Cái tôi trữ tình trong tập thơ những bông hoa không chết của lưu quang vũ

  • Số trang: 51 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 23 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc PHẦN MỞ ĐẦU I. Lí do chọn đề tài Lưu Quang Vũ đã ra đi trọn hai mươi năm (1988 – 2008). Hai mươi năm chưa đủ để đi hết nửa đời người, nhưng đã là một quãng thời gian dài cho người sau nhìn lại và đánh giá một sự nghiệp văn chương một cách chín chắn hơn, trọn vẹn hơn. Lưu Quang Vũ nổi tiếng nhờ kịch, có thể nói, anh là một trong những nhà viết kịch lớn nhất của nghệ thuật kịch Việt Nam. Từ khi Lưu Quang Vũ bước vào làng kịch Việt Nam đến ngày anh ra đi, hơn năm mươi vở kịch đã được viết, đã trở thành tài sản vô giá của nền sân khấu dân tộc, trong đó, hàng chục vở đã đạt Huy chương vàng hội diễn sân khấu toàn quốc. Anh đã từng được mệnh danh là “Moliere ở Việt Nam”. Thế nhưng, không hẹn mà gặp, nhiều nhà nghiên cứu cùng đồng tình với Anh Ngọc ở điểm này: “Có người khẳng định vinh quang của anh là ở kịch, nhưng riêng tôi, tôi vẫn cho rằng Vũ là một nhà thơ nhiều hơn và anh sẽ tồn tại với mai sau như một nhà thơ”. Kỉ niệm hai mươi năm ngày mất của vợ chồng Lưu Quang Vũ – Xuân Quỳnh, người ta nhớ câu nói ngậm ngùi của nhà văn Nguyễn Khắc Phục: "Đi hết đường thơ, Lưu Quang Vũ sẽ trở thành nhà thơ vĩ đại nhất của thời đại mình". Những gì mà Lưu Quang Vũ để lại cho nền thi ca Việt Nam hiện đại đã cho thấy sự tài hoa, những phẩm chất độc đáo tuyệt vời của một tâm hồn thơ giàu xúc cảm. Thế nhưng, do cái bóng của chính anh quá lớn, bị phần kịch che khuất, phần thơ của Lưu Quang Vũ còn là một bí ẩn chưa được nhìn nhận đầy đủ trong nghiên cứu phê bình. Sự nghiệp thơ Lưu Quang Vũ quả thực là đồ sộ. Tập thơ đầu tay của Lưu Quang Vũ in chung với Bằng Việt - Hương cây – bếp lửa - ra đời đã là một hiện tượng đẹp của văn học nước nhà. Năm đó Lưu Quang Vũ mới chỉ tròn hai mươi tuổi. Sau đó, dẫu sáng tác rất nhiều, mãi đến khi anh qua đời, các tập Mây trắng của đời tôi (1989) và Bầy ong trong đêm sâu (1993) mới được gia đình và bạn hữu tiến hành xuất bản. Sau đó là tập Lưu Quang Vũ – Thơ và đời (1997). Tuy Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 1 Trường ĐHSP Hà Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc nhiên, đó chưa phải là toàn bộ sáng tác thơ của Lưu Quang Vũ. Nhân dịp kỉ niệm 60 năm sinh và 20 năm mất của Lưu Quang Vũ, gia đình anh đã cho công bố một phần di cảo thơ và nhật kí mà anh để lại với tập Lưu Quang Vũ – Di cảo, gồm có: nhật kí: Mùa hoa phượng và nhật kí lên đường và thơ: Những bông hoa không chết. Có thể nói, đây là một phần di nghiệp rất quý báu của Lưu Quang Vũ, cho chúng ta một cái nhìn cụ thể hơn, sâu sắc hơn về sự nghiệp sáng tác thi ca cũng như những tâm tư tình cảm của nhà thơ lớn này. Yêu mến và thực sự xúc động trước sự nghiệp văn chương của nhà thơ – nhà viết kịch Lưu Quang Vũ để lại, chúng tôi lựa chọn đề tài: Cái tôi trữ tình trong tập thơ Những bông hoa không chết của Lưu Quang Vũ để đi sâu tìm hiểu cái tôi trữ tình trong tập thơ này, từ đó góp phần làm sáng rõ thêm chân dung một Lưu Quang Vũ – nhà thơ bên cạnh Lưu Quang Vũ – nhà soạn kịch. II. Lịch sử vấn đề Về cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ, từ trước đến nay, có một số nhà nghiên cứu đã có sự quan tâm chú ý. Trong đó phải kể đến bài viết của các nhà nghiên cứu sau: 1. Vũ Quần Phương với bài Đọc thơ Lưu Quang Vũ. Trong bài viết này, ông đã quan tâm đến một số đặc điểm của thơ trữ tình của Lưu Quang Vũ, gọi tên nó lên với những tên gọi có tính chất cảm nhận trong từng chặng đường sáng tác, ví như, thơ Lưu Quang Vũ “diễn đạt tinh vi được một tâm trạng mà tâm trạng đang cảm xúc cao độ những gì mà nó đang sống”, “cách nhìn đời hồn hậu, lạc quan, phía nào cũng thấy sự hài hòa ưu ái”, “những cảm xúc tươi trong”, “một giọng thơ đắm đuối”… Trong đó có những nhận định đã chạm được đến một vài nét của cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ. Đặc biệt, tác giả này đã nhìn thấy khá rõ những chuyển biến của thơ Lưu Quang Vũ qua những giai đoạn sáng tác khác nhau, ví như trong khoảng 2 năm từ 1971-1972: thơ Lưu Quang Vũ “già đi” trước cuộc đời, “mang rất nhiều dằn vặt, nhiều nghĩ ngợi chiêm nghiệm, có phấn đấu và cũng có thất vọng”. Đặc biệt, Vũ Quần Phương đã nhận Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 2 Trường ĐHSP Hà Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc ra, trong những năm đó, Lưu Quang Vũ “nhận thức xã hội sâu lên nhiều, nhất là anh nhận thức ra chính anh, khám phá ra chính anh”. Sau Vũ Quần Phương có thể kể đến nhà nghiên cứu văn học Phạm Xuân Nguyên với bài viết Lưu Quang Vũ - tâm hồn trở gió. Trong bài viết này, nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên đã có những cảm