Cảm hứng về quê hương trong thơ chữ hán nguyễn du

  • Số trang: 121 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 48 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Trần Thị Mai CẢM HỨNG VỀ QUÊ HƯƠNG TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Trần Thị Mai CẢM HỨNG VỀ QUÊ HƯƠNG TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 60 22 01 21 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. LÊ THU YẾN Thành phố Hồ Chí Minh – 2013 LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu, phòng sau đại học, tập thể thầy cô khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu. Tôi cũng xin cảm ơn Thư viện trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Quốc gia, Thư viện Khoa học Tổng hợp đã cung cấp cho tôi nhiều tư liệu quý báu, bổ ích. Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã khích lệ, động viên, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Lê Thu Yến, người đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn Thạc sĩ này. Xin chân thành cảm ơn. Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2013 Người thực hiện luận văn Trần Thị Mai 3 MỤC LỤC MỤC LỤC ...............................................................................................................................4 MỞ ĐẦU .................................................................................................................................6 1. Lí do chọn đề tài ..............................................................................................................6 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .............................................................................................7 3. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................................10 4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu............................................................11 5. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................11 6. Đóng góp của đề tài ......................................................................................................12 7. Kết cấu của luận văn ....................................................................................................12 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .............................................................................14 1.1. Thời đại Nguyễn Du...................................................................................................14 1.2. Cuộc đời Nguyễn Du (1766 – 1820) ..........................................................................16 1.3. Thơ chữ Hán Nguyễn Du ..........................................................................................17 1.3.1. Thanh Hiên thi tập (1786 – 1804) .......................................................................18 1.3.2. Nam Trung tạp ngâm (1804 – 1813) ...................................................................19 1.3.3. Bắc hành tạp lục (1813 – 1814) ..........................................................................19 1.4. Khái quát về cảm hứng và cảm hứng về quê hương trong thơ ca trung đại (Qua một số tác giả: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến) ...20 Tiểu kết: .............................................................................................................................38 Chương 2: CẢM HỨNG VỀ QUÊ HƯƠNG NƠI CON NGƯỜI THA HƯƠNG NGUYỄN DU QUA THƠ CHỮ HÁN ................................................................................40 2.1. Từ hình tượng con người tha hương ........................................................................40 2.1.1. Quê hương trong tâm thức Nguyễn Du ...............................................................41 2.1.2. Nhận thức của con người về thân phận tha hương .............................................46 4 2.2. Đến cảm hứng về quê hương ....................................................................................54 2.2.1. Cảm hứng về quê hương thông qua cảnh đẹp thiên nhiên ..................................54 2.2.1.1. Quê hương - thiên nhiên là kho ngâm vịnh..................................................54 2.2.1.2. Quê hương - thiên nhiên là nơi gắn bó.........................................................61 2.2.1.3. Quê hương - thiên nhiên là nơi mơ về .........................................................63 2.2.2. Cảm hứng về quê hương thông qua suy cảm về gia đình, người thân ................65 2.2.2.1. Quê hương gắn với cha mẹ, vợ con, anh em ................................................65 2.2.2.2. Quê hương gắn với bạn bè, bà con làng xóm...............................................69 2.2.3. Cảm hứng về quê hương thông qua nỗi niềm nhớ quê, nhớ nước ......................74 Tiểu kết: .............................................................................................................................83 Chương 3: PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CẢM HỨNG VỀ QUÊ HƯƠNG TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU ..........................................................84 3.1. Thể thơ ........................................................................................................................84 3.1.1. Thể thơ cổ phong .................................................................................................84 