Cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong quan hệ xã hội của trẻ vị thành niên thành phố huế

  • Số trang: 175 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 30 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐINH THỊ HỒNG VÂN CÁCH ỨNG PHÓ VỚI NHỮNG CẢM XÚC ÂM TÍNH TRONG QUAN HỆ XÃ HỘI CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN THÀNH PHỐ HUẾ LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC Hà Nội – 2014 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐINH THỊ HỒNG VÂN CÁCH ỨNG PHÓ VỚI NHỮNG CẢM XÚC ÂM TÍNH TRONG QUAN HỆ XÃ HỘI CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN THÀNH PHỐ HUẾ Chuyên ngành: Tâm lý học chuyên ngành Mã số: 62.31.80.05 LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. Hà Nội - 2014 TS. Phan Thị Mai Hương LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các dữ liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác. Tác giả luận án Đinh Thị Hồng Vân LỜI CẢM ƠN Tháng 11 năm 2010, tôi nhận được giấy thông báo nhập học, một niềm vui khôn xiết! Ước mơ được đi học Nghiên cứu sinh của tôi đã trở thành hiện thực. Trải qua hơn 3 năm học tập và nghiên cứu, dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của PGS. TS. Phan Thị Mai Hương, tôi đã hoàn thành Luận án của mình. Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Cô giáo. Trong thời gian qua, Cô đã tận tình hướng dẫn, dành mọi thời gian để làm việc với tôi khi tôi ra Hà Nội và sẵn sàng trao đổi, giúp đỡ khi tôi cần sự hỗ trợ. Tôi học tập được ở Cô những kỹ năng và phẩm chất quý giá của một nhà khoa học. Cô còn là một “chỗ dựa xã hội đặc biệt” của tôi trong cuộc sống. Sự ấm áp, chân thành và niềm tin, lạc quan là những gì tôi nhận được từ Cô khi chia sẻ những khó khăn. Một lần nữa, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Cô giáo. Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến GS. TS. Vũ Dũng, PGS. TS. Lê Thị Thanh Hương, những người đầu tiên tôi được tiếp xúc khi đến liên hệ với Viện tâm lý học để làm hồ sơ học Nghiên cứu sinh và sau này là những Thầy Cô giảng dạy trực tiếp tôi. Các Thầy Cô đã tận tình, giúp đỡ tôi, tạo động lực cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu. Những ấn tượng sâu sắc về các Thầy Cô trong tâm trí của tôi sẽ không phai mờ. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS. TS. Trần Thị Tú Anh, ThS. Nguyễn Phước Cát Tường, những đồng nghiệp tin cậy và cũng là những “chỗ dựa xã hội đặc biệt” của tôi, sẵn sàng ở bên tôi khi tôi gặp khó khăn trong nghiên cứu cũng như cuộc sống. Sự tương trợ của họ đã tiếp thêm sức mạnh cho tôi mỗi khi tôi chùn bước. Đặc biệt, trong khoảng thời gian làm việc với họ, các kỹ năng nghiên cứu khoa học của tôi đã được nâng cao. Điều này đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện luận án. Tôi xin cảm ơn sự cộng tác, giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu, Thầy Cô giáo và các em học sinh Trường THPT Hai Bà Trưng, THPT Nguyễn Huế, THPT Bùi Thị Xuân, THCS Phạm Văn Đồng và THCS Chu Văn An trong quá trình điều tra, thu thập số liệu và thực nghiệm. Tôi xin cảm ơn các Thầy Cô giáo của Khoa Tâm lý học, Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, các Thầy Cô giáo của Viện Tâm lý học đã giảng dạy, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm Nghiên cứu sinh. Tôi cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu, các Thầy Cô giáo, các đồng nghiệp ở Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế đã luôn động viên, khuyến khích tôi trong thời gian tôi làm luận án. Xin cảm ơn tấm lòng của những người bạn thân yêu ở Hà Nội: TS. Đỗ Thị Lệ Hằng, NCS. Vũ Thị Ngọc Tú, NCS. Đào Thị Diệu Linh và những người bạn thân ở Đà Nẵng, Huế, Quảng Bình, đã dành nhiều tình cảm, giúp đỡ, động viên tôi trong những ngày học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án này. Lời cảm ơn cuối cùng, cũng là lời cảm ơn đặc biệt nhất, tôi xin gửi đến những người thân trong gia đình, những người đã luôn sát cạnh, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể thực hiện được ước mơ của mình. Nếu không có sự hỗ trợ của người thân, tôi sẽ không hoàn thành được luận án của mình. Trong điều kiện thời gian nghiên cứu chưa nhiều, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học còn hạn chế nên luận án của tôi vẫn có những thiếu sót, kính mong Quý Thầy Cô giáo và đồng nghiệp đóng góp ý kiến, giúp tôi hoàn thiện luận án này tốt hơn. Xin cảm ơn tình cảm chân thành của mọi người đã dành cho tôi! Huế, ngày 07 tháng 01 năm 2014 NCS. Đinh Thị Hồng Vân MỤC LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT...................................................i DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU............................................................................ii