Các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án

  • Số trang: 69 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 16 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT ---- LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT KHÓA 2010 – 2014 Đề tài: CÁC LOẠI KHIẾU KIỆN HÀNH CHÍNH THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TÒA ÁN Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: Ths. Diệp Thành Nguyên Bộ môn: Luật Hành chính Võ Thị Hồng Diệu MSSV: 5106130 Lớp: Hành chính K36 Cần Thơ, tháng 11/2013 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy Ths. Diệp Thành Nguyên đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết luận văn tốt nghiệp. Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình truyền đạt kiến thức trong suốt khóa học. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin. Em chân thành cảm ơn Toà án nhân dân Thành phố Sóc Trăng đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để em thực tập tại Tòa án. Em xin gởi lời cảm ơn đến các Anh, Chị trong Tòa án nhân dân Thành phố Sóc Trăng đã giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu. Do kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót là điều chắc chắn. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báo của quý Thầy, Cô và các bạn để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện. Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý. Đồng kính chúc các Anh, Chị trong Toà án nhân dân Thành phố Sóc Trăng luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc. Em xin chân thành cảm ơn! Võ Thị Hồng Diệu NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN .............................................................................................................................................. ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... ............................................................................................................................................... Mục Lục LỜI NÓI ĐẦU ............................................................................................... 1 CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC LOẠI KHIẾU KIỆN HÀNH CHÍNH THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TÒA ÁN. 3 1.1 Sự cần thiết khi thành lập Tòa hành chính để giải quyết các vụ kiện hành chính ................................................................................................. 3 1.2 Sơ lược về khiếu kiện hành chính ở nước ta ................................................ 6 1.2.1 Thời kỳ phong kiến............................................................................... 6 1.2.2 Từ năm 1945 đến trước ngày Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính có hiệu lực (01/7/1996) ............................................................... 7 1.2.3 Từ ngày 01/7/1996 đến trước ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực (01/7/2011) .......................................................................................... 9 1.2.4 Từ ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực (01/7/2011) đến nay ..... 10 1.3 Khái niệm khiếu kiện hành chính .............................................................. 10 1.3.1 Khái niệm khiếu nại hành chính và khái niệm khởi kiện hành chính ............................................................................................................... 10 1.3.2 Tính chất của khiếu kiện hành chính................................................... 13 1.3.3 Phân loại khiếu kiện hành chính ......................................................... 14 1.3.4 Ý nghĩa của khiếu kiện hành chính đối với nước ta ............................ 15 1.4 Khái niệm thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các loại khiếu kiện hành chính ..................................................................................... 15 1.5 Cơ sở xác định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các loại khiếu kiện hành chính............................................................................... 17 CHƯƠNG 2.CÁC LOẠI KHIẾU KIỆN HÀNH CHÍNH THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TÒA ÁN......................................... 19 2.1 Đối tượng thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo pháp luật hiện hành......................................................................................................... 19 2.1.1 Quyết định hành chính........................................................................ 19 2.1.2 Hành vi hành chính............................................................................. 23 2.2 Các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án ............................................................................................................. 26 2.2.1 Các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Luật tố tụng hành chính năm 2010 ............................................... 