Các hình thức dịch vụ thu ngoại tệ , du lịch quốc tế

  • Số trang: 31 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24635 tài liệu

Mô tả:

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 A/ Phần mở đầu Thế giới đang ở đầu thế kỉ 21 với xu hướng quốc tế hoá và toàn cầu hoá xẩy ra khắp mọi nơi trên thê giới.Và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó.Chúng ta đã gia nhập tổ chức ASEAN và đang phấn đấu gia nhập WTO trong những năm tới.Chính vì vậy kinh tế đối ngoại đã và đang được chú trọng phát triển ở nước ta, vậy thực trạng của kinh tế đối ngoại của nước ta như thế nào và giải pháp để nâng cao hiệu quả của nó là một vấn đề còn khá nan giải.Do vậy nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa rất quan trọng,nó giúp chúng ta nhìn nhận một cách đứng đắn về kinh tế đối ngoại.Tại sao sản phẩm của chúng ta lại kém cạnh tranh trên thị trường quốc tế ,mặc dù chất lượng, mẫu mã của chúng ta không hề thua kém .Thậm chí ngay tại thị trường trong nứơc hàng hoá của chúng ta vẫn bị lấn át …Tất cả những vấn đề đó sẽ được phân tích trong bài tiểu luận này ,nhưng quan trọng là 1 chúng ta sẽ đưa ra được những giải pháp để khắc phục hiện tượng đó vẫn với mục tiêu phát triển nền kinh tế theo định hướng XHCN. Về phương pháp luận ,khi nghiên cứu về vấn đề này chúng ta thường sử dụng phương pháp luận của kinh tế chính trị học , đó là những phương pháp nghiên cứu hiện tượng và quá trình kinh tế.Nó đưa ra quan điểm chung đối với nhận thức thực tiễn khách quan trên cơ sở lí thuyết đứng đắn .Chẳng hạn về kinh tế đối ngoại chúng ta sử dụng những quan điểm : quan điểm chủ quan,quan điểm thực trạng kinh nghiệm, quan điểm thích ứng và quan điểm biện chứng duy vật. Đây là một tiểu luận kinh tế chính trị nên chúng ta sẽ nhìn nhận mọi vấn đề dưới góc độ của môn học này .Và đây cũng là lần đầu tiên em làm tiểu luận môn học này vì vậy chắc chắn không thể tránh khỏi những sai lầm .Em kính mong thầy góp ý để tiểu luận của em đạt kết quả tốt.Em xin chân thành cảm ơn! 2 B/ Giải quyết vấn đề I/ Cơ sở khoa học của kinh tế đối ngoại 1/Khái niệm, hình thức, vai trò của kinh tế đối ngoại a-khái niệm: Kinh tế đối ngoại của một quốc gia là một bộ phận của kinh tế quốc tế, là tổng thể các quan hệ quốc tế,khoa học kĩ thuật,công nghệ của một quốc gia nhất định với các quốc gia khác còn lại hoặc với các tổ chức kinh tế quốc tế khác, được thực hiện dưới nhiều hình thức,hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế. 3 b- Các hình thức : Kinh tế đối ngoại gồm nhiều hình thức như: hợp tác sản xuất ( nhận gia công, xây dựng xí nghiệp chung, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu kĩ thuật cao ); hợp tác khoa học - công nghệ ( trong đó có hình thức đưa lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài ); ngoại thương; hợp tác tín dụng quốc tế; các hoạt đọng dịch vụ như du lịch quốc tế, giao thông vận tải, thông tin liên lạc quốc tế, dịch vụ thu, đổi và chuyển ngoại tệ… đầu tư quốc tế , v.v… Trong các hình thức kinh tế đối ngoại, ngoại thương, đầu tư quốc tế và dịch vụ thu ngoại tệ là nhũng hình thức chủ yếu và có hiệu quả nhất cần được coi trọng. b.1/ Ngoại thưong Ngoại thưong hay còn gọi là thương mại quốc tế, là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các quốc gia thông qua xuất nhập khẩu. Trong các hoạt động kinh tế đối ngoại thì ngoại thương giữ vị trí trung