Cảm quan văn hóa vùng miền của Nguyễn Du trong thơ chữ hán

  • Số trang: 100 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 28 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

0 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -------*****------- NGUYỄN THỊ HÀ CẢM QUAN VĂN HÓA VÙNG MIỀN CỦA NGUYỄN DU TRONG THƠ CHỮ HÁN LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN NGHỆ AN, 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -------*****------- NGUYỄN THỊ HÀ CẢM QUAN VĂN HÓA VÙNG MIỀN CỦA NGUYỄN DU TRONG THƠ CHỮ HÁN Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 60 22 01 21 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Biện Minh Điền NGHỆ AN, 2014 MỤC LỤC MỞ ĐẦU........................................................................................................1 1. Lý do chọn đề tài..........................................................................................1 2. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài..................................................2 3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu............................................................................2 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.................................................................7 5. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................7 6. Đóng góp và cấu trúc của luận văn................................................................8 Chương 1. THƠ CHỮ HÁN TRONG SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN DU.................................................................................................9 1.1. Thơ chữ Hán trong văn học Việt Nam trung đại.........................................9 1.1.1. Vị trí, vai trò của bộ phận thơ chữ Hán trong văn học Việt Nam trung đại 9 1.2. Một số đặc điểm của thơ chữ Hán trong văn học Việt Nam trung đại........10 1.2. Thơ chữ Hán trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du.............................11 1.21. Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du........................................................11 1.2.2. Vị trí thơ chữ Hán trong sự nghiệp sáng tác Nguyễn Du.........................12 1.3. Các thời kỳ trong hành trình thơ chữ Hán của Nguyễn Du........................14 1.3.1. Thời kỳ trước khi Nguyễn Du làm quan cho nhà Nguyễn: Thanh Hiên thi tập..................................................................................................................14 1.3.2. Thời kỳ Nguyễn Du làm quan ở một số tỉnh miền Trung: Nam trung tạp ngâm..............................................................................................................21 1.3.3. Thời gian Nguyễn Du sang Trung Quốc: Bắc hành tạp lục.....................25 Chương 2. DẤU ẤN VĂN HOÁ CÁC VÙNG MIỀN TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU......................................................................................31 2.1. Dấu ấn văn hoá xứ Nghệ trong thơ chữ Hán Nguyễn Du...........................31 2.1.1. Thiên nhiên, cảnh quan xứ Nghệ trong mối quan hệ với con người........31 2.1.2. Con người và đời sống văn hoá sinh hoạt, ăn mặc, văn hoá tâm linh.......34 2.1.3. Biểu tượng Hồng sơn – Lam giang (núi Hồng sông Lam) ......................41 2.2. Dấu ấn văn hoá “Đàng trong” và xứ Huế trong thơ chữ Hán Nguyễn Du..................................................................................................................46 2.2.1. Sông Gianh, Quảng Bình và xứ “Đàng trong”..................................46 2.2.2. Xứ Huế - văn hoá - đất và người….......................................................48 2.3. Dấu ấn văn hoá Bắc Hà và Thăng Long trong thơ chữ Hán Nguyễn Du....51 2.3.1. Đất và người Bắc Hà.............................................................................51 2.3.2. Văn hoá Thăng Long...........................................................................58 2.4. Dấu ấn văn hoá “xứ người” (Trung Hoa) trong thơ chữ Hán Nguyễn Du...59 2.4.1. Con người và văn hoá vật thể, phi vật thể...............................................59 2.4.2. Xã hội Trung Quốc...............................................................................65 Chương 3. CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT VÀ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN VĂN HOÁ VÙNG MIỀN CỦA NGUYỄN DU TRONG THƠ CHỮ HÁN.67 3.1. Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán............................67 3.1.1. Cái nhìn và tâm thế của Nguyễn Du trong quan sát, bao quát hiện thực văn hoá các vùng, miền.........................................................................................67 3.1.2. Thái độ, tình cảm, tư tưởng của Nguyễn Du trong nhận thức và phản ánh hiện thực văn hoá các vùng miền....................................................................70 3.2. Phương thức thể hiện hiện thực văn hoá các vùng miền của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán...........................................................................................74 3.2.1 Sự lựa chọn bút pháp..............................................................................74 3.2.2. Sự lựa chọn thể loại...............................................................................77 3.2.3. Giọng điệu của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán......................................82 3.2.4. Nghệ thuật xây dựng biểu tượng trong thể hiện văn hóa vùng miền của Nguyễn Du ở thơ chữ Hán..............................................................................85 KẾT LUẬN..................................................................................................88 TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................91 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Với di sản văn học lớn lao, có giá trị trường tồn để lại cho đời, Nguyễn Du được tôn vinh là Đại thi hào của dân tộc Việt Nam, được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới. Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du (bao hàm cả chữ Hán và chữ Nôm với nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau) là tài sản tinh thần hết sức quý giá đối với dân tộc ta. Bên cạnh bộ phận văn học Nôm với đỉnh cao là kiệt tác Truyện Kiều, Nguyễn Du còn để lại thơ chữ Hán với ba tập đặc sắc Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục. Có thể nói, đây cũng là những tác phẩm đạt tầm kiệt tác, là “áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa. Nó mới lạ độc đáo trong một nghìn bài thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán Trung Quốc nữa” [62, 7]. Thơ chữ Hán của Nguyễn Du đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi phải được tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu... 1.2. Thơ chữ Hán với những đặc điểm riêng của nó (bác học, kín đáo, “chính thống”, tính chất nhật ký, ký thác,…) là bộ phận cơ bản của văn học Việt Nam trung đại. Riêng ở bộ phận thơ chữ Hán, Nguyễn Du cũng là một cây đại bút. Thơ chữ Hán của Nguyễn Du là một nguồn tài liệu vô cùng quý giá. Đó không chỉ là tâm sự kín đáo của Nguyễn Du gửi gắm ở một loại thơ không phải mọi người đều biết, không chỉ là tài năng văn học của ông. Đó còn là một kho tri thức văn hóa sâu rộng mang ý nghĩa dân tộc và nhân loại sâu sắc, chúng ta cần phải tìm hiểu, khám phá, tiếp nhận... Thơ chữ Hán của Nguyễn Du đã được nghiên cứu trên nhiều bình diện song chưa đủ, còn nhiều mảng, nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ, trong đó có vấn đề nhận thức, phản ánh và thể hiện văn hoá các vùng miền… 1.3. Nguyễn Du là người đi nhiều, trải nhiều. Có thể nói như Biện Minh Điền, rằng “Nói đến Nguyễn Du là nói đến con người trải nghiệm, 2 nếm trải, thấm lắm mọi lẽ đời, mọi biến thiên, dâu bể... Trong rất nhiều tiền đề góp phần tạo thành cảm quan nghệ thuật ấy của Nguyễn Du, sự trải nghiệm và tích hợp các yếu tố văn hóa vùng, miền đóng vai trò hết sức quan trọng. Đến lượt, chính cảm quan nghệ thuật ấy khiến ông càng bao quát thấu đáo các yếu tố văn hóa vùng, miền, để rồi tích hợp, làm chúng sống dậy thành hình tượng, biểu tượng, gây ám ảnh khôn nguôi trong lòng người, không chỉ trong Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh, mà còn cả trong thơ chữ Hán (Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục)”… 2. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 2.1. Đối tượng nghiên cứu Cảm quan văn hoá vùng miền của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán. 2.2. Giới hạn của đề tài - Đề tài bao quát toàn bộ thơ chữ Hán của Nguyễn Du, bao gồm 249 bài trong 3 tập thơ của tác giả: Thanh Hiên thi tập Nam trung tạp ngâm Bắc hành tạp lục. - Văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du dùng để khảo sát, luận văn dựa vào cuốn Thơ chữ Hán Nguyễn Du (In lần thứ hai; Lê Thước, Trương Chính sưu tầm, chú thích, phiên dịch, sắp xếp; Phạm Khắc Khoan, Ngô Ngọc Can, Vũ Tam Tập, Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Hữu Bổng, Trần Thanh Mại, Vũ Mộng Hùng, Nguyễn Xuân Tảo, Hoàng Tạo dịch thơ; Nguyễn Sĩ Lâm hiệu đính; Trương Chính giới thiệu), Nxb Văn học, 1978. 