26 2.2.2 Các loại khiếu kiện hành chính theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006) ........................................................................................................... 31 2.2.3 So sánh các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền của Tòa án theo Luật tố tụng hành chính 2010 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006)............................................................................................................... 33 2.3 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm các loại khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân theo cấp và theo lãnh thổ ...................................................... 36 2.3.1 Thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ........................................................................................................ 36 2.3.2 Thẩm quyền của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương....................................................................................................... 38 2.4 Xác định thẩm quyền giải quyết các vụ kiện hành chính ........................... 42 2.4.1 Xác định thẩm quyền trong trường hợp vừa có đơn khiếu nại, vừa có đơn khiếu kiện ............................................................................................ 42 2.4.2 Xác định thẩm quyền thụ lý giữa các Tòa án ...................................... 43 CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN XÉT XỬ CÁC LOẠI KHIẾU KIỆN HÀNH CHÍNH THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỂ HOÀN THIỆN.......................................... 45 3.1 Thực tiễn xét xử và một số kiến nghị về các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Sóc Trăng........................................................................................................ 45 3.1.1 Thực tiễn xét xử các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Sóc Trăng .......................... 45 3.1.2 Kiến nghị về các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Sóc Trăng..................................... 49 3.2 Những vướng mắc trong thực tiễn thực hiện Luật tố tụng hành chính năm 2010 và một số kiến nghị về các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền của Tòa án ................................................................ 50 3.2.1 Những vướng mắc trong thực tiễn thực hiện Luật tố tụng hành chính năm 2010 ............................................................................................... 50 3.2.2 Một số kiến nghị về các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền của Tòa án ............................................................................................ 55 KẾT LUẬN.................................................................................................. 59 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án LỜI NÓI ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân được Nhà nước bảo đảm. Trong đó, Chính phủ thống nhất quản lý xã hội và bảo đảm hiệu lực của bộ máy nhà nước từ trung ương tới địa phương. Tuy nhiên, trong quá trình quản lý và thực hiện nhiệm vụ được giao thì một số cơ quan nhà nước hay người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đã có những quyết định hành chính hay hành vi hành chính trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Từ đó, dẫn đến việc phát sinh khiếu kiện hành chính. Nhưng để xác định đâu là loại khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa hành chính là một việc không phải dễ đối với người khiếu kiện. Nguyên nhân có thể là do hoạt động quản lý hành chính rất đa dạng kéo theo các loại khiếu kiện hành chính cũng đa dạng, do sự am hiểu về pháp luật của người khiếu kiện còn bị hạn chế v.v…Song, khi đã xác định đúng đâu là loại khiếu kiện thuộc thẩm quyền của Tòa hành chính sẽ giúp cho người khiếu kiện tiết kiệm được nhiều thời gian, tiền của, bảo vệ quyền và lợi ích của mình,v.v…Bên cạnh đó, Tòa án cũng sẽ giải quyết các vụ kiện hành chính kịp thời, nhanh hơn, đúng pháp luật. Trước đây, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996; Pháp lệnh của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội số 10/1998/PL-UBTVQH10 ngày 25/12/1998 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành; Pháp lệnh của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội số 29/2006/PL-UBTVQH11 ngày 05/4/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính cũng có quy định các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tuy nhiên, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006) còn tồn tại một số bất cập, hạn chế dẫn đến số vụ kiện hành chính được Tòa án thụ lý giải quyết chưa nhiều. Do đó, ngày 24/11/2010 Luật tố tụng hành chính đã được ban hành để khắc phục những bất cập, hạn chế về quy định các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Vậy Luật tố tụng hành chính năm 2010 đã quy định như thế nào về