3.1.2. Thể thơ Đường luật..............................................................................................86 3.2. Cách lựa chọn từ ngữ, hình ảnh ...............................................................................88 3.2.1. Từ ngữ ..................................................................................................................88 3.2.2. Hình ảnh ............................................................................................................100 3.3. Giọng điệu ................................................................................................................104 3.3.1. Giọng bi .............................................................................................................104 3.3.2. Giọng tự hào, lạc quan ......................................................................................109 3.3.3. Giọng triết luận .................................................................................................110 Tiểu kết: ...........................................................................................................................112 KẾT LUẬN .........................................................................................................................113 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................................115 5 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Nguyễn Du là một trong những tác gia vĩ đại nhất của nền văn học dân tộc. Ông được biết đến như một cây đại thụ rợp bóng không chỉ trong giai đoạn văn học trung đại mà còn kéo dài đến tận ngày nay. Tên tuổi của Nguyễn Du gắn liền với kiệt tác Đoạn trường tân thanh – một đỉnh cao trong văn nghiệp của thi nhân, một tòa tháp nghệ thuật mà hơn hai trăm năm qua chưa từng vắng bóng trên thi đàn và cả trong tâm thức người Việt, chưa từng ngủ yên mà luôn được đánh thức, phân tích, bình phẩm để tham gia vào dòng chảy của cuộc sống hiện đại. Tuy nhiên, cũng chính vì sự kết tinh quá rực rỡ của kiệt tác này mà nhiều người chỉ biết đến Nguyễn Du với tư cách là cha đẻ của thiên tuyệt bút Truyện Kiều mà ít biết đến một thế giới khác cũng sâu rộng, uyên thâm và cũng không kém phần thú vị đang được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đó là mảng thơ chữ Hán của ông. Nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên đã từng viết: “Truyện Kiều là “diễn âm”, “lỡ tay” mà thành kiệt tác, còn thơ chữ Hán mới là đích “sáng tác”, nên xem nó là phát ngôn viên chính thức của Nguyễn Du” [41, tr. 7], thơ chữ Hán mới là nơi giãi bày trực tiếp tấm lòng của Nguyễn Du, ghi dấu trung thành những sự biến trong cuộc đời thăng trầm của nhà thơ. Ba tập thơ chữ Hán chứa đựng những suy tư, những tâm sự về thân thế, thời thế, những tâm sự cả đời của Nguyễn Du mà ông đã viết dưới sự thôi thúc của những nỗi niềm không nói ra được, đồng thời 250 bài thơ chữ Hán ấy cũng chính là cách Nguyễn Du đặt vấn đề trực tiếp về số phận của mình. Đó “là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa. Nó mới lạ và độc đáo trong một ngàn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa” [41, tr. 7]. Bởi vậy, thơ chữ Hán của Nguyễn Du xứng đáng là một đỉnh cao khác trong sự nghiệp của ông, có giá trị to lớn về cả nội dung lẫn tư tưởng nghệ thuật, góp phần không nhỏ tạo nên diện mạo của thơ văn Việt Nam. Thơ chữ Hán của ông là đỉnh cao của thơ chữ Hán Việt Nam trong mười thế kỉ. Cũng như bất cứ một tác phẩm vĩ đại nào, thơ chữ Hán của Nguyễn Du là một khu rừng muôn ngả, một vườn hoa muôn màu mà cửa luôn rộng mở, ai nấy cũng có thể tự do ra vào để thưởng thức. Mỗi người khi bước vào đều muốn tìm ra cho riêng mình một cách nhìn để mong lĩnh hội được toàn diện vẻ đẹp của vườn hoa đầy sắc màu ấy. Nhưng rồi khi ra về, vẻ đẹp nơi góc khuất của vườn hoa ấy vẫn còn nguyên vẹn, chưa được khám phá. Và những người đến sau cũng lại mang theo khát vọng có thể khám phá thêm được những bí ẩn chưa 6 được ai tìm hiểu. Vườn hoa thơ chữ Hán của Nguyễn Du vẫn còn quá nhiều điều bí ẩn thôi thúc các nhà nghiên cứu bàn luận, đánh giá. Càng đi sâu tìm hiểu mảng thơ này, người đọc càng hiểu hơn về con người lo cho đời, đau cho đời, mang đầy tinh thần nhân đạo cao cả của Nguyễn Du. Nghiên cứu sự nghiệp thơ văn nói chung, đi sâu nghiên cứu thơ chữ Hán của Nguyễn Du nói riêng, không thể không nhận thấy bên cạnh những chủ đề nổi bật về số phận con người, hiện thực cuộc sống xã hội đương thời, chủ đề về ý thức tài năng, thân phận của mình… còn có một chủ đề ám ảnh không chỉ trong kiệt tác Truyện Kiều mà còn trong thơ chữ Hán đó là chủ đề về quê hương. Trong thơ chữ Hán của ông, không ít lần ta bắt gặp những hình ảnh của sông Lam, núi Hồng, những nỗi lòng của người con khi xa xứ nhớ về quê hương, gia đình. Cảm hứng về quê hương, vì thế luôn dâng trào trong lòng nhà thơ. Chủ đề này chưa được các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu nên dường như vẫn còn được bỏ ngỏ. Cuối cùng, xuất phát từ sự yêu thích thơ ca Nguyễn Du nói chung, thơ chữ Hán của ông nói riêng, đề tài “Cảm hứng về quê hương trong thơ chữ Hán Nguyễn Du” đã thực sự gây hứng thú cho chúng tôi. Đó chính là động lực để chúng tôi thực hiện đề tài này. Trên đây là những lí do chúng tôi lựa chọn đề tài “Cảm hứng về quê hương trong thơ chữ Hán Nguyễn Du”. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Khi tiến hành tìm hiểu các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, chúng tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu hầu như không nhắc đến vấn đề cảm hứng về quê hương trong thơ chữ Hán Nguyễn Du mà chủ yếu nói về hình tượng con người Nguyễn Du với khát vọng công danh, với những nỗi băn khoăn, lo lắng cho thời cuộc, với tấm lòng nhân đạo khi bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc với số phận con người…Điều đó vừa là khó khăn nhưng cũng vừa là sự thôi thúc cho chúng tôi khi làm đề tài này. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài: Lê Thu Yến trong công trình nghiên cứu Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du đã tiến hành khảo sát và phân tích cụ thể về hình ảnh con người nghệ thuật, không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. Tác giả đã nhận xét: “Con người khi đi xa thường cảm thấy thiếu vắng bàn tay chăm sóc của quê hương. Nguyễn Du cũng vậy, ông luôn thấy nhớ, nhớ đến chết người từ khi mới bắt đầu ra đi, chứ không phải đi lâu rồi mới nhớ…Điều đáng quý trọng là trong không gian lữ thứ xa vời ấy con người luôn tự nhắc mình phải nhớ quê hương, phải làm sao cho quê hương thường xuyên vào trong giấc 7 mộng…Đó cũng là cách níu giữ hình ảnh quê hương không để nó bị xóa nhòa đi trong khoảng không gian rộng lớn và nó cũng chứng tỏ một điều chỉ có quê hương mới là nơi có thể chở che, an ủi cho mọi kiếp đời.” [95, tr. 159 - 160] Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính trong cuốn sách Nguyễn Du – cuộc đời và tác phẩm có nhận xét về những bài thơ chữ Hán được Nguyễn Du sáng tác khi làm quan ở Bắc Hà (1802 – 1804) trong Thanh Hiên thi tập: “Đọc những bài thơ Nguyễn Du làm trong chặng đường làm quan đầu tiên này thấy ông luôn luôn nhớ núi Hồng, nhớ những cuộc đi săn…” [22, tr. 105]. Khi nhắc đến tập thơ Bắc hành tạp lục, hai nhà nghiên cứu cũng đã nhận xét có không ít bài thơ trong tập thơ này nói về nỗi “nhớ nhà, nhớ nước, nhớ người thân, muốn về sống nhàn tản ở quê nhà, không màng danh lợi” [22, tr. 126]. Điều đó chứng tỏ quê hương luôn in đậm trong tâm trí Nguyễn Du, dù đi đâu, ông cũng luôn nhớ thương, trông ngóng về quê nhà. Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính trong cuốn sách Nguyễn Du và lịch sử văn bản, trong lời dẫn tập thơ Nam Trung tạp ngâm, trên cơ sở phân tích hoàn cảnh của Nguyễn Du lúc bấy giờ (làm quan xa nhà, xa quê), đã đưa ra nhận xét: “Tình cảnh như thế cho nên ông lại ao ước về nhà, ăn canh rau rút, gỏi cá vược, làm bạn với hươu nai” [21, tr. 669]. Trong lời dẫn của tập Bắc hành tạp lục, các tác giả cũng đánh giá: “Tư tưởng muốn về ở ẩn, nhớ núi Hồng Lĩnh, sông Lam, nhớ chuyện đi săn hươu nai lại xuất hiện nhiều lần trong những bài làm trên đất khách. Càng xa nước, càng vất vả, càng nhiều tuổi thì tư tưởng trên càng đậm hơn cả thời kỳ “mười năm gió bụi” hay thời kỳ làm quan ở Bắc Hà, ở Phú Xuân hay ở Quảng Bình” [21, tr. 717]. Những nhận xét trên đã cho thấy dù ở đâu, Nguyễn Du vẫn đau đáu nhớ về quê nhà, vì thế cảm hứng về quê hương luôn trở đi trở lại trong các tập thơ chữ Hán của ông. Nguyễn Thị Nương, trong luận án Tiến sĩ Con người Nguyễn Du qua thơ chữ Hán đã nghiên cứu một cách khá đầy đủ và có chiều sâu vấn đề con người của chính Nguyễn Du qua ba tập thơ chữ Hán. Tác giả luận án cũng khẳng định: “Dù đang ở đâu, nỗi nhớ quê hương da diết cũng trở thành tâm trạng bao trùm cuộc sống tinh thần của nhà thơ.” Luận án cũng đã liệt kê nhiều câu thơ có hình ảnh quê hương trong ba tập thơ chữ Hán. Việc này giúp ích rất nhiều cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểu, khảo sát tư liệu. Nguyễn Thị Nguyệt, trong bài viết Thơ chữ Hán Nguyễn Du – Nhật kí tâm trạng có nhận xét: “Vọng cố hương là nỗi niềm canh cánh của Nguyễn Du, gần như trong suốt cả cuộc đời, trừ mấy năm “đắc ý” được về dưới chân núi Hồng. Không dưới 50/ 248 bài trong 8 Thơ chữ Hán nói đến nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương”. Tuy tác giả thống kê chưa thật đẩy đủ và chính xác, nhưng cũng góp phần khẳng định vị trí của quê hương trong lòng Nguyễn Du là vô cùng quan trọng. [104] Nguyễn Huệ Chi, trong bài viết Biểu tượng đa nghĩa của Thăng Long trong thơ Nguyễn Du đã dẫn ra câu hỏi rất đáng lưu ý của một số nhà nghiên cứu khác: “Không hiểu sao Nguyễn Du không sinh ra ở Hà Tĩnh và cho đến tận “mười năm gió bụi” lênh đênh trôi nổi ở Quỳnh Hải, Thái Bình quê vợ ông cũng chưa, hoặc nếu có chỉ rất ít những tháng ngày sống ở Hà Tĩnh, song hình ảnh quê hương Hồng Lĩnh lại đi về thường xuyên trong thơ ông?’’ nhưng có lẽ vì tập trung làm rõ chủ đề biểu tượng của Thăng Long trong thơ Nguyễn Du, nên tác giả bài báo chưa quan tâm đến việc lí giải câu hỏi này. Trong bài viết này, tác giả đi sâu phân tích sự gắn bó sâu sắc giữa Nguyễn Du với kinh thành thông qua các bài thơ ông viết về Thăng Long. [101] Trà Sơn (Phạm Quang Ái), trong bài viết tham luận tại Hội thảo “Nguyễn Du và các danh sĩ dòng họ Nguyễn Tiên Điền với Thăng Long - Hà Nội” nhân kỷ niệm 245 năm ngày sinh và 190 năm ngày mất đại thi hào với tiêu đề Thăng Long và Hà Tĩnh trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du đã lí giải câu hỏi của Nguyễn Huệ Chi khá hợp lí. Tác giả đã dựa vào những hiểu biết của mình về lịch sử và gia phả của họ Nguyễn để trả lời cho câu hỏi tại sao thời gian Nguyễn Du ở Hà Tĩnh không nhiều bằng ở Thăng