MỞ ĐẦU..................................................................................................................1 1. Lý do chọn đề tài............................................................................................1 2. Mục đích nghiên cứu......................................................................................3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu......................................................................................3 4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu....................................................................3 5. Phạm vi nghiên cứu........................................................................................3 6. Giả thuyết nghiên cứu.....................................................................................4 7. Phương pháp nghiên cứu................................................................................4 8. Đóng góp mới của luận án..............................................................................5 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁCH ỨNG PHÓ VỚI NHỮNG CẢM XÚC ÂM TÍNH TRONG QUAN HỆ XÃ HỘI CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN. .7 1.1. Tổng quan các nghiên cứu về cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong quan hệ xã hội của trẻ vị thành niên..........................................................7 1.2. Cách ứng phó.............................................................................................16 1.3. Cảm xúc âm tính trong quan hệ xã hội của trẻ vị thành niên......................25 1.4. Cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong quan hệ xã hội của trẻ vị thành niên..........................................................................................................35 CHƯƠNG 2. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................51 2.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu....................................................................51 2.2. Tổ chức nghiên cứu....................................................................................53 2.3. Các phương pháp nghiên cứu.....................................................................55 CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ CÁCH ỨNG PHÓ VỚI NHỮNG CẢM XÚC ÂM TÍNH TRONG QUAN HỆ XÃ HỘI CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN THÀNH PHỐ HUẾ................................................................70 3.1. Khái quát về thực trạng các cảm xúc âm tính trong quan hệ xã hội của trẻ vị thành niên thành phố Huế..................................................................................70 3.2. Thực trạng cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong quan hệ xã hội của trẻ vị thành niên thành phố Huế..................................................................78 3.3. Các yếu tố tác động đến cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong quan hệ xã hội của trẻ vị thành niên thành phố Huế........................................101 3.4. Các biện pháp hình thành cách ứng phó tích cực với những cảm xúc âm tính trong quan hệ xã hội cho trẻ vị thành niên...............................................119 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.............................................................................138 1. Kết luận.......................................................................................................138 2. Kiến nghị.....................................................................................................140 HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI..............................................................141 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ...................................................142 TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................143 PHỤ LỤC............................................................................................................... P1 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT THCS THPT VTN QHXH ĐTB NXB Trung học cơ sở Trung học phổ thông Vị thành niên Quan hệ xã hội Điểm trung bình Nhà xuấất bản DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1. Phân bố mẫu nghiên cứu.........................................................................54 Bảng 3.1. Đánh giá cá nhân về tần suất của các cảm xúc âm tính xuất hiện trong các sự kiện QHXH...................................................................................................71 Biểu đồ 3.1. Đánh giá cá nhân về cường độ của các cảm xúc âm tính trong QHXH của trẻ VTN.............................................................................................................72 Bảng 3.2. Các tác nhân QHXH gây ra các cảm xúc âm tính trong tình huống ấn tượng nhất................................................................................................................ 74 Bảng 3.3. Cách ứng phó với cảm xúc tức giận trong QHXH của trẻ VTN..............78 Bảng 3.4. Cách ứng phó với cảm xúc tức giận trong QHXH của trẻ VTN dưới góc độ thời điểm thực hiện.............................................................................................87 Bảng 3.5. Cách ứng phó với cảm xúc buồn bã trong QHXH của trẻ VTN..............89 Bảng 3.6. Cách ứng phó với cảm xúc buồn bã trong QHXH của trẻ VTN dưới góc độ thời điểm thực hiện.............................................................................................94 Bảng 3.7. Cách ứng phó với cảm xúc lo âu trong QHXH của trẻ VTN...................95 Bảng 3.8. Cách ứng phó với cảm xúc lo âu trong QHXH của trẻ VTN dưới góc độ thời điểm thực hiện..................................................................................................98 Bảng 3.9. Đánh giá cá nhân về sự kiện gây ra cảm xúc âm tính............................101 Bảng 3.10. Mối quan hệ giữa các cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong QHXH và đánh giá cá nhân về sự kiện gây ra cảm xúc âm tính...........................102 Bảng 3.11. Cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong QHXH theo lát cắt đánh giá cá nhân về sự kiện gây ra cảm xúc âm tính.............................................103 Bảng 3.12. Sự tác động của yếu tố đánh giá cá nhân về sự kiện gây ra cảm xúc âm tính đến các cách ứng phó......................................................................................104 Bảng 3.13. Mối quan hệ giữa các cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong QHXH và đánh giá cá nhân về cường độ cảm xúc âm tính..................................106 Bảng 3.14. Sự tác động của đánh giá cá nhân về cường độ cảm xúc âm tính trong QHXH đến các cách ứng phó................................................................................107 Bảng 3.15. Điểm lạc quan của trẻ VTN.................................................................108 Bảng 3.16. Mối quan hệ giữa các cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong QHXH và tính lạc quan.........................................................................................109 Bảng 3.17. Sự tác động của tính lạc quan đến các cách ứng phó...........................110 Bảng 3.18. Mối quan hệ giữa các cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong QHXH và tự đánh giá về giá trị bản thân...............................................................112 Bảng 3.19. Sự tác động của yếu tố tự đánh giá về giá trị bản thân đến các cách ứng phó......................................................................................................................... 114 Bảng 3.20. Chỗ dựa xã hội của trẻ VTN................................................................115 Bảng 3.21. Mối quan hệ giữa các cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong QHXH và các chỗ dựa xã hội................................................................................116 Bảng 3.22. Sự tác động của chỗ dựa xã hội đến các cách ứng phó........................118 Bảng 3.23. Nhận thức về vấn đề của học sinh trước và sau tham vấn....................126 Bảng 3.24. Chiều hướng nhìn nhận sự kiện của học sinh trước và sau khi tham vấn ............................................................................................................................... 127 Bảng 3.25. Nhận biết cách suy nghĩ tích cực, hợp lý trước các vấn đề của cuộc sống ............................................................................................................................... 127 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trái với suy nghĩ chung “Tuổi trẻ là giai đoạn đẹp nhất của đời người”, “trẻ em ngày nay đã và đang trở thành nạn nhân ngoài ý muốn, bất đắc dĩ của các căng thẳng tràn ngập- căng thẳng khởi nguồn từ những thay đổi đến chóng mặt, gây hoang mang và cả những kỳ vọng ngày càng tăng” (Elkin, 1992) [66, tr. 2]. Có thể nói, sự phát triển mạnh mẽ của xã hội hiện đại đã đem đến cho con người những cơ hội mới để phát triển và hoàn thiện bản thân, song sự biến đổi sâu sắc của xã hội, đặc biệt những biến đổi trong các mối quan hệ xã hội (QHXH) đã khiến trẻ vị thành niên (VTN) đang đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn. Những bất đồng, xung đột trong quan hệ bạn bè, những khủng hoảng trong quan hệ với người lớn… đã khiến không ít trẻ VTN nảy sinh những cảm xúc lo âu, buồn chán, sợ hãi, giận dữ... Kết quả