3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3.1. Tổng quan về Nguyễn Du và thơ chữ Hán của ông trên lịch trình nghiên cứu Nguyễn Du và tác phẩm của ông có thể nói là một đối tượng luôn có sức hấp dẫn với giới nghiên cứu, phê bình cũng như công chúng yêu thơ. 3 Theo Nguyễn Hữu Sơn, “Tính cho đến nay các nhà nghiên cứu đã sưu tầm, biên soạn, phiên âm, dịch chú đầy đủ cả ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Trên thực tế, mỗi tập thơ được viết trong một khoảng thời gian nhất định và nội dung theo sát từng chặng đường đời tác giả.” [50]. Khác với Truyện Kiều cho đến nay đã có cả một quá trình tiếp nhận, nghiên cứu phê bình trải dài trên dưới hai trăm năm, thơ chữ Hán Nguyễn Du đến năm 1931 mới được ra mắt bạn đọc lần đầu tiên trên tạp chí Nam Phong số 161 chỉ với 13 bài. Trước Cách mạng tháng Tám, các nhà nghiên cứu Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim đã từng có bài viết về thơ chữ Hán Nguyễn Du. Đến năm 1959 tập thơ chữ Hán Nguyễn Du đầu tiên ra đời có tên Thơ chữ Hán Nguyễn Du do các ông Bùi Kỉ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh sưu tầm biên soạn, in tại nhà in Hoàn Cầu, Hà Nội. Như vậy lịch sử nghiên cứu thơ chữ Hán Nguyễn Du mới bắt đầu từ khoảng những năm ba mươi của thế kỉ XX, khá ngắn ngủi so với lịch sử nghiên cứu Truyện Kiều. Về thơ chữ Hán Nguyễn Du đã một số bài nghiên cứu, phần lớn các bài viết chú ý tìm hiểu chân dung tinh thần và con người Nguyễn Du qua thơ chữ Hán. Tiêu biểu có các bài như: Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ Hán (Hoài Thanh), Đôi nét về Nguyễn Du qua ba tập thơ chữ Hán lưu thế (Quách Tấn), Con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán (Xuân Diệu), Nguyễn Du qua thơ chữ Hán (Hà Minh Đức), Nguyễn Du trong những bài thơ chữ Hán (Đào Xuân Quý). Các tác giả đã dựa vào nội dung các bài thơ chữ Hán để nhận diện hình ảnh cuộc đời Nguyễn Du, đi từ Thanh Hiên thi tập đến Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục. Vấn đề được quan tâm nhiều nhất là nỗi buồn đau trước cuộc đời, thái độ Nguyễn Du đối với thời cuộc, tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du. Quách Tấn viết về tâm trạng Nguyễn Du “Thanh Hiên thì chan chứa buồn thương còn Nam Trung thì ngấm ngầm sầu hận”, lời thơ trong Bắc Hành tạp lục “bớt phần não ruột nhưng thêm phần chua cay”. Xuân Diệu khái quát “Nguyễn Du là người, như 4 Khuất Nguyên, mang những vấn đề của ngàn năm, của triệu người, nên cái đau khổ của ông là một đau khổ lớn, có tính cách đại diện cho nhân loại”. Viết kĩ hơn và chú ý nhiều đến giá trị thơ chữ Hán ngoài vấn đề con người và tư tưởng là các bài viết của: Mai Quốc Liên - Thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Nguyễn Lộc với Thơ chữ Hán Nguyễn Du và tâm sự của nhà thơ, Trương Chính - Tâm sự của Nguyễn Du qua thơ chữ Hán, Nguyễn Hữu Sơn - Thơ chữ Hán Nguyễn Du từ cõi hư vô nhìn lại kiếp người, Biện Minh Điền Sự trải nghiệm và tích hợp các yếu tố văn hóa vùng miền và cảm quan nghệ thuật Nguyễn Du,v.v... Nguyễn Lộc đặt thơ chữ Hán trong thế đối sánh với Truyện Kiều. Theo ông, “Truyện Kiều giống như một dòng sông lớn còn thơ chữ Hán Nguyễn Du lại là những con suối nhỏ nhưng tất cả đều đổ vào đại dương mênh mông của chủ nghĩa nhân đạo của nhà thơ”. Mai Quốc Liên gọi thơ chữ Hán Nguyễn Du là thơ trữ tình - triết học, “khác với Truyện Kiều là một trường ca tự sự, thơ chữ Hán là những bài thơ phần lớn là ngắn, theo thể luật Đường, trong đó Nguyễn Du bộc lộ cái tôi trữ tình của mình, chất trữ tình ở đây hòa quyện với chất triết học cho nên phần lớn thơ ở đây gọi là thơ trữ tình triết học”. Giá trị thơ chữ Hán Nguyễn Du được Mai Quốc Liên Liên đánh giá: “thơ chữ Hán Nguyễn Du là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa”, “thơ chữ Hán Nguyễn Du là đỉnh cao của thơ chữ Hán Việt Nam trong mười thế kỉ. Đó là một nguồn phong phú để ta tìm hiểu một vấn đề đặc thù: vấn đề thi pháp thơ chữ Hán Việt Nam”. Trong bài viết Nguyễn Du và thế giới nhân vật trong thơ chữ Hán, Nguyễn Huệ Chi đã khái quát các kiểu nhân vật mà Nguyễn Du nhắc