nhận rất sâu sắc về thơ Lưu Quang Vũ, nhận ra một số điểm cơ bản trong thơ Lưu Quang Vũ, đặc biệt là những cảm nhận tinh tế và khá chính xác trong việc nhận chân cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ trong thơ: “Như con tàu luôn bồn chồn ra đi. Thơ anh tất bật, hối hả như đời anh, suốt đời vội đi, suốt đời nóng ruột… Cảm hứng mạnh nhất trong thơ anh là cảm hứng khai phá, tìm kiếm, dẫu sau vô biên sẽ chỉ có vô biên.” Công trình nghiên cứu về cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ, từ trước đến nay, chỉ có khóa luận của Hà Thị Hạnh - Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ giai đoạn 1971-1973 - là đi nghiên cứu công phu và tỉ mỉ về cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ. Trong công trình này, tác giả đã đi khảo sát tác phẩm đã công bố của Lưu Quang Vũ trong các tập Hương cây, Mây trắng của đời tôi, Bầy ong trong đêm sâu, Lưu Quang Vũ – thơ và đời. Tuy nhiên, trọng tâm nghiên cứu của công trình này chỉ là đi sâu tìm hiểu khảo sát cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ ở một giai đoạn có tính chất bước ngoặt trong đời thơ của anh: năm 1971-1973. Những thành tựu của các bài viết, công trình nghiên cứu này có ý nghĩa lớn lao cho chúng tôi định hướng trong quá trình tìm hiểu, khảo sát, nghiên cứu về cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ. Năm 2008, nhân dịp kỉ niệm 20 năm ngày mất của vợ chồng Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ, gia đình anh đã cho công bố phần di cảo còn lại của anh trong tập Lưu Quang Vũ – di cảo gồm có Nhật kí: Mùa hoa phượng và nhật kí lên đường và thơ: Những bông hoa không chết. Chúng tôi nhận thấy rằng, vừa gồm cả nhật kí, vừa gồm thơ, tập di cảo có giá trị sâu sắc cho chúng ta trong việc Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 3 Trường ĐHSP Hà Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc khám phá những suy tư, những cảm nhận của Lưu Quang Vũ về cuộc đời và nghệ thuật. Như vậy, hành trình đi tìm cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ lại đặt ra thêm một nhiệm vụ quan trọng. Trong bài tập niên luận này, chúng tôi tự đặt cho mình nhiệm vụ đó: đi sâu tìm hiểu, khám phá cái tôi trữ tình trong tập Những bông hoa không chết của Lưu Quang Vũ để góp thêm một góc nhìn, một cách khám phá về chân dung thơ Lưu Quang Vũ, ngõ hầu dựng lại được một gương mặt thơ còn bị che khuất và chưa được quan tâm đúng mức. III. Giới hạn đề tài và nhiệm vụ nghiên cứu Bài tập niên luận này sẽ nghiên cứu trong giới hạn văn bản tập Lưu Quang Vũ - Di cảo (NXB Lao động – H.2008) với phần thơ Những bông hoa không chết, bên cạnh đó sẽ có sự so sánh với tập Lưu Quang Vũ – thơ và đời (NXB Văn hóa thông tin)– một tuyển tập tập hợp khá đầy đủ tác phẩm thơ của Lưu Quang Vũ – và tham khảo ý kiến, đánh giá của những nhà nghiên cứu có tìm hiểu và phê bình, phân tích thơ Lưu Quang Vũ. Trong bài tập này, chúng tôi sẽ tiến hành các công việc sau: Tìm hiểu sơ bộ về cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ nói chung. Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ đi sâu vào phần thơ Những bông hoa không chết trong tập Di cảo này, tìm hiểu, nghiên cứu, đưa ra những nhận định và ý kiến về cái tôi trữ tình trong tập thơ này. IV. Phương pháp nghiên cứu Trong bài tập này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: 1. Phương pháp phân tích 2. Phương pháp so sánh 3. Phương pháp khảo sát thống kê Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 4 Trường ĐHSP Hà Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I LƯU QUANG VŨ – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP I. Cuộc đời Lưu Quang Vũ sinh ngày 17 – 4 – 1948 tại huyện Hạ Hòa – tỉnh Phú Thọ, cũng là nơi Lưu Quang Vũ sẽ sống những năm tháng đầu tiên của tuổi thơ cho đến ngày hòa bình lập lại chuyển về Hà Nội. Về Hà Nội, gia đình Lưu Quang Vũ sống nhờ một người bà con trong một tòa nhà ở phố Trần Quang Khải, về sau chuyển về căn phòng 96A Phố Huế. Đây là căn phòng Lưu Quang Vũ đã lớn lên, “sống suốt thời thơ ấu, trải qua thời thanh niên lận đận, đã trở thành nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, đã sống những ngày cuối của đời mình” (Hồi ức của bà Vũ Thị Khánh – mẹ Lưu Quang Vũ). Theo gia đình anh kể lại, Vũ sớm có tư chất nghệ thuật. Năm 1961, mới 13 tuổi, Lưu Quang Vũ đã có truyện ngắn Đám trẻ con làng Á được in, giành giải thưởng của thành phố. Có một người cha rất say mê văn chương truyền cho tình yêu với nghệ thuật từ thưở bé, tài năng Lưu Quang Vũ ngày càng phát lộ trên nhiều lĩnh vực. Năm 1965 – mới 17 tuổi – Lưu Quang Vũ nhập ngũ. Lưu Quang Vũ có hai đời vợ. Lần thứ nhất, anh lấy vợ là diễn viên điện ảnh Tố Uyên – cô diễn viên tài hoa nổi tiếng với vai diễn trong phim Con chim vành khuyên. Hai