Cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng việt

  • Số trang: 100 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
tranphuong5053

Đã đăng 6896 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN THỊ THU HÀ CÁCH BIỂU HIỆN MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ TRONG CÂU TIẾNG VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ Thái Nguyên - 2008 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN THỊ THU HÀ CÁCH BIỂU HIỆN MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ TRONG CÂU TIẾNG VIỆT Chuyên ngành: Lí luận ngôn ngữ Mã số: 60. 22. 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Văn Lộc Thái Nguyên - 2008 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CẢM ƠN Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Lộc, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn này. Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo trong Viện Ngôn ngữ học, các thầy cô giáo Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Khoa Sau đại học Trường ĐHSP Thái Nguyên đã giảng dạy trong khoá học và tạo điều kiện, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này. Em xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Hội đồng đã nhận xét, góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn. Thái Nguyên, tháng 09 năm 2008 Tác giả luận văn Nguyễn Thị Thu Hà Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT N danh từ, ngữ danh từ, đại từ V vị từ, ngữ vị từ SP cụm chủ vị Dấu (+) chỉ ra tính hiện thực của cấu trúc Dấu (-) chỉ ra tính không hiện thực của cấu trúc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1 2. Lịch sử vấn đề 2 3. Mục đích nghiên cứu 7 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 7 4.1. Đối tượng nghiên cứu 7 4.2. Phạm vi nghiên cứu 7 4.3. Nguồn ngữ liệu 8 5. Phƣơng pháp nghiên cứu 8 6. Cái mới và những đóng góp của luận văn 8 7. Bố cục của luận văn 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1. Quan hệ ngữ nghĩa 11 1.1.1. Định nghĩa 11 1.1.2. Đặc điểm của quan hệ ngữ nghĩa 15 1.1.3. Các dạng phổ biến của quan hệ ngữ nghĩa trong câu 15 1.2. Quan hệ cú pháp 16 1.2.1. Định nghĩa 16 1.2.2. Cách biểu hiện quan hệ cú pháp 17 1.2.3. Cách xác định quan hệ cú pháp trong câu 18 1.3. Sự tƣơng ứng giữa quan hệ ngữ nghĩa - quan hệ cú pháp 22 1.4. Một số khái niệm có liên quan khác 24 1.4.1. Khái niệm quan hệ từ 24 1.4.2. Khái niệm động từ quan hệ 27 1.4.3. Khái niệm kết trị và kết trị của động từ tiếng Việt 27 1.5. Tiểu kết 30 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn CHƢƠNG 2: CÁC PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ TRONG CÂU TIẾNG VIỆT 31 2.1. Nhận xét chung 2.2. Cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả bằng quan hệ từ 32 2.2.1. Thành tố chỉ nguyên nhân 32 2.2.2. Thành tố chỉ kết quả 47 2.3. Cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả bằng động từ quan hệ 54 2.3.1. Bản chất của các động từ quan hệ làm, khiến 54 2.3.2. Đặc điểm của các động từ quan hệ làm, khiến trong cấu trúc nhân quả 59 2.4. Tiểu kết 70 CHƢƠNG 3: VẤN ĐỀ PHÂN TÍCH NGỮ PHÁP KIỂU CÂU CÓ Ý NGHĨA NHÂN QUẢ ĐƢỢC BIỂU HIỆN BẰNG QUAN HỆ TỪ VÀ ĐỘNG TỪ QUAN HỆ 3.1. Vấn đề phân tích ngữ pháp kiểu câu có ý nghĩa nhân quả đƣợc biểu hiện bằng quan hệ từ 71 3.1.1. Các ý kiến khác nhau về cách phân tích kiểu câu này 71 3.1.2. Ý kiến trao đổi về cách phân tích kiểu câu này 79 3.2. Vấn đề phân tích ngữ pháp kiểu câu có ý nghĩa nhân quả đƣợc biểu hiện bằng động từ quan hệ 86 3.2.1. Ý kiến của các nhà nghiên cứu về cách phân tích kiểu câu này 86 3.2.2. Ý kiến trao đổi đề xuất 88 3.3. Tiểu kết 90 KẾT LUẬN 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 NGUỒN NGỮ LIỆU TRÍCH DẪN 98 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp và công cụ tƣ duy của con ngƣời. Nếu tƣ duy có tính chất chung cho nhân loại thì ngôn ngữ lại mang đậm dấu ấn dân tộc. Việc tìm hiểu cách biểu hiện bằng phƣơng tiện ngôn ngữ những nội dung tƣ duy nhất định có ý nghĩa không chỉ đối với việc học tập, nghiên cứu ngôn ngữ mà còn có ý nghĩa đối với việc khám phá đặc điểm tƣ duy của mỗi dân tộc. 1.2. Một nội dung tƣ duy có thể có nhiều hình thức biểu đạt bằng ngôn ngữ. Quan hệ nhân quả là một trong những quan hệ rất phổ biến thuộc về tƣ duy. Nó tồn tại ở tầng nghĩa sâu và đƣợc biểu hiện bằng các phƣơng tiện ngôn ngữ. Nghiên cứu mối quan hệ này, đặc biệt là cách biểu hiện của nó trong câu tiếng Việt giúp ta thấy đƣợc nét đặc thù trong cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong tiếng Việt và mối tƣơng quan giữa mặt hình thức và mặt nội dung trong tiếng Việt nói riêng và trong ngôn ngữ nói chung. 1.3. Việc nghiên cứu cách biểu hiện mối quan hệ nguyên nhân kết quả trong câu tiếng Việt có ý nghĩa cả về mặt lí luận và thực tiễn. Về lí luận, việc nghiên cứu cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt góp phần làm rõ những vấn đề quan trọng nhƣ quan hệ ngữ nghĩa, quan hệ ngữ pháp, nghĩa sâu và nghĩa cú pháp, cách biểu hiện một nội dung quan hệ ngữ nghĩa bằng các phƣơng tiện ngôn ngữ khác nhau trong một ngôn ngữ cụ thể. Về thực tiễn, những kết quả của việc nghiên cứu cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt có thể đƣợc sử dụng vào việc biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo phục vụ cho dạy - học ngữ pháp tiếng Việt, góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học. 1.4. Mặc dù mối quan hệ nguyên nhân kết quả là kiểu quan hệ rất phổ biến, có vai trò quan trọng và việc nghiên cứu nó cần thiết và có ý nghĩa nhƣ vậy nhƣng đến nay, việc nghiên cứu cách biểu hiện mối quan hệ này trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn câu tiếng Việt chƣa đƣợc các nhà Việt ngữ học thực sự quan tâm. Có thể nói, đến nay, vẫn chƣa có công trình nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt. Vì những lí do trên, chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài Cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt. 2. Lịch sử vấn đề Khi nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, các nhà nghiên cứu nhƣ Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Tài Cẩn, nhóm tác giả thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội, Đinh Văn Đức, Diệp Quang Ban… ít nhiều có quan tâm đến mối quan hệ này. Nhƣng phần lớn trong số họ mới dành một mục trong các chuyên luận ngữ pháp để nói về quan hệ nguyên nhân kết quả, và thƣờng chỉ đề cập đến một cách khái quát. 2.1. Trong cuốn Ngữ pháp tiếngViệt hiện đại, Hữu Quỳnh đã tiến hành miêu tả và phân loại các động từ biểu thị mối quan hệ nhân quả, xếp động từ nhân quả vào nhóm động từ gây khiến. Theo định nghĩa của ông, “động từ gây khiến giống nhƣ động từ ngoại hƣớng, hoạt động của nó chi phối hoặc hƣớng vào đối tƣợng nhƣng với ý nghĩa khuyên bảo, cho phép hay ngăn cản hành động của đối tƣợng”. Động từ gây khiến thƣờng đòi hỏi hai thành tố phụ: một là danh từ, một là động từ và có khi hai thành tố phụ tạo nên cụm chủ - vị. Các động từ gây khiến trong danh sách của Hữu Quỳnh, gồm có: để (cho), khiến (cho), làm (cho), bắt, bắt buộc, cản trở, cho phép, cưỡng bức, cưỡng ép, dắt, dẫn, dìu dắt, đề nghị, đòi hỏi, cấm, giúp đỡ… [26, 70]. Hữu Quỳnh cũng tiến hành phân loại quan hệ từ mà ông gọi là từ nối. Từ nối đƣợc ông định nghĩa nhƣ sau: “Từ nối là những từ chỉ các quan hệ ngữ pháp chuyên dùng để nối các thành phần câu hay các thành tố trong cụm từ”. Theo đó, những từ nối đƣợc ông phân chia thành hai nhóm: từ nối chính phụ và từ nối liên hợp. Những từ vì, do, bởi, tại, nhờ đƣợc xếp vào nhóm từ nối chính phụ, bởi “chúng biểu thị ý nghĩa nguyên nhân dùng trong cụm từ chính phụ”.