đến trong thơ chữ Hán, từ chính bản thân Nguyễn Du cho đến “con người có số phận cơ cực, hẩm hiu trong cuộc sống”, “nhân vật lừng danh mà mình hằng gần gũi, thân thuộc qua sách vở”. Đối với các nhân vật phản diện “đặt những nhân vật loại này ở một vị trí rất phụ, có khi không đọc kỹ có thể lướt 5 qua. Nhưng mặc dù thế, bóng dáng của chúng vẫn không lẫn vào đâu được”. Đối với những kẻ thống trị “ông không hề dành cho những kẻ đương thời nắm trong tay quyền sinh quyền sát đối với trăm họ”,… Tác giả bài viết đặc biệt chú ý tình cảm của Nguyễn Du tới những bậc tài hoa “Lòng thương xót của Nguyễn Du đối với những nhân vật kỳ tài bao giờ cũng đằm thắm, ẩn ngụ trong đó nỗi xót thương cho bản thân, vì như nhà thơ vẫn nói, ông đã tự xem mình là người có chung một mối “phong vận kỳ oan” với các bậc “giai nhân tài tử”. Bài viết của Nguyễn Huệ Chi phân tích khá kỹ thế giới nhân vật trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. Các công trình trên đây thể hiện tâm huyết của các nhà nghiên cứu đối với thơ chữ Hán Nguyễn Du. Tuy nhiên hướng nghiên cứu chưa đi sâu vào vấn đề cảm quan văn hoá vùng miền của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán, mới chỉ dừng lại ở các ý kiến, nhận định cơ bản cũng là bàn về con người Nguyễn Du, tâm sự Nguyễn Du. Cũng cần phải kể đến công trình khá tập trung trong nghiên cứu về thơ chữ Hán Nguyễn Du là Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du của tác giả Lê Thu Yến [67]. Công trình có ba chương, chương một trình bày các vấn đề liên quan đến văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du như: quá trình thu thập di cảo, tình trạng các văn bản hiện có, cách sắp xếp cụ thể từng phần, sai biệt về từ ngữ, vấn đề dịch nghĩa. Chương hai là chương đi sâu khám phá đặc điểm hình tượng nghệ thuật về con người, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. Chương thứ ba là những vấn đề ngôn ngữ thơ chữ Hán Nguyễn Du như câu thơ, từ ngữ. Với việc chỉ ra cụ thể các đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du, tác giả Lê Thu Yến đã cung cấp những hiểu biết chung cơ bản nhất để nhận định về di sản văn học quý báu này. Nhưng vấn đề cảm quan văn hóa vùng miền của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán chưa được chú ý. 6 3.2. Vấn đề cảm quan văn hoá các vùng miền của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán Trước hết, xin được nói rằng, đây còn là vấn đề mới. Tuy nhiên một số vấn đề về văn hóa Việt Nam, văn hóa Thăng Long thời đại Nguyễn Du, văn hóa dòng họ Nguyễn Tiên Điền đã được đề cập mà đáng chú ý nhất là gần đây có Hội thảo khoa học về Đại thi hào Nguyễn Du và các danh nhân dòng họ Nguyễn Tiên Điền với Thăng Long – Hà Nội do Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND Tỉnh Hà Tĩnh dự định tổ chức vào tháng 10/2010 (sau, do mưa lũ tại miền Trung, nên hoãn). Các tham luận chuẩn bị cho Hội thảo này đã được tập hợp và đăng Kỷ yếu với tên gọi Đại thi hào Nguyễn Du và các danh nhân dòng họ Nguyễn Tiên Điền với Thăng Long – Hà Nội (Nxb Văn hóa Tông tin, Hà Nội, 2011) [63]. Trong công trình này, các bài viết đều tập trung vào nội dung như tên gọi của tập kỷ yếu. Chỉ có bài viết của Biện Minh Điền với tên gọi Sự trải nghiệm, tích hợp các yếu tố văn hóa vùng miền và cảm quan nghệ thuật của Nguyễn Du [63, 131 – 156] là gần gũi, sát với vấn đề mà luận văn này tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu. Theo tác giả bài viết này, Nguyễn Du với tinh thần chủ đạo là “trông thấu cả sáu cõi”, nghĩ tới mọi kiếp người, những hiện tượng được ông nói đến vừa mang ý nghĩa thực, khắc dấu của lịch sử, văn hoá vùng miền, vừa vượt lên, mang ý nghĩa đại diện, biểu trưng... Biểu trưng cho văn hoá vùng miền theo cái nhìn của Nguyễn Du cơ bản vẫn là là sơn - thuỷ. Có thể thấy, xuyên qua văn hoá sơn thuỷ - như là biểu trưng cho cái bền vững, có thể làm chỗ tựa, và văn hoá đô thành - như là biểu trưng, chứng tích cho cái biến đổi, khôn lường, điều mà Nguyễn Du khôn nguôi day dứt, muốn tìm cách hóa giải là kiếp phù du của nhân gian, của phận người trước bao phen dâu bể. Làm sao có thể thấu hiểu, thương cảm, xẻ chia? “Thiên hạ hà nhân liên bạc mệnh ?” - Thiên hạ, ai người thương kẻ bạc mệnh, nhất là với người tài sắc? Đây chính là cốt lõi trong nghiệm sinh, trong cảm quan của ông dẫu trải qua vùng nào, miền nào, xứ nào dưới gầm trời này. 7 Các công trình nghiên cứu trên là những tài liệu tham khảo quý báu giúp chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài. Chúng tôi cũng nhận thấy rằng tuy có những bài viết có một số nội dung liên quan song chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu vấn đề: Cảm quan văn hóa vùng miền của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán. Luận văn này của chúng tôi tập trung tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này với tư cách như một vấn đề có tính chuyên biệt. 