người có một người con là Lưu Minh Vũ. Sau đó, rời quân ngũ, chưa có việc làm, hạnh phúc riêng lỡ dở, Lưu Quang Vũ chia tay với Tố Uyên. Đây là những năm tháng vô cùng khó khăn của cuộc đời anh. Năm 1973, Lưu Quang Vũ lấy nữ sĩ Xuân Quỳnh – “người bạn đường” sẽ cùng anh chia ngọt sẻ bùi, là người nâng đỡ anh trên những chặng đường sáng tạo suốt mười lăm năm còn lại của đời anh, cũng là người đi theo anh đến tận hơi thở cuối cùng của cuộc đời. Mười lăm năm sống cùng Xuân Quỳnh là giai Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 5 Trường ĐHSP Hà Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc đoạn Vũ bước vào làng kịch, cống hiến cho kịch, tiếp tục viết thơ, truyện ngắn, để lại cho đời một sự nghiệp sáng tác quý giá, đồ sộ. Ngày 29 – 8 – 1988, trên một chuyến xe từ Hải Phòng về Hà Nội, ba người trong gia đình anh (Lưu Quang Vũ – Xuân Quỳnh – Lưu Quỳnh Thơ) đã cùng tử nạn. Lưu Quang Vũ ra đi khi sự nghiệp và tài năng đang độ chín, để lại tiếc thương vô hạn cho bạn bè, đồng nghiệp, tất cả những ai quý mến và kính trọng tài năng của anh. II. Sự nghiệp sáng tác Sinh ra và lớn lên trong bom đạn chiến tranh, Lưu Quang Vũ có một cuộc đời không bình yên. Sự không bình yên đó không chỉ đến từ hoàn cảnh đất nước. Cuộc đời Lưu Quang Vũ cũng gặp phải những trắc trở khổ đau, nhất là trong tình yêu. Hơn thế, bản ngã nghệ thuật của một người nghệ sĩ lớn cũng không lúc nào cho anh nguôi yên trong khát vọng sáng tạo không ngừng. Vượt qua mọi nỗi đau, mọi khó khăn của cuộc đời, Lưu Quang Vũ đã theo đuổi nghệ thuật một cách bền bỉ, dai dẳng, đầy trách nhiệm và tin tưởng. Sự nghiệp nghệ thuật mà anh để lại là bằng chứng hùng hồn cho những nỗ lực lớn lao và bản ngã thiên tài của một nhà thơ – một nhà soạn kịch tài hoa. Sinh thời, Lưu Quang Vũ sáng tác trên rất nhiều lĩnh vực: viết truyện ngắn, thơ, viết kịch, chân dung diễn viên, phê bình sân khấu… Sự nghiệp anh tuy trên nhiều lĩnh vực nhưng cô đọng nhất có lẽ là ở kịch và thơ. Năm 1980, Lưu Quang Vũ bước vào làng kịch. Cho đến năm 1988, khi Lưu Quang Vũ qua đời, sự nghiệp viết kịch của anh đã rất dày dặn với hơn 50 vở, trong đó, hàng chục vở đã đạt Huy chương vàng hội diễn sân khấu toàn quốc, đã được dàn dựng hàng trăm lần. Lưu Quang Vũ từng được mệnh danh là “Moliere ở Việt Nam”. Tuy nhiên, bên cạnh một Lưu Quang Vũ – nhà viết kịch tài năng đã được hiển nhiên công nhận còn là một Lưu Quang Vũ – gương mặt thơ độc đáo. Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 6 Trường ĐHSP Hà Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc Tập thơ đầu tiên của Lưu Quang Vũ – Hương cây – in chung với Bằng Việt trong Hương cây bếp lửa – đã trở thành một hiện tượng đáng quan tâm của văn học nước nhà. Các nhà nghiên cứu phê bình đã nhận xét: “chỉ riêng hai mươi bài trong tập này thôi, Lưu Quang Vũ đã là một trong những đỉnh cao của thơ ca chống Mĩ và vẫn là một hồn thơ được nhiều ưu ái nhất” (Vũ Quần Phương). Sau đó, Lưu Quang Vũ vẫn sáng tác rất nhiều. Anh viết thơ như một cách viết nhật kí, viết để kí thác nỗi niềm tâm sự, viết mặc dầu bị từ chối in trong điều kiện khách quan thời đó, viết chỉ để thỏa mãn duy nhất một nhu cầu là được sáng tạo – theo ý nghĩa chân chính nhất của từ “sáng tạo nghệ thuật”. Thơ Lưu Quang Vũ viết những ngày đó chỉ “sống im lặng trong sổ tay và trí nhớ bạn bè” nhưng đã được tất cả những người phê bình sành sỏi và tinh đời nhất công nhận, ví như Hoài Thanh từng nhận xét: “đúng nó là vàng thật, đúng nó là thơ” khi đọc những bài thơ của anh. Nhà thơ Vũ Quần Phương thì cho rằng, dù ở lĩnh vực sáng tác nào, cốt cách của anh vẫn là “cốt cách thi sĩ”, và “về lâu dài, sự đóng góp của Lưu Quang Vũ về thơ còn lớn hơn về kịch”. Sau này, khi Lưu Quang Vũ đã ra đi, những tập thơ tiếp theo mới được biên soạn và công bố: Mây trắng của đời tôi (1989), Bầy ong trong đêm sâu (1993), sau đó là tập Lưu Quang Vũ – Thơ và đời (1997). Năm 2008, nhân kỉ niệm 20 năm ngày mất của vợ chồng Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh cùng con trai Lưu Quỳnh Thơ, gia đình anh đã cho công bố thêm một phần di cảo còn lại của sự nghiệp sáng tác Lưu Quang Vũ: tập Lưu Quang Vũ – di cảo trong đó có một phần nhật kí của anh những năm còn ngồi trên ghế nhà trường: Mùa hoa phượng và nhật kí lên đường và thơ viết từ năm 1971 - 1975: Những bông hoa không chết. Tập di cảo dày dặn, cho bạn đọc thêm những cứ liệu để từ đó nhìn nhận và đánh giá sự nghiệp thi ca cũng như những quan niệm về nghệ thuật và cuộc đời của Lưu Quang Vũ một cách rõ nét hơn, đầy đủ hơn. Riêng phần thơ, đây là phần Lưu Quang Vũ sáng tác trong những năm cận kề ngày hòa bình lập lại Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 7 Trường ĐHSP Hà Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc (1971 – 1975), cho chúng ta thấy những nét độc đáo trong sáng tác của Lưu Quang Vũ những năm trong chiến tranh giữa bối cảnh chung của văn học chống Mỹ. Có thể nói, tuy đây chưa phải là những bài thơ hay nhất nhưng chỉ riêng với phần thơ trong tập di cảo này, chúng ta đã có một cái nhìn khá đầy đủ về thơ Lưu Quang Vũ – về những cảm hứng chủ đạo, giá trị độc đáo và đặc biệt là cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ ở một giai đoạn. III. Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ Lưu Quang Vũ – trước khi là một nhà soạn kịch, một nhà văn, một nhà thơ thì đã là một nhà nghệ sĩ từ trong cốt cách, trong bản ngã. Đọc những trang nhật kí ngày anh mới 15, 16 tuổi trong tập di cảo, chúng ta đã nhận rõ điều ấy. Cũng với một bản ngã nghệ sĩ độc đáo và đặc trưng ấy, bước vào thi ca, cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ cũng đặc biệt và nổi bật trong nền thơ ca chống Mỹ. Cái tôi trữ tình – bản thân nó là một cách nhìn, một thái độ, là cảm xúc của chủ quan người nghệ sĩ trước cuộc đời được kí thác bằng những phương tiện nghệ thuật riêng biệt mang dấu ấn đậm nét của nhà sáng tạo. Với Lưu Quang Vũ – một con người luôn không hòa lẫn giữa mọi người, một bản năng nghệ thuật luôn tách biệt khỏi những khuynh hướng chung, phủ nhận mọi sự lí tưởng hóa để tìm về một chân lí bất diệt phía trước của nhân loại – cái tôi trữ tình trong thơ anh lại càng hiện lên sắc sảo, sống động. Có thể nói, bắt rễ từ cái tôi nhà thơ đầy cá tính, cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ mang những giá trị riêng giữa giá trị chung của nền thơ trẻ chống Mĩ lúc bấy giờ. Lưu Quang Vũ bắt đầu sáng tác thơ từ năm anh còn rất ít tuổi và sự nghiệp sáng tác đó còn kéo dài đến cuối cuộc đời anh. Trong suốt con đường dài và nhiều trăn trở ấy, có thể thấy, thơ Lưu Quang Vũ luôn có sự vận động, đổi thay. Tiếp nhận quan điểm của tác giả Hà Thị Hạnh trong công trình nghiên cứu Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ giai đoạn 1971-1973, chúng tôi chia hành trình thơ Lưu Quang Vũ ra làm ba giai đoạn: 1. Từ năm 1963-1970 Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 8 Trường ĐHSP Hà Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc 2. Từ năm 1971-1973 3. Từ năm 1974-1988 Ba chặng đường thơ, đánh những dấu mốc trưởng thành trong thơ Lưu Quang Vũ không chỉ về nội dung mà còn về phương thức biểu hiện. Cái tôi trữ tình trong ba chặng đường đó cũng có những thay đổi lớn lao. Sự thay đổi vận động đó có thể được khái quát thành những điểm lớn như sau: 1. Từ năm 1963 đến năm 1970, cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ là cái tôi giàu cảm xúc tin yêu, mơ mộng với cuộc đời, giọng thơ “nồng nàn đắm đuối”. 2. Từ 19711973, giai đoạn này đánh dấu sự trưởng thành của cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ, trong đó, những cảm xúc mộng mơ và tin yêu đã dần khuất lấp, nhường chỗ cho những hoài nghi, trăn trở trước cuộc đời và nghệ thuật. Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ giai đoạn này đã không còn là một cái tôi nhiều tin tưởng đắm say mà đã chín chắn hơn, dữ dội hơn, một cái tôi sẵn sàng dấn thân và trải nghiệm. Giai đoạn thơ này thể hiện một cái tôi tỉnh thức, cái tôi cảm nhận sâu sắc về thân phận mình. 3. Từ 1974-1988, cái Tôi trữ tình Lưu Quang Vũ lại có một bước chuyển mới, từ chỗ hoài nghi, nhiều cay đắng hoang mang sang một cái Tôi đã tìm thấy lối thoát cho mình, một cái tôi trở lại với đời thường nhiều say mê và tin tưởng. Nó không phải là cái say mê và tin tưởng của những năm tháng đầu tiên mộng mơ đắm đuối. Nó là cái say mê và tin tưởng bởi đã nhận thức ra những lối sáng cho mình và cho đời. Đó là một cái tôi hồi sinh trong một cảm hứng mới, cái tôi nhận thức, triết lí, khám phá đời sống từ những góc nhìn độc đáo của riêng mình. Đây cũng là chặng đường mà cái tôi đó thật khó có thể “chỉ mặt đặt tên”, “một khái niệm là không đủ”. Cái tôi thế sự - đời tư đã chen lẫn với cái tôi sử thi, thế nhưng cái tôi sử thi đó lại cũng không giống với những cái tôi sử thi khác. Hình ảnh đất nước và nhân dân đi vào cảm thức của cái tôi trữ tình không phải là đất nước – nhân dân nhìn từ góc độ sử thi hào hùng trong chiến trận mà là từ góc độ lịch sử-văn hóa, đi tìm gốc nguồn dân tộc trong những chiều sâu của trầm tích bao đời. Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 9 Trường ĐHSP Hà Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc Ba giai đoạn thơ, cũng là những nấc thang phát triển của cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ. Mỗi giai đoạn có một đặc trưng riêng, thế nhưng, dẫu ở giai đoạn nào, cái tôi đó vẫn tìm thấy cho mình một giọng – một cách biểu hiện tài hoa, một âm sắc đặc biệt. Và thống nhất trong suốt ba chặng đường thơ vẫn là một cái tôi Lưu Quang Vũ: nồng nàn trong cảm xúc, phóng túng mãnh liệt trong liên tưởng, giàu có về hình ảnh màu sắc, luôn nỗ lực vượt thoát hướng tới chân trời của tình yêu, của những giá trị nhân bản và cao đẹp của cuộc đời. Nằm trong dòng chảy ấy, tập di cảo Những bông hoa không chết là phần thơ Lưu Quang Vũ viết trong khoảng những năm từ 1971 – 1976, tuy nhiên, qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, trong tập này chỉ có một bài sáng tác năm 1971: Những bông hoa không chết, còn lại đều được sáng tác trong khoảng những năm 1974-1976. Đây là một thời điểm đặc biệt: nằm ở giai đoạn sáng tác thứ ba của anh nhưng lại nằm ở khoảng đầu, nghĩa là giai đoạn bắt đầu có những bước chuyển tiếp, những đổi thay, những biểu hiện độc đáo của một hồn thơ đang dần chuyển từ thái cực này sang thái cực khác. Cái tôi trữ tình thể hiện trong tập thơ này vì thế mà có những nét riêng, những vẻ đẹp riêng trong sự nghiệp thi ca Lưu Quang Vũ nói chung. Trong bài tập niên luận này, chúng tôi sẽ đi sâu khảo sát, tìm hiểu, phân tích cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ trong tập thơ này, dựa trên những ý kiến nhận định có tính chất định hướng của người đi trước. Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 10 Trường ĐHSP Hà Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc CHƯƠNG II CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG TẬP THƠ NHỮNG BÔNG HOA KHÔNG CHẾT CỦA LƯU QUANG VŨ Tập thơ Những bông hoa không chết được viết ra trong một thời điểm đặc biệt của hành trình thơ Lưu Quang Vũ, cũng là một thời điểm đặc biệt của lịch sử dân tộc. Đó là thời điểm đất nước đang đứng trước cửa ngõ và rồi bước vào thời kì hòa bình lập lại, thống nhất Nam Bắc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và xây dựng lại cuộc sống sau những năm tháng khốc liệt của chiến tranh. Những năm tháng đó là những thời khắc kì diệu mà lịch sử mãi mãi ghi nhận như một dấu son trong quá khứ dân tộc. Thế nhưng, đứng trong hiện thực bề bộn và phong phú để nhìn nhận, hòa bình không chỉ được nhìn từ góc độ ngợi ca, hân hoan, khẳng định. Vẫn còn những góc nhìn khác, không hẳn trái chiều nhưng sâu hơn, mờ khuất hơn. Ví như cái nhìn về tâm thức con người thời mới trở về trạng thái hòa bình. Chiến tranh đã kéo dài trên đất nước ta hàng thế kỉ. Bao thế hệ người dân đã sống trong một nghịch lí: xem cái bất thường của chiến tranh là cái bình thường để sống chung với nó, chấp nhận nó, rồi thậm chí là quen thuộc với nó. Để rồi, khi cái bình thường đã và đang thật sự trở lại, người ta lại buộc phải làm quen với nó. Điều đó tưởng như là nghịch lí nhưng chính là hiện thực trong thời đại bấy giờ. Không phải ngẫu nhiên mà cố nhạc sĩ Văn Cao đã viết bài hát cho mùa xuân năm 1976 - Mùa xuân đầu tiên - với những ca từ “Mùa bình thường, mùa vui nay đã về”. Mùa bình thường trở lại, con người vốn quen sống trong những mùa bất thường lại có những phút chao đảo, chênh vênh. Tâm trạng Lưu Quang Vũ trong Những bông hoa không chết có trọn vẹn cả những cung bậc đó: tâm trạng của con người trong mùa bất thường, tâm trạng con người khi mùa bình thường trở lại, và tâm trạng con người sống trong những ngày đầu tiên của mùa bình thường. Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 11 Trường ĐHSP Hà Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc Tất cả những tâm trạng đó cộng với những vận động tự thân trong bản ngã sáng tạo của nhà thơ tạo nên những đối cực cùng tồn tại trong thơ Lưu Quang Vũ giai đoạn này: hoài nghi và tin tưởng, cay đắng và hi vọng, chán nản và mê say,… Hòa hợp và mâu thuẫn giữa những đối cực cảm xúc, đó chính là cái tôi trữ tình trong Những bông hoa không chết. Tập thơ này nằm trong giai đoạn 3 của hành trình thơ Lưu Quang Vũ. Như đã nói ở chương I, ở giai đoạn này, trong thơ Lưu Quang Vũ, từ chỗ cái tôi trữ tình thiên về thế sự - đời tư, còn có một cái tôi khác, đó là cái tôi sử thi. Tuy nhiên, cũng phải nói ngay rằng, cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ so với những cái tôi khác cùng thời dù ở thái cực nào thì cũng có những đặc trưng, thậm chí là độc đáo khác biệt, tách ra thành một dòng riêng. Bởi thế, trong quá trình đi tìm hiểu khảo sát về cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ trong tập thơ này, chúng tôi sẽ luôn có sự đối chứng và phân biệt với cảm thức chung của văn học chống Mĩ cùng thời. Ở đây, chúng tôi tạm xét cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ trong hai bình diện: cái tôi thế sự và cái tôi sử thi dù rằng sự phân chia này trong thơ Lưu Quang Vũ chỉ mang tính tương đối, trong đó, chúng tôi sẽ cố gắng nhìn nhận những cảm thức của cái tôi đó theo đúng mạch vận động và dạng tồn tại của nó ở trong tập thơ và trong hành trình thơ Lưu Quang Vũ. I. Cái tôi sử thi Cái tôi sử thi là cái tôi được