tâm và có tác dụng to lớn : góp phần làm tăng sức mạnh tổng hợp, tăng tích luỹ của mỗi nước nhờ sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh giữa 4 các quốc gia trong trao đổi quốc tế; là động lực của phát triển kinh tế; nâng cao trình độ công nghệ và ngành nghề trong nước. Tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của người lao động và nhất là các ngành nghề suất khẩu. Ngoại thương bao gồm: xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá, thuê nước ngoài gia công tái xuất khẩu, trong đó xúât khẩu là hướng ưu tiên và là trọng tâm của kinh tế đối ngoại nước ta vào giai đoạn hiện nay. b-2/Hợp tác trong lĩnh vực sản suất Hợp tác trong lĩnh vực sản suất bao gồm gia công , xây dựng xí nghiệp chung chuyên môn hoá cao và hợp tác sản xuất quốc tế … b-3/Hợp tác khoa học kĩ thuật Hợp tác khoa học - kĩ thuật được thực hiện dưới nhiều hình thức( trao đổi những tài liệu- kĩ thuật và thiết kế, mua bán giấy phép, trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ, phối hợp nghiên cứu khoa học kĩ thuật, hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công nhân…Nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu vì vậy việc hợp tác khoa học với nước ngoài là vô cùng quan trọng, đây là một điều kiện để chúng ta 5 rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển và hiện đại hoá nền sản xuất trong nước. b-4/Đầu tư quốc tế Đầu tư quốc tế ( mà trứơc đây Lênin gọi là xuất khẩu tư bản ) là một hình thức cơ bản của quan hệ kinh tế đối ngoại, nó là quá trình trong đó hai hay nhiều bên cùng góp vốn để xây dựng và phát triển một dự án đầu tư quốc tế nhằm sinh lợi. Đầu tư quốc tế có hai hình thức : đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Đầu tư trực tiếp( Lênin gọi là xuất khẩu tư bản hoạt động ) là hình thức đầu tư mà quyền sở hữu là quyền sử dụng quản lý vốn của người đầu tư thống nhất với nhau, tức là người có vốn đầu tư trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, quản lý và điều hành dự án đầu tư , chịu trách nhiệm về kết quả, rủi ro trong kinh doanh và thu lợi nhuận. Đầu tư gián tiếp ( Lênin gọi là xuất khẩu tư bản cho vay )là loại hình đầu tư mà quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng vốn đầu tư , tức là người có vốn không trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, điều hành dự án mà thu lợi dưới hình thức lợi tức cho vay (nếu là vốn cho vay) hoặc 6 lợi tức cổ phần ( nếu là vốn cổ phần ) hoặc có thể không thu lợi trực tiếp( nếu cho vay ưu đãi ). b-5/Các hình thức dịch vụ thu ngoại tệ , du lịch quốc tế Các hình thức dịch vụ thu ngoại tệ là một bộ phận quan trọng của kinh tế đối ngoại nước ta hiện nay, nó đang được Nhà nước ta chú trọng phát triển cả về chiều rộng cũng như chiều sâu. Các hình thức này gồm có : du lịch quốc tế , vận tải quốc tế, xuất khẩu lao động ra nước ngoài và tại chỗ, ngoài ra chúng ta còn có những hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ khác như dịch vụ thu bảo hiểm, thông tin bưu điện, dịch vụ kiều hối , dịch vụ ăn uống, tư vấn , môi giới… c-Vai trò của kinh tế đối ngoại Trong giai đoạn hiện nay kinh tế đối ngoại có vai trò to lớn thể hiện ở :Nó góp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nứơc với sản xuất và trao đổi quốc tế ,nối liền thị trường thế giới và khu vực.Trong những năm gần đây, kinh tế đối ngoại đã nối liền lưu thông hàng hoá của nước ta