Cảm hứng bi tráng trong tiểu thuyết tru tiên

  • Số trang: 160 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Phạm Thị Yến Việt CẢM HỨNG BI TRÁNG TRONG TIỂU THUYẾT TRU TIÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Thành phố Hồ Chí Minh - 2012 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Phạm Thị Yến Việt CẢM HỨNG BI TRÁNG TRONG TIỂU THUYẾT TRU TIÊN Chuyên ngành: Văn học nước ngoài Mã ngành: 60 22 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐINH PHAN CẨM VÂN Thành phố Hồ Chí Minh - 2012 LỜI CẢM ƠN Ai cũng muốn được mở rộng và nâng cao kiến thức nhưng không phải ai cũng có điều kiện và cơ hội để làm điều đó. So với nhiều người, được học đến trình độ Thạc sĩ quả là một may mắn đối với tôi. Hai năm rưỡi học Cao học là cả một quá trình đầy thử thách. Nhìn lại chặng đường đã qua, tôi cảm thấy tự hào với những gì mình đã cố gắng đạt được và tự tin hơn vào tương lai sắp tới. Để có được kết quả này, tôi không độc hành một mình mà có rất nhiều người đã hỗ trợ và tiếp thêm sức mạnh để tôi đi đến mục đích cuối cùng. Trước hết, con xin cảm ơn ba mẹ và những người thân, nhất là anh trai, đã luôn hỗ trợ và động viên, dõi theo từng bước đi của con để con có thêm nghị lực vượt qua khó khăn. Xin đặc biệt gửi lời cảm ơn chân thành và trân trọng nhất đến Tiến sĩ Đinh Phan Cẩm Vân, người thầy đã đồng hành với tôi từ thời Đại học đến bây giờ. Cô đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và làm việc của mình. Những lời đóng góp quý báu và chính xác của Cô đã giúp tôi nhận ra những ưu - khuyết điểm của bản thân để trau dồi kiến thức và hoàn thiện bản thân hơn. Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô đã giảng dạy tôi trong suốt khóa học. Cảm ơn Thầy Cô trong Hội đồng phản biện đã nhận xét và góp ý cho luận văn của tôi. Cảm ơn phòng KHCN-SĐH trường Đại học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi và các học viên hoàn thành quá trình học tập và thực hiện luận văn của mình. Xin trân trọng cảm ơn những người bạn thân yêu đã luôn động viên, hỗ trợ và quan tâm đến tôi trong hơn hai năm học Cao học. Xin chân thành cảm ơn tất cả! TP. Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2012 Người thực hiện Phạm Thị Yến Việt LỜI CAM ĐOAN Trong quá trình học tập và nghiên cứu, tôi đã tiếp xúc với nhiều tác phẩm, trong đó, tiểu thuyết Tru Tiên của tác giả Tiêu Đỉnh là tác phẩm đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng và cảm xúc nhất. Cùng với sự phổ biến và sức ảnh hưởng của nó ở cả Trung Quốc và Việt Nam, tôi nhận thấy đây là một tác phẩm cần phải được quan tâm và nghiên cứu. Bởi vậy tôi đã chọn đề tài “Cảm hứng bi tráng trong tiểu thuyết Tru Tiên” để thực hiện luận văn nghiên cứu trong chương trình Cao học của mình. Dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Tiến sĩ Đinh Phan Cẩm Vân, tôi đã từng bước nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình đúng thời hạn mà trường Đại học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh đã quy định. Luận văn của tôi đã được Tiến sĩ Đinh Phan Cẩm Vân thông qua và đồng ý cho bảo vệ. Để thực hiện luận văn của mình, tôi đã tham khảo nhiều tài liệu từ các nguồn khác như sách, báo, công trình nghiên cứu khoa học, Internet… nhưng chỉ dưới dạng trang bị kiến thức cần thiết và trích dẫn hỗ trợ cho luận văn. Những trích dẫn trong luận văn của tôi đều ghi chú nguồn cụ thể và chính xác. Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về luận văn này. Tuy nhiên, không có cái gì là hoàn hảo. Luận văn của tôi chắc chắn còn nhiều điều sai xót, kính mong Hội đồng phản biện và những ai quan tâm đóng góp ý kiến để luận văn này được hoàn thiện hơn. Người thực hiện luận văn Phạm Thị Yến Việt MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN ................................................................................ 3 LỜI CAM ĐOAN .......................................................................... 4 MỤC LỤC ...................................................................................... 5 MỞ ĐẦU ........................................................................................ 7 1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................7 2. Lịch sử vấn đề ...........................................................................................9 3. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 11 4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 12 5. Cấu trúc luận văn .................................................................................. 