[26, 88 - 92] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Ví dụ: Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình.(Nguyễn Du) Vì chàng thiếp phải đi chăng về mò. (Ca dao) Nhƣ vậy, Hữu Quỳnh mới chỉ dừng lại ở việc miêu tả và phân loại sơ bộ các động từ biểu thị quan hệ nhân quả và các quan hệ từ nhân quả mà chƣa có điều kiện miêu tả kĩ hơn theo các nhóm. Việc tác giả xếp làm, khiến vào cùng nhóm với bắt, mời, cấm là sự nhầm lẫn. 2.2. Các tác giả thuộc Uỷ ban khoa học xã hội trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt đã phân loại, miêu tả một cách cụ thể cấu tạo của câu ghép, trong đó, câu ghép đƣợc chia thành câu ghép song song và câu ghép qua lại. Theo các tác giả, “đặc điểm quan trọng của nòng cốt - nòng cốt đơn hay nòng cốt ghép - là khả năng độc lập về ngữ pháp, tức là khả năng làm thành câu - câu đơn hay câu ghép. Khi đứng độc lập làm thành phần câu, nòng cốt đơn có vai trò biểu thị một quá trình tƣ duy và thông báo hoàn chỉnh”. [46, 217] Ví dụ: Con chăm học. Mẹ rất vui lòng. Để làm thành một câu ghép, các tác giả đã sử dụng phƣơng tiện dẫn nối là cặp quan hệ từ vì… nên biểu thị mối quan hệ nhân quả để chuyển câu đơn thành câu ghép qua lại. Ví dụ: Vì con chăm học nên mẹ rất vui lòng. Không những thế, nhóm tác giả này đã đƣa ra phƣơng án sử dụng nòng cốt làm thành phần trong cấu tạo của câu đơn hoặc thành phần động ngữ chứa động từ ngoại động có nghĩa gây khiến: Ví dụ: Con chăm học làm cho mẹ rất vui lòng. Anh thành công khiến em rất vui lòng. Trong trƣờng hợp này, nòng cốt câu đơn cũng có giá trị tƣơng đƣơng với danh ngữ và cũng có những cách diễn đạt nhƣ: Việc anh thành công khiến em rất vui mừng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Anh thành công, điều đó khiến em rất vui mừng. Trong công trình này, các quan hệ từ đƣợc các tác giả gọi là kết từ. Kết từ đƣợc chia thành những tiểu loại chính sau đây: a) “Kết từ chính phụ” tức là kết từ biểu thị quan hệ chính phụ. Đó là những kết từ nhƣ: do, của, để, bởi, bởi vì, tại, tại vì, mà, từ, đối với… b) “Kết từ liên hợp” tức là kết từ biểu thị quan hệ liên hợp. Đó là những từ nhƣ: và, với, hay, hoặc, cùng, những, song, thì… và những từ có thể dùng thành cặp như: nếu… thì, tuy… nhưng, vì… cho nên, không những… mà còn, càng… càng, vừa… vừa” [45, 91]. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng các tác giả chƣa phân loại, phân tích, miêu tả động từ biểu thị quan hệ nhân quả và quan hệ từ nhân quả một cách cụ thể, mà mới chỉ đề cập đến một cách khái quát. 2.3. Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt. Câu, Hoàng Trọng Phiến đã đề cập đến các khía cạnh biểu hiện của động từ nhân quả và quan hệ từ nhân quả. Đồng thời, ông đã tiến hành phân loại quan hệ từ khá cụ thể thành các nhóm. Tác giả đã xếp những câu có chứa động từ khiến vào nhóm câu trung gian giữa câu đơn và câu ghép, ông gọi đó là sự phức tạp hoá câu đơn, hay còn gọi là kiểu câu móc xích. Kiểu câu này có mô hình tƣơng ứng nhƣ sau: D1Đ1D2Đ2. Ví dụ: Công việc này khiến chúng tôi lo lắng. Toàn bộ câu là một chuỗi các yếu tố móc xích nhau và chia thành hai bậc: khiến - chúng tôi và chúng tôi - lo lắng. [24, 189] Theo Hoàng Trọng Phiến, kết cấu móc xích có thể có giới từ cho, để cho… tuy nhiên, yếu tố giới từ không có vai trò quyết định đối với kết cấu móc xích. Ví dụ: Công việc này khiến cho tôi lo lắng. Việc ra đi của nó khiến cho tôi lƣu luyến. Các loại câu nhân quả