Câu cầu khiến và tổ chức dạy học câu cầu khiến ở tiểu học

  • Số trang: 119 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 609 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ do chọn đề tài Trong các kiểu câu chia theo mục đích nói thì câu cầu khiến là kiểu câu khá phức tạp, nó đòi hỏi người sử dụng phải tinh tế, phải cân nhắc kĩ mỗi khi "cầu khiến" người khác, đặc biệt là khi cầu khiến người trên. Trong nhà trường tiểu học, kiến thức về câu cầu khiến được đưa vào giảng dạy ngay từ các lớp cuối cấp. Song, dạy kiến thức về câu cầu khiến và cách sử dụng nó cho học sinh tiểu học không phải là dễ dàng. Thực tế cho thấy giáo viên còn gặp nhiều khó khăn khi dạy học câu khiến. Từ đó việc học của học sinh về phần học này cũng nghiêng nhiều về hình thức, chủ yếu là nhận biết về một loại câu có nội dung cầu khiến trong tiếng Việt mà không quan tâm đến việc hiểu về nó cũng như sử dụng nó trong thực tế giao tiếp như thế nào. Từ thực tế trên, chúng tôi nhận thấy vấn đề đặt ra là : cần dạy học câu cầu khiến cho học sinh tiểu học như thế nào để đạt hiệu quả cao hơn. Để làm được điều này chúng tôi thiết nghĩ cần phải bổ sung, điều chỉnh về nội dung và đổi mới phương pháp dạy học câu cầu khiến cho học sinh tiểu học. Những hiểu biết về câu cầu khiến trong giờ giảng phải là cẩm nang để các em có thể áp dụng vào trong thực tế, cụ thể là biết sử dụng tốt, sử dụng sao cho câu cầu khiến có tính lịch sự cả khi nói cũng như khi viết một cách đúng lúc, đúng chỗ. Đồng thời còn phải có sự hiểu biết sâu sắc hơn về tác dụng của câu cầu khiến trong các cuộc giao tiếp, trong các mẩu chuyện được học trong chương trình sách giáo khoa tiểu học cũng như trong các tác phẩm văn học mà các em được học khi lên các cấp trên. Hơn nữa, hiện nay, việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học đang được đặt ra một cách cấp thiết ở tất cả các cấp học, bậc học. Cụ thể là việc thay đổi SGK đã và đang được thực hiện một cách đồng bộ ở các cấp học. Riêng với chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học, phân môn Từ ngữ và Ngữ pháp như trước nay vẫn gọi được gộp chung vào và được gọi là 1 phân môn Luyện từ và câu. Năm học 2005 - 2006 sách Tiếng Việt lớp 4 chương trình mới sẽ được áp dụng đại trà trong cả nước. Bộ sách giáo khoa với sự đổi mới cả nội dung lẫn hình thức như vậy sẽ kéo theo sự cần thiết phải đổi mới việc dạy câu cầu khiến ở tiểu học. Xuất phát từ những lÝ do trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài "Câu cầu khiến và tổ chức dạy học câu cầu khiến ở tiểu học" với mong muốn góp một tiếng nói về việc đổi mới trong việc biên soạn nội dung dạy học và đổi mới phương pháp dạy học ở bậc tiểu học trong xu thế mới hiện nay. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Ở đây chúng tôi thấy cần thiết chia thành hai vấn đề: - Lịch sử nghiên cứu câu cầu khiến - Lịch sử nghiên cứu về dạy học câu cầu khiến 2.1. Lịch sử nghiên cứu câu cầu khiến Từ trước đến nay đã có nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về câu cầu khiến. Các tác giả như Hoàng Văn Thung, Lê A, Đinh Trọng Lạc đã nghiên cứu về cấu tạo của câu cầu khiến và cho rằng câu cầu khiến có cấu tạo giống câu trần thuật nhưng không phải được dùng để miêu tả, nhận định như câu trần thuật. Các tác giả cho rằng câu cầu khiến nhằm đòi hỏi thực hiện một hành động, một chuyển biến. Lực ngôn trung cầu khiến nhằm vào đối tượng phải thực hiện hành động thường là vai đối thoại (ngôi thứ hai), hoặc trong một số trường hợp chính là vai người nói (ngôi thứ hai). Các tác giả cho rằng các động từ hành động sai khiến như khuyên, sai, bảo, cấm .., các phụ từ tình thái như hãy, đừng, chớ… và các trợ từ như đi, thôi, lên, nào, … có mặt trong câu cầu khiến không chỉ là dấu hiệu chuyên dùng biểu thị mục đích cầu khiến. Mục đích cầu khiến thường được cảm nhận trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, ví dụ như khi đối thoại trực tiếp, có mặt người nói có ý định sai bảo và người nghe phải thực hiện ý định đó hoặc người nói thực hiện hành động tác động vào người đối thoại. 