12 Chương 1: NGUYÊN NHÂN RA ĐỜI DÒNG TIỂU THUYẾT VÕ HIỆP Ở TRUNG QUỐC VÀ TÁC PHẨM TRU TIÊN .... 14 1.1. Ảnh hưởng của các học thuyết tư tưởng Trung Quốc đến tiểu thuyết võ hiệp ............................................................................................. 14 1.2. Từ Sử kí của Tư Mã Thiên đến tiểu thuyết võ hiệp thời Kim Dung ..................................................................................................................... 26 1.3. Sự ra đời của tiểu thuyết Tru Tiên .................................................... 39 1.4. Tác phẩm Tru Tiên ............................................................................. 44 1.4.1. Tác giả Tiêu Đỉnh ................................................................................... 44 1.4.2. Tóm tắt tác phẩm .................................................................................... 46 Chương 2: CẢM HỨNG BI TRÁNG TRONG TRU TIÊN – NHỮNG THỂ HIỆN VỀ NỘI DUNG ....................................... 50 2.1. Bi kịch của định mệnh và sự thù hận ............................................... 50 2.2. Vượt lên giới hạn của bản thân và thử thách của hoàn cảnh ........ 63 2.3. Trong nghịch cảnh nhận ra tình đời, tình người ............................ 75 2.4. Sự chiêm nghiệm những triết lí ....................................................... 104 2.4.1. Cách nhìn nhận về cuộc đời ................................................................. 104 2.4.2. Nhận thức về chính – tà, thiện – ác ...................................................... 110 2.4.3. Nhận thức về chân lí ............................................................................. 114 CHƯƠNG 3: CẢM HỨNG BI TRÁNG TRONG TRU TIÊN – NHỮNG THỂ HIỆN VỀ NGHỆ THUẬT .............................. 120 3.1. Không gian nghệ thuật ..................................................................... 120 3.2. Thời gian nghệ thuật ........................................................................ 133 3.3. Nghệ thuật miêu tả các cuộc đấu .................................................... 140 KẾT LUẬN ................................................................................ 148 TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 151 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trung Quốc không chỉ tự hào và hãnh diện vì đất nước mình đã sản sinh ra những nhà thơ nổi tiếng mà còn có những tiểu thuyết gia lớn với những tác phẩm vang danh không chỉ trong nước và với thế giới như Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Thủy hử của Thi Nại Am, Tây du kí của Ngô Thừa Ân, Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần… Những kiệt tác này đã trải qua thời gian lâu dài và đã chứng tỏ được sức sống mãnh liệt của nó. Vào thế kỉ XX, tiểu thuyết Trung Quốc lại thêm một lần nữa chinh phục độc giả khắp trong và ngoài nước với thể loại tiểu thuyết võ hiệp cùng những tên tuổi lớn như Lương Vũ Sinh, Kim Dung, Cổ Long, Ôn Thụy An, Hoàn Châu Lâu Chủ… Trong đó, Kim Dung cùng với hàng loạt tác phẩm xuất sắc đã đưa ông lên vị trí “võ lâm minh chủ” trong thể loại này. Tuy nhiên, “thời đại hoàng kim” của tiểu thuyết võ hiệp đã dần qua đi và người Trung Quốc cảm thấy không mấy lạc quan về tiền đồ phát triển của tiểu thuyết võ hiệp trong tương lai. Nhà văn Kim Dung đã nói: “Bản thân tiểu thuyết võ hiệp là một thứ để giải trí, bất kể tác phẩm viết như thế nào thì thực ra việc phải chăng nó có thể vượt ra khỏi sự hạn chế của bản thân hình thức là cả một vấn đề, tiền đồ phát triển không lớn” [4, tr.517]. Tên tuổi của những cây bút đại thụ thế hệ trước đã bao trùm một cái bóng quá lớn lên người cầm bút thế hệ sau muốn viết về thể loại này. Đến thế kỉ XXI, nhiều cây bút trẻ của Trung Quốc đã mạnh dạn “dấn thân” vào sáng tác truyện võ hiệp, tiếp nối sự nghiệp của các vị tiền bối. Trong đó nổi bật với tên tuổi của Bộ Phi Yên, Phượng Ca, Thương Nguyệt, Tiểu Đoạn và Tiêu Đỉnh. Trong đó, tiểu thuyết Tru Tiên của Tiêu Đỉnh ngay từ khi mới ra mắt trên mạng năm 2003 đã gây ra một “cơn sốt” dữ dội trong thế hệ người đọc trẻ và được xem là “hiện tượng” trong lĩnh vực tiểu thuyết võ hiệp Trung Quốc. Tru Tiên được xếp vào “Tam đại kì thư Internet”, rồi sau lại được xuất bản thành sách và liên tục nằm trong Top những cuốn sách bán chạy nhất tại Trung Quốc. Trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ, mọi người thường thiên về “nghe, nhìn” và ưa chuộng những loại hình có tính chất nhanh, ngắn, gọn… Thế mà người ta vẫn