đƣợc tác giả chia thành 19 nhóm tƣơng ứng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Tuy tác giả đã chia các loại câu nhân quả thành các nhóm nhƣng lại chƣa có điều kiện miêu tả kỹ các cấu trúc nhân quả. 2.4. Tác giả Lê Biên trong cuốn Từ loại tiếng Việt hiện đại, coi “động từ gây khiến là những động từ chỉ vận động có tác động gây khiến, chi phối hoạt động của đối tƣợng” [2, 79]. Theo ông, động từ gây khiến đòi hỏi phải có hai bổ ngữ: bổ ngữ thứ nhất (A1) là đối tƣợng chịu tác động của động từ gây khiến, thƣờng là danh từ và có thể là đại từ xƣng hô; bổ ngữ thứ hai (A2) là bổ ngữ nội dung do hành động của chủ thể (động từ gây khiến) chi phối, tác động gây ra ở đối tƣợng, vì vậy, bổ ngữ chỉ nội dung thƣờng là động từ, tính từ (hoặc một ngữ động từ, ngữ tính từ…). Sơ đồ cấu trúc của động từ gây khiến là: A - V - A1 - A2 Ví dụ: Con học giỏi khiến cho cha mẹ vui lòng. Trời mƣa làm cho cây cối xanh tƣơi. Hai bổ ngữ (A1, A2) đều bị chi phối của động từ gây khiến nhƣng chúng vẫn có quan hệ với nhau. Nếu tách A1 - A2 ra thì đó là một kết cấu chủ vị có nội dung thông báo, miêu tả hoàn chỉnh, ví dụ: cha mẹ vui lòng, cây cối xanh tươi. Nhƣ vậy, theo quan điểm của Lê Biên, 2 bổ ngữ của động từ gây khiến nếu tách riêng ra có thể tạo thành một cụm chủ vị. Những động từ gây khiến theo Lê Biên gồm: sai, bảo, đề nghị, yêu cầu, cho, cho phép, khuyên, cấm, ngăn cản, khiến (cho), làm (cho), làm… 2.5. Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban đã chia động từ tiếng Việt thành hai lớp: lớp động từ độc lập và lớp động từ không độc lập. Lớp động từ độc lập là “những động từ biểu thị ý nghĩa quá trình (hành động hoặc trạng thái). Ý nghĩa quá trình có thể nhận thức đƣợc tƣơng đối rõ, ngay cả trong trƣờng hợp động từ không có từ khác đi kèm để bổ nghĩa” [1, 96]. Lớp động từ độc lập đƣợc phân chia thành một số nhóm nhỏ, dựa theo “khả năng kết hợp đƣợc của động từ với một số nhóm phụ từ nhất định và khả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn năng chi phối của động từ đối với những thực từ hay kết hợp từ đi kèm cho tính chuyên môn” [1, 96]. Động từ quan hệ đƣợc tác giả xếp vào nhóm thứ hai, tức là nhóm động từ có thực từ đi kèm biểu thị đối tƣợng sai khiến và nội dung sai khiến. Những động từ này có tên gọi chung là động từ khiên động thuộc lớp động từ ngoại động. Những động từ khiên động gồm có: nhờ, bảo, cử, bắt, khiến, yêu cầu… Ví dụ: Công an huyện yêu cầu bộ phận hình sự của công an tỉnh trợ giúp xác minh. (Cao Duy Thảo) Một hôm hợp tác xã họp cử Keng đánh một chiếc xe bò lên huyện chở phốt phát về. (Nguyễn Kiên) 2.6. Nguyễn Kim Thản trong cuốn Động từ trong tiếng Việt, xếp làm, khiến vào nhóm “động từ gây khiến”. Theo ông, “động từ gây khiến biểu thị hoạt động thúc đẩy, cho phép, giúp đỡ hay cản trở sự thực hiện của những hoạt động khác” [28]. Đặc điểm ngữ pháp của động từ gây khiến đƣợc ông xếp vào bốn cấu trúc chính và hai cấu trúc đƣợc cải biến dƣới dạng thức rút gọn. Những động từ gây khiến theo Nguyễn Kim Thản gồm: bảo, bắt buộc, buộc, bắt, cản trở, cho phép, cổ vũ, cưỡng bức, cưỡng ép, dạy, dắt, dẫn dắt, dìu dắt, đề nghị, đòi hỏi, cấm giục, gọi, giúp đỡ, hướng dẫn, hô hào, kêu gọi, khuyên nài, ép, sai, thuyết phục, yêu cầu… Tóm lại, qua các công trình hiện có, các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc phân loại kho từ vựng nói chung và phân loại động từ, quan hệ từ nói riêng thành các loại, nhóm, tiểu nhóm. Mối quan hệ nhân quả cũng đƣợc các tác giả đề cập đến qua việc phân tích nhóm từ (ngữ) với thành tố phụ chỉ nguyên nhân và câu ghép nhân quả. Song tính chất của mối quan hệ nhân quả và cách biểu hiện của nó là lĩnh vực nghiên cứu mới