với những nước trong khu vực như Thái Lan, Xinhgapo… và các nước khác trên thế giới như Mỹ, liên minh châu Âu EU .Ngoài 7 ra ,kinh tế đối ngoại còn giúp chúng ta có quan hệ với những tổ chức kinh tế quốc tế như OPEC,FOB…Điều này đã giúp cho chúng ta có được những cơ hội phát triển lớn dựa vào khoa học công nghệ cũng như kinh nghiệm của các nước phát triển từ đó hiện đại hoá nền kinh tế trong nước. Thứ hai, kinh tế đối ngoại góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp(FDI) và vốn viện trợ chính thức từ các chính phủ và các tổ chức tiền tệ quốc tế(ODA) ;thu hút khoa học kĩ thuật,công nghệ ;khai thác và ứng dụng những kinh nghiệm xây dựng quản lý nền kinh tế hiện đại vào nước ta.Trong những năm gần đây quan hệ giữa Việt Nam và các nước tư bản phát triển, đặc biệt là Mỹ đã có những chuyển biến tích cực.Chúng ta đã kí với Mỹ hiệp định thương mại tự do,giúp việc buôn bán giữa 2 bên thêm thuận lợi,dựa trên tiêu chí bình đẳng 2 bên cùng có lợi. Đây là cơ hội lớn cho những ngành sản xuất đang tìm kiếm thị trường,vì Mỹ là một trong những thị trường tiêu thụ lớn nhất trên thế giới. 8 Thứ ba,kinh tế đối ngoại góp phần tích luỹ vốn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu lên nước công nghiệp tiên tiến hiện đại . Tiếp theo kinh tế đối ngoại cũng góp phần tăng trương kinh tế ,tạo ra nhiều công ăn việc làm ,giảm tỷ lệ thất nghiệp,tăng thu nhập , ổn định và cải thiện đời sống nhân dân theo mục tiêu dân giàu nước mạnh ,xã hội công bằng văn minh 2/Những cơ sở khách quan của việc hình thành kinh tế đối ngoại Đầu tiên phải đề cập đến sự xuất hiện của phân công lao động quốc tế : phân công lao động quốc tế xuất hiện như là hệ quả tất yếu của phân công lao động xã hội vượt ra khỏi khuôn khổ của mỗi quốc gia. Nó diễn ra giữa các ngành, giữa các người sản xuất của các quốc gia khác nhau và thể hiện như một hình thức đặc biệt của sự phân công lao động theo lãnh thổ trên phạm vi thế giới. 9 Phân công lao động quốc tế là quá trình tập trung việc sản suất và cung cấp một hoặc một số loại sản phẩm và dịch vụ của một quốc gia nhất định dựa trên những cơ sở lợi thế của quốc gia đóvề các điều kiện tự nhiên, kinh tế, khoa học, công nghệ và xã hội để đáp ứng nhu cầu của quốc gia khác thông qua trao đổi quốc tế. Phân công lao động quốc tế còn xuất hiện những xu hướng mới trong vài thập niên gần đây : Phân công lao động quốc tế diễn ra trên phạm vi ngày càng rộng lớn, bao quát nhiều lĩnh vực và với tốc độ nhanh . Dưới tác động như vũ bão của khoa học công nghệ hiện đại , phân công lao động quốc tế diễn ra theo chiều sâu. Bởi vậy trong sản suất kinh doanh các quốc gia thường chú ý phát triển loại sản phẩm “vô hình”, các sản phẩm có hàm lượng khoa học và công nghệ cao so với loại sản phẩm có hàm lượng nguyên liệu và lao động giản đơn nhiều như trước đây. Sự phát triển cao của phân công lao động quốc tế làm xuất hiện ngày càng nhiều và nhanh các hình thức mới về hợp tác kinh tế ,khoa học công nghệ, chứ không đơn giản chỉ có hình thức ngoại thương như những thế kỉ trước . Phân công lao động quốc tế làm biến đổi nhanh chóng 10 cơ cấu ngành và cơ cấu lao động trên phạm vi quốc tế. Ngày nay trong cơ cấu ngành đã xuất hiện những ngành mới ( ngành công nghệ cao , ngành dịch vụ…) những ngành có nhiều tiềm năng, đầy triển vọng và có hiệu quả trong tương lai. Ngoài cách chia cơ cấu ngành kinh tế thành các ngành