dành thời gian lên mạng tìm đọc, rồi lại hồi hộp và mong chờ đến ngày tác phẩm này được in thành sách, sau đó tiếp tục dò theo từng chữ trong cuốn tiểu thuyết trường thiên Tru Tiên để rồi ngấu nghiến đọc nó. Thế kỉ XXI, thời đại của thế hệ trẻ “tuổi teen” với phong cách hiện đại “Tây hóa”, thế mà vẫn có rất nhiều “teen” tìm đọc tác phẩm tiên hiệp nói về thời xa xưa này. Điều gì đã làm nên sức hút và đem lại sự nổi tiếng cho Tru Tiên đến vậy? Như ta đã biết, tiểu thuyết võ hiệp là những truyện viết về số phận, sự nghiệp, lý tưởng… của những người anh hùng võ hiệp, hay còn gọi là hiệp khách. Hiệp khách là những người có thân phận và nhân cách độc lập, thậm chí là đối lập, có thể vượt lên trên lễ giáo và pháp luật thế tục. Tuy là những người tự do, tiêu dao tự tại nhưng hiệp khách lại là những người cô độc nhất. Họ lưu lãng khắp chân trời góc bể, bốn biển là nhà, đơn thương độc mã tung hoành thiên hạ, dùng võ công và tài trí của mình để cứu khốn phò nguy, giúp đỡ người nghèo, người yếu đuối trong thiên hạ. Họ thường hành động và lo nghĩ cho lợi ích của số đông chứ chẳng màng đến lợi ích của cá nhân. Tuy hi sinh cả bản thân vì người khác, nhưng không ít anh hùng nghĩa hiệp lại có kết thúc thật bi đát. Cuộc đời của họ vì vậy là một bản hùng ca bi tráng. Do đó mà tiểu thuyết võ hiệp thường mang màu sắc bi lương thê thiết và ở hiệp khách đều tiềm tàng ý nghĩa thẩm mỹ bi tráng như vậy. Các đại gia tiểu thuyết võ hiệp như Kim Dung, Cổ Long, Lương Vũ Sinh đã cảm nhận và biểu hiện điều này rất sâu sắc. Đến với Tru Tiên, ta sẽ thấy Tiêu Đỉnh xây dựng lên những hình tượng nhân vật cũng mang đậm chất bi tráng này. Vì vậy, với sự gợi ý của người hướng dẫn cùng với sự tâm đắc của bản thân, tôi quyết định chọn đề tài: “Cảm hứng bi tráng trong tiểu thuyết Tru Tiên” để thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình. Trong luận văn này, tôi không nhằm mục đích so sánh tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, Cổ Long, Lương Vũ Sinh… với tiểu thuyết Tru Tiên của Tiêu Đỉnh ai hơn ai, bởi vì so với những “cây đại thụ” ấy thì tuổi đời của Tiêu Đỉnh còn quá trẻ và tham gia sáng tác chưa nhiều. Thế nhưng có một điều không thể không công nhận, đó là sức hút của tác phẩm này đối với độc giả trẻ, trong đó có không ít những độc giả lớn tuổi hiện nay. Vì vậy, với đề tài: “Cảm hứng bi tráng trong tiểu thuyết Tru Tiên”, tôi muốn phân tích cái hay về nội dung và đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm đã góp phần làm nên sức hút cho thể loại tiểu thuyết võ hiệp tưởng chừng đã “hết đất dụng võ” này. Nghiên cứu đề tài này sẽ là cơ hội để người viết hiểu sâu thêm, biết rộng hơn về tiểu thuyết võ hiệp và có được một cái nhìn tổng quát hơn về tình hình sáng tác thể loại này vào thời “hậu Kim Dung” [4, tr.516] (chữ dùng của Ngô Tú Minh, Trần Khiết). Qua đề tài này, tôi mong muốn làm một chiếc cầu nối giúp bạn đọc trẻ ngày nay hiểu sâu thêm thể loại tiểu thuyết viết về câu chuyện của những người anh hùng, võ hiệp trong thời xưa kết hợp với những yếu tố của thời kì đương đại, một thể loại tiếp nối theo loại tiểu thuyết võ hiệp thời Kim Dung trước đây. 2. Lịch sử vấn đề Bắt đầu ra mắt độc giả trên mạng Internet từ năm 2003, Tru Tiên lập tức “gây sốt” trong cộng đồng cư dân mạng. Cùng với Phiêu Diểu Chi Lữ và Tiểu Binh Truyền Kỳ, Tru Tiên được xem là “Tam đại kì thư Internet”. Đến năm 2004, Tru Tiên mới được in thành sách ở Trung Quốc và phải đến ngày 12 tháng 3 năm 2007 mới được xuất bản ở Việt Nam. Là một tác phẩm mới, rất mới nên hầu như tiểu thuyết này chưa được nghiên cứu. Có chăng chỉ là một số bài viết ngắn lẫn ý kiến của những người hâm mộ Tru Tiên và một số lời nhận xét của dịch giả cuốn sách là Đào Bạch Liên cùng với báo chí giới thiệu tác phẩm này như: Báo Người Lao Động, Báo Sài Gòn Giải Phóng, Báo Việt Nam Net, Văn Hóa Online, Báo Lao Động, Báo Thanh Niên... Dịch giả Đào Bạch Liên – người dịch Tru Tiên sang tiếng Việt đã nhận xét: “Thể loại kiếm hiệp luôn chỉ dành cho một bộ phận độc giả, nhưng “Tru Tiên” đã vượt ra khỏi phạm vi nhỏ hẹp ấy, chinh phục gần như mọi độc giả đã… lỡ trông thấy nó. Có thể nguyên nhân chính là nó thấm chất “người” hơn chất “võ”, chú trọng cuộc sống thật hơn cuộc sống giang hồ đơn nhất, khiến ai đọc cũng soi ra con người mình trong đó” [111]. Hồng Mai trong bài “Tinh thần võ hiệp thời đại và cảm nghiệm đời sống thực” đã viết về sự thành công của tiểu thuyết Tru Tiên từ lúc nó mới ra đời cho đến khi kết thúc. Tác giả này cũng đưa ra một vài nhận xét về