các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án? Đây là lý do mà người viết chọn đề tài “Các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án” để làm rõ thêm thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với các loại khiếu kiện hành chính theo Luật tố tụng hành chính năm GVHD: Th.S: Diệp Thành Nguyên 1 SVTH: Võ Thị Hồng Diệu Các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án 2010. Từ đó hy vọng giúp cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được loại khiếu kiện nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa hành chính và góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ kiện hành chính của Tòa án. 2. Mục đích nghiên cứu đề tài Đề tài hướng tới mục tiêu là làm rõ các loại khiếu kiện hành chính nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, qua đó góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Bên cạnh đó, đề tài cũng đề cập đến những vướng mắc đối với việc giải quyết các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, từ đó kiến nghị một số biện pháp để nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án. 3. Phạm vi nghiên cứu đề tài Trong đề tài này người viết chỉ tập trung nghiên cứu về hai mặt, đó là: Về mặt lý luận, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định của nước ta, mà tập trung chủ yếu là Luật tố tụng hành chính năm 2010 và các văn bản liên quan. Về mặt thực tiễn, đề tài chỉ tìm hiểu thực tiễn xét xử các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Sóc Trăng trong những năm gần đây. 4. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài, người viết sử dụng các phương pháp như: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích. 5. Kết cấu của đề tài Đề tài gồm lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và 3 chương: Chương 1: Lý luận chung về các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Chương 2: Các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Chương 3: Thực tiễn xét xử các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Sóc Trăng trong những năm gần đây và những kiến nghị để hoàn thiện. GVHD: Th.S: Diệp Thành Nguyên 2 SVTH: Võ Thị Hồng Diệu Các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC LOẠI KHIẾU KIỆN HÀNH CHÍNH THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TÒA ÁN Khiếu kiện hành chính là gì? Nguyên nhân nào dẫn đến khiếu kiện hành chính? Việc Nhà nước giao thêm thẩm quyền giải quyết cho Tòa án sẽ giúp được gì cho người dân? Đây là những vấn đề mà người viết muốn làm rõ trong chương này. 1.1 Sự cần thiết khi thành lập Tòa hành chính để giải quyết các vụ kiện hành chính Thứ nhất, để phù hợp với xu thế của thời đại và yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước ta xác định cần phải xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh; một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; một Nhà nước của dân, do dân và vì dân; xây dựng một Nhà nước có kỷ cương, kỷ luật, một Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Với bản chất đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quan niệm quyền lực Nhà nước bắt nguồn từ nhân dân. Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”1. Do đó, vấn đề bảo vệ quyền dân chủ của công dân luôn luôn được đặt ra như một nhiệm vụ rất quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Mà một trong những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là mối quan hệ qua lại giữa Nhà nước và công dân. Công dân cần được đảm bảo quyền và khả năng buộc các cơ quan nhà nước và những người có chức vụ trong cơ quan nhà nước phải chấp hành pháp luật, thực thi trách nhiệm của mình trước công dân. Một trong những thiết chế bảo đảm thực hiện pháp luật là thành lập Tòa hành chính - nơi giải quyết các khiếu kiện hành chính của công dân thông qua thủ tục tư pháp - một thủ tục với những nguyên tắc dân chủ, công khai, bình đẳng, bảo đảm quyền dân chủ của công dân. Thứ hai, các cơ quan hành chính nhà nước và người có thẩm quyền trong cơ quan đó trong quá trình hoạt động quản lý nhà nước đã ban hành các quyết định quản lý hành chính bao gồm các quyết định hành chính, các quyết định hành chính cá biệt và thực hiện hàng loạt các hành vi pháp lý, hành vi hành chính khác. Trong 1 Điều 2 Hiến pháp năm 1992. GVHD: Th.S: Diệp Thành Nguyên 3 SVTH: Võ Thị Hồng Diệu Các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quá trình quản lý nhà nước, không ít tình trạng cơ quan nhà nước hay người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước vượt quá thẩm quyền, không phù hợp với pháp luật hoặc chậm trễ, từ chối không thực hiện đúng chức trách, công vụ, gây tổn hại đến quyền và lợi ích của công dân, bị công dân khiếu nại. Trong trường hợp này cơ quan, cá nhân đã ra quyết định hay thực hiện hành vi sai trái đó hoặc cấp trên trực tiếp sẽ xem xét và “tự sửa chữa”2. Việc giải quyết này cũng có hiệu quả. Song, việc giải quyết khiếu nại sẽ thiếu công bằng, khách quan vì không bảo đảm cho công dân có quyền tranh luận với cơ quan nhà nước khi có tranh chấp hành chính. Bên cạnh đó đội ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước có trình độ quản lý và trình độ hiểu biết pháp luật nhìn chung còn hạn chế cũng làm cho việc giải quyết khiếu nại hành chính kém hiệu quả. Do đó, việc thành lập Tòa hành chính là một vấn đề cấp thiết nhằm tôn trọng quyền dân chủ của công dân, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giữa công dân với cơ quan hành chính nhà nước. Thứ ba, từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc giải quyết kịp thời các kiếu nại hành chính của công dân. Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp quy định. Việc giải quyết kịp thời, đúng đắn các khiếu nại của công dân chính là một biện pháp thiết thực nhằm góp phần bảo đảm quyền của công dân trong việc tham gia quản lý Nhà nước và đây cũng là sự thể hiện bản chất của Nhà nước ta - Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Những quy định về hoạt động giải quyết khiếu nại bước đầu mang tính chất tài phán hành chính. Tuy nhiên, cơ quan hành chính vừa là người bị kiện lại vừa là người phán quyết, chưa có một cơ quan xét xử chuyên trách, độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nên chưa bảo đảm việc giải quyết khiếu nại của công dân một cách khách quan, công bằng và dân chủ. Những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90, khiếu nại của công dân tăng lên đáng kể, nhiều trường hợp trở thành điểm nóng. Trong khi hiệu quả giải quyết khiếu nại còn bị hạn chế, nhiều đơn thư bị đùn đẩy, dây dưa, tồn đọng lâu ngày; người khiếu nại bị oan ức kéo dài, cơ quan quản lý các cấp, các ngành mất nhiều thời gian mà sự việc vẫn không giải quyết được, ảnh hưởng tới lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước3. 2 Ts. Nguyễn Thanh Bình: Thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính và sự bảo đảm công lý trong quan hệ giữa Nhà nước và công dân, Nxb. Tư pháp Hà Nội, năm 2004, trang 85. 3 Ths. Diệp Thành Nguyên: Tài liệu hướng dẫn học tập Luật tố tụng hành chính, Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ, tháng 5/2012, trang 3. GVHD: Th.S: Diệp Thành Nguyên 4 SVTH: Võ Thị Hồng Diệu Các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Mặt khác, cũng không ít trường hợp đã lợi dụng quyền khiếu nại gây khó khăn, phức tạp cho các cơ quan nhà nước trong hoạt động quản lý, điều hành. Chính tình hình đó đòi hỏi phải có một cơ quan tài phán hành chính độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật để giải quyết các khiếu kiện hành chính, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Vì vậy, việc thành lập Toà hành chính sẽ bảo đảm xét xử nhanh chóng, có hiệu quả và củng cố lòng tin của nhân dân đối với cơ quan nhà nước trong hoạt động quản lý xã hội. Thông qua đó quyền dân chủ của công dân được bảo đảm bằng các chế tài cụ thể trong xét xử hành chính; các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước khắc phục được những biểu hiện lộng quyền, lạm quyền, thiếu trách nhiệm trước nhân dân, góp phần ngăn chặn tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, bảo đảm các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước được thực hiện nghiêm chỉnh; góp phần làm cho bộ máy nhà nước trong sạch, năng động, hiệu quả đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân. Thứ tư, có một điểm đáng lưu ý là các hoạt động xét xử trước đây được thực hiện bởi các Toà án nhân dân, nhân danh Nhà nước ra các bản án về hình sự, dân sự, còn đối với hoạt động trong lĩnh vực hành chính thì giải quyết theo thủ tục hành chính. Vì vậy, các hoạt động xét xử về những “sai sót” trong hoạt động quản lý có thể được giải quyết bằng chính các cơ quan ban hành ra quyết định đó. Rõ ràng là, quan niệm trên đây không còn thích hợp với xu hướng xây dựng một Nhà nước pháp quyền và dân chủ, trong đó mọi quyền lợi của công dân phải được đảm bảo thực hiện và trên nguyên tắc mọi hoạt động điều cần có cơ chế kiểm tra, kiểm soát nhân danh quyền lực Nhà nước, quyền lực của nhân dân. Hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước hàng ngày, hàng giờ đụng chạm đến đời sống nhân dân cần phải có cơ chế kiểm tra hữu hiệu hoạt động của cơ quan và người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước nhằm khắc phục những biểu hiện lạm quyền, lộng quyền và trốn tránh nghĩa vụ và vô trách nhiệm trước nhân dân. Việc thiết lập cơ quan tài phán hành chính để giải quyết kịp thời các khiếu kiện hành chính nhằm bảo vệ các quyền tự do, dân chủ, các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức là yêu cầu cấp thiết. Từ những nhu cầu khách quan trên, ngày 28/10/1995 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật tổ chức Tòa án nhân dân trong đó quy định Tòa án được giao thêm thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính, tức là Tòa án có quyền xem xét các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước và cán bộ, công chức trong cơ quan đó khi bị khiếu kiện. GVHD: Th.S: Diệp Thành Nguyên 5 SVTH: Võ Thị Hồng Diệu Các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Trên cơ sở đó, ngày 21/5/1996 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, giao cho Tòa án thẩm quyền giải quyết một số vụ kiện hành chính. Pháp lệnh này có hiệu lực kể từ ngày 01/7/1996 (Pháp lệnh này đã được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006). Ngày 24/11/2010 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ hợp thứ 8 đã thông qua Luật tố tụng hành chính có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011. 