công-nông nghiệp và dịch vụ, người ta con chia ngành sản suất thành bốn loại như sau : ngành có hàm lượng khoa học công nghệ cao; ngành có hàm lượng vốn lớn ; ngành có hàm lượng lao động sống và có hàm lượng nguyên vật liệu nhiều. Các nước giàu thường tập trung vào hai ngành đầu ,còn các nước đang phát triển thì thường tạp trung vào 2 ngành sau. Phân công lao động quốc tế thường được biểu hiện qua các tổ chức kinh tế quốc tế và các công ty xuyên quốc gia, khiến cho vai trò của chúng ngày càng quan trọng trên trường quốc tế trong lĩnh vực phân phối tư bản và lợi nhuận theo nguyên tắc có lợi cho các nước đang phát triển Mặt khác từ những thập kỉ 70 của thế kỉ XX lại đây, toàn cầu hoá, khu vực hoá trở thành xu thế tất yếu của thơì đại dẫn đén mở cửa và hội nhập của mỗi quốc gia vào cộng đồng quốc tế, trong đó có xu hướng phát triển của thị trường quốc tế . Xu thế này có liên quan đến 11 sự phân công lao động quốc tế và việc vận dụng lợi thế so sánh giữa các quốc gia trong thương mại giữa các nước với nhau. Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật thưong mại trong các ngành phát triển rất mạnh. Sự giao dịch trong nội bộ công ty xuyên quốc gia với các công ty ở nước ngoài chiếm 40%. Thêm vào đó khối lượng thương mại trong nội bộ các tập đoàn kinh tế khu vực không ngừng mở rộng, thương mại công nghệ phát triển nhanh chóng, thậm chí vượt xa cả tốc độ tăng của hàng hoá ( cứ 10 năm tăng lên 4 lần ). Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức cho nền kinh tế Việt Nam. Nếu chúng ta bắt kịp được khoa học công nghệ của thế giới chúng ta sẽ có cơ hội hiện đại hoá đất nước nhanh chóng nếu không chúng ta sẽ bị tụt hậu. Chúng ta phải tìm cách thu hút thiết bị kĩ thuật của nước ngoài để phát triển sản xuất, mở rộng kinh tế đối ngoại. Đó là những cơ sở khách quan để chúng ta xây dựng kinh tế đối ngoại. 3/Mục tiêu , phương hướng, nguyên tắc cơ bản nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại a-Mục tiêu 12 Đối với nước ta việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong thời gian trước mắt việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước - nhiệm vụ trọng tâm trong thời kì quá độ. Mục tiêu phải được quán triệt đối với mọi ngành, mọi cấp, mọi lĩnh vực trong hoạt động kinh tế đối ngoại b-Phương hướng cơ bản Đảng và nhà nước ta đã xác định rõ:” Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”, do vậy phương hướng cơ bản nhằm phát triển kinh tế đối ngoại là: - Đa dạng hoá , đa phương hoá quan hệ kinh tế với các quốc gia, mọi tổ chức kinh tế không phân biệt chế độ chính trị trên nguyên tắc tôn trọng độc lập , chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi. Củng cố và tăng cường vị trí của Việt Nam ở các thị trường quen thuộc; 13 tích cực thâm nhập, tạo chỗ đứng ở các thị trường mới, phát triển các quan hệ dưới mọi hình thức - Kinh tế đối ngoại là một trong các công cụ kinh tế bảo đảm cho việc thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội đề ra cho từng giai đoạn lịch sử cụ thể và phục vụ đắc lực mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện công nghiệp hoá , hiện đại hoá đát nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. - Chủ động tạo những điều kiện để hội nhập có hiệu quả vào nền kinh tế thế giới; phát huy ý chí tự lực tự cường; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đôi cới tranh thủ tối đa