hình thành từ tư cách công dân và cảm hứng lãng mạn. Trong thời kì chiến tranh, đứng trước sự mất còn của dân tộc, đối diện với những vấn đề quốc gia trọng đại, con người chủ yếu sống cho lí tưởng, hướng về những sự kiện lớn của lịch sử. Bởi thế, cái tôi sử thi lấn át cái tôi thế sự đời tư là điều dễ hiểu. Cái tôi sử thi của văn học chống Mĩ (hay gọi tên chính xác hơn là văn học thời chống Mĩ vì thuật ngữ này chỉ nhấn mạnh vào thời gian chứ không chủ ý chỉ đến nội dung) chủ yếu đi về cảm nhận và bày tỏ thái độ ngợi ca với cuộc kháng chiến anh hùng bất khuất của nhân dân, ngợi ca dân tộc vững vàng trong Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 12 Trường ĐHSP Hà Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc khói lửa với cảm hứng sử thi làm nên âm hưởng chủ đạo cho dàn đồng ca “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng” (Chế Lan Viên), “Tổ quốc tôi như một thiên đường” (Tố Hữu), cái tôi đó tự hào tin tưởng ngay cả những ngày gian khổ: “tôi xẻ mình ra ngang dọc chiến hào/ cho liền sông núi vạn đời sau/ Việt Nam chín vạn ngày lửa đạn/ cho ngàn năm nhân loại ngẩng cao đầu” (Chế Lan Viên). Hiện thực hào hùng của thời chống Mỹ được cái tôi sử thi cảm nhận trên chiều kích của cảm hứng lãng mạn và con người đứng trên tư cách công dân để phát ngôn cho thời đại. Cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ biểu hiện ở cái tôi sử thi không nằm trong dòng chung này. Là cái tôi từ chối lí tưởng hóa, luôn có một cách cảm nhận và phản ánh đời sống và hiện thực theo cách riêng, cái tôi sử thi trong thơ Lưu Quang Vũ đã tìm thấy những ngả rẽ cho riêng mình. Trong tập thơ Những bông hoa không chết, cái tôi sử thi trong thơ Lưu Quang Vũ là một cái tôi nhận thức về dân tộc và quốc gia theo chiều dài lịch sử - văn hóa, một cái tôi uyên bác, khám phá lịch sử và đất nước từ một góc nhìn rất sâu và bởi thế mà, rất rộng. 1. Cái tôi suy tưởng về lịch sử dân tộc Ba mươi tư bài thơ, trong đó đã có một chùm bốn bài về Sông Hồng, ngoài ra còn có Năm 1954, Người báo hiệu, Khâm Thiên, … là những bài thơ đi về phía dân tộc, cảm nhận về đất nước trong chiều dài lịch sử và chiều sâu văn hóa. Dòng sông Hồng trong cái nhìn của cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ là dòng sông của thời gian, của lịch sử: Một con sông chảy qua thời gian Chảy qua lịch sử Chảy qua triệu triệu cuộc đời Chảy qua trái tim mỗi người Khi êm đềm khi hung dữ Dòng sông đó, trong cảm thức của cái tôi trữ tình, chính là nguồn cội của sự sống, của dân tộc, của tiếng mẹ đẻ, của những trang thơ, của mỗi cuộc đời: Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 13 Trường ĐHSP Hà Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc Một con sông rì rầm sóng vỗ Trong muôn vàn trang thơ Làm nên xóm thôn, hoa trái, những ngôi nhà Tạo sắc áo, màu cây và tiếng Việt Một giống nòi sinh tự một dòng sông Là người có kiến thức dày dặn về lịch sử và văn hóa, Lưu Quang Vũ đã có những cảm nhận thật sâu sắc về dân tộc trong chiều sâu của văn hóa, chiều dài của lịch sử. Cái tôi ấy nhìn một dòng sông không đơn thuần là dòng sông, cũng không phải là địa danh anh hùng trong kháng chiến mà được hiểu như một “hiện vật” gắn bó thiết thân với lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc, là con sông lắng đọng phù sa của đất nước qua bao năm tháng. Nhìn dòng sông, cái tôi đó nhìn ra những lớp trầm tích lịch sử với bao nhiêu tầng sâu và giá trị mà không thể đo đếm chỉ bằng một lát cắt dọc của một thời đại riêng biệt. Đâu phải ngẫu nhiên mà nòi giống của một dân tộc bao giờ cũng gắn với “thủy tổ”, trên hành tinh này, có bao nhiêu nền văn minh không sinh ra ở một dòng sông? Sông Hồng – nơi đã sinh ra nền văn minh Bắc hà, con sông chảy qua thủ đô – trái tim của cả nước, cũng là con sông mà trong cái nhìn của cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ chính là cội nguồn của dân tộc, của tiếng nói và giống nòi. Sông Hồng trong cảm thức của cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ đã là biểu tượng của sự sống, của niềm vui, của hạnh phúc mới đang mở ra cho dân tộc hồi sinh, lớn mạnh: Máu ta mang sắc đỏ sông Hồng nỗi khổ và niềm vui bất tận luôn luôn mới đến, luôn luôn ra đi luôn già nhất và luôn trẻ nhất sông để lại trước khi về với biển không phải máu đen độc ác của quân thù không phải gươm đao ngàn năm chiến trận Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 14 Trường ĐHSP Hà Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc không phải nghẹn ngào tiếng nấc sau sụp đổ hưng vong thù hận sóng trào là bãi mới của sông xanh ngát là đất đai lấn dần ra biển là tâm hồn đằm thắm phù sa dâng yêu thương đỏ rực đôi bờ. Về điểm này, có lẽ cái tôi sử thi Lưu Quang Vũ đã gặp Nguyễn Khoa Điềm trong cảm thức “đất nước này là đất nước của