Long, nhưng trong ba tập thơ chữ Hán của ông, tần số xuất hiện của hình ảnh sông Lam, núi Hồng – những địa danh nổi tiếng ở Hà Tĩnh lại lớn hơn gấp nhiều lần so với kinh thành Thăng Long. Tác giả bài viết cũng tiến hành thống kê số lần xuất hiện các địa danh này trong ba tập thơ [105]. Những số liệu này rất hữu ích cho việc thống kê của chúng tôi được đầy đủ và chính xác hơn. Nguyễn Thị Huyền Thương trong luận văn Thạc sĩ Con người nhân văn trong tiến trình văn học trung đại qua thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Du đã phân tích, lí giải vẻ đẹp của con người nhân văn trong các mối quan hệ với xã hội, với thiên nhiên và với chính bản thân mình. Trong chương hai (Con người nhân văn đẹp trong tình yêu thiên nhiên và lối sống hài hòa cùng vạn vật), tác giả có nhận xét về thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du: “Thiên nhiên đúng là đã khúc xạ qua tâm hồn thi nhân, nên bao bài thơ xuân vẫn chỉ quẩn quanh một nỗi niềm không thể dứt: xa nhà, xa quê, anh em li tán… rốt cuộc chỉ triền miên một mối lo, một nỗi sầu, một mong ước cháy lòng là đoàn tụ gia đình, quê hương mà chẳng thể toại nguyện. Tâm sự trĩu nặng đó, Nguyễn Du chỉ còn biết chia sẻ cùng thiên nhiên.” [82, tr. 136]. Tác giả cũng khẳng định: “Trong nỗi buồn mênh 9 mang mà thi nhân gửi vào cảnh vật ngời lên tình yêu tha thiết dành cho quê hương, xứ sở”. [82, tr. 149] Cao Thị Liên Hương, trong luận văn Thạc sĩ với đề tài Văn hóa ứng xử trong thơ chữ Hán Nguyễn Du có dành ra một vài trang để nói về nỗi nhớ quê hương của nhà thơ trong khoảng “mười năm gió bụi” và khi đi sứ ở Trung Quốc để bàn về vấn đề ứng xử với bản thân và ứng xử với thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. Đó là một trong những nét đẹp trong văn hóa ứng xử được thể hiện qua thơ chữ Hán của ông. [26] Nguyễn Thị Thanh Diễm, trong luận văn Thạc sĩ Những thành tựu của thơ đi sứ thời Nguyễn, trong mục “Thơ đi sứ thời Nguyễn – khúc hát nhớ nước thương nhà” (thuộc chương hai: Thơ đi sứ thời Nguyễn – những thành tựu về mặt nội dung) cũng dành một phần để nói về nỗi nhớ nước thương nhà trong thơ của các sứ thần - nhà thơ thời Nguyễn, trong đó có Nguyễn Du. Cảm hứng về quê hương, vì thế mà luôn trở đi trở lại trong thơ ông. [9] Tác giả Trần Thị Thu Trang, trong luận văn Thạc sĩ Thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, đã nghiên cứu khá tỉ mỉ từ cảm thức thiên nhiên đến tâm trạng và triết lí về cuộc đời của Nguyễn Du thể hiện qua thơ chữ Hán. Tác giả cũng có phân tích một số hình ảnh thiên nhiên của quê hương Nguyễn Du như sông Lam, núi Hồng trong thơ ông để làm rõ cho cảm thức thiên nhiên gần gũi, hiền hòa và thiên nhiên dữ dội, nguy hiểm cũng như tâm trạng cô đơn, trăn trở, băn khoăn, day dứt của Nguyễn Du khi miêu tả thiên nhiên nơi quê hương nhà thơ vì ông luôn xem thiên nhiên như một đối tượng để khám phá, giãi bày tâm trạng. [83] Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tư liệu, chúng tôi nhận thấy thực sự chưa có một công trình cụ thể nào nghiên cứu về đề tài “cảm hứng về quê hương trong thơ chữ Hán Nguyễn Du” một cách đầy đủ, toàn diện. Tiếp nối hướng nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi xin lĩnh hội những thành tựu đã đạt được, coi đó là tiền đề quan trọng để chúng tôi thực hiện đề tài. 3. Mục đích nghiên cứu Việc triển khai đề tài này một mặt giúp chúng ta hiểu thêm về tài năng và tâm hồn của Nguyễn Du, mặt khác cũng lí giải được sức sống và vị trí của thơ chữ Hán trong sự nghiệp sáng tác của nhà thơ. Từ đó, người đọc có thể thấy những giá trị đặc sắc về nghệ thuật và tầm vóc tư tưởng thơ chữ Hán Nguyễn Du đã có những đóng góp lớn lao vào kho tàng văn học dân tộc. 10 Chúng tôi cũng hi vọng những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ có tác dụng trong việc vận dụng để nghiên cứu, giảng dạy, học tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du trong trường phổ thông. 4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du được in trong Nguyễn Du toàn tập (tập 1) do Mai Quốc Liên phiên âm – dịch nghĩa – chú thích với sự cộng tác của Nguyễn Quảng Tuân, Ngô Linh Ngọc, Lê Thu Yến, nhà xuất bản Văn học, trung tâm nghiên cứu Quốc học (1996). Trên cơ sở phân tích ưu, nhược điểm của những bản dịch trước, trong lần dịch này, nhóm tác giả cuốn sách đã cân nhắc kĩ lưỡng để giữ được sự chính xác nhất từ phiên âm, dịch nghĩa đến dịch thơ để chuyển tải được những suy tư, tình cảm của Nguyễn Du đến bạn đọc một cách tốt nhất. - Phạm vi nghiên cứu: Như trên đã nói, thơ chữ Hán Nguyễn Du có rất nhiều vấn đề, nhiều hướng nghiên cứu khác nhau. Trong luận văn này, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu cảm hứng về quê hương trong ba tập thơ chữ Hán Nguyễn Du cũng như những phương thức nghệ thuật mà ông sử dụng trong những bài thơ này. Trước đó, chúng tôi dành một phần để nói về hình tượng con người tha hương trong thơ chữ Hán Nguyễn Du vì trong thơ ông, quê hương luôn song hành với hình tượng của con người, đặc biệt là hình tượng con người tha hương. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng dành một chương để giới thiệu đôi nét về thời đại, cuộc đời Nguyễn Du, khái quát thơ chữ Hán của ông và tìm hiểu một số tác giả, tác phẩm thơ ca trung đại có nói đến cảm hứng về quê hương. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp phân tích tổng hợp: được sử dụng để xem xét, phân tích các yếu tố nội dung, nghệ thuật có liên quan đến đề tài, từ đó đi đến các nhận xét chung, hình thành các luận điểm. Phương pháp so sánh, đối chiếu: phương pháp này được áp dụng khi cần so sánh, đối chiếu thơ chữ Hán Nguyễn Du với thơ văn của một số tác giả khác trong giai đoạn văn học trung đại khi nói đến cảm hứng về quê hương. Phương pháp thống kê: được sử dụng để tiến hành khảo sát từng bài thơ có liên quan đến đề tài, từ đó đưa ra nhận xét dựa vào tần số xuất hiện của những bài thơ đó. Các con số thống kê được đưa ra nhằm làm tăng sức thuyết phục cho các kết luận được nêu ra trong 11 luận văn. Thao tác này cũng giúp ích cho việc tập hợp ý kiến từ các bài viết, các công trình khoa học, các sách chuyên khảo có liên quan đến nội dung của đề tài. Phương pháp hệ thống: đặt Nguyễn Du và các tác phẩm thơ chữ Hán của ông trong các mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành văn học trung đại Việt Nam như các hệ tư tưởng, quan niệm, tác giả, tác phẩm… 6. Đóng góp của đề tài Thơ chữ Hán của Nguyễn Du là một thế giới độc lập, một ánh sáng khác trong đời văn của thi nhân, trong đó nhiều tác phẩm đã đạt đến tầm cao giá trị về cả mặt nội dung và nghệ thuật. Bởi vậy, hiện nay, thơ chữ Hán của ông đã được đưa vào giảng dạy ở các trường phổ thông cũng như cao đẳng, đại học. Chúng tôi hi vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp cho việc giảng dạy và tìm hiểu về Nguyễn Du cũng như các sáng tác của ông được sâu sắc, toàn diện hơn. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành ba chương Chương1: Những vấn đề chung Trong chương này, người viết tiến hành tìm hiểu về thời đại, cuộc đời, của Nguyễn Du để có cái nhìn thấu đáo về thơ chữ Hán của ông, từ đó hiểu được vì sao cảm hứng về quê hương lại trở đi trở lại nhiều lần trong mảng thơ này. Người viết cũng tìm hiểu cảm hứng về quê hương trong thơ ca trung đại của một số tác giả như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến để đối chiếu, so sánh và thấy được sự vận động, thay đổi về tư tưởng, cách thể hiện cảm hứng về quê hương trong thơ của từng tác giả. Chương 2: Cảm hứng về quê hương nơi con người tha hương Nguyễn Du qua thơ chữ Hán Trong chương này, chúng tôi đi từ hình tượng con người tha hương đến cảm hứng về quê hương trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. Trong ba tập thơ chữ Hán của ông, ta luôn bắt gặp hình tượng con người tha hương. Vì tha hương nên nhà thơ mới luôn nhớ quê nhà da diết, những hình ảnh của quê hương cũng trở đi trở lại trong thơ. Cảm hứng về quê hương trong thơ chữ Hán Nguyễn Du được hiện lên thông qua cảnh đẹp thiên nhiên, cuộc sống sinh hoạt và suy cảm về gia đình, người thân. 12 Chương 3: Phương thức nghệ thuật thể hiện cảm hứng về quê hương trong thơ chữ Hán Nguyễn Du Một số phương thức nghệ thuật được chúng tôi tìm hiểu là thể thơ, cách lựa chọn từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu. Thông qua việc phân tích những phương thức nghệ thuật thể hiện cảm hứng về quê hương trong ba tập thơ, chúng ta sẽ thấy được khả năng sử dụng ngôn ngữ bậc thầy của Nguyễn Du. 13 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1. Thời đại Nguyễn Du Nguyễn Du sống trong một thời đại rối ren, đầy biến động của xã hội Việt Nam vào nửa cuối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX: thời kì sụp đổ của chế độ phong kiến, phong trào nông dân nổi lên mạnh mẽ, nền kinh tế hàng hóa phát triển cho thấy sức mạnh của đồng tiền cũng như tư tưởng phóng khoáng của tầng lớp thị dân. Trường Chinh đã nhận xét: “Thời đại Nguyễn Du là thời đại đau khổ và oanh liệt nhất trong lịch sử Việt Nam, thời đại của chế độ phong kiến mục nát, thời đại của nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp…” [92, tr. 25] và không khí chung của thời đại đó là “cái thời đại… tê đi và tái lại, cắt không ra máu đỏ của niềm vui” [19, tr. 44]. Xã hội phong kiến giai đoạn này đang trải qua cơn khủng hoảng nghiêm trọng. Chính quyền phong kiến bộc lộ bản chất phản động, bất lực và tàn bạo một cách trắng trợn chưa từng thấy, nạn tham nhũng, hối lộ ngày càng trầm trọng. Từ lâu, vua Lê đã mất hết quyền hành, bộ máy thống trị phong kiến quan liêu dưới thời Trịnh Sâm đã phơi bày ra với tất cả bản chất trơ tráo, bỉ ổi của nó. Nội bộ triều đình xảy ra nhiều vụ tranh chấp, phế truất, giết hại lẫn nhau. Chúa Trịnh Sâm vì mê đắm Đặng Thị Huệ đã truất ngôi của con trưởng Trịnh Khải, lập Trịnh Cán làm thái tử. Hành động này là nguyên nhân dẫn đến nạn kiêu binh nổi dậy, phế Trịnh Cán, lập Trịnh Khải làm chúa. Tiếp sau đó, kiêu binh lộng hành, kéo nhau đi cướp phá các làng gây nên sự kinh hãi trong lòng nhân dân, chợ búa không dám họp, đàn bà con gái không dám ra đường. Bởi vậy, hễ dân làng thấy có tên kiêu binh nào đi một mình thì bắt lại giết. Vì thế, quân với dân xem nhau như thù địch. Chế độ thi cử, lựa chọn nhân tài của xã hội phong kiến trước đây rất được coi trọng, các thí sinh phải học hành, thi cử vô cùng vất vả, nhưng ở thời điểm này, có tiền là có thể mua được chức tước. Vào trong trường thi, người coi bài, kẻ thuê người làm bài, học trò với quan giám sát thông đồng với nhau. Quan hệ tiền tệ ngày càng chi phối con người, làm hư hỏng đạo đức của tầng lớp quan lại. Thời kì này, đồng tiền đã trở thành một thứ quyền lực can thiệp vào mọi mặt của đời sống xã hội. Thêm vào đó, nạn mất mùa, đói kém xảy ra khắp nơi, giá lúa cao