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở khảo sát, xác định dấu ấn văn hoá các vùng miền trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, xác định những nét riêng của nhà thơ trong cảm quan nghệ thuật ở loại hình thơ chữ Hán… 4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 4.2.1. Đưa ra một cái nhìn chung về Nguyễn Du và thơ chữ Hán trong sự nghiệp sáng tác của thi hào, trên cơ sở đó, định hướng tìm dấu ấn của hiện thực văn hoá, đất và người các vùng miền trong nhận thức và phản ánh của Nguyễn Du. 4.2.2. Khảo sát, xác định, phân tích đặc điểm của hiện thực văn hoá các vùng miền trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. 4.3. Khảo sát, xác định, phân tích nghệ thuật bao quát và thể hiện hiện thực của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán. Cuối cùng rút ra một số kết luận về tính chất “nhật ký” của thơ chữ Hán Nguyễn Du và cái nhìn nghệ thuật độc đáo của nhà thơ… 5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có các phương pháp chính: Phương pháp thống kê – phân loại, Phương pháp phân tích – tổng hợp, Phương pháp so sánh – loại hình, Phương pháp cấu trúc – hệ thống… 8 6. Đóng góp và cấu trúc của luận văn 6.1. Đóng góp: Luận văn là công trình tập trung tìm hiểu văn hoá các vùng miền và nghệ thuật bao quát nó của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán tác giả với cái nhìn hệ thống. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu, nghiên cứu di sản sáng tác của Nguyễn Du và việc tiếp nhận và dạy - học tác gia, tác phẩm Nguyễn Du trong chương trình ngữ văn ở nhà trường phổ thông. 6.2. Cấu trúc của luận văn: Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Thơ chữ Hán trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du Chương 2: Dấu ấn văn hoá các vùng miền trong thơ chữ Hán Nguyễn Du Chương 3: Cái nhìn nghệ thuật và phương thức thể hiện văn hoá vùng miền của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán Cuối cùng là Tài liệu tham khảo 9 Chương 1 THƠ CHỮ HÁN TRONG SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN DU 1.1. Thơ chữ Hán trong văn học Việt Nam trung đại 1.1.1. Vị trí, vai trò của bộ phận thơ chữ Hán trong văn học Việt Nam trung đại Thời trung đại, văn học Việt Nam là một nền văn học song ngữ, vừa được viết bằng chữ Hán vừa được viết bằng chữ Nôm. Chữ Hán là thứ chữ của tộc người Hán Trung Quốc. Tuy nhiên, văn tự Hán là kiểu văn tự được thừa nhận trong các văn bản hành chính nhà nước nên nó được coi là văn tự chính thống. Nền văn học bằng chữ Hán vì thế mà cũng được coi trọng hơn văn học viết bằng chữ Nôm. Chữ Hán đã du nhập vào việt Nam, ảnh hưởng rất sâu vào văn học Việt Nam tạo ra bộ phận văn học chữ Hán. Vai trò của chữ Hán đối với ngôn ngữ văn hoá, văn học Việt Nam là rất lớn. Tiếp thu với văn học chữ Hán, các nhà văn có cơ hội tiếp thu văn hoá, kinh nghiệm văn hoá, văn học Trung Quốc. Chữ Hán được sử dụng như một lợi khí văn tự và từ đây hình thành nên bộ phận văn học chữ Hán. Đây là bộ phận giữ vị trí chính thống quan phương suốt thời trung đại ở Việt Nam. Bộ phận văn học chữ Hán giữ vị trí vô cùng quan trọng với một khối lượng tác phẩm lớn. Nhiều tác phẩm văn học chữ Hán đã trở thành những kiệt tác của văn học dân tộc. Thơ chữ Hán là loại hình thơ được sử dụng rộng rãi với nhiều thành tựu trong thời kì văn học trung đại ở Việt Nam. Đó là sản phẩm của quá trình giao lưu và tiếp xúc giữa một “nền văn học trẻ” với một “nền văn học già” vào khoảng thời gian ngót một ngàn năm Bắc thuộc cùng chính sách Hán hóa. Từ thế kỉ thứ X, cùng với sự ra đời của một quốc gia phong kiến độc lập tự chủ thì nền văn học viết Việt Nam cũng chính thức ra đời. Văn học Việt Nam tiếp thu từ văn học Trung Quốc cả văn tự và hệ thống thể loại. 10 1.2. Một số đặc điểm của thơ chữ Hán trong văn học Việt Nam trung đại Thơ chữ Hán là sản phẩm của một nền văn chương kinh điển, bác học, khác với thơ chữ Nôm là thơ có thể đến với tầng lớp người bình dân. Điều này có