nguồn lực bbên ngoài c-Nguyên tắc cơ bản -Nguyên tắc bình đẳng: đây là nguyên tắc có ý nghĩa rất quan trọng làm nền tảng cho việc thiết lập và lựa chọn đối tác trong quan hệ giữa các nước. Nguyên tắc này xuất phát từ yêu cầu phải coi mỗi quốc gia trong cộng đồng quốc tế là một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Nó 14 cũng bắt nguồn từ yêu cầu của sự hình thành và phát triển của thị trường quốc tế mà mỗi quốc gia là thành viên. Với tư cách là thành viên các quốc gia phải được đảm bảo có quyền tự do kinh doanh, quyền tự chủ như mọi quốc gia khác. -Nguyên tắc cùng có lợi: nguyên tắc này giữ vai trò là nền tảng kinh tế để thiết lập và mở rộng quan hệ kinh tế giữa các nước với nhau. Cơ sở khách quan của nguyên tắc này bắt nguồn từ yêu cầu phải thực hiện đúng các quy luật kinh tế của thị trường diễn ra trên phạm vi thế giới mà mỗi quốc gia phải được đảm bảo về lợi ích kinh tế. -Nguyên tắc thứ ba là tôn trọng độc lập ,chủ quyền ,không can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi quốc gia. Trong quan hệ kinh tế , mỗi quốc gia đều có tư cách như nhau, đều độc lập với nhau về chính trị, kinh tế, xã hội. Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ kinh tế đối ngoại và nó đòi hỏi mỗi quốc gia tham gia phải thực hiện đúng các yêu cầu: tôn trọng các điều khoản đã được kí kết giữa chính phủ và các tổ chức kinh tế với nhau; không được tham gia những điều khoả làm tổn hại đến lợi ích của nhau; không được 15 dùng những thủ đoạn có tính chất can thiệp vào nội bộ của mỗi nước, nhất là thủ đoạn kinh tế kích động vào đường lối, thể chế chính trị của các quốc gia đó. -Một nguyên tắc quan trọng nữa mà chúng ta cần quán triệt trong quá trình hội nhập đó là: giữ vững độc lập ,chủ quyền dân tộc và củng cố định hướng chủ nghĩa xã hội đã chọn. Đây là nguyên tắc chung cho tất cả các nước khi thiết lập và thực hiện quan hệ đối ngoại, vừa là nguyên tắc có tính đặc thù đối với các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta. Trong quan hệ kinh tế giữa các nước với nhau không đơn thuần chỉ là phải xử lý tốt về lợi ích kinh tế mà còn phải xử lí tốt mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế và lợi ích chinh trị . Chúng ta phải mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại , phải đảm bảo sao cho vừa khai thác được nhiều nguồn lực bên ngoài , vừa phát huy được nguồn lực bên trong, đảm bảo kinh tế phát triển , trả nợ nhưng không phụ thuộc vào nước ngoài , cảnh giác với các âm mưu sử dụng kinh tế để thay đổi chế độ nước ta. Đó là một nhiệm vụ vô cùng nặng nề của kinh tế đối ngoại 16 Trên đây là bốn nguyên tắc để phát triển kinh tế đối ngoại nước ta trong thơì gian trước mắt cũng như lâu dài . Chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và đều có tác dụng chi phối hoạt động kinh tế đối ngoại giữa các nước trong đó có nước ta, vì vậy không được xem nhẹ nguyên tắc nào khi thiết lập phát triển , mở rộng kinh tế đối ngoại. II/ Thực trạng của kinh tế đối ngoại nước ta trong những năm gần đây Trong hơn 15 năm đổi mới và phát triển và nền kinh tế nước ta nói chung và kinh tế đối ngoại nói riêng đã có những bước phát triển vượt bậc, chúng ta đã phát triển về chiều rộng lẫn chiều sâu, từng bước nâng cao được đời sống nhân dân, song bên cạnh đó chúng ta vẫn còn những hạn chế cần khắc phục cả trước mắt lẫn lâu dài .Sau đây chúng ta sẽ đi vào từng hình thức của kinh tế đối ngoại. 