chỉ đƣợc đề cập khái quát. Điều đáng chú ý là phần lớn các tác giả có đề cập đến các động từ quan hệ làm, khiến đều nhầm lẫn các động từ này với động từ cầu khiến (bắt, bảo, cấm, mời, khuyên…) 3. Mục đích nghiên cứu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ bản chất của mối quan hệ nhân quả với tư cách là một kiểu quan hệ ngữ nghĩa, phân biệt nó với quan hệ cú pháp; trên cơ sở đó, tìm hiểu phương thức biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt, qua đó, giúp người dạy, người học ngữ pháp tiếng Việt nắm vững, sử dụng tốt quan hệ từ nhân quả và động từ quan hệ biểu thị mối quan hệ nhân quả trong giảng dạy và học tập ngữ pháp tiếng Việt. 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 4.1. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt hiện đại. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn chỉ tập trung vào 2 phƣơng thức biểu hiện quan hệ nhân quả: - Cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả bằng phƣơng tiện ngữ pháp (bằng quan hệ từ) - Cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả bằng phƣơng tiện từ vựng - ngữ pháp (bằng động từ quan hệ) 4.3. Nguồn ngữ liệu Chúng tôi có khoảng 2000 phiếu tƣ liệu ghi các câu có ý nghĩa nhân quả đƣợc biểu hiện bằng quan hệ từ và động từ quan hệ rút ra từ sách giáo khoa ngữ văn phổ thông, từ báo chí và các tác phẩm văn học bằng tiếng Việt (hầu hết là các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại). 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Phƣơng pháp nghiên cứu chủ đạo đƣợc chúng tôi sử dụng trong luận văn là phương pháp miêu tả. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phƣơng pháp, thủ pháp nghiên cứu sau đây: Phương pháp thống kê, phân loại đƣợc chúng tôi áp dụng để thu thập, xử lí các câu có sử dụng quan hệ từ và động từ quan hệ biểu thị quan hệ nhân quả. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Phương pháp đối chiếu, so sánh đƣợc chúng tôi sử dụng để làm nổi bật những nét tƣơng đồng và khác biệt của các quan hệ, các hiện tƣợng ngữ nghĩa và ngữ pháp liên quan đến cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả. Luận văn cũng sử dụng các thủ pháp thử nghiệm nhƣ bổ sung, lƣợc bỏ, thay thế, cải biến và mô hình hóa để hạn chế sự cảm tính, chủ quan trong miêu tả các hiện tƣợng ngữ nghĩa, ngữ pháp và để hỗ trợ làm tăng hiệu quả của các phƣơng pháp trên. 6. Cái mới và những đóng góp của luận văn Với luận văn này, có thể nói lần đầu tiên, cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt đƣợc nghiên cứu một cách có hệ thống và mang tính chuyên sâu. Qua việc nghiên cứu đề tài này, luận văn có những đóng góp chính sau đây: - Tổng kết (có nhận xét, đánh giá) một cách tƣơng đối có hệ thống ý kiến của các nhà nghiên cứu về cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả bằng quan hệ từ và động từ quan hệ. - Phân tích, miêu tả làm rõ phƣơng thức biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt bằng quan hệ từ, đặc điểm, tính chất của mối quan hệ cú pháp giữa bộ phận chỉ nguyên nhân và bộ phận chỉ kết quả trong câu có ý nghĩa nhân quả đƣợc biểu hiện bằng quan hệ từ. - Phân tích, miêu tả, làm rõ phƣơng thức biểu hiện quan hệ nhân quả bằng động từ quan hệ, làm rõ đặc tính ý nghĩa và ngữ pháp (thuộc tính kết trị) của các động từ quan hệ làm, khiến và tính chất ngữ pháp của kiểu câu có các động từ này làm vị ngữ. 7. Bố cục của luận văn Ngoài Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chương 1: Cơ sở lý luận Chƣơng này trình bày những vấn đề lý luận cơ bản làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài. Đó là những vấn đề khái quát về quan hệ ngữ nghĩa, quan hệ cú pháp và một số khái niệm khác có liên quan đến việc nghiên cứu đề tài. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Chương 2: Cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt Chƣơng này phân tích, miêu tả cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả bằng phƣơng tiện ngữ pháp (bằng quan hệ từ nhân quả) và bằng phƣơng tiện từ vựng - ngữ pháp (bằng các động từ quan hệ làm, khiến). Chương 3: Vấn đề phân tích ngữ pháp kiểu câu có ý nghĩa nhân quả được biểu hiện bằng quan hệ từ và động từ quan hệ Chƣơng này đề cập đến các nguyên tắc và các thủ pháp xác định thành phần câu, khả năng chuyển đổi câu có ý nghĩa nhân quả đƣợc biểu hiện bằng quan hệ từ thành câu có ý nghĩa nhân quả đƣợc biểu hiện bằng động từ quan hệ (làm, khiến) và ngƣợc lại; đồng thời phân tích, định loại về mặt cấu trúc cho câu nhân quả tiếng Việt. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1. Quan hệ ngữ nghĩa 1.1.1. Định nghĩa Trong cuốn Ý nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ, Wallace L. Chafe coi cấu trúc ngữ nghĩa là cấu trúc được tạo xung quanh động từ trung tâm kèm với các danh từ có quan hệ với nó theo một số hướng. Nhƣ vậy, cấu trúc ngữ nghĩa chính là quan hệ danh - động. [47, 19] Trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, nhóm tác giả cho rằng: “Quan hệ ngữ nghĩa là mối liên hệ (tƣơng quan) từ vựng - ngữ cú giữa các bộ phận của phát ngôn”. [48, 239] Tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng quan hệ ngữ nghĩa có 2 loại: “Quan hệ ngữ nghĩa bậc một, mang tính khái quát cao đƣợc nhiều khoa học (ngôn ngữ học, triết học, toán học, logic học) quan tâm, nhƣ: quan hệ thứ tự, quan hệ bao hàm, quan hệ tƣơng tự, quan hệ đồng nhất, quan hệ mâu thuẫn” [44, 314]. “Quan hệ ngữ nghĩa bậc hai, làm nhiệm vụ cụ thể hoá cho các quan hệ bậc một. Chẳng hạn, quan hệ thứ tự đƣợc cụ thể hoá thành các quan hệ: định vị thời gian, trình tự diễn đạt, nhân quả v.v… Quan hệ bao hàm đƣợc cụ thể hoá thành các quan hệ: giống loài, chung riêng, sở hữu, đặc trƣng…” [44, 314]. Dƣơng Hữu Biên lại coi “quan hệ ngữ nghĩa - chức năng là một trong hai dạng quan hệ cơ bản giữa một vị từ và các đối tố của nó”. Theo đó, tác giả cũng xác định “quan hệ ngữ nghĩa - chức năng là quan trọng bởi nó chiếm giữ đƣợc cấu trúc cơ bản và nền tảng về các biến cố, sự kiện; đồng thời, nó có một sự phong phú và đa dạng về tên gọi trong nhiều lí thuyết khác nhau nhƣ vai nghĩa, vai cách, vai ngữ nghĩa cách, quan hệ chủ đề…” Theo tác giả, “các quan hệ chủ đề miêu tả chức năng ngữ nghĩa học của một đối tố với việc quan tâm đến vị từ trong một câu. Ví dụ: (1) Mne nravitsja eta kniga. (Tôi thích cuốn sách này) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Ta thấy chủ thể (kẻ thể nghiệm) là ở trạng thái tặng cách (cách ba): Mne; còn đối thể (vật được thể nghiệm) là ở hình thái chủ cách hay danh cách (cách một): eta kniga. Do vậy, về mặt logic sự tình thì (1) có thể đƣợc miêu tả nhƣ (2): (2) (Cuốn sách này [NOM] làm tôi [DAT] thích) Nhƣ vậy, về cơ bản, các quan hệ chủ đề hoạt động với tƣ cách là một bề mặt chung giữa ngữ nghĩa học từ vựng và cú pháp học. Nói cách khác, các quan hệ chủ đề là những quan hệ hai mang: Một mặt, chúng là những quan hệ có tính ngữ nghĩa về bản chất và có quan hệ đến sự biểu hiện ngữ nghĩa từ vựng của động từ, bởi lẽ chúng là một cách hành chức về ý nghĩa của động từ. Trong khi đó, ở mặt khác, chúng lại có những ngụ ý đối với ngữ pháp. Các quan hệ chủ đề này đã xác lập đƣợc một cách xác đáng vị trí đối với cơ sở ngữ nghĩa của mình, nhƣng chúng cũng có thể là nhạy cảm đối với các yêu cầu của ngữ pháp”. [3] Chúng tôi tiếp thu và vận dụng ý kiến của các nhà nghiên cứu và để có những hiểu biết cụ thể hơn về quan hệ ngữ nghĩa, chúng tôi dựa vào lí thuyết về ba bình diện của câu. Nhƣ đã biết, trong hệ thống các đơn vị ngữ pháp, câu là kiểu đơn vị có đặc tính rất phức tạp. Theo quan niệm đƣợc thừa nhận rộng rãi hiện nay, câu là một thực thể hỗn hợp đƣợc hình thành nên không phải bởi một mà bởi ba bình diện: bình diện tâm lý, bình diện cú pháp và bình diện logic [19, 103]. Tán thành về cơ bản quan niệm về ba bình diện của câu đƣợc nhắc đến trên đây nhƣng có sự điều chỉnh về tên gọi cho quen thuộc và dễ hiểu hơn, chúng tôi phân biệt câu ở bình diện giao tiếp (tâm lý), bình diện cú pháp và bình diện nghĩa sâu (logic). Ở bình diện giao tiếp, câu là một đơn vị thông báo (một thông điệp) đƣợc dùng trong những tình huống nói năng cụ thể. Phân tích câu về mặt giao tiếp chính là xác định đề ngữ - điểm xuất phát của thông báo và thuyết ngữ phần còn lại của câu có chức năng thuyết minh về đề ngữ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Về mặt cú pháp, câu là đơn vị đƣợc tạo thành từ sự kết hợp giữa các từ theo những quan hệ cú pháp nhất định. Phân tích câu về mặt cú pháp là xác định các thành phần cú pháp của câu nhƣ chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ…; các quan hệ ngữ pháp nhƣ quan hệ chính phụ, quan hệ đẳng lập, quan hệ chủ vị; các kiểu câu phân theo cấu trúc cú pháp cơ bản nhƣ câu đơn, câu ghép, hoặc các kiểu câu phân theo đặc trƣng hình thức và chức năng thực hiện hành vi ngôn ngữ nhƣ câu nghi vấn, câu cầu khiến… [30, 39]. Về mặt nghĩa sâu, câu là một cấu trúc gồm các thành tố ngữ nghĩa nằm trong mối quan hệ nhất định phản ánh trực tiếp sự kiện, hiện tƣợng trong hiện thực khách quan. Phân tích câu về mặt nghĩa sâu là xác định hạt nhân ngữ nghĩa của câu (biểu thị các sự tình) và các tham tố ngữ nghĩa của bậc nghĩa sâu (biểu thị các thực thể tham gia vào các sự tình). Theo Nguyễn Văn Lộc, trong việc phân tích mặt ý nghĩa của các thành phần câu (nghĩa của các thực từ trong câu), vấn đề khó khăn, phức tạp nhất là xác định bản chất và ranh giới các ý nghĩa cụ thể. Đến nay, bản chất của các nghĩa cú pháp kiểu nhƣ chủ thể, đối thể, công cụ, nguyên nhân… chƣa đƣợc hiểu thống nhất và chƣa đƣợc xác định rõ ràng. Trong các công trình ngữ pháp, các kiểu nghĩa trên đƣợc đồng nhất với phạm trù nghĩa sâu đƣợc xác định trên cơ sở cấu trúc sâu theo cách hiểu của Ch.Fillmore. Theo quan niệm này thì những cấu trúc kiểu nhƣ: (1) Malchik bezyt (Cậu bé đang chạy) và (2) Beg malchika (Sự chạy của cậu bé) sẽ nằm trong một lƣợc đồ ngữ nghĩa chung, trong đó từ “machik” luôn có ý nghĩa chủ thể hoạt động. Nhƣng nếu chỉ dựa vào nghĩa sâu để xác định, phân tích các thành phần câu thì sẽ có mâu thuẫn nảy sinh: Hoá ra thành tố chỉ chủ thể hoạt động không chỉ đƣợc xác định trong mối quan hệ với động từ (ở cấu trúc (1) mà còn đƣợc xác định trong mối quan hệ với danh từ ở cấu trúc (2)). Việc xác định, phân tích mặt nội dung của các thành phần câu chỉ dựa vào nghĩa sâu cũng sẽ gặp một số khó khăn không thể khắc phục đƣợc. Chính S.D.Kasnelson đã chỉ ra điều này khi nhận xét về ngữ pháp cách của Ch. Fillmore. S.D.Kasnelson cho rằng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn trong những câu nhƣ (1) Dzon otkryl dver kljuchom (Giôn mở cửa bằng chìa khoá) và (2) Kljuch otkryl dver (Chiếc chìa khoá mở cửa), theo ngữ pháp cách của Ch. Fillmore thì Kljuchom và kljuch (chìa khoá) đều ở cách công cụ (cách I). Nhƣng theo ý kiến của S.D. Kasnelson thì cách phân tích nhƣ vậy sẽ mâu thuẫn với chính điều mà Ch. Fillmore đã khẳng định và cố gắng chứng minh, đó là: Mỗi động từ xét về mặt kết trị, đều đƣợc đặc trƣng bởi một lƣợc đồ kết trị nhất định, chẳng hạn, lƣợc đồ kết trị của động