nguyên do từ đặc điểm thể loại và văn tự. Thơ chữ Hán được viết bằng chữ Hán thì chỉ có những người được học hành thi thư lễ nghĩa trong môi trường Hán học mới có thể tiếp cận. Đó là những vua, chúa, quan lại, thầy giáo, học trò và một số ít những người được đi học. Thể thơ Đường luật lại là thể thơ vay mượn, không dành cho người bình dân. Làm thơ chữ Hán phải đạt yêu cầu “tín, đạt, nhã”, nội dung thơ phải nói về “Tâm, Chí, Đạo” trong khuôn khổ sách vở Nho giáo. Với rất nhiều những quy định về hình thức và nội dung như thế, thơ chữ Hán rất khó có thể có sự phá cách. Ngược lại, thơ Đường luật viết bằng chữ Nôm lại có nhiều phá cách độc đáo về hình thức và nội dung như thơ của Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương. Thơ chữ Hán được coi là bộ phận văn học chính thống của nhà nước phong kiến. Hầu như nhà nho nào làm thơ trước hết cũng làm thơ bằng chữ Hán và để lại nhiều thi tập. Thành tựu thơ chữ Hán được khẳng định qua giá trị các tác phẩm của các Thiền sư thời Lí, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến,… Với truyền thống mười thế kỉ văn học trung đại, thơ chữ Hán Việt Nam đã có một chặng đường dài phát triển và đạt được nhiều thành tựu lớn trong việc biểu hiện tâm hồn, ý thức dân tộc cũng như góp phần vào sự phát triển nền văn hóa, văn học dân tộc. Thơ chữ Hán mang trong mình những đặc điểm riêng của nó, so với văn học chữ Nôm thì văn học chữ Hán mang tính chất bất phân, đậm tính chất bác học, tính quy phạm, nặng tính chất giáo huấn. Văn học chữ Hán hầu như sử dụng các thành tựu ngoại nhập trang nhã, cao quý. Thơ chữ Hán được viết bằng nhiều thể, tuy nhiên Đường luật vẫn là thể chủ yếu. Tuy là “ngoại nhập” nhưng thể loại và văn tự này lại có tính 11 truyền thống trong hoạt động sáng tác văn học của các thi nhân trung đại Việt Nam. Trước Nguyễn Du, tám thế kỉ văn học đã như thế. Thi nhân trung đại thường dùng thơ chữ Hán như một phương tiện nghệ thuật hiệu quả để kí gửi những nỗi niềm tâm sự kín đáo. Thơ trung đại nói chung và thơ chữ Hán Nguyễn Du nói riêng trước hết là sự gửi gắm tâm sự, nỗi niềm của thi nhân trước cuộc đời. Nhà thơ đến với thơ như đến với một người tri âm tri kỉ, chia sẻ những điều khó có thể tâm sự cùng ai. Bởi thế nhiều khi, thơ chính là nhật kí tâm trạng. 1.2. Thơ chữ Hán trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du 1.21. Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du Nguyễn Du (1765–1820), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là một nhà thơ song ngữ, sáng tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm. Những sáng tác này ra đời theo từng giai đoạn thăng trầm của cuộc đời nhà thơ. Di sản văn học của Nguyễn Du hiện còn gần như đầy đủ và được tập hợp thành các tập thơ, truyện. Các tác phẩm chữ Nôm của Nguyễn Du gồm có: Truyện Kiều (còn gọi là Đoạn trường tân thanh). Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất ý kiến về thời gian ra đời của tác phẩm này. Có ý kiến nói Nguyễn Du viết lúc sống ở Thái Bình, quãng thời gian “mười năm gió bụi” sống nhờ quê vợ. Ý kiến khác lại cho rằng ông viết vào khoảng thời gian dưới chân núi Hồng Lĩnh, những năm tháng ông về sống ở quê nhà Hà Tĩnh. Và quan điểm được nhiều người đồng tình hơn cả là sau khi Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc trở về. Văn tế thập loại chúng sinh (còn gọi là Văn chiêu hồn), đến nay vẫn chưa rõ thời điểm sáng tác. Theo đoán định của Hoàng Xuân Hãn thì tác phẩm này ra đời cùng thời với Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc (44, tr.1972). 12 Văn tế hai cô gái Trường Lưu và Thác lời trai phường Nón, được viết lúc Nguyễn Du sống ở Hà Tĩnh, thường đi hát phường vải ở Trường Lưu (Can Lộc, Hà Tĩnh). Về thơ chữ Hán, Nguyễn Du để lại ba tập thơ: Thanh Hiên thi tập (còn gọi là Thanh Hiên tiền hậu tập), gồm 78 bài thơ chữ Hán làm trong một thời gian dài, từ lúc Nguyễn Du về Thái Bình sống “mười năm gió bụi”, những năm sống dưới chân núi Hồng cho đến những năm đầu ra làm quan cho nhà Nguyễn ở Bắc Hà. Nam trung tạp ngâm, gồm 39 bài, viết trong khoảng thời gian Nguyễn Du làm quan cho nhà Nguyễn. Bắc hành tạp lục, gồm 131 bài được Nguyễn Du viết trong thời gian đi sứ Trung Quốc. Đây là tập thơ có số lượng bài nhiều nhất nhưng lại được viết trong thời gian ngắn nhất. 1.2.2 Vị trí thơ chữ Hán trong sự nghiệp sáng tác Nguyễn Du Có thể nói, thơ chữ Hán có một vị trí vô cùng quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du. Vào