của cuộc điều tra ở quy mô quốc gia về trẻ VTN và thanh niên (tuổi từ 14 đến 25) lần thứ hai do Tổng cục Dân số và Tổng cục Thống kê tiến hành năm 2008 với hơn 10.000 mẫu khảo sát ở 63 tỉnh thành Việt Nam cho thấy: 73,1% thanh thiếu niên từng có cảm giác buồn chán; 27,6% đã trải qua cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là người không có ích và không muốn hoạt động như bình thường; 21,3% từng cảm thấy hoàn toàn thất vọng về tương lai; 4,1% đã nghĩ đến chuyện tự tử. So với cuộc điều tra lần thứ nhất (2003), tỷ lệ thanh thiếu niên trải qua cảm giác buồn chán đã tăng lên từ 32% đến 73% [30]. Tuy nhiên, do hiểu biết còn ít ỏi, khả năng kiểm soát các cảm xúc còn hạn chế và kỹ năng sống còn thiếu hụt nên khá nhiều trẻ VTN đã không biết cách ứng phó phù hợp và kịp thời với những cảm xúc âm tính đó. Không ít trẻ, vì không kiểm soát được cơn giận, đã có những hành vi bạo lực với bạn bè, gây nên những hậu quả nghiêm trọng. Cảm giác buồn chán, lo âu từ những mối QHXH đã khiến một số trẻ tìm đến các chất kích thích để giải tỏa tâm trạng; một số khác vì bế tắc đường cùng đã tìm đến cái chết. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, các cách ứng phó kém thích nghi như “chạy trốn”, “lảng tránh”, “buông xuôi”, “mơ tưởng”, “tự đổ lỗi”… có liên quan chặt chẽ đến sự gia tăng các vấn đề về sức khỏe tâm thần và sự phát triển lành mạnh của trẻ VTN (Ebata và Moos, 1991; Frydenberg và Lewis, 2009) [63], [72]… Theo báo cáo của ông Trần Văn Vũ, phó trưởng khoa 3 – Bệnh viện Tâm thần Trung ương I, mỗi năm bệnh viện đón gần 4.000 bệnh nhân, trong đó 30% là đối tượng học sinh, sinh viên (theo Nguyễn Hồi Loan, 2009 [21]). Kết quả nghiên cứu của Hoàng Cẩm Tú, Cao Vũ Hùng, Quách Thúy Minh, Nguyễn Thị Hồng Thúy, Trần Thành Nam, Nguyễn Thị Hằng, Đặng Hoàng Minh, Trần Hữu Chiến và Nguyễn Đức Hùng (2007) trên 1.727 học sinh trung học cơ sở (THCS) ở địa bàn Hà Nội và Hà Tây (nay thuộc địa phận Hà Nội) cho thấy 25,76% học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần [31]. Thực trạng này đòi hỏi chúng ta cần có những nghiên cứu chuyên sâu về cách ứng phó với các cảm xúc âm tính trong QHXH của trẻ VTN để xây dựng các biện pháp giúp các em hình thành cách ứng phó tích cực với chúng. Thực tế hiện nay, các nghiên cứu chủ yếu đi sâu tìm hiểu mức độ, tác nhân dẫn đến một cảm xúc âm tính cụ thể nào đó mà ít tìm hiểu về những cách thức trẻ thường sử dụng để ứng phó. Những hiểu biết của chúng ta về cách ứng phó của trẻ còn ít ỏi (Byrne, 2000) [52]. Huế là một thành phố khá yên bình so với các thành phố lớn ở Việt Nam, nhưng những năm gần đây, với sự biến đổi mạnh mẽ của xã hội trong thời kỳ kinh tế thị trường, những vấn đề xã hội đã bắt đầu dấy lên. Các vấn đề bạo lực học đường, tệ nạn xã hội, các rối nhiễu cảm xúc và hành vi đang ngày càng tăng cao ở giới trẻ. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng này là do trẻ VTN chưa biết cách ứng phó phù hợp với các cảm xúc âm tính và khó khăn của cuộc sống. Một nghiên cứu báo cáo có 92% trẻ VTN trên tổng số 477 khách thể điều tra gặp phải những khó khăn tâm lý trong cuộc sống và khá nhiều trẻ đã sử dụng các cách ứng phó kém hiệu quả để giải quyết khó khăn như: “tự trách mình”, “không chia sẻ” và “lo lắng” (Trần Thị Tú Anh, 2011) [2]; thậm chí một số em đã “có ý định tự tử”, có em đã thử đến 3 lần (Nguyễn Diệu Thảo Nguyên và Trần Thị Tú Anh, 2009) [26]. Với những vấn đề đã trình bày ở trên, chúng ta có thể thấy một nghiên cứu xuyên suốt từ khảo sát, đánh giá thực trạng cách ứng phó với các cảm xúc âm tính trong QHXH của trẻ VTN thành phố Huế đến đề xuất các biện pháp là việc làm thực sự cần thiết, có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ các lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong QHXH của trẻ VTN thành phố Huế” để nghiên cứu. Đề tài nhằm trả lời các câu hỏi sau: 1. Trước các cảm xúc âm tính trong QHXH, trẻ VTN đã sử dụng những cách ứng phó nào? 2. Các cách ứng phó của trẻ có liên quan đến đánh giá cá nhân về sự kiện gây ra cảm xúc âm tính không? 3. Bên cạnh yếu tố đánh giá cá nhân về sự kiện gây ra cảm xúc âm tính, cách ứng phó của trẻ còn chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố nào? 4. Tham vấn tâm lý nhằm thay đổi nhận thức về sự kiện gây ra cảm xúc âm tính có giúp trẻ hình thành cách ứng phó tích cực không? 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu tìm hiểu thực trạng cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong QHXH và các yếu tố tác động đến cách ứng phó của trẻ VTN thành phố Huế, từ đó đề xuất những biện pháp nhằm hình thành cách ứng phó tích cực với những cảm xúc âm tính trong QHXH cho trẻ. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Xây dựng cơ sở lý luận về cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong QHXH của trẻ VTN. - Tìm hiểu thực trạng cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong QHXH của trẻ VTN thành phố Huế và một số yếu tố tác động đến cách ứng phó. - Đề xuất các biện pháp nhằm hình thành cách ứng phó tích cực với những cảm xúc âm tính trong QHXH cho trẻ VTN. 4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong QHXH. 4.2. Khách thể nghiên cứu - Khách thể nghiên cứu chính: trẻ VTN thành phố Huế. - Khách thể nghiên cứu phụ: giáo viên chủ nhiệm lớp và phụ huynh của trẻ. 5. Phạm vi nghiên cứu 5.1. Phạm vi về nội dung nghiên cứu - Đề tài giới hạn nghiên cứu cách ứng phó với một số cảm xúc âm tính như tức giận, buồn bã và lo âu trong QHXH của trẻ VTN. - Đề tài tìm hiểu cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong những tình huống QHXH gây ấn tượng mạnh đối với trẻ. - Đề tài chỉ tập trung khám phá trẻ VTN thành phố Huế đã sử dụng những cách ứng phó nào trước cảm xúc âm tính trong QHXH, mà không nhằm nghiên cứu những đặc điểm của các cách ứng phó và đặc trưng mang tính văn hóa xã hội của trẻ VTN Huế. - Đề tài tập trung nghiên cứu một số yếu tố tâm lý xã hội chi phối đến cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong QHXH của trẻ VTN, đó là: đánh giá của cá nhân về sự kiện gây ra cảm xúc âm tính và cường độ của các cảm xúc âm tính; tính lạc quan; tự đánh giá về giá trị bản thân và chỗ dựa xã hội. 5.2. Phạm vi về khách thể và địa bàn nghiên cứu Đề tài tập trung khảo sát những trẻ VTN đang theo học lớp 8, 9, 10, 11 và 12 tại Trường THCS Chu Văn An, THCS Phạm Văn Đồng, THPT Hai Bà Trưng, THPT Nguyễn Huệ thuộc thành phố Huế. 6. Giả thuyết nghiên cứu Trẻ VTN sử dụng nhiều cách ứng phó khác nhau trước các cảm xúc âm tính trong QHXH, bao gồm cả cách ứng phó tích cực và tiêu cực. Cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong QHXH của trẻ VTN có sự khác biệt giữa trẻ nam và trẻ nữ, giữa các nhóm tác nhân QHXH. Đánh giá cá nhân về sự kiện gây ra cảm xúc âm tính trong QHXH có tác động đến cách ứng phó của trẻ VTN. Bên cạnh đó, còn có khá nhiều yếu tố khác (đánh giá của cá nhân về cường độ của các cảm xúc âm tính, tính lạc quan, tự đánh giá về giá trị bản thân và chỗ dựa xã hội) ảnh hưởng đến cách ứng phó của trẻ VTN với các mức độ khác nhau. Có thể giúp trẻ VTN hình thành cách ứng phó tích cực với những cảm xúc âm tính trong QHXH nếu trẻ được hướng dẫn thay đổi nhận thức về sự kiện gây ra cảm xúc âm tính. 7. Phương pháp nghiên cứu 7.1. Quan điểm phương pháp luận Nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở một số nguyên tắc phương pháp luận trong tâm lý học sau: - Nguyên tắc hoạt động – nhân cách: Nghiên cứu cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong QHXH của trẻ VTN không tách rời các hoạt động giao tiếp của học sinh và các đặc điểm nhân cách của trẻ VTN. - Nguyên tắc hệ thống: Nghiên cứu xem xét cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong QHXH của trẻ VTN trong mối quan hệ tác động qua lại với các yếu tố cá nhân và xã hội. - Nguyên tắc phát triển: Nghiên cứu nhìn nhận cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong QHXH của trẻ VTN không phải là một hiện tượng tâm lý tĩnh, mà luôn thay đổi dưới sự tác động của nhiều nhân tố cá nhân và xã hội khác nhau. 7.2. Phương pháp nghiên cứu Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, nghiên cứu sử dụng phối hợp các phương pháp sau: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, điều tra bằng bảng hỏi, trắc nghiệm tâm lý, phỏng vấn sâu, chuyên gia, nghiên cứu trường hợp, tham vấn tâm lý và phân tích dữ liệu. Mục đích và cách thức sử dụng các phương pháp được trình bày trong Chương 2. 8. Đóng góp mới của luận án - Kết quả nghiên cứu lý luận đã khái quát hóa được các xu hướng nghiên cứu về cách ứng phó của trẻ VTN, làm sáng tỏ các vấn đề: khái niệm và phân loại cách ứng phó; khái niệm và các loại cảm xúc âm tính cơ bản trong QHXH của trẻ VTN; khái niệm và các cách ứng phó với cảm xúc âm tính trong QHXH của trẻ VTN; các yếu tố tác động đến cách ứng phó với cảm xúc âm tính trong QHXH của trẻ VTN. - Kết quả nghiên cứu thực tiễn đã cho thấy cảm xúc âm tính tức giận, buồn bã và lo âu đều diễn ra ở trẻ VTN Huế, trong đó buồn bã là cảm xúc xuất hiện nhiều nhất, lo âu là ít nhất. Tác nhân QHXH chủ yếu gây ra cảm xúc âm tính cho trẻ là những vấn đề liên quan đến quan hệ, ứng xử với bố mẹ và người thân trong gia đình. Đặc biệt, nghiên cứu đã làm sáng tỏ tính đa dạng và bột phát trong cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong QHXH của trẻ VTN thành phố Huế. Nhìn chung cách ứng phó tích cực vẫn được trẻ sử dụng nhiều hơn so với cách ứng phó trung tính và tiêu cực. Cách ứng phó được trẻ sử dụng nhiều nhất là “tách mình ra khỏi vấn đề”, ít nhất là “tự làm hại bản thân”. Mặc dù nhóm các cách ứng phó tiêu cực được trẻ sử dụng ít hơn so với các nhóm ứng phó khác, tuy nhiên vẫn ở mức độ báo động và nó cho thấy kỹ năng ứng phó của trẻ VTN còn hạn chế. Việc sử dụng nhiều cách ứng phó “tách mình ra khỏi vấn đề”, “điều chỉnh cảm xúc”, “chấp nhận” của trẻ VTN thể hiện phần nào lối sống, tính cách của người Huế. Ngoài ra, nghiên cứu đã chỉ ra sự khác biệt về cách ứng phó với cảm xúc âm tính trong QHXH theo giới tính và các nhóm tác nhân QHXH. Nghiên cứu cũng cho thấy các yếu tố đánh giá cá nhân về sự kiện gây ra cảm xúc âm tính và cường độ của cảm xúc âm tính, tính lạc quan, tự đánh giá về giá trị bản thân và chỗ dựa xã hội có tác động đến các cách ứng phó, tuy nhiên mức độ dự báo của chúng đối với cách ứng phó không cao. Kết quả nghiên cứu thực tiễn là những cơ sở để các nhà quản lý giáo dục, đội ngũ giáo viên xây dựng nội dung, chương trình giáo dục kỹ năng ứng phó cho trẻ VTN. - Nghiên cứu đã đề xuất 04 biện pháp nhằm hình thành cách ứng phó tích cực với cảm xúc âm tính trong QHXH cho trẻ VTN và tiến hành thực nghiệm biện pháp tham vấn tâm lý cho trẻ VTN có cách ứng phó tiêu cực. Quá trình tham vấn được thực hiện theo tiếp cận nhận thức – hành vi. Kết quả tham vấn cho trẻ VTN chỉ ra rằng để thay đổi cách ứng phó của trẻ VTN, không chỉ thay đổi nhận thức của trẻ về sự kiện gây ra cảm xúc âm tính mà còn cần chú trọng đến sự thay đổi nhiều nguồn lực ứng phó khác. CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁCH ỨNG PHÓ VỚI NHỮNG CẢM XÚC ÂM TÍNH TRONG QUAN HỆ XÃ HỘI CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN 1.1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CÁCH ỨNG PHÓ VỚI NHỮNG CẢM XÚC ÂM TÍNH TRONG QUAN HỆ XÃ HỘI CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN 1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Ứng phó là một hướng nghiên cứu nhận được sự quan tâm đông đảo của nhiều tác giả. Từ những nghiên cứu về cách ứng phó của trẻ VTN nói chung và ứng phó với cảm xúc âm tính trong QHXH nói riêng, có thể khái quát thành 06 hướng nghiên cứu cơ bản về vấn đề này. a) Hướng thứ nhất là nghiên cứu các mô hình ứng phó của trẻ VTN. Những tác giả theo hướng này xuất phát trên quan điểm cho rằng cách ứng phó của trẻ VTN hoàn toàn khác với cách ứng phó của người lớn (Compas, Connor-Smith, Saltzman, Thomsen và Wadsworth, 2001) [59], vì vậy cần nghiên cứu những mô hình ứng phó phù hợp với lứa tuổi của các em. Theo Compas và các cộng sự (2001), nhìn chung có 3 mô hình ứng phó phổ biến ở lứa tuổi trẻ em và VTN: (1) ứng phó tập trung vào vấn đề và tập trung vào cảm xúc, (2) ứng phó kiểm soát lần thứ nhất (là những nỗ lực để thay đổi điều kiện khách quan) và ứng phó kiểm soát lần thứ hai (là những nỗ lực để điều chỉnh bản thân thích nghi với điều kiện khách quan), (3) ứng phó đối đầu và lảng tránh. Tuy nhiên, các cách phân loại này bị chỉ trích là quá khái quát nên chưa phản ánh rõ một số cách ứng phó đặc trưng ở trẻ VTN. Trên cơ sở đó, Compas và các cộng sự (2001) đã đưa ra mô hình kết hợp được các nhóm ứng phó trên, đó là chia ứng phó thành 02 nhóm phản ứng ứng phó có ý thức và phản ứng không ý thức. [59] Ngoài ra còn có một số mô hình như ứng phó đồng hóa, thích nghi và lảng tránh của Oláh (1995) [101]; ứng phó đặt trọng tâm vào vấn đề, vào cảm xúc và lảng tránh của Ferguson và Cox (1991) (theo Phan Thị Mai Hương, 2007 [19]); ứng phó tập trung vào nhận thức, vào vấn đề và cảm xúc (Moos và Billings, 1982) (theo Tuna, 2003 [129])… Khi xây dựng mô hình ứng phó, các tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích nhân tố hoặc nhóm các item có cùng nội hàm khái niệm (Compas và các cộng sự, 2001) [59]. Để có thể đề xuất được mô hình ứng phó phù hợp với lứa tuổi VTN, các nghiên cứu về lĩnh vực này cần được tiếp tục thực hiện. b) Trên cơ sở các mô hình ứng phó, một hướng khá phát triển khi nghiên cứu về ứng phó là đo lường hành vi ứng phó. Hướng nghiên cứu này ra đời nhằm xác định rõ cách thức con người đã nỗ lực ứng phó trong các tình huống, trên cơ sở đó đề xuất các chương trình hỗ trợ cá nhân phát triển và điều chỉnh khả năng ứng phó của họ. Động cơ thứ hai thúc đẩy hướng nghiên cứu này là sự cần thiết có những công cụ đánh giá cho các nhà tâm lý nói chung và tâm lý lâm sàng nói riêng trong việc chẩn đoán và can thiệp (Frydenberg, 2002) [70]. Có 4 phương pháp đã được sử dụng để đánh giá cách ứng phó nói chung và ứng phó với các cảm xúc âm tính nói riêng: (1) bảng hỏi tự thuật, (2) phỏng vấn bán cấu trúc, (3) quan sát hành vi và (4) những báo cáo từ những người thân thích, gần gũi (bố mẹ, thầy cô, bạn bè) (Compas và các cộng sự, 2001) [59]. Trong 4 phương pháp đó, bảng hỏi được sử dụng nhiều nhất và phát triển khá mạnh. Các hình thức phổ biến