kết cục của Tru Tiên và kết luận: “Đối với văn học tân võ hiệp, “Tru tiên” của Tiêu Đỉnh chiếm một vị trí đặc biệt. Nó nối dài tinh thần mạnh mẽ và sôi nổi của dòng tiểu thuyết võ hiệp được khai sáng bởi các đại tác gia Bất Tiếu Sinh, Hoàn Châu Lâu Chủ, đồng thời lại hé ra một hướng đi mới cho tiểu thuyết kiếm hiệp hiện đại, đó là khai nguồn mở lạch cho thế giới thần tiên mộng ảo tìm đường hòa vào với dòng chảy võ hiệp giang hồ” [99]. Quang Minh trong bài viết “Phấp phỏng cùng tiểu thuyết kiếm hiệp mới” trên Việt Báo đã bước đầu chỉ ra một số cái hay của tác phẩm, trong đó có một vài ý kiến về sự xuất hiện của “quái thú” trong Tru Tiên và đưa ra nhận xét: “Sức cuốn hút của “Tru Tiên” nằm ở chỗ trí tưởng tượng phong phú, mãnh liệt của nhà văn đã phác vẽ lên một thế giới vô cùng sống động” [97]. Hoàng Tùng trong bài viết “Thăng trầm văn học võ hiệp Việt” trên báo Văn Nghệ trẻ đã đưa ra một cái nhìn khái quát lẫn cụ thể về tình hình viết truyện võ hiệp tại Việt Nam. Trước đây thì độc giả Việt Nam rất yêu thích những tác phẩm của Kim Dung và một số tác giả chịu ảnh hưởng từ nhà văn này nhưng cho đến những năm gần đây lại xôn xao với “cơn sốt” Tru Tiên của nhà văn Tiêu Đỉnh. Ảnh hưởng của Tru Tiên đã kích thích cho việc nhiều cuộc thi sáng tác truyện võ hiệp Việt được tổ chức trên các mạng chuyên về văn học võ hiệp. Tác giả Xuân Thân trong bài viết “Văn học mạng – những bước đầu chập chững” đã cho thấy tình hình văn học mạng hiện nay. Thông qua mạng Internet, tác phẩm của nhiều nhà văn hay của những người mới tập tành viết được đến với nhiều độc giả hơn, và do đó nhiều tác phẩm trở nên thành công hơn cả sự mong đợi. Tác phẩm được sáng tác trên mạng, đến với độc giả qua mạng nhưng chính độc giả cũng lại đóng vai trò không nhỏ trong việc góp phần sáng tác tác phẩm. Trong đó, Tru Tiên của Tiêu Đỉnh là một hiện tượng tiêu biểu, có thể xem đây là tác phẩm tiên phong cho hiện tượng sáng tác qua mạng của Trung Quốc vào Việt Nam. Hồng Hạc với những cảm xúc dạt dào trong bài viết “Chuyện tình trong tiểu thuyết võ hiệp kì ảo Tru Tiên” đăng trên báo Thanh Niên đã giới thiệu và phân tích về những tình cảm ban đầu lúc Trương Tiểu Phàm còn là một chàng thiếu niên ngây ngô và chất phác: Tru Tiên “bàng bạc chất kì ảo võ hiệp và mênh mang màu hoa nhớ muôn đời: màu của trái tim yêu” [95]. Lời của nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin: “Tru Tiên là tác phẩm đỉnh cao của thể loại tiểu thuyết kì ảo Trung Quốc, cấu tứ kì diệu, khí thế mạnh mẽ, mị lực tuyệt đối”[19]. Tuy nhiên, những dẫn chứng trên đây cũng chỉ mới là những ghi chép tản mạn chứ chưa phải là những bài nghiên cứu hoàn chỉnh và đầy đủ. Đây là một khó khăn đối với đề tài nhưng cũng đã mở ra những gợi ý rất lớn và hết sức quý báu đối với người viết. Vì vậy, người viết sẽ phải cố gắng hết mình. Với tất cả lòng ngưỡng mộ đối với tác phẩm, cùng với những gợi ý ít ỏi mà rất cần thiết từ phía báo chí và bạn đọc Tru Tiên, người viết hi vọng sẽ hoàn thành tốt đề tài mà mình đã chọn. 3. Phạm vi nghiên cứu Tiểu thuyết võ hiệp đã có sức sống lâu bền trong lòng người đọc và có những ảnh hưởng nhất định đến đời sống, văn hóa… nhất là về điện ảnh, truyền hình… Có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà phê bình lẫn những độc giả yêu thích đã nghiên cứu rất kĩ về thể loại này. Tuy nhiên, do Tru Tiên là một tiểu thuyết mới phổ biến gần đây và quy mô của nó quá lớn, chứa đựng nhiều vấn đề, nhiều giá trị… Vì vậy, để khám phá ra hết những “bí ẩn” và giá trị, cũng như những cái hay của tác phẩm, cần phải có sự đóng góp của nhiều người và cần nhiều thời gian. Trong quy mô của một luận văn, người viết chỉ đi sâu vào khảo sát và nghiên cứu các nhân vật và sự việc, cũng như một số đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm để làm sáng tỏ cho đề tài đã chọn. Để người đọc theo dõi được thuận lợi và giúp bài viết có được sự thống nhất, người viết đã dựa vào tác phẩm Tru Tiên (bảy tập), trong đó sáu tập đầu do Đào Bạch Liên dịch, Trần Hữu Nùng hiệu đính và tập cuối cùng do Trần Hữu Nùng dịch. Trong quá trình nghiên cứu, để cho cơ sở lập luận của mình thêm sức thuyết phục, người viết có sử dụng thêm những tài liệu thu thập được từ sách, báo, Internet, công trình nghiên cứu khoa học,… và những tài liệu có liên quan phục vụ cho đề tài như những nghiên cứu về võ hiệp và về truyện của Kim Dung, tôn giáo... 4. Phương pháp nghiên cứu Trong luận văn này, người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa: từ cái nhìn tổng quát về một