2 Chính vì thế, các tác giả xếp những câu có chủ ngữ ở ngôi thứ ba không phải là câu cầu khiến. Nh vậy, các tác giả gắn câu cầu khiến với một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Và câu cầu khiến thường đi đôi với đặc điểm: có động từ hành động sai khiến, có các phụ từ tình thái, các trợ từ cầu khiến đi kèm. 38 Giáo sư Diệp Quan Ban khi nghiên cứu về câu cầu khiến thì cho rằng câu cầu khiến có chức năng điều khiển tức là người nói muốn hoặc nhờ người nghe thực hiện điều được nêu lên trong câu. 5 Phạm vi bao quát của sự điều khiển khá rộng như: ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, khuyên răn, cầu xin, van nài … Theo ông, trong tiếng Việt, câu cầu khiến đích thực thường dùng các phương tiện diễn đạt sau đây kèm với nội dung lệnh: - Các phụ từ (có tác dụng tạo ý cầu khiến): hãy, đừng, chớ, đi, thôi, nào, … - Ngữ điệu (cầu khiến) Khi nghiên cứu về ngữ điệu của câu cầu khiến, ông quan niệm ngữ điệu cảm xúc không có tác dụng tạo câu cầu khiến nhưng thường có mặt rõ nét hơn ở câu cầu khiến so với những kiểu câu còn lại. Như vậy, khác với các tác giả trên, giáo sư Diệp Quan Ban ngoài việc nghiên cứu về các dấu hiệu làm nên một câu cầu khiến như các phụ từ có tác dụng tạo ý cầu khiến, ông còn đi sâu nghiên cứu về ngữ điệu trong câu cầu khiến. Và ông quan niệm các câu cầu khiến muốn trở thành một câu cầu khiến đích thực thì câu đó ngoài hai điều kiện đã nêu trên phải là câu chỉ chứa những từ liên quan đến nội dung của lệnh. Mét quan điểm nghiên cứu khác về câu cầu khiến, đó là quan điểm của TS. Bùi Mạnh Hùng. {17} Ông quan niệm câu cầu khiến là câu: - Có từ cầu khiến: hãy, đừng, chớ và chủ thể của các từ cầu khiến bao giờ cũng ở ngôi thứ hai hoặc ngôi thứ nhất số nhiều dạng ngôi gộp (chóng ta, mẹ con mình…) - Có khả năng thêm từ hãy, đừng, chớ ở những ngôi đã nêu trên. 3 Như vậy, khác với quan điểm nghiên cứu về câu cầu khiến của các tác giả trên, ông cho rằng những dấu hiệu làm nên câu cầu khiến như từ cầu khiến, hoặc ngữ điệu cầu khiến là không cần thiết, vì đặc điểm nêu trên có khả năng giải thích khái quát hơn, áp dụng cho nhiều dạng cấu trúc hơn, trong đó có cấu trúc thường được giải thích dựa vào những dấu hiệu trên. Vì thế tác giả cho các câu sau là câu cầu khiến: (a) Hãy sống lương thiện. (b) Cho biết châu Mỹ được phát hiện từ bao giê. Theo ông, câu (a) là câu cầu khiến vì nó có phụ từ tình thái hãy ở trước động từ. Câu (b) không hề có bất kì từ nào chỉ xuất hiện riêng trong câu cầu khiến để giúp ta nhận diện nó là câu cầu khiến và khó có thể cho rằng có một ngữ điệu nào đó đặc trưng cho kiểu câu này, nhưng tác giả thì cho câu (b) là câu cầu khiến vì có thể thêm một trong các phụ từ sau vào trước động từ : hãy, đừng, chớ: Hãy cho biết châu Mỹ được phát hiện từ bao giê. Với các quan điểm nghiên cứu khác nhau về câu cầu khiến, mỗi tác giả nêu trên đã giúp cho chóng ta có những cách nghiên cứu về câu cầu khiến khác nhau. Và còn rất nhiều các tác giả khác với những quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về câu cầu khiến như: Lê Văn Lý, Cao Xuân Hạo, Hồ Lê … nhưng do điều kiện nghiên cứu chỉ có hạn nên chúng tôi chỉ xin trình bày quan điểm của một vài tác giả nêu trên. 2.2. Lịch sử nghiên cứu về dạy học câu cầu khiến Nh chóng ta đã biết câu cầu khiến thường gắn liền với dấu câu (dấu chấm, dấu chấm cảm, dấu chấm hỏi, dấu hai chấm). Do đó, việc nghiên cứu về dạy học câu cầu khiến không tách rời với việc nghiên cứu về dạy học các dấu câu. Vì vậy, khi đề cập đến lịch sử nghiên cứu về dạy học câu cầu khiến, chúng tôi sẽ đề cập đến việc dạy học dấu câu liên quan đến câu cầu khiến. 4 Đã có nhiều nhà nghiên cứu khác nhau nghiên cứu về việc dạy học dấu câu tiếng Việt ở trường tiểu học nói riêng và trường phổ thông nói chung. Ở trường phổ thông, một tác giả tiêu biểu trong nghiên cứu việc dạy dấu câu là Nguyễn Xuân Khoa. Năm 1996, tác giả cho xuất bản cuốn: "Phương pháp dạy dấu câu Tiếng Việt ở trường phổ thông". Cuốn sách này dừng lại ở việc nghiên cứu dấu câu bên cạnh lời nói trực tiếp, dấu phân cách các cấu trúc đẳng lập, nghiên cứu nội dung và phương pháp giảng dạy chúng. Đến năm 2000, tác giả xuất bản tiếp cuốn "Dấu câu Tiếng Việt và cách dạy ở trường phổ thông" nghiên cứu toàn bộ các dấu câu Tiếng Việt và cách dạy các dấu câu nói chung. Nhưng cuốn sách này vẫn chưa thấy nghiên cứu cụ thể về việc dạy dấu chấm và dấu chấm hỏi trong câu cầu khiến, sách chỉ đề cập đến dấu chấm cảm trong câu cầu khiến nh sau: - Trong các nhan đề, đầu đề, dấu chấm cảm báo trước về tầm quan trọng hoặc tính chất không bình thường của thông báo. Ví dụ: Không nên nhìn vào người lớn mà đánh giá toàn bộ những người khác! - Trong khẩu hiệu, dấu chấm cảm biểu thị lời kêu gọi hiệu triệu: Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên ! - Ý nghĩa mệnh lệnh của dấu chấm cảm được biểu hiện trong các lời thông báo: Cấp cứu ! Tiêm ! Tiêm mau ! 