1.2 Sơ lược về khiếu kiện hành chính ở nước ta 1.2.1 Thời kỳ phong kiến4 Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nền văn hóa Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa, nhất là tư tưởng nho giáo “Vua – Dân”. Trong thời kỳ ấy mọi tầng lớp nhân dân phải có nghĩa vụ tuân theo lệnh vua. Do đó, cách quản lý của Nhà nước quân chủ quan liêu và sự tha hóa, lạm quyền của một số quan lại các cấp là không tránh khỏi làm cho nhân dân bị oan ức, phải đi khiếu kiện. Vì vậy, Nhà nước phong kiến đã đề ra các giải pháp để dân được kêu oan. Trong các thời kỳ phong kiến như Lý, Trần, Lê tuy chưa có cơ quan tài phán chuyên trách nhưng đã có những hoạt động quản lý mang tính tài phán hành chính. Sử cũ chép lại: Đời nhà Lý (1029) vua Lý Thái Tông đã đặt hai bên tả hữu thềm rồng (tứ Long trì) hai lầu chuông đối diện nhau để nhân dân ai có việc kiện tụng (ở đây được hiểu là dân kiên quan, những kiện tụng về hành chính) hoặc oan uổng thì đánh khuông lên để nhà vua hoặc quan lại triều đình phán quyết về những hành vi của quan lại cấp dưới bị khiếu kiện. Năm 1747, chúa Trịnh Doanh cũng đặt chuông mõ ở cửa Phủ đường để nhân tài tiến cử và người bị ức hiếp đến khiếu nại. Chính Chúa phán quyết các hoạt động của quan lại cấp dưới. Nhà nước phong kiến Lý, Trần, Lê cũng đã đặt ra các chức quan “ngự sử đài” và các chức quan “tả, hữu gián nghị đại phu” có chức năng can gián nhà vua hoặc các quan, tâu bẩm, trình vua những gì dân khiếu nại. Trên cơ sở những điều dân khiếu nại, các quan ngự sử tự mình hoặc giúp nhà vua phán quyết. Những hoạt động đó mang dáng dấp của tài phán hành chính. 4 Ths. Diệp Thành Nguyên: Tài liệu hướng dẫn học tập Luật tố tụng hành chính, Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ, tháng 5/2012, trang 7. GVHD: Th.S: Diệp Thành Nguyên 6 SVTH: Võ Thị Hồng Diệu Các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Như vậy, trong thời kỳ phong kiến việc xét xử của quan lại cấp trên đối với quan lại cấp dưới hoặc của nhà vua là việc xét xử theo cấp hành chính. Những biện pháp nhằm hạn chế các hành vi ức hiếp dân, tham nhũng, sách nhiễu dân hoặc không thực hiện đúng chiếu chỉ của nhà vua đã có những yếu tố tài phán hành chính ban đầu. 1.2.2 Từ năm 19455đến trước ngày Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính có hiệu lực (01/7/1996) Xuất phát từ tư tưởng “lấy dân là gốc”, ngay từ khi mới thành lập chính thể mới, cùng với việc thiết lập chính quyền các cấp. Đảng, Bác Hồ và Chính phủ đã khẳng định quyền làm chủ của nhân dân, quan tâm đến việc kiểm soát hoạt động của bộ máy nhà nước, việc giải quyết khiếu kiện của dân, chống phiền hà, nhũng nhiễu dân. Hiến Pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo xây dựng đã ghi nhận các quyền và tự do dân chủ hoàn toàn là của người dân Việt Nam được quy định từ Điều 6 đến Điều 16. Cùng với việc ghi nhận các quyền và tự do cơ bản của công dân, Hiến pháp năm 1946 còn quy định việc xây dựng các thiết chế của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc “nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”6. Hiến pháp năm 1946 đã ấn định các quyền và tự do cơ bản của công dân cùng với bộ máy nhà nước bảo đảm các quyền và tự do dân chủ, đã gián tiếp khẳng định quyền năng chủ thể khiếu nại, tố cáo của công dân cũng như trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan nhà nước. Tuy Hiến pháp năm 1946 chưa có một điều khoản cụ thể nào quy định quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, song thể chế dân chủ mà Hiến pháp này tạo dựng nên đã là nền tảng cơ bản hình thành quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trên thực tế. Kế thừa và phát triển tư tưởng dân chủ của Hiến pháp năm 1946, Điều 29 Hiến pháp năm 19597, Điều 73 Hiến pháp năm 19808, Điều 74 Hiến pháp năm 5 nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa ra đời ngày 02/9/1945. Điều thứ nhất Hiến pháp năm 1946. 7 “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước. Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh chóng. Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước có quyền được bồi thường”. 6 GVHD: Th.S: Diệp Thành Nguyên 7 SVTH: Võ Thị Hồng Diệu Các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án 19929 không chỉ chính thức ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân mà còn hoàn thiện cơ chế bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân. Bên cạnh đó, ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 64SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt đã xác định một trong những nhiệm vụ của Ban Thanh tra đặc biệt là “nhận các đơn khiếu nại của nhân dân”, đến các tổ chức thanh tra sau này như Ban Thanh tra Chính Phủ (thành lập theo Sắc lệnh số 138B-SL ngày 18/12/1949), Ủy ban Thanh tra Trung ương của Chính phủ (theo Sắc lệnh số 261SL ngày 28/3/1956), Ủy ban Thanh tra của Chính phủ (theo Nghị định số 1-CP của Hội Đồng Chính phủ ngày 03/01/1977), Ủy ban Thanh tra Nhà nước (theo Nghị quyết số 26-HĐBT của Hội Đồng Bộ trưởng ngày 15/02/1984) và đến Thanh tra Nhà nước (theo Pháp lệnh Thanh tra ngày 01/4/1990) trước sau đều có nhiệm vụ tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân10. Để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về quyền khiếu nại và tố cáo, Nhà nước đã ban hành hai pháp lệnh: Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân ngày 27/11/1982 và Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân ngày 07/5/1991 làm cơ sở pháp lý cho các cơ quan có thẩm quyền giải 8 “Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó. Các điều khiếu nại và tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng. Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường”. 9 “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định. Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”. 10 Ths. Diệp Thành Nguyên: Tài liệu hướng dẫn học tập Luật tố tụng hành chính, Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ, tháng 5/2012, trang 7 - 8. GVHD: Th.S: Diệp Thành Nguyên 8 SVTH: Võ Thị Hồng Diệu Các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quyết, đem lại những kết quả đáng kể. Đây là hoạt động mang tính chất tài phán hành chính bước đầu11. Như vậy, quyền khiếu nại, tố cáo chính là một trong những quyền cơ bản của công dân là một hình thức biểu hiện của dân chủ xã hội chủ nghĩa. Thông qua khiếu nại, tố cáo phát huy quyền làm chủ của công dân, đáp ứng những đòi hỏi bức thiết của công dân về việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình. Tuy nhiên, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo vẫn theo cấp hành chính, do chính cơ quan hành chính thực hiện. Đây là hình thức “Bộ trưởng – quan tòa” tức các cơ quan hành chính vừa là người bị kiện vừa là người ra phán quyết nên việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân chưa được nhanh chóng, khách quan, công bằng và dân chủ. 1.2.3 Từ ngày 01/7/1996 đến trước ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực (01/7/2011) Đặc biệt, một bước ngoặc quan trọng trong quá trình phát triển của pháp luật về giải quyết khiếu kiện hành chính ở nước ta là ngày 21/5/1996 Uỷ ban thường vụ quốc hội thông qua Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, có hiệu lực ngày 01/7/1996. Đây là lần đầu tiên các vụ kiện hành chính được giải quyết tại Tòa án. Sau đó, Pháp lệnh này được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh của Uỷ Ban thường vụ Quốc Hội số 10/1998/PL-UBTVQH10 ngày 25/12/1998 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành và Pháp lệnh của Uỷ Ban thường vụ Quốc Hội số 29/2006/PL-UBTVQH11 ngày 05/4/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Theo đó trong một số trường hợp, ngoài việc khiếu nại theo thủ tục khiếu nại, tố cáo; mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức còn có quyền khiếu kiện đến Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị các quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước xâm phạm. Việc ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006) đã đánh dấu một bước phát triển của pháp luật về vần đề giải quyết khiếu kiện hành chính của nước ta, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nâng cao trách nhiệm của cơ quan hành 11 Ths. Diệp Thành Nguyên: Tài liệu hướng dẫn học tập Luật tố tụng hành chính, Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ, tháng 5/2012, trang 8. GVHD: Th.S: Diệp Thành Nguyên 9 SVTH: Võ Thị Hồng Diệu Các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án chính nhà nước hay người có thẩm quyền trong cơ quan đó khi thi hành công vụ, từng bước khắc phục sự lộng quyền, thiếu trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước. 1.2.4 Từ ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực (01/7/2011) đến nay Ở Việt Nam, Tòa án nhân dân có thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính kể từ ngày 01/7/1996. Mặc dù qua hai lần sửa đổi, bổ sung nhưng qua 15 năm xét xử cho thấy các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006) còn nhiều bất cập, hạn chế; Tòa án thụ lý giải quyết các vụ kiện hành chính chưa nhiều; quyền khiếu kiện của người dân chưa được đảm bảo. Để khắc phục những nhược điểm của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006), ngày 24/11/2010 Luật tố tụng hành chính đã được ban hành, tại kỳ họp thứ 8, khóa XII Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật tố tụng hành