loại hình văn hóa để có cơ sở nghiên cứu về một tác phẩm văn học. - Phương pháp lịch sử: nghiên cứu những điều kiện lịch sử, xã hội, văn hóa làm phát sinh tiểu thuyết võ hiệp và sự vận động, biến đổi của thể loại này theo thời gian. - Phương pháp tổng hợp – phân tích: tổng hợp để thấy được sự khái quát của vấn đề, sau đó phân tích để làm rõ luận điểm, luận cứ đã nêu, giúp hiểu vấn đề rõ ràng và sâu sắc hơn. - Phương pháp so sánh: trên cơ sở những luận điểm, luận cứ đã phân tích, người viết sẽ đưa ra sự so sánh để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt trong sự kế thừa và cách tân về thể loại tiểu thuyết tân võ hiệp của những nhà văn trẻ đương đại của Trung Quốc so với tiểu thuyết võ hiệp của những nhà văn thời trước. 5. Cấu trúc luận văn Ngoài mở đầu (7 trang), kết luận (3 trang), nội dung của luận văn (135 trang) được trình bày thành ba chương chính: Chương 1 – Nguyên nhân ra đời dòng tiểu thuyết võ hiệp ở Trung Quốc và tác phẩm Tru Tiên (36 trang): đề cập đến các vấn đề: ảnh hưởng của những học thuyết tư tưởng Trung Quốc đến tiểu thuyết võ hiệp, từ Sử kí của Tư Mã Thiên đến tiểu thuyết võ hiệp thời Kim Dung, sự ra đời của tiểu thuyết Tru Tiên và tác phẩm Tru Tiên. Trong phần tác phẩm Tru Tiên sẽ nói đến tác giả Tiêu Đỉnh và tóm tắt tác phẩm. Chương 2 – Cảm hứng bi tráng trong Tru Tiên, những thể hiện về nội dung (71 trang): là một trong hai chương trọng tâm (chương 2 và 3), tập trung phân tích những thể hiện về nội dung của cảm hứng bi tráng trong tác phẩm. Chương này sẽ chia ra 4 mục chính: bi kịch của định mệnh và sự thù hận, vượt lên giới hạn của bản thân và thử thách của hoàn cảnh, trong hoàn cảnh éo le nhận ra tình đời, tình người, sự chiêm nghiệm những triết lí. Chương 3 – Cảm hứng bi tráng trong Tru Tiên, những thể hiện về nghệ thuật (27 trang): đi vào tìm hiểu ba đặc điểm nghệ thuật thể hiện cảm hứng bi tráng: không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, nghệ thuật miêu tả các cuộc đấu. Chương 1: NGUYÊN NHÂN RA ĐỜI DÒNG TIỂU THUYẾT VÕ HIỆP Ở TRUNG QUỐC VÀ TÁC PHẨM TRU TIÊN 1.1. Ảnh hưởng của các học thuyết tư tưởng Trung Quốc đến tiểu thuyết võ hiệp Trong nền văn học thế giới, Trung Quốc được xem là một trong những cái nôi của nền văn học nhân loại. Văn học Trung Quốc ra đời từ rất sớm và ngay từ đầu đã đạt được những thành tựu rực rỡ. Văn học phát triển với nhiều loại hình đa dạng và nội dung sâu sắc cùng với tên tuổi của nhiều tác gia nổi tiếng thế giới. Trong đó, tiểu thuyết Trung Quốc tuy ra đời muộn hơn thi ca nhưng càng về sau càng đạt được nhiều thành tựu lớn. Tiểu thuyết võ hiệp chịu ảnh hưởng lớn nhất từ những triết lí của Mặc gia. Mặc gia là một trường phái triết học Trung Quốc cổ đại do các đệ tử của Mặc Tử phát triển. Nó phát triển cùng thời với Nho giáo, Đạo giáo, Pháp gia và là một trong bốn trường phái triết học chính trong thời Xuân Thu và Chiến Quốc. Dưới thời nhà Tần, Pháp gia được lấy làm tư tưởng chính thức và các trường phái khác đều bị đàn áp. Từ nhà Hán trở về sau, các triều đại đều lấy Nho giáo làm tư tưởng chủ đạo. Mặc gia với tư cách là một trường phái riêng dần dần suy tàn. Trong các học phái của Chư tử thời Tiên Tần, Mặc gia với tổ chức chặt chẽ và vững chắc của mình đã chiếm một vị trí quan trọng trong tư tưởng truyền thống ở Trung Quốc. Điều này đã ảnh hưởng đến sáng tác tiểu thuyết võ hiệp. Tổ chức của những người theo Mặc gia về cơ bản có thể coi là môn phái sớm nhất. Quy củ, phép tắc của Mặc gia đưa ra rất nghiêm khắc và những môn đồ của Mặc gia, ngay cả người đứng đầu cũng phải tuân thủ một cách nghiêm túc: “Đây có thể được coi là bước khởi đầu của quy củ võ lâm trong thế giới giang hồ, độc lập với vương triều” [36, tr.290]. Những người theo Mặc gia rất coi trọng nghĩa khí, sẵn sàng “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha” hay “giữa đường thấy sự bất bình thì rút đao ra giúp đỡ” (lộ kiến bất bình, bạt đao tương trợ), sẵn sàng vì chính nghĩa mà không kể đến vấn đề sống chết, được – mất, chịu phần thiệt thòi về mình để cứu giúp người khác, cũng không cần kể đến công lao hay sự đền ơn đáp nghĩa. Họ cũng là những người đi khắp nơi, dùng lý lẽ để thuyết phục, dùng uy phong để áp đảo, tuyên truyền cho chủ trương “phi công” (chống chiến tranh) và “kiêm ái” (yêu thương tất cả). Mặc gia đề cao chữ “nghĩa”, chủ trương không giết hại người vô cớ, yêu thương tất cả, không làm điều bất nghĩa nhưng cũng chủ trương có thể dùng bạo lực để trừ bạo, bảo vệ chính nghĩa. Những chủ trương này trở thành kim chỉ nam cho suy nghĩ và hành động của những người theo Mặc gia. Vì vậy, người ta cũng thường gọi “những người theo Mặc gia là ‘Mặc hiệp’ và cho họ là những hiệp khách đầu tiên” [36, tr.292]. Mặc gia cũng đề ra những tiêu chuẩn cho kẻ hiền sĩ như: dùng sức mạnh để giúp người, đem của cải để chia cho người, đem đạo dạy cho người. Ba tiêu chuẩn này về sau trở thành những tiêu chí dùng để đánh giá nhân cách của hiệp khách. Ngoài Mặc gia, văn hóa Trung Quốc còn bị chi phối bởi ba hệ tư tưởng chính là Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo. Trong đó, Nho và Đạo là hai tôn giáo có nguồn gốc bản địa, còn Phật giáo lại được du nhập từ Ấn Độ. Qua quá trình lịch sử lâu dài, ba hệ tư tưởng Nho, Đạo, Phật đã cấu thành quan hệ tam giác và phát triển cùng với nhau. Không chỉ ảnh hưởng đến đời sống, văn hóa, xã hội… mà ba hệ tư tưởng này còn có ảnh hưởng lớn đến văn học Trung Quốc, đặc biệt ảnh hưởng đối với tiểu thuyết võ hiệp là khá toàn diện và sâu sắc. Những ảnh hưởng đó thể hiện trên nhiều bình diện từ ý thức hệ tư tưởng đến cảm hứng sáng tác, từ kiểu thức tư duy, triết lý, cách nhìn nhận con người và xã hội đến tổ chức kết cấu tác phẩm, quá trình xây dựng hình tượng nhân vật... Phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ được truyền vào Trung Quốc từ những năm đầu Công nguyên, được lưu truyền và phát triển cho đến nay đã thúc đẩy sự phát triển của triết học, luân lí học, văn học, nghệ thuật… của nước này. Tuy nhiên, với đặc điểm của mỗi nước mỗi khác, Phật giáo muốn tồn tại ở Trung Quốc – vốn là một đất nước đã có hai hệ tư tưởng truyền thống là Nho và Đạo phát triển lớn mạnh – thì nó phải thích ứng với tâm lí, tư tưởng, tình cảm, tập quán và yêu cầu của nhân dân Trung Quốc. Phật giáo khi đặt chân lên đất nước này đã kết hợp với truyền thống, hay nói khác đi là được “Trung Quốc hóa”, từ đó mà có những sự bổ sung cho văn hóa truyền thống và trở thành một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa này. Vì vậy mà “Phật giáo Trung Quốc đến từ Ấn Độ, mang nét đặc biệt về Ấn Độ, nhưng bộc lộ khí chất của Trung Quốc. Phật giáo hai nước Trung Quốc, Ấn Độ, khác nhau về mặt hình thức và nội dung” [8, tr.328]. Ảnh hưởng của Phật giáo ở Trung Quốc rất rộng rãi, hầu như trong tất cả các mặt, trong đó có văn học. Việc lưu truyền trực tiếp điển tích của Phật giáo đã tạo thuận lợi cho việc phá vỡ sự trói buộc trong đề tài truyền thống của tiểu thuyết. Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc hầu hết đều chịu ảnh hưởng về nội dung tư tưởng và tình tiết câu chuyện của Phật giáo như Sưu thần kí (Can Bảo), U Minh lục (Lưu Nghĩa Khánh), Tây du kí (Ngô Thừa Ân), Phong thần diễn nghĩa (Hứa Trọng Lâm), Tam quốc diễn nghĩa (La Quán Trung), Hồng lâu mộng (Tào Tuyết Cần)… Tiểu thuyết võ hiệp tuy ra đời vào thời cận đại vẫn tiếp tục chịu nhiều ảnh hưởng từ tư tưởng của Phật giáo. Phật giáo cho rằng: “Mượn tứ đại (đất, nước, lửa, gió) làm thân thể, tâm vốn vô mà sinh ra có, cảnh giới trước mặt như không, tâm cũng không, họa phúc như ảo mộng, có rồi lại không”, hay quan niệm: “Ba cõi đều hư ảo, chỉ có tâm là duy nhất, sinh tử, Niết Bàn đều không ra ngoài tâm” [36, tr.307]. Hiệp khách là người sống bằng đao kiếm, hiến mình cho võ đạo, vậy nên họ sẵn sàng “tử vì đạo”, hi sinh thân mình để bảo vệ “đạo”. “Ngoài những cảnh ngộ mà tạo hóa đã an bài ra còn hàm chứa một thứ lí tưởng tinh thần, mà thứ tinh thần này phải trải qua rất nhiều khổ nạn mới thực chứng được sự hư vô của nó” [36, tr.308]. Đời người sinh sinh tử tử, trong sinh có tử, trong tử có sinh, công danh, tiền tài, địa vị,… chỉ như khói mây, có đấy nhưng cũng sẽ mất đi, tất cả chỉ là hư vô. Vậy hà tất phải tranh giành nhau làm gì, chi bằng sống phiêu diêu tự tại và tự do giữa cuộc đời. Hiệp khách là những con người như vậy. Phật giáo cũng nói: “Chúng sinh sống chết lưu truyền có quan hệ nhân quả (…). Bất cứ một sinh mệnh có hình thức, trước khi chưa có được sự giải thoát đều phải theo luật nhân quả” [8, tr.112]. Cái “quả” ở đời này là do cái “nhân” ở đời trước. Luật nhân quả của Phật giáo đã ảnh hưởng đến sự phát triển tình tiết và số phận các nhân vật trong tiểu thuyết võ hiệp. Biểu hiện của quan niệm nhân quả này là ân cừu triền miên của hiệp khách. Ân cừu ấy có thể do hiệp khách tự gây ra, nhưng cũng có thể do đời trước (cha, mẹ, ngoại, nội...) đem đến, thế là hiệp khách phải dành thời gian, công sức… cả một đời để thực hiện cho được việc báo ân báo oán ấy, không sao tránh được. Rồi đến đời sau, đời sau nữa, ân oán lại chất chồng