thời Nguyễn Du, Hán học cực thịnh, Nguyễn Du làm thơ chữ Hán, trút hết tâm huyết, tài năng vào đó là lẽ thường. Truyện Kiều là "diễn âm", "lỡ tay" mà thành kiệt tác, còn thơ chữ Hán mới đích là "sáng tác", nên xem nó là phát ngôn viên chính thức của Nguyễn Du [13, tr.2]. Có thể nói, ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục như là những thước phim quay chậm nhằm tái hiện bức chân dung tinh thần con người Nguyễn Du từ những ngày vào đời cho đến khi nhắm mắt rời bỏ thế gian. Là nhà thơ song ngữ, sáng tác văn học bằng cả chữ Hán và chữ Nôm, nếu như với tác phẩm chữ Nôm Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du đối thoại cùng độc giả đương thời và hậu thế về số phận con người, về những nỗi niềm riêng tư, khát vọng tình yêu hạnh phúc thông qua nhân vật người con gái tài sắc là Thúy Kiều, thì với các tác phẩm viết bằng chữ Hán, Nguyễn Du đã tái hiện gần như trọn vẹn cuộc đời mình, từ những biến cố 13 cho đến tất cả những nỗi niềm tâm sự. Bằng những vần thơ tâm tình, Nguyễn Du khắc họa hình ảnh của chính mình, một hình ảnh rất động trước mọi biến cố của cuộc đời. Nhưng một nghệ sĩ vĩ đại, mỗi khi nói về mình không phải đơn thuần chỉ biết có mình mà thôi. Trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, đằng sau hình ảnh Nguyễn Du với cõi lòng ủ ê tê tái, với cá tính rõ mồn một, một Nguyễn Du nghìn lần thực hơn cái con người chỉ biết vâng vâng dạ dạ cho qua chuyện trước mặt vua Gia Long mà sử sách từng ghi lại, ta còn thấy nhiều điều lớn lao hơn nữa. Ấy là những suy nghĩ sâu xa của nhà thơ về con người, về xã hội, về những hiện tượng lịch sử phong phú diễn ra trước mắt ông. Đặc biệt Nguyễn Du đã thể hiện cảm quan văn hoá vùng miền rất riêng của mình trước mỗi vùng đất ông đã đi qua. Thơ chữ Hán Nguyễn Du vừa cụ thể hóa, vừa khái quát hóa về cuộc đời và tư tưởng Nguyễn Du qua từng thời kì, dưới sự tác động của các sự kiện, biến cố xã hội và đời riêng. Có thể thấy, thơ chữ Hán là một bộ phận vô cùng quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du, là một nửa phần di sản những sáng tạo của Nguyễn Du. Đó là những suy tư, những khắc khoải, đau đớn, xót xa trước bao vấn đề xảy ra trong cuộc đời mình và “những điều trông thấy”. Khảo sát thơ chữ Hán, độc giả có thể thấy được đâu là sự thống nhất, đâu là sự khác biệt, đâu là sự phát triển trong tư tưởng Nguyễn Du qua các giai đoạn. Ngoài ra, điều thú vị trong quá trình nghiên cứu là ta sẽ biết được cảm quan văn hóa vùng miền của Nguyễn Du. Mai Quốc Liên có lần viết: "Thơ chữ Hán Nguyễn Du là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa. Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa". Xuân Diệu từng nói: ''Chính thơ chữ Hán chứa đựng bóng hình, đời sống, nét mặt, mái tóc, dấu chân, tâm tình, suy nghĩ của Nguyễn Du. Thơ chữ Hán thuần là tâm tình bản thân, Nguyễn Du đã để con người của mình trong thơ; đã cho 14 ta thấy Tố Như, Tố Như bên sau cái vỏ ông quan, ông chánh sứ. Ở đây, chúng ta quen thuộc với Tố Như, có thể nói là chúng ta vào dưới da của Nguyễn Du''[13, 49]. 1.3. Các thời kỳ trong hành trình thơ chữ Hán của Nguyễn Du 1.3.1. Thời kỳ trước khi Nguyễn Du làm quan cho nhà Nguyễn: Thanh Hiên thi tập Hành trình sáng tạo của đại thi hào Nguyễn Du có thể tính từ lúc nhà thơ trưởng thành, bị “quăng” ra giữa cuộc đời, va đập và sống với muôn nỗi đời. Dựa vào các tập thơ chữ Hán Nguyễn Du viết ra ta có thể hiểu những thăng trầm đời ông, những suy tư, trăn trở trong tâm hồn ông. Tác phẩm thơ chữ Hán Nguyễn Du có ba tập: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục với 249 bài (có tài liệu nói 250 bài, thêm một bài Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ (II) nhưng không chép trong sách Thơ chữ Hán Nguyễn Du của nhóm biên soạn Lê Thước, Trương Chính nên chúng tôi sẽ không nhắc tới ở đây). Mỗi tập thơ là một hành trình trong cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Du. Thanh Hiên thi tập là tập thơ chữ Hán đầu tiên của Nguyễn Du. Ban đầu tập thơ có tên là Thanh Hiên tiền hậu tập nhưng trong quá trình sưu tầm, các nhà nghiên cứu không xác định được bài nào là tiền tập, bài nào hậu tập nên các soạn giả thống nhất gọi chung là Thanh Hiên thi tập. Tập thơ gồm 78 bài thơ sáng tác từ năm 1786 đến năm 1802, tức là từ lúc Nguyễn Du 21 tuổi đến năm 39 tuổi, giai đoạn từ năm Tây Sơn kéo quân ra Bắc (1786) cho đến những năm kết thúc giai đoạn Nguyễn Du làm