chính năm 2010 quy định thẩm quyền giải quyết các loại khiếu kiện hành chính của Tòa án ngắn ngọn hơn, khái quát hơn. Người dân có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ một cách toàn diện, triệt để trước các quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức khác và người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó trên tất cả các lĩnh vực trong hoạt động quản lý hành chính. Kết thúc thời kỳ việc hoạt động của Tòa hành chính chỉ dừng lại theo nguyên tắc liệt kê các loại khiếu kiện hành chính. Đây là một bước tiến bộ của nền hành chính nước ta, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước và yêu cầu của người dân. Đồng thời góp phần bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tăng cường trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức khác và người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó trước công dân. Luật tố tụng hành chính năm 2010 có hiệu lực ngày 01/7/2011. 1.3 Khái niệm khiếu kiện hành chính 1.3.1 Khái niệm khiếu nại hành chính và khái niệm khởi kiện hành chính Có hai cách hiểu về khiếu kiện hành chính12 Theo nghĩa hẹp, khiếu kiện hành chính được hiểu là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị 12 Ths. Diệp Thành Nguyên: Tài liệu hướng dẫn học tập pháp luật về khiếu nại và khiếu kiện hành chính, Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ, tháng 5/2012, trang 2. GVHD: Th.S: Diệp Thành Nguyên 10 SVTH: Võ Thị Hồng Diệu Các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm. Với ý nghĩa này thì khái niệm khiếu kiện hành chính đồng nhất với khái niệm khởi kiện hành chính. Theo nghĩa rộng, khiếu kiện hành chính là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức khiếu nại đến cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm. Trong khái niệm này khiếu kiện hành chính bao gồm khởi kiện hành chính và khiếu nại hành chính. Như vậy, muốn hiểu rõ khái niệm khiếu kiện hành chính ta cần làm rõ khái niệm khiếu nại hành chính và khởi kiện hành chính. 1.3.1.1 Khái niệm khiếu nại hành chính Khiếu nại xuất phát từ tiếng La - tinh “Complaint” nghĩa là cầu cứu, kêu oan, đơn kiện. Trong ngôn ngữ tiếng Việt, khiếu nại có nghĩa là đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét một việc làm mà mình không đồng ý, cho là trái pháp luật hay không hợp lý13. Theo nghĩa trên thì phạm vi khiếu nại là rất rộng, bao gồm mọi việc làm của tất cả các cơ quan và cán bộ, công chức mà người khiếu nại không đồng ý, cho là trái pháp luật hay không hợp lý. Ở nước ta “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”14. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp tích cực, trong đó biện pháp bảo đảm quyền lợi của công dân thông qua Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 có quy định “công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cán bộ, công chức có quyền khiếu nại quyết định kỷ luật của người có thẩm quyền khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình”15. 13 Ts. Nguyễn Thanh Bình: Thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính và sự bảo đảm công lý trong quan hệ giữa Nhà nước và công dân, Nxb. Tư pháp Hà Nội, năm 2004, trang 22. 14 Điều 2 Hiến pháp năm 1992. 15 Điều 1 Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998. GVHD: Th.S: Diệp Thành Nguyên 11 SVTH: Võ Thị Hồng Diệu Các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Tại khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại năm 2011 thì khiếu nại được giải thích là “khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật khiếu nại quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”. Như vậy, theo Luật khiếu nại năm 2011 thì khiếu nại hành chính có những đặc điểm là: Người khiếu nại hành chính: là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức thực hiện quyền khiếu nại16. Đối tượng bị khiếu nại: quyết định hành chính, hành vi hành chính, hoặc quyết định kỷ luật cán bô, công chức. Người bị khiếu nại: là cơ quan hành chính hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có quyết định kỷ luật cán bộ, công chức bị khiếu nại17. Thủ tục giải quyết khiếu nại theo thủ tục hành chính. 1.3.1.2 Khái niệm khởi kiện hành chính Khởi kiện là một thuật ngữ được sử dụng nhiều trong đời sống hiện nay. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa pháp lý cụ thể nào về khởi kiện. Nhìn chung về bản chất, khởi kiện là việc một hay nhiều chủ thể (mang đầy đủ tư cách chủ thể theo quy định của pháp luật) đưa một vụ việc tranh chấp ra trước cơ quan tài phán như Tòa án và yêu cầu cơ quan này giải quyết theo đúng quy định pháp luật. Từ đó ta có thể hiểu rõ khởi kiện vụ án hành chính là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật18. Khởi kiện hành chính có các đặc điểm như: Người khởi kiện: là cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, việc lập danh sách cử tri19. 16 khoản 2 Điều 2 Luật khiếu nại năm 2011. khoản 5 Điều 2 Luật khiếu nại năm 2011. 