ân oán, “oan oan tương báo, bao giờ tiêu tan”. Những mối ân cừu triền miên ấy đã tạo nên kịch tính cho tình tiết của tiểu thuyết võ hiệp và càng làm tăng thêm mỹ bi kịch cho số phận nhân vật. Tuy nhiên, Phật giáo cũng bảo rằng: “Làm thiện thì được thiện báo, làm ác thì có ác báo, chẳng phải là không báo mà là chưa đến lúc”. Quan niệm này khuyên người ta nên làm việc thiện, như vậy mới có được kết quả tốt lành. Điều này cũng được thể hiện ở kết cục số phận của các nhân vật trong tiểu thuyết võ hiệp. Phật giáo là một tôn giáo lớn nên có rất nhiều tín đồ. Những tín đồ của Phật giáo như ni cô, hòa thượng,… thường xuất hiện trong tiểu thuyết võ hiệp với võ công cao cường và nhân cách cao thượng, trở thành những nhân vật chỉ đường cho những nhân vật khác ra khỏi bến mê, phán xét thị phi, hóa giải ân cừu. Quan niệm nhà Phật coi cái chết là nơi trở về, an tĩnh tự nhiên, không còn oán hận lo âu. Hiệp khách chịu ảnh hưởng của quan niệm này nên không hề sợ chết, nhất là những tăng ni thì đều bình tĩnh trước cái chết. Tình nghĩa bạn bè, chính nghĩa ở đời, hiệp nghĩa giang hồ, tình yêu… đối với người hiệp khách còn quý hơn cả sinh mệnh. Hiệp khách không sợ chết mà chỉ sợ chết một cách vô nghĩa, không có giá trị gì vì họ hi vọng lấy cái chết để khẳng định giá trị sinh mệnh, “hổ chết để da, người chết để tiếng”. Sự bình tĩnh, ung dung trước cái chết là một trong những đặc trưng tính cách của hiệp khách. Đạo giáo là tôn giáo có nguồn gốc bản địa. Thời điểm Đạo giáo chính thức xuất hiện dưới danh nghĩa là một tôn giáo là vào khoảng cuối Đông Hán – Ngụy Tấn. Đạo giáo bắt nguồn từ thuật phù thủy và phương thuật thần tiên lưu hành trong thời cổ đại ở Trung Quốc. Do tư tưởng Hoàng Lão (Hoàng đế - Lão Tử) hay tư tưởng Đạo gia, vu thuật và khát vọng “trường sinh bất tử” đã dẫn đến hình thành tôn giáo này. Đạo giáo hình thành qua một quá trình lâu dài, tiếp nhận nhiều trào lưu thượng cổ khác, đặc biệt là những tư tưởng đã phổ biến từ thời nhà Chu. Thuộc về những tư tưởng này là vũ trụ luận về thiên địa, ngũ hành, thuyết về năng lượng, chân khí, thuyết âm dương và Kinh Dịch. Ngoài ra, những truyền thống tu luyện thân tâm như điều hòa hơi thở, Thái cực quyền, khí công, Thiền định, thiết tưởng linh ảnh, thuật luyện kim và những huyền thuật cũng được hấp thụ với mục đích đạt trường sinh bất tử. Đạo giáo tiếp thu tư tưởng “thiên đạo tự nhiên” và “nhân đạo vô vi” của Đạo gia, kết hợp với các phương pháp dưỡng khí, dưỡng tâm của Trung Quốc cổ đại, từ đó đề xuất một hệ thống lí luận về “dưỡng sinh” nhằm thỏa mãn dục vọng “trường sinh bất tử” của con người trong thế giới hiện thực. Như vậy, Đạo giáo chủ trương coi trọng cuộc sống trần thế, tin rằng nhờ tu luyện mà có thể “trường sinh bất tử”, hưởng niềm vui sống ngay trên thế gian này. Do đó dân gian thường gọi Đạo giáo là đạo “tu tiên”. Đích tối cao mà các tín đồ khổ công tu luyện để đạt tới là đắc đạo thành tiên, thoát li cuộc sống phàm tục, vượt ra ngoài không gian và thời gian, có thể cưỡi mây lướt gió, thần thông biến hóa, trường sinh bất tử, tiêu dao nơi tiên cảnh. Các giáo phái của Đạo giáo đều giống nhau ở tín ngưỡng cơ bản và mục đích tu luyện, nhưng cách thực hành thì khác nhau. Có phái thì thực hành tiêu trai (tức là thể thức cúng tế), hành khí, đạo dẫn, tồn thần, thủ nhất… (gọi chung là luyện hình); có phái thì chế biến đan dược (bằng các thứ chu sa, diên, hống, các dược thảo...) làm thuốc trường sinh ăn vào để thành tiên (ngoại đan); phái này vận dụng nội công hấp khí đại tiểu chu thiên (nội đan); phái khác dùng phù lục, bùa chú, cầu đảo, pháp thuật… (gọi chung là phù lục). Những người theo Đạo giáo được gọi là các đạo sĩ. Với hoàn cảnh xã hội tao loạn, điêu linh trong cơn binh lửa, nhân dân đã quá ngao ngán trước thế cuộc nhiễu nhương và băn khoăn, đau xót về thân phận phù du của kiếp người, Đạo giáo ra đời như một điểm tựa tâm linh cho quần chúng. Đạo giáo đã chỉ ra cho chúng ta thấy rằng: con người có rất nhiều những hoài bão, ước mơ, lí tưởng cao đẹp nhưng khó lòng đạt tới; đời người sinh sinh tử tử, có biết bao khổ nạn, bao khốn cảnh con người không thể nào tránh khỏi trong thế giới hiện thực (hay thế giới vật chất), vậy thì tại sao không thực hiện những điều ấy trong thế giới tinh thần? Ta không thể có tự do về vật chất, vậy thì hãy tìm đến tự do về tinh thần. Trong thế giới tinh thần ấy, con người có thể tha hồ thực hiện những mộng tưởng của mình. Trên ý nghĩa đó, tiểu thuyết võ hiệp đã “đem lại cho chúng ta một thế giới tinh thần có thể kí thác tâm