nhân dân/ đất nước của ca dao huyền thoại”. Thế nhưng, ở hai nhà thơ này, cái tôi trữ tình suy tưởng về đất nước trong chiều dài lịch sử và chiều sâu văn hóa cũng vẫn có những điểm khác biệt. Nếu Nguyễn Khoa Điềm nhìn nhận dân tộc ở khía cạnh ấy và cũng chỉ vậy mà thôi thì Lưu Quang Vũ – với một cái tôi trữ tình mà bản chất sâu thẳm nhất vẫn là yêu thương và nồng nàn đắm đuối yêu thương – cái tôi trữ tình của anh nhìn thấy ở tận sâu hơn cả văn hóa, hơn cả lịch sử, đất nước này vẫn là đất nước của thương yêu. Bởi thế, dòng sông ngàn năm trải qua bao đau thương vẫn “đằm thắm phù sa/ dâng yêu thương đỏ rực đôi bờ”. Cái tôi trữ tình suy tưởng về dân tộc đã lội ngược dòng về quá khứ đau thương để nhìn lại những gương mặt danh nhân, những trang sử hào hùng, cả những mâu thuẫn trong liệt căn tính (tính xấu) của dân tộc. Cái tôi ấy “bóc mẽ” cả những niềm tự hào tưởng như đã thành căn cốt của người Việt: Chúng ta nhớ gì ngày ấy? nước Nam …Những ông quan võng lọng vẹo xiêu Ham chọi gà và giỏi làm câu đố Những đồng bãi bốn mùa nghèo đói Những chiếu chỉ chữ Nôm (do hai chữ Tàu ghép lại) Và tỏ niềm ngưỡng mộ với những bậc anh hùng lỡ vận của một thời đại nhiễu nhương: Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 15 Trường ĐHSP Hà Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc Ngọn đèn con leo lắt đêm đông soi gương mặt một người thức trắng Nguyễn Trường Tộ cô đơn đôi mắt sáng viết tờ trần dâng vua muốn trị thủy Hồng Hà không thể dùng đê quai tạm bợ phải đào hồ to khai thông đường sá đến lúc cần trọng toán lí hơn văn… Cái tôi Lưu Quang Vũ nhập thân mình vào những con người vô danh của những ngày tăm tối ấy để cất lên tiếng nói về lịch sử, về những sự kiện bi thương của dân tộc một thời: Tôi là người lính già tóc bạc Đi theo vua Hàm Nghi Trong ngàn sân Quảng Trị xanh rì Nhìn nhà vua trẻ măng Tôi ôm đầu im lặng Tôi quặn lòng nghẹn khóc Nước mất rồi chúng ta đi đâu? Đối diện với những sự kiện lớn của quá khứ để bàn về vấn đề sống còn của mỗi cá nhân, mỗi thân phận người trong cơn bão táp lịch sử, cái tôi Lưu Quang Vũ là cái tôi sử thi – nhân văn, hướng tới con người và vì con người. Cảm hứng ấy khiến cho cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ chỉ nhìn về một điểm độc sáng: Năm 72! Có thể thế được chăng Hãy mở mắt ra trông Vụ thảm sát chưa nay chưa từng có Năm trái đất phóng bao tàu vũ trụ Không nơi nào nói đến tình thương Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 16 Trường ĐHSP Hà Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc (Khâm Thiên) Tình thương – thứ duy nhất cần, thứ duy nhất thiếu, cũng là thứ duy nhất cái tôi ấy đòi hỏi ở cuộc đời trong một năm tàn khốc 1972 – vụ rải bom B52 kinh hoàng mà mỗi người dân Hà Nội vẫn còn rùng mình khi nhắc lại. Suy tưởng về đất nước và số phận con người toàn nhân loại, cái tôi trữ tình trong tập thơ Những bông hoa không chết có những ước vọng thật cao cả: Nếu trái đất này là một tổ quốc mênh mông Mỗi nước là một cái làng Trong làng nhỏ Việt Nam Tôi đã sinh ra và đã yêu tất cả …đến bao giờ mọi người thành ruột thịt Những thành phố như con tàu trên biển Đến bao giờ cặp bến yên vui Trái đất xanh – tổ quốc của tôi ơi? Ước mong tất cả đều là ruột thịt, mỗi dân tộc là một ngôi làng trong tổ quốc trái đất xanh, cái tôi sử thi đã vươn tới tầm nhân loại để nghĩ về hòa bình, về tình yêu thương, về sự sống. Tập thơ được viết chủ yếu vào thời điểm năm 1975, bởi thế, cảm thức của cái tôi trữ tình về sự hồi sinh của dân tộc là một yếu tố không thể bỏ quên trong cái tôi sử thi Lưu Quang Vũ tập thơ này. Cái tôi ngập tràn hi vọng trước buổi bình minh của dân tộc - những ngày đất nước trở lại hòa bình - xuất hiện dày đặc và đậm nét trong suốt ba mươi tư bài thơ. Trước tiên, đấy là cảm thức phủ nhận những gì đen tối của quá khứ, chối bỏ nỗi buồn đau, chờ đón và hi vọng ở niềm vui, hòa bình, hạnh phúc: Cho ta về lợp lại mái nhà xưa Có nước lành có lửa ấm và hoa Sẽ mọc lên chiếc liềm hái khổng lồ Sẽ lớn dậy những thiên tài mới mẻ Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 17 Trường ĐHSP Hà Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc Những ban mai không tả tơi đạn xé Không ai phải chôn giấu điều mình nghĩ Không còn ai đạp lên những mối tình Không còn hàng rào, biên giới, nhà giam (Những đám mây ban sớm) Nhịp điệu của ngày mới mở ra cho đất nước âm vang: Những vua Hùng tóc râu bạc phới Những em bé la khóc chào đời ống điếu dài nghi ngút khói bay chân người dậm dập dồn trên mặt trống điệu múa lớn của một ngày đang mọc ngọn lửa lớn của muôn đời náo động tâm hồn ta như sóng tới chân trời Cái tôi suy tưởng về dân tộc, cái tôi hào khởi tươi vui trong những ngày độc lập đầu tiên của dân tộc, đó là những khía cạnh lớn của cái tôi sử thi Lưu Quang Vũ trong tập Những