từ otkryl (mở) là: ngƣời hành động - đối thể tác động - công cụ. Để khắc phục mâu thuẫn này, theo S.D.Kasnelson thì phải cho rằng chỉ trong câu (1), Kljuchom mới có ý nghĩa công cụ thuần tuý, còn trong câu (2), kljuch có ý nghĩa hỗn hợp: chủ thể và công cụ. [18, 111]. Cũng với quan niệm tƣơng tự, N.V.Solnesva cho rằng trong câu Xe này chở hàng, từ xe chỉ chủ thể hoạt động mặc dù theo lý thuyết cách của Ch. Fillmore thì xe là công cụ [43, 31]. Nghĩa chủ thể của từ xe trong câu trên cũng nhƣ nghĩa chủ thể của từ kljuch trong câu (2) chính là nghĩa cú pháp. Nhƣ vậy, khi xác định, phân tích mặt nội dung của các thành phần câu, việc dựa vào nghĩa sâu là cần thiết nhƣng không đầy đủ và không cho phép xác định bản chất của thành phần câu với tƣ cách là phạm trù cú pháp. Nghĩa cú pháp và nghĩa sâu mặc dù có mối quan hệ mật thiết với nhau nhƣng vẫn là hai kiểu nghĩa khác nhau về bản chất và chúng không phải luôn luôn tƣơng ứng với nhau. Sự khác nhau giữa chúng là ở chỗ nghĩa cú pháp của một từ chỉ đƣợc xác định trong mối quan hệ với nghĩa ngữ pháp của các từ khác và luôn có hình thức ngữ pháp riêng để biểu thị, còn nghĩa sâu đƣợc xác định trong mối quan hệ giữa các từ vựng của từ và không có hình thức ngữ pháp riêng để biểu thị. [35] Từ những ý kiến luận giải về nghĩa sâu trên đây, chúng tôi rút ra quan niệm của mình về cấu trúc ngữ nghĩa và quan hệ ngữ nghĩa nhƣ sau: Cấu trúc ngữ nghĩa của câu (cấu trúc chìm, cấu trúc sâu) đƣợc phân biệt với cấu trúc cú pháp (cấu trúc nổi) ở chỗ: cấu trúc ngữ nghĩa của câu là cấu trúc biểu thị mối quan hệ ngữ nghĩa (quan hệ nghĩa sâu theo cách hiểu trên) giữa các từ, tổ hợp từ trong câu. Vậy, quan hệ ngữ nghĩa là mối quan hệ về mặt nghĩa sâu giữa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn các từ, tổ hợp từ trong câu phản ánh trực tiếp quan hệ giữa các sự vật, hiện tƣợng trong hiện thực khách quan. 1.1.2. Đặc điểm của quan hệ ngữ nghĩa - Quan hệ ngữ nghĩa phản ánh trực tiếp mối quan hệ giữa các sự vật, sự kiện, hiện tƣợng trong thực tế khách quan. Nó khác với quan hệ cú pháp chỉ trực tiếp phản ánh mối quan hệ giữa các từ. - Khác với quan hệ cú pháp luôn có hình thức cú pháp riêng để biểu thị, quan hệ ngữ nghĩa không bắt buộc phải có hình thức cú pháp riêng để biểu thị. Chẳng hạn, quan hệ ngữ nghĩa nhân quả trong câu tiếng Việt có thể biểu hiện dƣới các hình thức cú pháp là các cấu trúc có động từ quan hệ hoặc các cấu trúc có quan hệ từ nhân quả kiểu nhƣ: Sự ra đi của anh khiến mẹ lo lắng. (bằng động từ quan hệ “khiến”) Vì sự ra đi của anh nên mẹ lo lắng. (bằng quan hệ từ “vì…nên”) 1.1.3. Các dạng phổ biến của quan hệ ngữ nghĩa trong câu - Quan hệ chủ thể - hành động: Nam đọc. Mẹ về. Nó chạy… - Quan hệ hoạt động - đối tƣợng: đọc sách. đập đá… - Quan hệ hoạt động - công cụ: ăn bằng đũa. liên lạc bằng điện thoại… - Quan hệ sở hữu: tiền của tôi. sách của Nam… - Quan hệ nguyên nhân - kết quả: chết vì bệnh. sống nhờ bạn… 1.2. Quan hệ cú pháp 1.2.1. Định nghĩa Quan hệ cú pháp đƣợc hiểu là mối quan hệ giữa các thực từ trong câu đƣợc xác định dựa vào vai trò, chức năng của các từ đối với nhau. “Cú pháp bắt đầu ở nơi diễn ra sự kết hợp giữa các từ” [41, 28]. Theo cách hiểu này thì quan hệ giữa một thực từ và một hƣ từ (ví dụ: đang đi, rất đẹp, bằng điện thoại…) không phải là quan hệ cú pháp thực sự. Kiểu quan hệ này đƣợc gọi là quan hệ cận cú pháp(kvazisintaksicheskaja svjaz). Để có cơ sở xác định tính chất của mối quan hệ cú pháp, trƣớc hết, cần xác định sự có mặt của mối quan hệ cú pháp giữa các từ. Hai từ (thực từ) đƣợc coi là có quan hệ cú pháp với nhau nếu giữa chúng có thể xác định mối Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -