơn 10 ngân hàng công bố đầy đủ báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm 2014, đa phần các nhà băng này đều có rủi ro thanh khoản khi các nguồn huy động trung dài hạn không đủ cho vay trung dài hạn và phải bù đắp từ nguồn huy động ngắn hạn. Hầu hết các ngân hàng trên đều tăng trưởng huy động khách hàng so với đầu năm 2014.Trong đó, tỷ lệ huy động vốn khách hàng ngắn hạn của BIDV 99,7%Techcombank ở ngưỡng 98%., VCB ;à 94,2%, Sacombank (STB), Vietinbank (CTG) dưới 90% và MBB đạt 79% tổng huy động từ khách hàng. Trong khi đó, cho vay khách hàng cũng có sự tăng trưởng so với đầu năm với tỷ lệ cao nhất là cho vay trung và dài hạn (hơn 1 năm). Điển hình như hai “ông lớn” BIDV và Vietcombank cho vay trung dài hạn khoảng 147,700 tỷ và 80,950 tỷ đồng, chiếm 37% và 28% tổng dư nợ cho vay khách hàng. Nợ có khả năng mất vốn tăng vọt Đáng chú ý, nhóm nợ này tại BIDV và Vietcombank ngất ngưởng ở mức hơn 5,700 tỷ và 4,700 tỷ đồng với tỷ lệ gia tăng lần lượt 36% và 71%. Tại Techcombank, nợ có khả năng mất vốn tăng mạnh nhất với tỷ lệ 71% và ở mức hơn 1,685 tỷ đồng 20 20
- Xem thêm -