1/ Về ngoại thương với các hoat động xuất nhập khẩu Theo nguồn tin của Bộ Thương mại cho biết, cán cân thương mại đã nghiêng về xuất khẩu. Chỉ riêng kim ngạch xuất khẩu hai tháng đầu năm 2006 ước đạt 5,57 tỉ USD, tăng 28,3% so với cùng kỳ năm 2005. Trong đó, xuất khẩu nguyên liệu thô vẫn chiếm ưu thế (dầu thô tăng 17 32%, than đá đạt gần 3,5 triệu tấn tăng 60% về số lượng và 40,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2005). Điểm khác biệt lớn so với những năm trước và xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh và khá đồng đều. Trong đó, tăng nhiều nhất vẫn là ngành dệt may (45,5%), giày dép (30,8%), sản phẩm gỗ (31,2%) và thủ công mỹ nghệ (33,8%)... Các mặt hàng nông sản tăng chậm do chỉ tập trung tăng những mặt hàng như cao su, rau quả, hạt tiêu, trong khi đậu phộng nhân, chè, nhân điều lại giảm sút. 2/ Đầu tư quốc tế Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH-ĐT), tính đến giữa tháng 6/2005 cả nước đã có 13 dự án do các doanh nghiệp VN đầu tư ra nước ngoài với tổng vốn đăng ký trên 33,7 triệu USD, tăng gấp ba lần về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm ngoái. Hầu hết dự án đều tập trung vào các nước như: Liên bang Nga, Lào, Campuchia, Indonesia... Qui mô bình quân của mỗi dự án là hơn 2 triệu USD, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí, sản xuất chế biến 18 hàng gia dụng, vật liệu xây dựng... Các lĩnh vực dịch vụ, nông lâm, ngư nghiệp chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng số các dự án Còn tình hình thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thì theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 4 tháng đầu năm 2006 , thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục tăng trưởng mạnh, đạt trên 2,2 tỷ USD. Trong đó, TPHCM đang dẫn đầu cả nước về số lượng vốn thu hút đầu tư, chiếm 33% so với cả nước. Dự báo, thu hút đầu tư vào Việt Nam sẽ tiếp tục tăng mạnh, chủ yếu vào các ngành công nghệ cao. 3/ Các hình thức dịch vụ thu hút ngoại tệ Trước tiên ta phải nhắc đến du lịch , có thể nói ngành công nhiệp không khói này ngày càng phát triển và lớn mạnh . Với các chính sách hợp lí, quảng bá truyền thông ra nước ngoài mở rộng thu hút du khách . Mỗi năm ngành du lịch đã đóng góp 5% vào thu nhập quốc dân . Về dịch vụ mua bán ngoại tệ : đá có rất nhiều chuyển biến . Với hệ thống ngân hàng rộng khắp , hiện đại và có rất nhiều các hình thức khuyến khích thu hút mọi người tham gia vào các hình thức ngân hàng 19 4/ Về hợp tác khoa hoc kĩ thuật Chúng ta đã mua rất nhiều các thành tựu khoa học của nước ngoài, bên cạnh đó còn đưa sinh viên , cán bộ ra nứơc ngoài học tập và làm việc . 5/Hợp tác trong lĩnh vực sản xuất Trong những năm gần đây nước ta đã thu hút rất nhiều các tổ chức, các công ti nươc ngoài sang đầu tư sản suất tai nước ta, bên cạnh đó nước ta đã liên kết với nhiều quốc gia trên thế giới để xuất khẩu lao động như : Đài Loan , Hàn Quốc… III/Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao, mở rộng hiệu quả kinh tế đối ngoại 1/Những giải pháp mang tính lâu dài Giải pháp đầu tiên chúng ta cần phải đề cập đến đó là: đảm bảo sự ổn định về môi trường chính trị, kinh tế, xã hội . Môi trường chính trịkinh tế-xã hội là nhân tố cơ bản có tính quyết định đối với các hoạt động của kinh tế đối ngoại , đặc biệt là hình thức thu hút vốn đầu tư 20
- Xem thêm -