của bảng hỏi để đo cách ứng phó ở dưới dạng thang đo (scale) hay bảng kiểm (inventory). Việc nghiên cứu những công cụ đánh giá cách ứng phó của trẻ nhỏ và thanh thiếu niên được quan tâm từ những năm cuối thập niên 1980 (Compas, 1987; theo Frydenberg, 2008 [71]), từ đó cho đến nay có nhiều bảng hỏi đã được xây dựng và phát triển. Trong tổng quan về các thang đo ứng phó, Carolyn Aldwin đã đưa ra 200 tài liệu tham khảo có liên quan đến các thang đo ứng phó, trong đó có 51 thang đo là dành cho trẻ em và trẻ VTN (theo Frydenberg, 2008 [71]). Compas và các cộng sự (2001) đã thống kê 22 bảng hỏi được sử dụng khi nghiên cứu về cách ứng phó của trẻ nhỏ và VTN từ năm 1988 [59]. Frydenberg (2008) đã tóm tắt 14 bảng hỏi về cách ứng phó ở lứa tuổi VTN [71]. Các bảng hỏi được sử dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu gần đây là: định hướng ứng phó của trẻ VTN với những trải nghiệm có vấn đề - A-COPE (Adolescent Coping Orientation for Problem Experiences) của Patterson và McCubbin (1987), bảng kiểm ứng phó với căng thẳng - CSI (Coping Strategies Inventory) của Tobin và các cộng sự (1989), bảng hỏi về ứng phó qua các tình huống – CASQ (Coping Cross Situation - Questionaire) của SeiffgeKrenke (1995), bảng kiểm về phản ứng ứng phó ở lứa tuổi thanh thiếu niên – CRI-Y (Coping Responses Inventory – Youth Form) của Ebata và Moos (1991), bảng kiểm về ứng phó cho lứa tuổi VTN - CIA (Coping Inventory for Adolescents) của Fanshawe và Burnett (1991), thang đo ứng phó của trẻ VTN - ACS (The Adolescent Coping Scale) của Frydenberg và Lewis (1993); bảng hỏi phản ứng với hành vi giận dữ ở trẻ em và thanh thiếu niên – BARQ-C (The Behavioral Anger Response Questionnaire for children) của Linden và các cộng sự (2003) (Miers, Rieffe, Meerum, Cowan, 2007); thang đo quản lý cảm xúc buồn bã dành cho trẻ em – CSMS (The children's sadness management scale) của (Zeman, Shipman và PenzaClyve, 2001); bảng hỏi điều chỉnh cảm xúc – ERQ (Emotion Regulation Questionaire) của Gross và John (2003)... Các bảng hỏi được phát triển từ 3 cách thức sau: (1) các tác giả xây dựng các item dựa trên cơ sở lý luận về ứng phó và căng thẳng, (2) phỏng vấn trẻ VTN về cách ứng phó của họ khi đối mặt với những vấn đề trong cuộc sống, (3) dựa trên những bảng kiểm ứng phó dành cho người lớn để chỉnh sửa lại cho phù hợp với lứa tuổi VTN (Frydenberg, 2008) [71]. Các bảng hỏi được sử dụng trong các nghiên cứu hầu hết được đảm bảo về độ tin cậy, độ ổn định và tính hiệu lực. Việc thích nghi hóa các bảng hỏi ứng phó ở các bối cảnh văn hóa xã hội khác nhau cũng là một xu hướng phát triển các thang đo hiện nay. Cùng với sự phát triển của các mô hình ứng phó của trẻ VTN thì việc phát triển các thang đo mới vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu. c) Hướng thứ ba khá phổ biến khi tiếp cận vấn đề ứng phó là nghiên cứu các yếu tố tác động đến hành vi ứng phó. Trong các yếu tố ảnh hưởng đến cách ứng phó của trẻ VTN, các tác giả quan tâm nhiều nhất đến các đặc điểm tâm lý, nhân cách. Các nghiên cứu đã chứng tỏ cách ứng phó có mối quan hệ với khí chất (Ebata và Moos, 1994; Kurdek và Sinclair, 1988), tính cách (Flachsbart, 2007; Bolger và Zuckerman 1995, Grant và Langan-Fox 2007, Gunthert và các cộng sự, 1999, Penley và Tomaka 2002, Suls và Martin, 2005) (theo Carver và J. Connor-Smith, 2010 [55]), tính lạc quan – bi quan (Solberg Nes và Segerstrom, 2006; theo Carver và J. Connor-Smith, 2010 [55]; Scheier và Carver, 1985 [113]), tự đánh giá về giá trị bản thân (Chapman và Mullis, 1999; Mary, 1998; Ni và các cộng sự, 2012) [56] [93] [100], đánh giá về sự kiện gây ra cảm xúc âm tính (Compas và các cộng sự, 1988; Mikulincer và Florian, 1995) [58] [97]. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng cho thấy những đặc điểm cá nhân khác cũng chi phối đến cách ứng phó của cá nhân như giới tính (Frydenberg và Lewis, 1993, 1994) [71], độ tuổi (Compas và các cộng sự, 1988; Frydenberg và Lewis, 1993, 1999, 2000) [58] [70]… Cách ứng phó của trẻ không chỉ chịu sự chi phối bởi các yếu tố cá nhân mà còn chịu sự chi phối mạnh mẽ của các yếu tố xã hội. Chỗ dựa xã hội là một yếu tố xã hội lôi cuốn được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu. Có khá nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa chỗ dựa xã hội và cách ứng phó ở lứa tuổi VTN (Bal, Crombez, Van Oost và Debourdeaudhuij, 2003; Frydenberg, 2008) [49] [71]. Tác nhân gây ra cảm xúc âm tính cũng là một yếu tố xã hội chi phối lớn đến cách ứng phó. Nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu so sánh cách ứng phó của trẻ VTN trước các tác nhân khác nhau (Bal và các cộng sự, 2003; Hashim, 2007) [49] [78]. Kết quả cho thấy, với mỗi loại tác nhân, trẻ VTN có những cách ứng phó đặc thù, riêng