21 Tuy vậy, tác giả vẫn chưa đi sâu vào nghiên cứu dạy các dấu chấm câu ở tiểu học, đặc biệt là các dấu câu gắn liền với câu cầu khiến như dấu chấm cảm, dấu chấm, dấu chấm hỏi, … Ở trường tiểu học, tác giả tiêu biểu cho việc dạy dấu câu ở tiểu học là Nguyễn Quang Ninh và Nguyễn Thị Ban. Các tác giả này đã cho xuất bản cuốn "100 bài tập luyện cách dùng dấu câu Tiếng Việt (dành cho học sinh tiểu học)" với mục đích giúp các em có điều kiện luyện tập để dùng đúng, tiến tới dùng hay các dấu câu trong các bài viết của mình, đồng thời giúp 5 giáo viên cùng các bậc phụ huynh học sinh có thêm tài liệu hướng dẫn con em rèn luyện cách sử dụng dấu câu tiếng Việt. Tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng lại ở việc xây dựng bài tập giúp học sinh nhận diện và sử dụng các dấu câu tương ứng với mục đích của câu mà chưa đưa ra các bài tập để rèn luyện các kiểu loại câu cầu khiến khác nhau (câu nghi vấn dùng để nêu yêu cầu, đề nghị; câu cầu khiến có dấu câu là dấu chấm, dấu chấm cảm… ) TS. Nguyễn Thị Thìn đã dành một dung lượng không nhiều cho việc nghiên cứu nội dung dạy học câu Tiếng Việt trong sách giáo khoa tiểu học hiện hành. Trong cuốn sách này, tác giả đưa ra một số nhận xét của mình về SGK tiểu học hiện hành và đề nghị xem xét lại tên gọi của dấu câu: dấu chấm hỏi và dấu chấm cảm. Ngoài ra, tác giả còn xây dựng một số dạng bài tập thực hành. 36 Tuy nhiên, vẫn chưa thấy tác giả đề cập đến việc dạy học câu cầu khiến ở tiểu học cả về nội dung lẫn phương pháp giảng dạy. Tóm lại, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu về các dấu câu, có những đóng góp trong việc hướng dẫn việc dạy và học dấu câu ở tiểu học. Tuy vậy, vấn đề dạy học dấu câu liên quan đến câu cầu khiến cũng như phương pháp dạy học câu cầu khiến ở tiểu học vẫn chưa được các tác giả đề cập một cách hệ thống. Chính vì vậy, chúng tôi thấy rất cần thiết phải nghiên cứu về câu cầu khiến và việc dạy học nó ở tiểu học. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1.Mục đích nghiên cứu Đề tài "Câu cầu khiến và việc dạy học câu cầu khiến ở tiểu học" nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu nói chung và câu cầu khiến ở tiểu học nói riêng. Để đạt được mục đích đó cần phải thực hiện những nhiệm vụ sau: 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Qua tìm hiểu thực trạng dạy học câu cầu khiến ở tiểu học, nắm được những vướng mắc của giáo viên và học sinh cần phải tháo gỡ trong việc 6 dạy và học loại câu này, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài như sau: 3.2.1. Hệ thống lại những kiến thức cơ bản về câu cầu khiến. Đối chiếu quan niệm về loại câu này của hai trào lưu nghiên cứu ngôn ngữ: ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp chức năng. Từ đó, đúc rút những kiến thức cơ bản về câu cầu khiến. Những kiến thức này sẽ chi phối việc lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học câu cầu khiến ở tiểu học. 3.2.2. Đưa ra hướng điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học câu cầu khiến: dạy học câu cầu khiến trong ngữ cảnh và hướng vào mục tiêu dạy sử dụng câu cầu khiến, phát huy các hoạt động tích cực, hợp tác trong dạy học và áp dụng dạy học theo hướng tích hợp. 3.2.3. Tiến hành dạy thực nghiệm theo đề xuất, đánh giá tính khả thi của đề tài. 4. Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của đề tài 4.1.Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản của đề tài - Trong luận văn này, chúng tôi dùng thuật ngữ câu cầu khiến chứ không sử dụng thuật ngữ câu khiến như sách giáo khoa Tiếng Việt 4 hiện hành sử dụng. - Dựa vào các tài liệu nghiên cứu về câu cầu khiến, dựa vào mục tiêu dạy học câu cầu khiến ở tiểu học, chúng tôi đưa ra quan niệm về câu cầu khiến. - Luận văn nghiên cứu câu cầu khiến trong quan hệ với các câu trước và sau nã, trong quan hệ với người nói. Nói cách khác, câu cầu khiến được xét gắn với tình huống, ngữ cảnh và được xét trong quan hệ với đối tượng giao tiếp. - Tác giả luận văn cho rằng nếu dựa trên tiêu chí mục đích phát ngôn, có thể phân lời cầu khiến thành các mức độ như: cấm, yêu cầu, xin phép, nhờ, mời. Nếu phân chia theo cách thể hiện lực ngôn trung của mệnh đề cầu khiến chính thì lời cầu khiến gồm hai loại