18 Ts. Nguyễn Thanh Bình: Thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính và sự bảo đảm công lý trong quan hệ giữa Nhà nước và công dân, Nxb. Tư pháp Hà Nội, năm 2004, trang 35. 19 khoản 6 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2010. 17 GVHD: Th.S: Diệp Thành Nguyên 12 SVTH: Võ Thị Hồng Diệu Các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Người bị kiện: là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, lập danh sách cử tri bị khởi kiện20. Đối tượng khởi kiện: quyết định hành chính và hành vi hành chính. Thủ tục giải quyết khởi kiện theo thủ tục tố tụng hành chính. Từ những phân tích trên thì khiếu kiện hành chính là sự biểu hiện của tranh chấp hành chính trong quá trình thực hiện, tổ chức quản lý nhà nước giữa một bên là cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước với một bên là cá nhân, cơ quan, tổ chức khi bị các quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm. Trong đề tài luận văn này, người viết chỉ tìm hiểu khiếu kiện hành chính theo nghĩa hẹp. Tức khiếu kiện hành chính tương đồng với khởi kiện hành chính. 1.3.2 Tính chất của khiếu kiện hành chính Do tính đa dạng của khái niệm khiếu kiện hành chính nên tính chất của khiếu kiện hành chính cũng chỉ mang tính tương đối. Khiếu kiện hành chính có những tính chất sau: Thứ nhất, tính khách quan: khiếu kiện hành chính là sự việc mang tính khách quan phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước, không phụ thuộc vào hình thức chính thể hay chế độ chính trị nào. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì mâu thuẫn chính là động lực của sự phát triển, mà khiếu kiện hành chính là một sự thể hiện của sự mâu thuẫn giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hành chính. Trên thực tế, trong quá trình quản lý hành chính nhà nước của các cơ quan nhà nước hay cán bộ, công chức không tránh khỏi những sai sót, những bất cập trong bộ máy hành chính, gây tổn hại đến quyền và lợi ích của công dân là vấn đề không thể tránh khỏi. Do khiếu kiện hành chính luôn tồn tại một cách khách quan nên đòi hỏi Nhà nước không được phủ nhận và có các biện pháp để giải quyết các khiếu kiện hành chính ngày càng hợp lý, hiệu quả nhằm làm cho các cơ quan hành chính trong sạch, thúc đẩy xã hội phát triển theo đúng định hướng của Nhà nước đã định ra. Thứ hai, tính lệ thuộc vào chính trị: Nhà nước nói chung, hệ thống hành chính Nhà nước nói riêng có hai chức năng đó là duy trì trật tự chung, lợi ích chung của xã hội và bảo vệ, lợi ích của giai cấp cầm quyền. Theo quan điểm của C.Mác thì chính trị là lĩnh vực thể hiện ý chí, lợi ích của giai cấp thống trị. Chính vì thế, khiếu 20 khoản 7 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2010. GVHD: Th.S: Diệp Thành Nguyên 13 SVTH: Võ Thị Hồng Diệu Các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án kiện hành chính trước hết phải phù hợp với lợi ích chính trị của giai cấp cầm quyền và không làm phương hại đến lợi ích cầm quyền. Đối với nước ta, “Nhà nước Cộng hòa xã hôi chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”21. Do đó, khiếu kiện hành chính ở nước ta phải phù hợp với lợi ích chung của giai cấp công nhân, nông dân và nhân dân lao động. Thứ ba, tính hệ thống, thứ bậc: quản lý nhà nước là một hệ thống theo thứ bậc chặt chẽ và thông suốt từ trung ương đến địa phương, trong đó cấp dưới phục tùng cấp trên, nhận chỉ thị, mệnh lệnh và chịu sự kiểm tra thường xuyên của cấp trên. Mỗi cấp cơ quan, mỗi cán bộ, công chức hoạt động trong cơ quan nhà nước đều hoạt động trong phạm vi thẩm quyền được giao. Do đó, khiếu kiện hành chính cũng phải thực hiện theo thứ bậc tương ứng, tức là việc khiếu kiện hành chính tại Tòa án phải thực hiện theo nguyên tắc từ dưới lên trên. Thứ tư, tính bảo đảm bằng pháp luật: quan hệ pháp luật hành chính là một quan hệ không bình đẳng giữa một bên là các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước và bên kia là các cá nhân, cơ quan, tổ chức là đối tượng bị quản lý phải tuân thủ các quyết định hành chính, hành vi hành chính của chủ thể quản lý theo nguyên tắc phục tùng. Do đó, để đảm bảo quyền khiếu kiện hành chính của người khiếu kiện, việc khiếu kiện hành chính phải theo quy định của bằng pháp luật và bảo đảm thực hiện bằng pháp luật. 1.3.3 Phân loại khiếu kiện hành chính Phân loại khiếu kiện hành chính là để tránh sự trùng lắp, chồng chéo của từng loại khiếu kiện trong việc giải quyết khiếu kiện hành chính. Việc phân loại khiếu kiện hành chính theo nhiều tiêu chí khác nhau. Việc phân loại này chỉ mang tính chất tương đối. Theo chủ thể giải quyết khiếu kiện, khiếu kiện hành chính có hai loại: khiếu nại đến cơ quan hành chính nhà nước trước và trực tiếp khởi kiện hành chính tại Tòa án có thẩm quyền. Dựa vào đối tượng khiếu kiện, khiếu kiện hành chính được phân thành: khiếu kiện quyết định hành chính và khiếu kiện hành vi hành chính. 21 đoạn 1 Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). GVHD: Th.S: Diệp Thành Nguyên 14 SVTH: Võ Thị Hồng Diệu
- Xem thêm -