vọt, người chết đói đầy đường, nhân dân li tán, làng xóm tiêu điều… Có thể nói xã hội phong kiến Việt Nam đã đi vào con đường tự sụp đổ không thể cứu vãn. Đây cũng là thời kì chứng kiến nhiều cuộc đấu tranh nổi dậy như vũ bão của nhân dân mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Năm 1786, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy tiến ra Bắc tiêu diệt thế lực phong kiến của họ Trịnh, chỉ trong một tháng quân Tây Sơn đã 14 lật nhào chế độ phong kiến xây dựng hơn hai trăm năm của chúa Trịnh (1570 – 1786) chấm dứt tình trạng phân biệt Đàng trong Đàng ngoài, mở đường cho việc thống nhất đất nước, hàn gắn hai miền, non sông thu về một mối. Sau đó, Tây Sơn đã trả quyền lại cho vua Lê rồi rút quân về miền Nam. Tháng tư năm Mậu Thân (1788), Nguyễn Huệ ra Bắc, vào thành Thăng Long, bắt giết Vũ Văn Nhậm. Vua Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, cầu viện hoàng đế nhà Thanh. Cuối năm 1788, vua Càn Long sai Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân Thanh hộ tống Lê Chiêu Thống về Đại Việt với danh nghĩa “phù Lê”, vào chiếm đóng Thăng Long. Nghe tin báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Nguyễn Huệ xuất quân tiến ra Bắc Hà. Để lấy danh nghĩa chính thống, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung. Năm 1789, với chiến lược hành bình thần tốc, vua Quang Trung cùng nghĩa quân Tây Sơn đã quét sạch quân xâm lược Mãn Thanh ở Đống Đa. Khi Quang Trung qua đời (1792), triều đình Tây Sơn dần đi vào con đường suy thoái. Nguyễn Ánh nhờ cứu viện của thực dân Pháp đã kết thúc triều đại Tây Sơn, khôi phục lại nhà Nguyễn bằng sự kiện Nguyễn Ánh lên ngôi (1802), lấy niên hiệu là Gia Long. Ngay sau khi thắng thế, vua quan nhà Nguyễn lại hà hiếp bóc lột nhân dân thậm tệ, nước ta rơi vào một giai đoạn khủng hoảng, đình trệ trầm trọng bởi lẽ “chính quyền nhà Nguyễn hoàn toàn đối lập với nhân dân và dân tộc. Nó chỉ đại diện cho quyền lợi của những thế lực phong kiến phản động, tàn tạ” [40, tr. 10], hệ tư tưởng phong kiến vốn đã khủng hoảng đến lúc này lung lay tới tận gốc rễ, và “một bức màn đen tối phủ lên trên xã hội Việt Nam” [92, tr. 30]. Sống qua ba triều đại, Nguyễn Du đã được tận mắt chứng kiến cảnh sống xa hoa, đồi trụy, sự thống trị dã man, tàn ác của các thế lực phong kiến, cảnh đau khổ nghèo đói, cảnh bị áp bức đày đọa của đại đa số quần chúng nhân dân… Giữa những phong ba bão táp của thời đại, Nguyễn Du như một chứng nhân lịch sử, một nạn nhân của hoàn cảnh mà cuộc đời đã phải trải qua nhiều chìm nổi. Rõ ràng, thời đại đã ảnh hưởng không nhỏ tới tư tưởng của Nguyễn Du, là yếu tố khách quan làm nên tiếng khóc nhân tình, nhân thế cho những năm tháng lăn lộn giữa cuộc đời gió bụi, cho nỗi đau tha hương lưu lạc, nỗi đau của sự li tán gia đình, bạn bè…trong thơ ông. Khi đó, quê hương - mảnh đất mẹ chính là nơi tác giả luôn hướng về với nỗi nhớ da diết, khôn nguôi. Cảm hứng về quê hương xuất hiện dày đặc trong ba tập thơ chữ Hán đã chứng minh được điều đó. 15 1.2. Cuộc đời Nguyễn Du (1766 – 1820) Nguyễn Du thuộc dòng dõi một nhà thế phiệt trâm anh đệ nhất trong nước bấy giờ, lại cất tiếng khóc chào đời trong cảnh nhà đang hết sức thịnh vượng, điều này thể hiện ngay trên hai chữ “phúc đức” ở trước dinh thự của Nguyễn Nghiễm. Ít ai có thể ngờ, cuộc sống của đại thi hào dân tộc tương lai lại gặp quá nhiều biến cố như thế. Cuộc sống êm đềm trôi qua cho đến khi Nguyễn Du mười tuổi (1776), khởi đầu cho những chuỗi ngày buồn đau bất hạnh của nhà thơ là cái chết của cha, cũng năm đó là cái chết của người anh ruột tên Nguyễn Trụ. Hai năm sau Nguyễn Du lại đau đớn khi phải đón nhận tang mẹ. Từ đây, cuộc sống của mấy anh em Nguyễn Du đều dựa vào người anh là Nguyễn Khản. Cảnh sống ăn đậu ở nhờ đã đeo bám Nguyễn Du từ rất sớm. Thân phận ở nhờ dường như trở thành nghiệp chướng, đeo bám nhà thơ suốt cả cuộc đời. Năm 1782, Nguyễn Du được Đoàn Nguyễn Tuấn đón về quê ở Sơn Nam Hạ tiếp tục học tập. Năm 1873, ông thi đậu tam trường và giữ chức Chánh thủ đội quân hùng hậu của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên. Sự nghiệp của Nguyễn Khản gắn chặt với chúa Trịnh nên những biến cố xảy ra trong phủ chúa cũng ít nhiều liên quan đến ông. Nguyễn Du “chứng kiến tất cả, những việc đó không khỏi lo âu cho gia đình và bản thân ông” [22, tr. 38]. Năm 1784, tư dinh Nguyễn Khản bị kiêu binh phá, Nguyễn Khản phải trốn lên ở với người em là Nguyễn Điều đang làm trấn thủ Sơn Tây. Nguyễn Du vào đời lúc thời đại của vua Lê, chúa Trịnh đã đến bước suy tàn. Khi quân Tây Sơn dẹp tan 29 vạn quận Thanh (1789), vua Lê Chiêu Thống buộc phải chạy sang Kinh Bắc và mưu đồ việc phục hưng. Nguyễn Du chạy theo không kịp đành về quê vợ lánh nạn ở Quỳnh Côi, trấn Sơn Nam (Thái Bình), bắt đầu cuộc đời “mười năm gió bụi”. Sau này, Quang Trung có ra tờ hiệu dụ các quan văn võ triều cũ, thậm chí Nguyễn Nễ (anh trai) và Đoàn Nguyễn Tuấn (anh vợ) có ra phục vụ tân triều nhưng Nguyễn Du lại không ra làm quan dù phải sống trong cảnh nghèo khó, đau ốm liên miên không tiền mua thuốc... Cuối năm Ất Mão (1795) đầu năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du trở về quê nhà dưới chân núi Hồng, nhưng chưa phải đã chấm dứt cuộc đời tha hương gió bụi. Thời kỳ này, nhà thơ thường ngâm nga làm thơ tâm sự, vào núi tìm bạn hươu nai... Cũng trong khoảng thời gian này, ông chứng kiến những biến đổi rất nhanh của thời