cơ bản là lời cầu khiến trực tiếp và lời cầu khiến gián tiếp. Sở dĩ như vậy vì đặc điểm chung của các loại 7 câu có nội dung như trên là đều chuyển tải một ý nguyện của người nói; ý nguyện đó được truyền đạt đến người nghe, làm nên một hành động phản hồi từ người nghe. 4.2. Đóng góp mới của đề tài 4.2.1. Hệ thống hoá những kiến thức cơ bản về câu cầu khiến tiếng Việt. 4.2.2. Trên cơ sở nhận xét những ưu điểm và hạn chế trong sách Tiếng Việt 4 (chương trình cũ và chương trình thử nghiệm) phần câu cầu khiến, luận văn đã: + Bổ sung dấu hiệu nhận biết câu cầu khiến. + Đề xuất hướng dạy câu cầu khiến trong ngữ cảnh. Dạy câu cầu khiến là dạy hành động ngôn từ cầu khiến. + Đề xuất các phương pháp tích cực để dạy các bài về câu cầu khiến cho có hiệu quả. 4.2.3. Dựa trên cơ sở nghiên cứu hệ thống bài tập dạy câu cầu khiến của sách giáo khoa, xây dựng thêm một số bài tập rèn luyện về câu cầu khiến cho học sinh như: bài tập nhận diện câu cầu khiến, bài tập luyện sử dụng câu cầu khiến, trong đó ưu tiên các bài tập tạo lập câu khiến trong các ngữ cảnh khác nhau, xác định nội dung, mục đích cầu khiến, vai và quan hệ vai của người cầu khiến với người bị cầu khiến, hoàn cảnh sử dụng câu cầu khiến. 5. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp phân tích ngôn ngữ: Để đưa ra được một nội dung cơ bản vừa sức với học sinh tiểu học cả về lí thuyết và bài tập về câu cầu khiến, trước tiên chúng tôi tiến hành nghiên cứu những kiến thức khoa học về nó, sau đó phân tích để chắt lọc và đưa ra một nội dung dạy học hợp lí. - Phương pháp đối chiếu, so sánh: 8 Trong xu thế mới của Việt ngữ học, người ta nhận thấy không nên tiếp tục nghiên cứu ngữ pháp trong trạng thái tĩnh mà nên đặt nó vào trong hoạt động hành chức: Ngữ pháp chức năng. Để thấy rõ thành tựu nghiên cứu về câu cầu khiến trong Việt ngữ học, chúng ta sẽ so sánh thành tựu nghiên cứu của cả hai khuynh hướng: Ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp chức năng. Hướng đi đó trong nghiên cứu khoa học giúp chúng tôi sẽ có những cái nhìn khách quan hơn đối với những thành tựu nghiên cứu của các trào lưu ngôn ngữ. Thông qua đó chúng ta có thể mở rộng tầm nhìn của mình và đặc biệt là có thể đưa ra giải pháp hợp lí trong việc lựa chọn nội dung dạy học ở nhà trường tiểu học. - Phương pháp quan sát: Phương pháp này được áp dụng nhằm điều tra thực trạng dạy và học của giáo viên và học sinh khi tiến hành dạy học về câu cầu khiến, nắm được sự thay đổi của nội dung phần học này trong sách giáo khoa tiểu học trước đây và hiện nay. Qua đó, để đánh giá phương pháp giảng dạy của giáo viên cũng nh kết quả học tập của học sinh qua thực tiễn sử dụng loại câu này trong văn nói cũng nh trong văn viết. Việc điều tra thực trạng giúp chúng tôi rót ra được những kết luận cần thiết để tìm ra những hướng đi mới phù hợp với nội dung của phần học này. - Phương pháp thực nghiệm: Phương pháp thực nghiệm là phương pháp quan trọng nhất trong quá trình nghiên cứu, được thực hiện sau khi đã bổ sung, điều chỉnh một số vấn đề trong nội dung và phương pháp dạy học câu cầu khiến. Cụ thể, chúng tôi đã thiết kế được những giáo án nhằm thể hiện những kết quả nghiên cứu vào thực tiễn dạy học. Thông qua phương pháp này người nghiên cứu sẽ hiện thực hóa những nội dung nghiên cứu vào thực tiễn giảng dạy ở tiểu học, đồng thời đánh giá kết quả nghiên cứu sau khi kiểm tra kiến thức của học sinh sau các bài giảng. Sau khi phát bài kiểm tra cho học sinh các lớp, 9 chúng tôi tiến hành thống kê, đánh giá kết quả. Nghiêm túc trong những bước tiến hành cùng với việc xử lí nhanh các tiểu tiết trong quá trình thực nghiệm, chúng tôi có thể rót ra được những kết luận thật khách quan về công trình nghiên cứu của mình. Từ đó, chúng tôi sẽ nhìn nhận lại vấn đề nghiên cứu một cách tổng quan xem những điểm nào thành công và những điểm nào còn hạn chế cần điều chỉnh và hoàn thiện. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU CÂU CẦU KHIẾN VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CÂU CẦU KHIẾN Ở TIỂU HỌC 1.1. Một số vấn đề lí luận về câu cầu khiến 1.1.1. Khái niệm câu cầu khiến Nhìn từ góc độ sử dụng thì câu cầu khiến là loại câu có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động giao tiếp. Trong các hành vi ngôn ngữ, cầu khiến là hành vi đặc biệt nhất bởi khi cầu khiến là người nói đã làm ảnh hưởng đến thể diện của người nghe. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về câu cầu khiến. Tác giả Hoàng Trọng Phiến quan niệm về câu cầu khiến như sau: “Câu cầu khiến có nhu cầu của ý chí làm thành yếu tố thường trực của câu. Nó nêu lên ý muốn của chủ thể phát ngôn và yêu cầu người nghe đáp lại bằng hành động. Do đó, câu cầu khiến gắn kiền với ý nghĩa hành động”.33 Còn tác giả Bùi Minh Toán thì quan niệm “Câu cầu khiến thường được xác định là câu nêu yêu cầu mệnh lệnh đối với người nghe thực hiện được yêu cầu sai khiến hay khuyên bảo” 9 10 Tác giả Nguyễn Thị Thìn lại quan niệm rằng “Câu cầu khiến là kiểu câu thường dùng để yêu cầu bắt buộc người đối thoại thực hiện hoặc không thực hiện một hành động, một quá trình nào đó. Câu cầu khiến có dấu hiệu riêng biểu thị hành vi cầu khiến.” 36 Về mặt cấu tạo, câu cầu khiến có thể được cấu tạo một cách đơn giản: dùng một từ hay một cụm từ (chính phụ, đẳng lập, chủ – vị) với một ngữ điệu cầu khiến thích hợp. Ví dô: Im lặng ! Trong một số trường hợp, câu cầu khiến được cấu tạo bằng cách dùng một số từ ngữ phục vụ cho mục đích cầu khiến: - Dùng các phụ từ mệnh lệnh – cầu khiến đặt trước vị ngữ của câu (hãy, đừng, chớ, nên, không được . . .) Ví dô: Đừng có nhảy lên boong tàu ! - Dùng các từ: đi, nào, nhé, thôi . . . đặt ở cuối câu: Ví dô: Con học giỏi nhé ! Cậu có trăm trí khôn, nghĩ kế gì đi ! Về mặt nội dung và mục đích, câu cầu khiến có thể biểu hiện những phương diện sau: - Thể hiện một mệnh lệnh hoặc một điều ngăn cấm. Đây là mức độ cầu khiến cao. Vì thế trong câu không chỉ sử dụng ngữ điệu mà còn dùng các phụ từ mệnh lệnh: Cấm hút thuốc lá ! - Thúc giục người nghe hành động: Nào ! Các em hãy lắng nghe và cho cô biết mẫu giấy nói gì nhé ! Chạy đi ! Voi rừng đấy! - Bày tỏ lời yêu cầu, lời mời hoặc một nguyện vọng: Xin hai anh vui lòng cho tôi được trả tiền. - Bày tỏ lời khuyên răn, dỗ dành: 11 Các cháu nên chia làm ba phần. - Thể hiện lời chúc, điều mong mái: Xin thần tha tội cho tôi ! Giống như các loại câu khác, việc xác định mục đích của câu không chỉ dựa vào những đặc điểm trong hình thức cấu tạo của câu , mà còn cần căn cứ vào hoàn cảnh sử dụng câu, vào mối quan hệ của câu trong một ngữ cảnh, vào mối quan hệ của những người tham gia hoạt động giao tiếp. . . Có nhiều câu mang hình thức của câu tường thuật, hay câu nghi vấn nhưng lại nhằm mục đích cầu khiến. Ví dụ: Có nín đi không ? (Câu nghi vấn nhưng nhằm mục đích thúc giục) 1.1.2. Các quan điểm nghiên cứu câu cầu khiến 1.1.2.1.Quan điểm của ngôn ngữ học truyền thống a. Câu cầu khiến là một kiểu câu chia theo mục đích nói, đây là cách phân loại của ngôn ngữ học truyền thống. Để làm rõ khái niệm câu cầu khiến chúng ta không thể không tìm hiểu hệ thống phân loại này. Câu chia theo mục đích nói gồm: câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu khiến, câu cảm thán. Các loại câu này được phân biệt về mặt nội dung và mang những dấu hiệu hình thức riêng biệt. Ví dô: Em đi mặc thêm áo. (Câu trần thuật) Em không lạnh à ? (Câu hỏi ) Em mặc thêm áo vào đi ! (Câu khiến) Em lạnh quá ! (Câu cảm thán) Xét về mục đích nói và dấu hiệu hình thức, bốn ví dụ trên thuộc bốn kiểu câu. Nhưng thực tế cho thấy câu hỏi "Em không lạnh à ?" cũng có thể thực hiện chức năng thúc giục người nghe mặc áo vào. Câu cảm thán "Em lạnh quá !" cũng có thể biểu thị người nói mong muốn người nghe thực hiện một hành động nào đó (ví dụ: đóng cửa hoặc lấy giúp áo lạnh…) Có thể thấy rằng cách phân chia theo mục đích nói thể hiện cách nhìn truyền thống về câu trong hoạt động. Nhưng hoạt động của câu lại 12 mới chỉ được xét trong quan hệ với người nói. Câu vẫn chưa được xét trong quan hệ với các câu trước và sau nó, bị tách khỏi tình huống và không được xét trong quan hệ với đối tượng giao tiếp (người nghe). b. Đặc trưng của câu cầu khiến theo quan điểm của ngôn ngữ học truyền thống Các nhà ngôn ngữ học truyền thống mô tả những đặc trưng của câu cầu khiến nh sau: b1.Về mặt hình thức: Tiếng Việt là một ngôn ngữ không biến đổi hình thái vì vậy dấu hiệu hình thức thể hiện câu cầu khiến gồm:  Các phụ từ mệnh lệnh: hãy, đừng, chớ  Các tình thái từ (cuối câu): đi, lên, thôi, nào, đã, nhé.  Các động từ tình thái: nên, cần, phải …..  