biệt. Ngoài ra, cách ứng phó còn chịu sự chi phối của các yếu tố xã hội khác như môi trường gia đình, giáo dục của nhà trường… Nhìn chung, tìm hiểu các yếu tố tác động đến hành vi ứng phó là hướng phát triển nhất trong nghiên cứu về ứng phó, được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Văn hóa – xã hội luôn luôn biến đổi, những đặc điểm tâm lý, nhân cách lại chịu sự chi phối lớn bởi đặc điểm văn hóa - xã hội. Do đó, dù hướng này được tiến hành nghiên cứu khá nhiều, nhưng những nghiên cứu ở trên những khách thể mới, thời điểm mới vẫn cần được tiếp tục. d) Một hướng khác góp phần mở rộng phạm vi tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến cách ứng phó với cảm xúc âm tính là nghiên cứu hành vi ứng phó xuyên văn hóa. Các nghiên cứu này thường so sánh sự khác nhau giữa các dân tộc trong quá trình ứng phó. Sự khác nhau này được lý giải trong mối tương quan với đặc điểm dân tộc tính, các đặc điểm về kinh tế, văn hóa và xã hội (Naughton, 1997) [99]. Kết quả của các nghiên cứu theo hướng này cho thấy người Phương Tây thường sử dụng các kiểu ứng phó tập trung vào vấn đề, trong khi đó, người Phương Đông lại thường sử dụng các kiểu ứng phó tập trung vào cảm xúc (Oláh, 1995; O’Connor và Shimizu, 2002) [101] [103]; người Mỹ và người Châu Âu thường sử dụng các kiểu ứng phó mang tính cá nhân hơn người Nhật Bản (Kashima và Triandis, 1986; O’Connor và Shimizu, 2002) [83] [103]. Việc người Mỹ hay người Châu Âu thường có khuynh hướng sử dụng các kiểu ứng phó mang tính cá nhân hơn người Á Đông vì ở xã hội Tây Âu, vai trò của cá nhân và tính cá nhân thường được nhấn mạnh hơn trong xã hội Phương Đông – nơi những giá trị tập thể và cộng đồng được đề cao (O’ Conor và Shimizu, 2002) [103]. Một số nghiên cứu về sự khác biệt trong cách ứng phó của trẻ VTN giữa các nước phương Đông cũng đã được tiến hành. Trong nghiên cứu của Yeh và Inose (2002), học sinh Hàn Quốc sử dụng nghi lễ tôn giáo như là một cách thức ứng phó nhiều hơn so với học sinh Nhật Bản và Trung Quốc; học sinh Nhật Bản sử dụng tìm kiếm chỗ dựa xã hội nhiều hơn so với học sinh Trung Quốc; học sinh Trung Quốc cũng sử dụng cách ứng phó này nhiều hơn so học sinh Hàn Quốc; học sinh Trung Quốc ít sử dụng các hoạt động mang tính sáng tạo trong ứng phó với vấn đề hơn học sinh Nhật Bản và Hàn Quốc [134]. e) Hướng thứ năm khi nghiên cứu về ứng phó của trẻ VTN là tìm hiểu mối quan hệ giữa cách ứng phó với những vấn đề về sức khỏe tâm thần. Compas và các cộng sự (2001) đã tóm tắt 63 nghiên cứu về ứng phó ở trẻ em và trẻ VTN từ năm 1988 đến năm 2001, trong đó có hơn 50 nghiên cứu đã tìm hiểu mối quan hệ giữa ứng phó và những vấn đề về sức khỏe tâm thần. Những thang đo khảo sát về sức khỏe tâm thần được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu theo xu hướng này như bảng kiểm về các hành vi của trẻ (CBCL) - bảng tự thuật của thanh thiếu niên (YSR) của Thomas M. Achenbach; thang đo lo âu (RCMAS) của Cecil và Bert; bảng kiểm trạng thái lo âu (SSAI) của Speiberger, bảng kiểm trầm cảm (BDI) của Beck… Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy, ứng phó có mối liên quan đến các vấn đề về cảm xúc như lo âu, căng thẳng, giận dữ, trầm cảm và các vấn đề về hành vi như xâm kích, tăng động, không tập trung chú ý, hành vi phạm pháp, lệch lạc, suy nghĩ lệch lạc, sử dụng rượu và các chất kích thích. [59] Mặc dù hướng này đã được đông đảo các nhà nghiên cứu quan tâm, nhưng theo Compas và các cộng sự (2001) [59], hướng nghiên cứu này nên được tiếp tục duy trì thực hiện bởi những lý do cơ bản sau: Thứ nhất là các kết quả nghiên cứu chưa có sự thống nhất. Nhìn chung, cách ứng phó đối đầu và tập trung vào vấn đề được tìm thấy là có mối quan hệ với sự điều chỉnh hành vi tốt hơn, cụ thể những trẻ VTN sử dụng các cách ứng phó này thường ít có vấn đề về sức khỏe tâm thần, trong khi đó, cách ứng phó lảng tránh và tập trung vào cảm xúc có mối quan hệ với sự điều chỉnh hành vi kém hơn, hay nói cách khác những trẻ thường sử dụng những cách ứng phó này thường có những vấn đề về cảm xúc và hành vi. Tuy nhiên, trong thực tế, một số nghiên cứu lại cho thấy một số cách ứng phó của nhóm ứng phó tập trung vào cảm xúc như nỗ lực kiểm soát cảm xúc, bộc lộ cảm xúc (để một ai đó (như bố mẹ, bạn bè, thầy cô…) biết những cảm nhận của bản thân) có thể đem đến sự điều chỉnh tốt. Cách ứng phó lảng tránh được xem là thích nghi trong trường hợp khi tác nhân gây ra căng thẳng là không thể kiểm soát được như xung đột, bất hòa giữa bố mẹ (O’ Brien và các cộng sự, 1995, 1997; Weienberg và các cộng sự, 1993) và bạo lực tình dục (Chaffin và các cộng sự, 1997). Cách ứng phó tập trung vào vấn đề chỉ có hiệu quả khi cá nhân có thể khống chế và kiểm soát được các tác nhân gây ra căng thẳng. Điều này phụ
- Xem thêm -