tình” và “đạt được một thứ tự do tinh thần và hoàn chỉnh cá tính” [36, tr.301-302]. Tiểu thuyết võ hiệp đã xây dựng nên một cảnh giới nhân sinh tự do siêu thoát, phóng túng khoáng đạt của các hiệp khách. Đạo gia nói: “Bậc Chân nhân không trái với ai dù là thiểu số, không cầu công, không cầu danh, người như vậy, mất không tiếc, được không mừng” (Cổ chi Chân nhân bất nghịch quả, bất hùng thành, bất mộ sĩ. Nhược nhiên giả, quá nhi bất hối, đương chi bất tại đắc dã); họ “không ưa sống, không ghét chết, lúc ra không hăm hở, lúc vào không do dự, thản nhiên mà đến, thản nhiên mà đi. Không quên lúc bắt đầu, không cần lúc sau chót” [12, tr.38-39]. Vì vậy, người hiệp khách trong tiểu thuyết võ hiệp thường là những người coi thường công danh, coi rẻ sự phàm tục, không ham cao sang quyền quý, thậm chí được làm ăn mày (như những người trong Cái Bang) cũng là một vinh dự. Họ thích sống tự do thoải mái, tôn trọng cá tính và sở thích của chính mình, “thà đùa nghịch thoải mái trong ngòi nước đục chứ không để quốc gia trói buộc” [36, tr.302]. Hiệp khách tiêu dao tự tại, sống với gió núi mây ngàn, nhưng khi thấy chuyện bất bình thì sẵn sàng ra tay cứu giúp, không hề nghĩ đến thiệt thòi cho bản thân. Họ quan niệm “tề sinh tử” (sống chết như nhau) nên đối với họ “cái chết nhẹ tựa lông hồng”. Lão Tử có viết: “Vận động của đạo là trở về” (phản giả, đạo chi động) [36, tr.302]. Khác với tiểu thuyết cổ điển có sự phân biệt tuyệt đối, rạch ròi giữa chính và tà, trong tiểu thuyết võ hiệp, nhất là trong tiểu thuyết Kim Dung, không hề có tiêu chuẩn tuyệt đối này. Vạn vật đều biến hóa vô cùng, sự việc lúc này là vậy nhưng lúc kia lại khác đi, không còn là nó ban đầu nữa. Vì vậy, trong chính có tà, trong tà có chính, chính tà lẫn lộn, lúc này là tà thì có thể sau này lại là chính, lúc đầu là chính chưa chắc sau này không thể là tà. Kẻ xấu hay người tốt chỉ là do cách nhìn của ta mà thôi, do đó không nên chấp nhất ở hình thức bên ngoài. Trong thế giới hiện thực, con người không thể thực hiện được những điều mình muốn vì khả năng của con người là có hạn. Chính vì ước muốn là vô hạn mà khả năng lại có hạn nên con người từ lúc mới sinh ra đã đau khổ và bế tắc. Đạo gia đã cho thấy khả năng của con người có thể đạt tới được cảnh giới cao siêu hơn qua việc tu luyện: “Lên cao không sợ, xuống nước không ướt, vào lửa không cháy”, “ngủ không mộng mị, thức không lo âu… Hơi thở của Chân nhân thì thấm đến gót chân” [12, tr.39], “thoát tục ngao du đây đó, sống cùng núi rừng trời đất trăng sao, người đó coi như Thần Tiên” [12, tr.44], “Kẻ chí nhân, lặn dưới nước không ngạt, nhảy vào lửa không nóng, đi trên vạn vật mà không run” [36, tr.304]. Tiếp thu ảnh hưởng này của Đạo gia, tiểu thuyết võ hiệp đã để cho trí tưởng tượng của con người thỏa sức tung bay và tìm thấy niềm an ủi lớn trong việc tạo ra một thế giới với những con người có võ công thâm hậu, có thể đi mây về gió, thoắt ẩn thoắt hiện, sức một người có thể địch nổi vạn người… Đạo gia phân ra nhiều giáo phái với các cách tu luyện khác nhau nên trong tiểu thuyết võ hiệp cũng phân ra nhiều giáo phái (như phái Võ Đang, phái Tiêu Dao, phái Toàn Chân…) và ảnh hưởng của Đạo gia trong tiểu thuyết võ hiệp chủ yếu biểu hiện ở cảnh giới võ công. Đạo gia chủ trương: “Đạo thông là một, nó phân chia ra mà thành, khi đã thành cũng là khi hủy diệt. Phàm sự thành và hủy của vạn vật lại trở về thống nhất làm một” [36, tr.304]. Đối với võ công, nắm vững “đạo” là điều chủ yếu, chiêu thức là ở thứ yếu. Đã thông một thì sẽ thông một trăm. Trong tiểu thuyết võ hiệp, hầu như ai đã luyện tập võ công thì đều muốn đạt tới cảnh giới tối cao, nhưng ít người làm được điều ấy. Đơn giản vì họ quan tâm nhiều đến chiêu thức mà bỏ mất cái “đạo” kia nên không ít kẻ bị “tẩu hỏa nhập ma”, còn những hiệp khách chân chính một khi đã nắm vững “đạo” thì lại tiến triển một cách dễ dàng và đạt đến cảnh giới chỉ trong một thời gian ngắn, có khi chỉ trong tích tắc mà thôi. Đạo gia cũng nêu ra những cách thức tu luyện để đạt được cảnh giới siêu phàm và gọi đó là tu luyện Đạo giáo thần tiên như: luyện nội đan và ngoại đan. Luyện nội đan là luyện tinh thành khí, luyện khí thành thần, luyện thần trở về hư vô (tức trở về Đạo), hành khí, bát đạo cẩm, Thái cực quyền, khí công, dưỡng sinh… Bởi vậy, hiệp khách trong tiểu thuyết võ hiệp muốn có võ công cao cường phải thường xuyên rèn luyện thân thể, học tập võ công… để đạt đến cảnh giới võ công cao siêu để hành tẩu giang hồ. Trong luyện nội đan, Đạo giáo cũng cho rằng:
- Xem thêm -