Các động từ có ý nghĩa cầu khiến (phương tiện từ vựng): cấm, mời, xin, yêu cầu. . . Các đặc trưng của câu cầu khiến nh trên là khá bao quát. Nhưng thực tế, có khi câu cầu khiến không cần người nói phải nói to, nhấn giọng và có những câu không phải chỉ cần nói to, nhấn giọng là thành câu cầu khiến. Thực ra, điều kiện để quy định một phát ngôn có giá trị cầu khiến còn là ngữ cảnh chứ không phải hoàn toàn là ngữ điệu.14 Nếu chỉ căn cứ vào dấu hiệu hình thức đã nêu sẽ có nhiều câu cầu khiến không được thừa nhận là câu cầu khiến. Ví dô: Có câm mồm đi không? (1) (Khuất phục tên cướp biển - Trang 70 - Líp 4 - Tập 2) Các cháu có thể nói nhỏ hơn không? (2) (Luyện từ và câu - Trang 155 - Líp 4 - Tập 1) Nếu xét về mặt hình thức thì hai câu (1) và (2) là câu hỏi. Nhưng nếu đưa vào ngữ cảnh thì những trường hợp nêu trên sẽ được hiểu là câu cầu 13 khiến. Ngữ cảnh của câu (1) là: vì bác sĩ Ly vẫn ôn tồn giảng cho ông chủ quán trọ nghe cách trị bệnh trong khi chúa tàu đã đập tay xuống bàn quát mọi người im lặng và mọi người ai nấy đã nín thít. Do đó, Chúa tàu trừng mắt nhìn bác sĩ và quát: Có câm mồm đi không? Ngữ cảnh của câu (2) là: khi đang ở trong Nhà văn hoá có hai bạn cứ say sưa trao đổi với nhau về bộ phim đang xem làm ảnh hưởng đến người khác, do đó có người bên cạnh bảo: Các cháu có thể nói nhỏ hơn không? b2.Về mặt nội dung: Có hai xu hướng quan niệm về nội dung câu cầu khiến: + Xu hướng quan niệm rộng: "Câu cầu khiến nhằm mục đích nói lên ý chí của người nói và đòi hỏi mong muốn đối phương thực hiện những điều nêu ra trong câu nói". 38 Những điều nêu ra trong câu nói ở đây có thể là: mong muốn, đòi hỏi người nghe thực hiện một hành động, thể hiện một trạng thái, một phẩm chất. + Xu hướng quan niệm hẹp cho rằng: " Câu cầu khiến nêu lên ý muốn của chủ thể phát ngôn và yêu cầu người nghe đáp lại bằng hành động. Do đó câu cầu khiến gắn liền với ý nghĩa hành động" 33 Đã có nhiều tranh cãi xung quanh việc xác định nội dung câu cầu khiến và vấn đề xác định "nội hàm khái niệm câu cầu khiến". Tác giả Diệp Quan Ban và Hoàng văn Thung cho rằng: "Câu mệnh lệnh (còn gọi là câu cầu khiến ) được dùng để bày tỏ ý muốn nhờ vả hay bắt buộc người nghe thực hiện điều được nêu lên trong câu". Vì thế mà các nội dung: khuyên răn, dặn dò, mời mọc, chúc tụng không được tác giả xếp vào nội hàm khái niệm cầu khiến. 4 Nh vậy, khi nói về nội dung câu cầu khiến, ngữ pháp truyền thống đẫ đề cập đến các loại: mệnh lệnh, yêu cầu, sai bảo, nhờ vả, đề nghị, cấm đoán, khuyên răn, dặn dò, chúc tụng, cầu mong, mời mọc, kêu gọi, thách thức, cổ vũ… 14 1.1.2.2. Quan điểm của ngôn ngữ học hiện đại về câu cầu khiến a. Lí thuyết hoạt động ngôn ngữ và việc nghiên cứu câu cầu khiến Theo lí thuyết về hành động ngôn từ thì khi giao tiếp người ta đã thể hiện các hành động bằng ngôn ngữ như hỏi, cầu khiến, cám ơn, xin lỗi . . . và để diễn đạt những hành động nhất định, cộng đồng ngôn ngữ quy ước sử dụng những cấu trúc ngôn ngữ nhất định. Hành động ngôn từ cầu khiến có thể là đề nghị một yêu cầu thực hiện hoặc không thực hiện do đó nó diễn tả mong muốn của người nói đối với người nghe về hành động trong tương lai. Như vậy, mỗi hành động ngôn từ được quy ước sử dụng những cấu trúc ngôn ngữ nhất định. Có những cấu trúc ngôn ngữ chuyên dùng cho hành động cầu khiến, có cấu trúc ngôn ngữ chuyên dùng cho hành động hỏi, lại có những cấu trúc chuyên dùng cho hành động ngôn từ cảm thán hoặc trần thuật. Ví dụ: cấu trúc ngôn ngữ để biểu đạt hành động cầu khiến thường có các phụ từ khuyên bảo, ngăn cấm: hãy, đừng, chớ . . ., các động từ phải, nên . . ; các tình thái từ cuối câu: đi, lên, thôi, nào . . .; ngữ điệu riêng .. . . Theo tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình, lời cầu khiến có thể được phân chia theo những tiêu chí khác nhau: 6 - Nếu lấy mục đích phát ngôn làm tiêu chí thì có thể phân lời cầu khiến thành các tiểu loại nhỏ nh cấm, yêu cầu, xin phép, mời . . . Ví dụ: Cấm: Ta xuống xin bệ kiến Vua, không kẻ nào được giữ ta lại. Yêu cầu: Thượng đế cần làm mưa ngay để cứu muôn loài. Xin phép: Thưa ba, con xin phép đi học nhóm. - Nếu phân chia cách thể hiện lực ngôn trung của mệnh đề cầu khiến chính thì lời cầu khiến bao gồm hai loại cơ bản: lời cầu khiến trực tiếp và lời cầu khiến gián tiếp. Với lời cầu khiến trực tiếp, người nói trực tiếp nói ra điều mình nghĩ và ý nghĩa cầu khiến được nhận biết qua bản thân các yếu tố ngôn ngữ. Còn ở hình thức gián tiếp người nói không trực tiếp nói thẳng ra 15 điều mình nghĩ. Lúc này ý nghĩa cầu khiến chỉ có thể hiểu được nhờ tính quy ước của cộng đồng trong sử dụng ngôn ngữ hoặc nhờ ngữ cảnh. (Vấn đề ngữ cảnh chúng tôi xin trình bày ở mục sau). Chóng ta có thể thấy sự khác nhau giữa lời cầu khiến trực tiếp và lời cầu khiến gián tiếp qua bảng so sánh sau: Lời cầu khiến trực tiếp (1) Già ơi! Ta đi thôi! Lời cầu khiến gián tiếp (1) Già ơi, về nhà cháu còn xa đấy! Thường thì cấu trúc đầy đủ của một lời cầu khiến gồm 3 thành phần sau đây: - Thành phần báo hiệu,thường là một sự gọi ("Cậu ơi!") hoặc một lời hô với ngữ điệu nhất định ( "Êy!", "Này!") - Thành phần biểu hiện mệnh đề chính. Thành phần này không phụ thuộc vào các thành phần khác với tư cách là một lời cầu khiến. Ví dụ: Già ơi, ta đi thôi kẻo đường về nhà cháu còn xa đấy. - Thành phần bổ trợ. Thành phần này nhằm thuyết phục người nghe thực hiện điều được cầu khiến, nó có thể làm giảm mà cũng có thể làm tăng sự xúc phạm thể diện. Sự phát ngôn sẽ có hiệu quả hơn trong trường hợp thành phần bổ trợ làm tăng sự xúc phạm thể diện. Ví dụ: Cậu mở cửa sổ ra cho nó mát mà ngủ. Trong một số trường hợp, thành phần này có thể trở thành một lời cầu khiến gián tiếp: A: Trời ơi, nóng quá. B: Để tớ mở cửa sổ ra. b. Vấn đề tình thái và việc nghiên cứu câu cầu khiến Xuất phát từ quan niệm tình thái là một phạm trù cú pháp ngữ nghĩa, ngôn ngữ học hiện đại đã rất quan tâm đến vấn đề tình huống, đặc biệt là tình huống cầu khiến. Có thể tóm lược như sau: - Tình huống cầu khiến có các thành phần cơ bản sau: + Chủ thể ý chí (C1) (chủ thể cầu khiến) 16 + Chủ thể thực hiện (C2) (chủ thể tiếp nhận) +Vị ngữ cầu khiến (hành động cầu khiến) + Hướng (từ phi hiện thực đến hiện thực, từ hiện tại đến tương lai) Như vậy, nội dung cuả tình huống cầu khiến là ý chí xuất phát từ C1 đến C2 và hướng đến sự biến đổi từ phi hiện thực thành hiện thực theo chiều thời gian từ hiện tại đến tương lai. Trong tình huống cầu khiến bao gồm sự phản ánh một mối quan hệ nhất định đối với hiện thực, sự hoạt động của người nói hướng đến việc thay đổi thực tế, đến việc thay đổi một hiện thực mới. - Tiền đề của tình huống cầu khiến. Bondarco cho rằng tiền đề của tình huống cầu khiến là sự tồn tại của tình huống hiện thực có trước hành vi của lời cầu khiến. Đó là những lÝ do, nguyên nhân ràng buộc khả năng, nhu cầu, lòng mong muốn, nguyện vọng và cả lợi Ých của hành vi cầu khiến, kết quả của nó. Ví dụ: Nếu có tiền đề của tình huống cầu khiến là: "Học sinh đang rất ồn ào trong giờ học" thì sẽ có tình huống cầu khiến là "Học sinh im lặng! " Tiền đề của tình huống giao tiếp được xem là yếu tố hoàn cảnh môi trường. Và khi nói đến các tiền đề của tình huống cầu khiến người ta chó ý đến tính khách quan của sự tình, đến tình huống chủ quan (cảm giác suy nghĩ của người nói như là sự kích thích đối với người thực hiện). Trong một số trường hợp đặc biệt có sự biến đổi từ phi hiện thực đến hiện thực. Ví dụ: Đi đi! Với ví dụ này tình huống hiện thực có thể là hai trường hợp khác nhau: a. Người đi đang đi thì dừng lại: ý chí truyền đạt ở đây không phải là "việc đi" mà là "việc chú ý tiếp tục đi" b. Người nghe chưa đi: ý chí truyền đạt là "hãy đi" Việc nhận thức về tiền đề của tình huống cầu khiến sẽ giúp cho chóng ta nhìn nhận đúng về vai trò của ngữ cảnh khi phân tích về nội dung cũng như 17 các biểu hiện câu cầu khiến. Ngữ cảnh là tiền đề sản sinh ra các phát ngôn cầu khiến, quyết định việc phiên giải, tiếp nhận ý nghĩa của nó. - Tình huống cầu khiến và tình huống lời nói. Bondarco cho rằng tình huống cầu khiến và tình huống lời nói có sự gắn bó với nhau và không đồng nhất. Tình huống lời nói sẽ trở thành tình huống cầu khiến khi có những tiêu chí thực tại hoá như: + Tình huống hiện tại, hiện thực. + Các nhân vật (ngôi) biểu thị quan hệ cụ thể với người tham gia giao tiếp. Cụ thể sự hiện tại hoá trong hiện thực là các dấu hiệu: tôi, anh, ở đây, bây giờ. Đối tượng giao tiếp cụ thể, hình thức giao tiếp trực tiếp (ngôi 1 là ngôi của người nói, ngôi 2 là ngôi của người nhận), thời điểm giao tiếp là hiện tại, cuộc giao tiếp hiện thực đang diễn ra. Bondarco đưa ra kết luận về phương thức ngữ pháp biểu thị tính cầu khiến. Ông cho rằng các tiêu chí để nhận diện về mặt hình thức của câu cầu khiến trong sự thống nhất với các đặc trưng về tình thái nội dung là: + Ngôi: ngôi thứ hai tồn tại bên cạnh ngôi thứ nhất không chỉ đơn thuần là hình thức cơ bản của ngôi mà còn chỉ ra sự tương ứng giữa những người tham gia vào tình huống và những người tham gia vào hành vi lời