quan ở Bắc Hà (1804). Tập thơ ghi lại tâm sự của một con người đầy hùng tâm, tráng chí nhưng thời vận lỡ làng, cảnh ngộ gặp nhiều điều bất như ý, đành ôm trong lòng mối u uất không cách gì giải tỏa được. Bao trùm cả tập thơ là điệp khúc buồn, u uẩn, day dứt khôn khuây. Tập thơ chia làm ba phần theo ba giai đoạn đầu cuộc đời Nguyễn Du: phần thứ nhất Mười năm gió bụi từ 15 1786 đến 1795; phần thứ hai Dưới chân núi Hồng từ 1796 đến 1802; phần thứ ba Làm quan ở Bắc Hà từ 1802 đến 1804. Mười năm gió bụi (1786 – 1795) là những năm Nguyễn Du sống ở quê vợ huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình. Từ cuộc sống phong lưu, Nguyễn Du bị đẩy ra giữa gió bụi cuộc đời. Lúc này Nguyễn Du mới 21 tuổi và sống ở đây đến năm ông 30 tuổi. Trước đó, được tập ấm của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên, Nguyễn Du đã giữ một chức quan võ nhỏ ở Thái Nguyên dưới triều nhà Lê. Khi nhà Lê mất, Nguyễn Du có chạy theo Lê Chiêu Thống nhưng không kịp. Nguyễn Du đành về quê vợ sống nhờ người anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn. Ông đã sống mười năm ở Thái Bình với tâm trạng chán chường, bất đắc chí, và luôn canh cánh nỗi nhớ quê hương, anh em với biết bao nỗi lòng chất chứa mà không thể tâm sự với ai. Trong quãng thời gian “mười năm gió bụi”, nhà thơ sống nghèo túng, ăn nhờ ở đậu, tình cảnh đáng thương. Những bài thơ chữ Hán Nguyễn Du viết ở Thái Bình là những bài thơ ảo não, buồn bã nhất của cuộc đời ông. Ông sống những ngày tháng ủ dột, luôn mang trong mình cảm thức của một kẻ lang bạt nơi đất khách: “Thoan tuần hàn thử cố tương thôi/ Tha hương nhân dữ cố niên biệt” (Quanh quẩn hết mùa rét lại đến mùa nực/ Chốn tha hương, người cùng năm trước từ biệt) (Xuân nhật ngẫu hứng); “Ki lữ đa niên đăng đa lệ/ Gia hương thiên lí, nguyệt trung tâm” (Ở đất khách lâu năm, ngồi dưới đèn những rơi lệ/ Quê nhà xa nghìn dặm, nhìn trăng mà đau lòng) (Xuân dạ). Vì thế, cũng dễ hiểu khi Nguyễn Du tự nhận mình là người khách bê trệ trong bài Trệ khách: “Trệ khách yêm lưu nam hải trung” (Người khách bê trệ nằm bẹp mãi ở vùng biển Nam)… Ở nơi đây, Nguyễn Du vẫn luôn hướng về quê cha, nơi có sông Lam, núi Hồng và anh em ruột thịt. Mỗi khi nhìn bóng trăng nguyên tiêu lại thấy mình cô độc: “Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán/ Bạch đầu đa hận tuế thời thiên/ Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến/ Hải giác thiên nhai tam thập niên” 16 (Ở Hồng Lĩnh không có nhà anh em tan tác/ Đầu bạc thường bực vì ngày tháng trôi mau) (Quỳnh Hải nguyên tiêu); “Cố hương đệ muội âm hao tuyệt/ Bất kiến bình an nhất chỉ thư” (Em trai, em gái ở quê nhà bấy lâu bặt hẳn tin tức/ Không được một lá thư nào cho biết có bình an hay không) (Sơn cư mạn hứng). Nỗi buồn xa quê cùng nỗi nhớ quê hương luôn ám ảnh Nguyễn Du, vì thế ông thường nhắc đến chuyện trở về. Ngay cả khi tiễn bạn về quê, Nguyễn Du cũng chạnh nghĩ đến mình: “Hồng Lĩnh Hữu nhân lai tố chủ/ Bạch đầu vô lại bất hoàn gia” (Từ nay Hồng Lĩnh có người về làm chủ/ Còn ta đầu bạc không nên trò trống gì mà vẫn không về nhà) (Tống Nguyễn Hữu Sĩ nam qui). Nguyễn Du có nhiều nỗi buồn, trong những nỗi buồn đó có nỗi buồn về công danh sự nghiệp của một người theo đường thư kiếm mà phải sống cảnh nghèo nàn: “Thư kiếm vô thành sinh kế xúc” (Nghề văn nghề võ đều không thành, sinh kế quẫn bách) (Tự thán II), “Văn tự hà tằng vi ngã dụng/ Cơ hàn bất giác thụ nhân liên” (Văn tự nào đã dùng được việc gì cho ta/ Đâu ngờ phải đói rét để cho người thương) (Khất thực). Có nỗi buồn vì bệnh tật: “Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu” (Bệnh đến trong bước giang hồ đã lâu ngày) (Xuân dạ), “Tam xuân tích bệnh bần vô dược” (Ba tháng ốm đau liên miên nghèo không có thuốc) (Mạn hứng I). Và cuối cùng là nỗi buồn thời thế đổi thay thể hiện trong Vị Hoàng doanh: “Cổ kim vị kiến thiên niên quốc” (Xưa nay chưa từng thấy triều đại nào đứng vững nghìn năm). Trong mười năm ở Thái Bình, Nguyễn Du vẫn mang một mối cô trung với triều đại cũ, nơi mà cha và anh trai ông đã từng làm quan to. Ông coi thời Tây Sơn là thời loạn: “Loạn thế nam nhi tu đối kiếm” (Trai thời loạn nhìn thanh gươm mà hận) (Lưu biệt Nguyễn đại lang). Khi Đoàn Nguyễn Tuấn chia tay để vào làm quan nhà Tây Sơn, Nguyễn Du có ý chê trách “Bài bì nhưng lụy cựu phù danh” (Thì ông lại mang lụy vì danh hão như con báo mang lụy vì lốt da) (Họa hải ông Đoàn Nguyễn Tuấn “Giáp
- Xem thêm -