bông hoa không chết. 2. Cái tôi thế hệ Cái tôi thế hệ là một gương mặt khác của cái tôi sử thi. Cái tôi sử thi của văn học giai đoạn này là tiếng nói tự ý thức, tự biểu hiện của thế hệ trẻ về sứ mệnh của thế hệ mình: “cả thế hệ dàn hàng gánh đất nước trên vai”, quan niệm về nghệ thuật đơn giản mạnh mẽ: “không có sách chúng tôi làm ra sách/ chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời”. Trong tập thơ Những bông hoa không chết, cái tôi này góp mặt với những cảm thức rất sâu sắc về sứ mệnh của thế hệ mình: Chúng tôi đi Cơn bão dữ thổi hai đầu đất nước Tuổi trẻ, ước mong, những gì quý nhất Đều trôi qua trong bụi xám chiến hào Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 18 Trường ĐHSP Hà Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc Thế nhưng, dẫu cùng chung cảm thức về thế hệ, cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ cũng có những điểm phân biệt: đó không phải là cái tôi nhập cuộc, dấn thân mà là cái tôi suy ngẫm, triết lí với những chua xót, cay đắng cho tuổi trẻ của mình, với những mộng ước không thành, những niềm đau che khuất mất tuổi thanh xuân, những mất mát không gì bù lấp nổi: Chúng ta ra đi chiến tranh mùa đông Ta kịp biết gì đâu Vừa hết trẻ con đã là người lính ..Đừng nói với ta những điều hào nhoáng về chiến tranh Tuổi trẻ ta đã qua bạn bè ta đã chết Ta đã vượt qua bao đèo cao chót vót Bao điều nhà trường chẳng dạy cho ta (Những bông hoa không chết) Lưu Quang Vũ – dù ở khía cạnh nào, ở bình diện nào, cũng vẫn là một cái tôi với cảm hứng nhân văn – nhân bản xuyên suốt. Trong cái nhìn của cái tôi đó, mọi sự lí tưởng hóa đều bị chối từ, mọi lời lẽ lập ngôn lập thuyết đều là sáo rỗng. Anh nói tiếng nói của riêng mình, cảm nhận hiện thực theo cách của riêng mình, bởi thế, cảm thức của cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ luôn đi một dòng riêng. Chúng tôi cho rằng, cái tôi trữ tình trong những bài thơ của tập thơ Những bông hoa không chết đã khái quát được những chân dung sống động của thời đại – của thế hệ một cách chính xác và thấm thía. Phải có một cái nhìn sâu và rộng thì mới có thể cảm thấy được rằng, thế hệ mình là “Một thế hệ cứng đi như thỏi sắt/ Nhưng xoáy ngầm vẫn cuộn ở lòng sông”. Chiến tranh đã khiến con người thành những thứ quả “chín ép”, họ phải tự gồng mình lên, lao vào chiến tranh ngay khi “vừa hết trẻ con” để, ở đó, học lấy cho mình những bài học cay đắng của cuộc đời có khi phải trả giá bằng cái chết. Và chiến tranh, bản thân nó không thể che đậy bằng bất cứ một mĩ từ “hào nhoáng” nào, tội ác của nó Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 19 Trường ĐHSP Hà Bài tập niên luận Ánh Nguyễn Thị Ngọc hiện lên trong từng số phận con người: “tuổi trẻ ta đã qua/ bạn bè ta đã chết”. Từ tư cách chứng nhân lịch sử, Lưu Quang Vũ đã đối mặt và viết về chiến tranh, về thời đại và thế hệ mình với những chi tiết tàn khốc nhất và chân thực nhất. Tóm lại, cái tôi thế hệ là một khía cạnh hết sức độc đáo của cái tôi sử thi Lưu Quang Vũ trong tập Những bông hoa không chết. Đó là cái tôi có những cảm xúc chân thành và sâu sắc nhất trong tâm thức của một con người sống trong chiến tranh, tuy nhiên lại không đi theo dòng chung ngợi ca mà rẽ sang lối riêng, suy ngẫm và triết lí về thế hệ mình, về số phận con người trong cuộc chiến tàn khốc, ác liệt, máu nhiều hơn hoa, chết chóc nhiều hơn chiến công. Cái tôi sử thi là một yếu tố mới và đặc sắc trong thơ Lưu Quang Vũ thể hiện rõ nét trong Những bông hoa không chết. Cái tôi sử thi với những góc cạnh độc đáo của nó làm cho gương mặt thơ Lưu Quang Vũ càng trở nên độc đáo hơn, đa diện hơn. Nhưng có lẽ, cái tôi sử thi vẫn chỉ là một phần mới mẻ, còn cái ẩn sâu đằng sau tâm hồn Lưu Quang Vũ, cái tôi chìm khuất nhưng đã là bản chất thơ Lưu Quang Vũ vẫn là một cái tôi thế sự đời tư. Tập thơ Những bông hoa không chết cũng không ngoại lệ. II. Cái tôi thế sự đời tư Cái tôi thế sự vốn là một cái tôi không nổi trội trong dòng văn học chống Mĩ Cảm thức chủ đạo của văn học thời chống Mĩ vẫn là cảm thức sử thi, với căm – yêu – chiến – lạc, với tinh thần chung là hướng tới cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc để phục vụ, hỗ trợ cho một mục đích chung. Cái tôi thế sự đời tư phần nào lạc lõng. Thế nhưng, cũng phải nhìn nhận một cách toàn vẹn rằng, cái tôi này vẫn xuất hiện đó đây, ví như trong thơ của Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, … Thơ Lưu Quang Vũ thời chống Mĩ chủ yếu đi về với cái tôi này, cái tôi thế sự đời tư. Bản chất của cái tôi thế sự đời tư là kết quả của sự tỉnh thức của con người về ý thức và về nhu cầu cá nhân. Ý kiến của nhà nghiên cứu Lưu Khánh Thơ ở phần giới thiệu: “Đây là thời kì gian khó, cô đơn đến cùng cực của Lưu Líp: CLC - K55 Ngữ văn Nội 20 Trường ĐHSP Hà
- Xem thêm -