nói. + Dạng: câu cầu khiến chỉ có dạng chủ động, không có dạng bị động. + Thời: câu cầu khiến gắn với thời hiện tại, không có thời quá khứ. 8 1.1.3. Các tiêu chí xác định câu cầu khiến tiếng Việt Tác giả Chu Thị Thuỷ An có đưa ra một số tiêu chí xác định câu cầu khiến có sức thuyết phục. 3 Đó là: 1.1.3.1.Một câu phát ngôn được coi là câu cầu khiến khi có một ngữ cảnh chứa tình huống hiện thực tác động đến khả năng, nhu cầu, nguyện vọng của người nói và lợi Ých của người nói, người nghe. Từ khi lí thuyết giao tiếp ra đời, vấn đề ngữ cảnh trở thành vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm. Sự khác biệt của ngữ pháp chức năng, ngữ dụng học so với ngôn ngữ học trước đây là sự coi trọng yếu tố ngữ 18 cảnh khi nghiên cứu lời nói, cho rằng lời nói phải được đặt trong ngữ cảnh khi xem xét. Cao Xuân Hạo khẳng định: “Một phát ngôn bao giờ cũng được thực hiện trong một tình huống nhất định kể cả tình huống bên ngoài lẫn tình huống bên trong của quá trình hội thoại (thường gọi là văn cảnh hay ngôn cảnh). 14 Như vậy, để xác định và phân loại các phát ngôn cầu khiến phải chú ý đến ngữ cảnh. Ngữ cảnh là một mảng hiện thực khách quan bao gồm những sự kiện, hiện tượng và cả những phát ngôn xảy ra trước phát ngôn cầu khiến. Nói cách khác đó là tình huống mà câu cầu khiến xuất hiện và cũng là tình huống cho phép người nghe xác định ra chúng. Mỗi phát ngôn bao giờ cũng được thực hiện trong một tình huống nhất định. Nhưng tình huống xuất hiện của câu cầu khiến có những đặc trưng riêng so với tình huống giao tiếp của các loại câu khác. Vì vậy, nó là tiêu chí để nhận diện câu cầu khiến tiếng việt. Đối với một câu cầu khiến, tình huống xuất hiện của nó phải là một hiện thực chứa những lÝ do, nguyên nhân ràng buộc, thôi thúc khả năng, nhu cầu, nguyện vọng của người nói. Hiện thực này có thể tác động đến lợi Ých của người nói, lợi Ých của người nghe. Ví dô: Trong bài “Người mẹ” Lớp 3 – Tập 1: có câu cầu khiến sau: Hãy trả con cho tôi ! Tình huống xuất hiện câu cầu khiến đó là người mẹ bị bắt mất con, trên đường đi tìm con, bà phải trải qua bao nhiêu là khó khăn, gian khổ. Cuối cùng, khi gặp Thần Chết – là người đã bắt con bà - chính tình mẫu tử, lòng yêu thương vô hạn đối với đứa con và sự nhung nhớ người con của mình đã là động lực thôi thúc bà phát ra câu: Hãy trả con cho tôi ! Như đã nói ở trên, khi nói đến tình huống xuất hiện của câu cầu khiến thì phải nói đến hai yếu tố: tình huống khách quan của sự tình và cảm giác suy nghĩ của người nói khi chịu tác động của tình huống khách quan 19 đó. Nghĩa là tình huống giao tiếp của một câu cầu khiến có hai mặt khách quan và chủ quan. Như vậy, ngữ cảnh cho phép sử dụng các hành vi ngôn ngữ gián tiếp, vì thế ngữ cảnh quyết định việc phiên giải ngữ nghĩa của các câu cầu khiến. Để hiểu đúng bản chất của các hành vi cầu khiến được chuyển tải trong câu không thể tách câu khỏi ngữ cảnh của nó khi nghiên cứu. Tóm lại, một câu chỉ được gọi là câu cầu khiến khi nó xuất hiện trong một ngữ cảnh chứa tình huống cầu khiến. 1.1.3.2. Một phát ngôn được gọi là câu cầu khiến khi người nói trực tiếp truyền đạt nội dung ý chí, sự mong muốn của mình đến người nghe. Các giáo trình nghiên cứu ngữ pháp theo quan điểm truyền thống khi nói đến đặc điểm giao tiếp của câu cầu khiến tiếng Việt đều nhấn mạnh : câu cầu khiến là loại câu chỉ dùng để giao tiếp trực tiếp, không xuất hiện trong giao tiếp gián tiếp. 36 Khi chịu sự thôi thúc của tình huống khách quan thì nội dung ý chí, nguyện vọng xuất hiện ở người nói. Tuy vậy, nội dung “ý chí” chưa thể biến thành “nội dung cầu khiến” nếu nội dung Êy chưa được chủ thể cầu khiến trực tiếp truyền đạt đến một người nghe cụ thể. Nếu không trực tiếp hướng đến một người nghe thì nội dung ý chí chỉ tồn tại trong một câu trần thuật – trần thuật lại ý nguyện của người nói. Ví dô: Trong bài: “Chiếc áo len” – Líp 3 – Tập 1 có đoạn: Áp mặt xuống gối, em mong trời mau sáng để nói với mẹ: “Con không thích chiếc áo Êy nữa. Mẹ hãy để tiền mua áo Êm cho cả hai anh em.” Ở ví dụ này, nội dung “ý chí” chưa thể biến thành nội dung “cầu khiến” vì nội dung Êy chưa được chủ thể cầu khiến (là em gái trong truyện) trực tiếp truyền đạt đến một người nghe cụ thể (người mẹ). Do đó, câu “Mẹ hãy để tiền mua áo Êm cho cả hai anh em” là câu trần thuật – trần thuật lại ý nguyện của người nói, chứ không phải là một câu cầu khiến. 20
- Xem thêm -