cuộc. Nhà Nguyễn thay thế nhà Tây Sơn, Nguyễn Du buộc phải ra làm quan cho triều đình mới. Ông được bổ làm tri huyện Phù Dung (phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam), mấy tháng sau thăng Tri phủ Thường Tín (trấn Sơn 16 Nam thượng). Năm 1809, ông được bổ chức Cai bạ Quảng Bình. Con đường làm quan của ông suôn sẻ và thuận lợi nhưng lòng ông luôn nhớ núi Hồng, nhớ những cuộc đi săn... nhiều lần treo ấn từ quan nhưng không được, vua Gia Long lại liên tục có chỉ triệu Nguyễn Du vào cung. Từ 1813 – 1814, Nguyễn Du được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh. Như vậy, cả cuộc đời Nguyễn Du gần như phải sống nơi đất lạ, đây là điểm khởi nguồn cho cảm hứng về quê hương trong ba tập thơ chữ Hán của ông. Những biến động không ngừng của thời đại đã làm xáo trộn liên tục những trật tự cũ và đã ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống êm đềm trong nhung lụa của Nguyễn Du, đẩy ông vào cuộc sống tha hương bế tắc không thuộc về nơi nào và mang đến cho ông những mối sầu hận mà hàng trăm năm sau vẫn còn làm nhức nhối trái tim người đọc. Sinh ra trong một gia đình danh gia vọng tộc, nhưng cuộc đời lại lênh đênh như cánh bèo trôi dạt từ nơi này đến nơi khác. Cánh bèo ấy chịu sự đưa đẩy của thời đại, của số phận và luôn mang trong mình một tâm sự đầy u uất không thể chia sẻ cùng ai. Dù muốn dù không thì cảm giác mất phương hướng, cảm thấy mình đi trong đêm tối mù mịt, trơ trọi một thân một mình vẫn luôn là cảm giác thường trực, cũng giống như nỗi nhớ quê hương cứ trở đi trở lại trong tâm hồn thi sĩ, để rồi những bài thơ chữ Hán về quê hương ra đời như một sự tất yếu của người con đi xa, cảm thấy thiếu quê hương nên luôn mong mỏi được trở về. 1.3. Thơ chữ Hán Nguyễn Du Theo gia phả họ Nguyễn Tiên Điền, Nguyễn Du có để lại ba tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tap ngâm, Bắc hành tạp lục. Tuy nhiên, số phận ba tập thơ chữ Hán này không có may mắn như phần sáng tác bằng tiếng Việt của ông. Cho đến đầu thế kỷ XX, cả ba tập thơ chữ Hán của ông mà ai cũng biết tên chỉ mới nằm dưới dạng bản thảo. Các bài thơ chữ Hán đầu tiên chỉ được trích dẫn ít bài lẻ tẻ vào công trình Truyện cụ Nguyễn Du của Lê Thước và Phan Sĩ Bàng, sau đó có rất nhiều tác giả đã bỏ công sưu tầm, dịch ra tiếng Việt và giới thiệu tới người đọc (Đào Duy Anh, Bùi Kỷ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh, Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính, Mai Quốc Liên...) để chúng ta có được tập thơ chữ Hán đầy đủ như ngày hôm nay. Trong sự nghiệp thi ca của Nguyễn Du, thơ chữ Hán chính là phần nhà thơ giãi bày tâm sự của mình một cách trực tiếp nhất. Mỗi tập thơ, mỗi bài thơ đều gắn với những biến động cụ thể trong cuộc đời tác giả. Rõ ràng, ba tập thơ chữ Hán có ảnh hưởng không nhỏ đến việc tìm hiểu về con người cũng như nhiều vấn đề được đặt ra trong các sáng tác của Nguyễn Du. Có thể nói, ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du là sự hoàn chỉnh một phong 17 cách và một con người thơ Nguyễn Du, tài năng văn chương bậc thầy cùng tấm lòng thiết tha với cuộc đời của một nghệ sĩ lớn. 1.3.1. Thanh Hiên thi tập (1786 – 1804) Gồm 78 bài được sáng tác trong giai đoạn từ năm Tây Sơn kéo quân ra Bắc cho đến những năm kết thúc giai đoạn Nguyễn Du làm quan ở Bắc Hà. Cả tập thơ có đến 40/78 bài có liên quan đến cảm hứng về quê hương. Tập thơ này được sáng tác trong những năm tháng đầy thăng trầm biến đổi, đau khổ và bi thương nhất trong cuộc đời năm mươi tư năm của ông. Triều đình phong kiến bị sụp đổ, gia đình ông tan tác mỗi người một phương, bản thân phiêu bạt về quê vợ, sống trong cảnh nghèo khó. Ông vừa ôm trong mình nỗi đau thời thế, vừa ôm trong mình nỗi đau đời nên những vần thơ viết về quê hương trong thời kỳ này thường thấy nhà thơ nhắc đến những tâm trạng như đau lòng, tiếc nhớ, u sầu, buồn, ngậm ngùi,... Cô đơn nơi xứ lạ khiến ông khao khát tình cảm gia đình, nhớ anh em, bà con họ hàng nhưng tất cả đều li tán, phiêu dạt. Từ cảnh sống lầu son gác tía, yên ấm trong tình cảm gia đình, bất ngờ bị ném vào cuộc đời dâu bể thiếu thốn cả vật chất lẫn tình cảm, ông chới với hụt hẫng, trái tim ông lại càng khát khao hướng về mảnh đất quê hương. Trong tập thơ này, ta thấy hiện lên chân dung một con người chứa đầy mâu thuẫn, khát vọng công danh vẫn còn day dứt, luôn khát khao được trở về quê hương. Ông băn khoăn vì Thập niên vị tiết nam nhi hận (Mười năm chưa rửa được mối hận nam nhi - Ninh công thành) để rồi lại đau xót nhận ra rằng Bạch phát hùng tâm không đốt ta (Tóc bạc rồi, dù còn có hùng tâm, nhưng chỉ còn biết than thở - Khai song), cho nên hình ảnh nhà thơ hiện lên thật đáng thương: tóc bạc, bệnh liên miên, tấm thân già yếu,... quẩn quanh, bế tắc không tìm cho mình được lối ra. Đến khi làm quan ở Bắc Hà (1802 – 1804), một lần nữa rời xa quê hương, hình ảnh quê hương và cảm hứng về quê hương lại luôn hiện lên trong thơ. Ông luôn khao khát cảnh sống an nhàn dưới chân núi Hồng, nhiều lần nhà thơ thể hiện khát vọng muốn trở về. Bao trùm tập thơ là tâm trạng chán trường, u uất, thất vọng, bế tắc của một con người sống trong cảnh bơ vơ lưu lạc, quẩn quanh tìm lối thoát cho mình mà tất cả vẫn mịt mờ để rồi Nguyễn Du cứ phải ôm trong lòng khối tâm sự nhức nhối không thể tỏ cùng ai. Thời kì Nguyễn Du buộc phải rời xa quê hương, sống nhờ quê vợ ở Thái Bình là thời kì nhà thơ mang nặng trong lòng mặc cảm tha hương, lữ thứ nên số lượng các bài thơ có xuất hiện cảm hứng về quê hương chiếm khối lượng lớn (18/40) bài và trở thành nỗi ám ảnh thường trực trong lòng nhà thơ. Cuối năm Ất Mão (1975), “sau nhiều năm lang thang nơi 18 quê vợ, Nguyễn Du trở về với căn nhà lá ở quê hương Tiên Điền bên dòng sông Lam trong vắt” [37, tr. 317]. Mong ước bấy lâu nay của Nguyễn Du là được trở về quê hương giờ đã được thỏa nguyện. Sống trong lòng đất mẹ, cảm hứng về quê hương cũng vì thế mà dâng trào. Sông Lam, núi Hồng hiện lên trong thơ ông với niềm tự hào và mến yêu tha thiết. Ở quê hương không được bao lâu, Nguyễn Du miễn cưỡng ra làm quan phục vụ tân triều. Nguyễn Du bắt đầu nhận chức tri huyện Phù Dung ở trấn Sơn Nam, cũng là bắt đầu thời kỳ “làm quan ở Bắc Hà” (1802 - 1804). Đọc những bài thơ Nguyễn Du làm trong chặng đường làm quan đầu tiên này, ta thấy ông luôn nhớ núi Hồng, nhớ những cuộc đi săn, luôn mong muốn được trở về quê hương. 1.3.2. Nam Trung tạp ngâm (1804 – 1813) Gồm 40 bài được Nguyễn Du sáng tác trong thời gian làm quan ở Phú Xuân và làm Cai bạ ở Quảng Bình. Dù không còn tâm trạng bế tắc, tuyệt vọng, chán chường như ở Thanh Hiên thi tập nhưng trong tập thơ này, nổi bật lên là nỗi thất vọng sâu sắc về chốn quan trường mà trước đây ông từng khao khát được bước chân vào để đem tài năng ra giúp nước. Nam Trung tạp ngâm có 22 bài thơ nói đến cảm hứng về quê hương. 22 lần ông nhắc đến quê hương trong tập thơ là 22 lần ông thấm thía nỗi buồn xa quê, muốn trở về, muốn thoát khỏi vòng danh lợi, khát khao cuộc đời phóng khoáng tự do, nhất là khi chốn quan trường lại đầy hiểm hóc, đố kỵ, ganh đua. Cách nhà thơ nói về mình thật đáng thương và cũng thật chua xót: Thù phương độc thác hữu quan thân (Phương xa một mình gởi cái thân làm quan - Ngẫu đắc), tất cả cũng chỉ vì đường sinh kế, chuyện cơm áo,... vì vậy mặc dù đường về chỉ ba ngày là đến, mà ôm nỗi nhớ quê đã bốn năm (Nễ giang khẩu hương vọng). Mệt mỏi, chán chường, thất vọng nhưng lại không thể buông xuôi, nỗi lòng với quê hương dần trở thành tâm bệnh, vì thế tâm trạng dằn vặt của kẻ tha hương và cảm hứng về quê hương luôn xuất hiện trong thơ ông. 1.3.3. Bắc hành tạp lục (1813 – 1814) Gồm 132 bài được sáng tác khi Nguyễn Du đi sứ sang Trung Quốc. Tập thơ này có 16 bài thơ Nguyễn Du nói đến cảm hứng về quê hương, muốn được về sống nhàn tản ở quê nhà, không màng danh lợi. Ở hai tập thơ trước, ta thấy Nguyễn Du chìm đắm trong mối bi quan, tâm trạng chán trường, thất vọng, mối u sầu kết đọng thành khối bởi ông bế tắc, quẩn quanh đi mãi mà vẫn không tìm được lối ra cho mình. Khi đi sứ Trung Quốc, một thế giới mới mở ra trước mắt, thế giới mà ông mới chỉ biết qua sách vở nay được tận mắt chứng 19 kiến, những điều mới mẻ về phong tục, phong cảnh, cuộc sống của con người có sức hấp dẫn với ông. Cứ qua mỗi vùng đất là ông lại làm thơ. Những chuyện đang diễn ra trước mắt đã tác động đến tâm hồn đa cảm của Nguyễn Du, buộc ông không thể nhắm mắt làm ngơ. Hiện thực cuộc sống trên nước bạn được ông phản ánh khá kĩ ở mọi góc cạnh, nhất là khi sang đất người, lòng ông có phần nhẹ nhõm hơn, ông có thời gian nhìn ra ngoài và nói chuyện với những con người bất hạnh mà ông có một mối cảm thông đặc biệt. Mối sầu tha hương vẫn còn nhưng lúc này không nhuốm màu đau xót, bi quan nữa. Số lượng thơ đề cập tới cảm hứng về quê hương trong tập thơ này không lớn bằng hai tập thơ trước nhưng trải dài theo bước đường của vị sứ thần vẫn là nỗi nhớ quê hương. Thêm vào đó là những cảm nhận của nhà thơ về những điều mắt thấy tai nghe ở xứ người. Tập thơ này, vì thế thiên về quan sát, suy ngẫm về thế sự, lịch sử. Điểm qua ba tập thơ chữ Hán Nguyễn Du với tổng số 250 bài thơ, ta thấy có tới 78 bài thơ có cảm hứng về quê hương... Số lượng như vậy, xét thấy không phải là ít, đủ để khẳng định quê hương là một chủ đề quan trọng, một mối ám ảnh sâu sắc trong tâm hồn nhà thơ. Điều này góp phần thôi thúc chúng ta tìm hiểu để khám phá rõ hơn những góc khuất trong tâm hồn vị đại thi hào dân tộc. 1.4. Khái quát về cảm hứng và cảm hứng về quê hương trong thơ ca trung đại (Qua một số tác giả: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến) Nội dung tư tưởng của tác phẩm văn học luôn gắn liền với cảm xúc. Những cảm xúc đó được khơi nguồn từ cảm hứng. “Cảm hứng là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư tưởng, là một ham muốn tích cực đưa đến hành động. Điều quan trọng là cần nhận ra cảm hứng như một nội dung đặc thù của tác phẩm văn học” [46, tr. 268]. Bất kì một tác phẩm văn học nào được tạo ra cũng cần phải có cảm hứng. Nội dung của cảm hứng tư tưởng trong tác phẩm bao giờ cũng là một tình cảm xã hội đã được ý thức. Đó có thể là những tình cảm khẳng định như ngợi ca, vui sướng, yêu thương, đau xót… Đó cũng có thể là những tình cảm phủ định các hiện tượng xấu xa, tiêu cực như tố cáo, căm thù, phẫn nộ, châm biếm, mỉa mai… Các tình cảm đó được gợi lên từ các hiện tượng xã hội được phản ánh trong tác phẩm tạo thành nội dung cảm hứng của tác phẩm đó. Từ xưa đến nay, quê hương luôn là nguồn cảm hứng bất tận trong thi ca. Với những nhà thơ lớn, hình ảnh quê hương lại càng in đậm trong tâm trí họ và được đưa vào trong thơ với một tình cảm vô cùng sâu sắc. Tuy cách thể hiện tình yêu đối với quê hương được thể hiện ở mỗi nhà thơ là khác nhau nhưng nhìn chung các tác giả luôn tự hào về cảnh đẹp, về 20
- Xem thêm -