Các giải pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh cho ngân hàng liên doanh lào-việt, chi nhánh hà nội

  • Số trang: 73 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

LUẬN VĂN: Các giải pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh cho Ngân hàng liên doanh Lào-Việt, chi nhánh Hà Nội Lời nói đầu Thế giới kinh doanh khắc nghiệt của con người không nằm ngoài quy luật, bất kỳ thành viên nào trên thế giới cũng phải luôn đấu tranh để sinh tồn, mà trong kinh doanh chúng ta gọi là “cạnh tranh”. Trong kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng ngày càng quyết liệt. Việt Nam trong thời kỳ mở cửa, hội nhập, sự xuất hiện ngày càng tăng của các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh càng làm cho môi trường cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và trong ngành ngân hàng nói riêng trở nên sôi động và rất khó nắm bắt. Chỉ cần một sự sơ xuất nhỏ trong kinh doanh là lập tức một ngân hàng có thể bị sụp đổ ngay tức khắc. Do vậy, nắm bắt và vận dụng được nguyên lý cạnh tranh vào hoạt động của ngân hàng mình như thế nào để có thể tồn tại và phát triển được là một vấn đề hết sức khó khăn, đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách khoa học. Trong thời gian thực tập tại Ngân hàng liên doanh Lào-Việt chi nhánh Hà Nội, em nhận thấy ngân hàng có những lợi thế cạnh tranh nhất định trong hoạt động kinh doanh nhưng một số hạn chế hạn chế nghiêm trọng đã giảm khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Xuất phát từ những nhu cầu thực tế của ngân hàng, sau một thời gian nghiên cứu và thực tập, được sự giúp đỡ của Thạc sỹ Lê Hương Lan và các cán bộ Chi nhánh LVB, em xin chọn đề tài cho Chuyên đề tốt nghiệp của mình là: “Các giải pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh cho Ngân hàng liên doanh Lào-Việt, chi nhánh Hà Nội”. Nội dung của đề tài gồm 3 chương như sau: Chương I: Khả năng cạnh tranh của ngân hàng thương mại. Chương II: Thực trạng khả năng cạnh tranh của Chi nhánh LVB Hà Nội. Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho Chi nhánh LVB Hà Nội. ChươngII Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh trong hoạt động của Ngân hàng thương mại I. Khái quát về hoạt động của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại (NHTM) là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ. Nó được thể hiện thông qua luật ngân hạng Nhà nước, là một tổ chức hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi dựa trên nguyên tắc hoàn trả tiến hành cho vay, chiết khấu và các phương thức thanh toán. 2. Các hoạt động của Ngân hàng thương mại Theo điều 9- Luật NHNN và điều 20- Luật các Tổ chức tín dụng, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng, số tiền này để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán. Về cơ bản các nghiệp vụ của NHTM bao gồm: 2.1. Hoạt động huy động vốn. Đây là nghiệp vụ quan trọng đối với NHTM, bởi lẽ nó là cơ sở ngân hàng ra đời, tồn tại và phát triển. Hoạt động này có ý nghĩa đặc biệt vì trên cơ sở vốn huy động được, ngân hàng mới có thể thực hiện các nghiệp vụ sau này. Do do trong các hoạt động của NHTM rất cao nên khi thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ đem lại thu nhập đồng thời đảm bảo được khả năng thanh toán khi có yêu cầu với chi phí thấp nhất. Hay nói cách khác, ngân hàng phải đảm bảo có được một cơ cấu tài sản nợ cũng như cơ cấu tài sản có hợp lý. -Thứ nhất là, hoạt động tạo vốn tự có : Như hầu hết cơ sở kinh doanh khác, để hoạt động kinh doanh được tiến hành cũng cần phải có một số vốn ban đầu và điều này đặc biệt đúng trong hoạt động ngân hàng. Tuỳ từng loại hình ngân hàng mà hoạt động này được hình thành như thế nào. Đối với NHTM quốc doanh là do Nhà nước cấp đối với NHTM cổ phần là do các cổ đông đóng góp, đối với ngân hàng liên doanh là do các đơn vị liên doanh đóng góp.v.v... Vốn tự có của một NHTM ở mức dưới hoặc bằng 10% so với tổng tài sản có. Nguốn vốn này chiếm một phần không lớn trong tổng nguồn vốn nó lại giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của NHTM. Bởi đây là điều kiện cần và đủ để các NHTM hoạt động và là “tấm đệm” giúp các NHTM luôn cần quan tâm không ngừng tới việc tăng quy mô, tăng hiệu quả sử dụng vốn bằng cách trích lập các quỹ thích hợp như: quỹ dự trữ, quỹ bảo toàn vốn, quỹ dự phòng rủi ro... từ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, uy tín của một NHTM phần lớn thể hiện qua quy mô vốn tự có. Bở lẽ, khách hàng sẽ tín nhiệm NHTM nào có quy mô lớn với cách nghĩ rằng các NHTM có quy mô lớn sẽ đảm bảo độ an toàn cao hơn. Xu hướng ngày nay, các NHTM tăng vốn bằng cách tích tụ và đẩy mạnh tập trung thông qua các hoạt động sáp nhập các NHTM với nhau. -Tứ hai là , hoạt động huy động tiền gửi : như ta thấy, phân theo mục đích gửi tiền bao gồm: tiền gửi giao dịch và tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi giao dịch là khoản tiền mà chủ tài khoản có thể sử dụng với mục đích thanh toán cho khách hàng của họ thông qua phát hành séc hoặc chuyển khoản. Nó không những lớn mà còn là nguồn vốn rẻ nhấnt vì mục đích của các khoản tiền gửi này không phải là nhận lãi mà là nhằm sử dụng dịch vụ thanh toán qua hệ thống NHTM hoặc để giữ được tính lỏng cao nhất với mục đích riêng. Tiền gửi tiết kiệm (hay còn gọi là tiền gửi phi thanh toán), là khoản tiền gửi mà chủ tài khoản này không dùng để thanh toán mà bù lại họ được hưởng một mức lãi suất thoả đáng. Nói chung, nguồn vốn này có chi phí cao hơn khoản tiền gửi giao dịch nhưng là nguồn vốn quan trọng, ổn định và đảm bảo cho NHTM chủ động trong việc sử dụng vốn. Trong hoạt động huy động tiền gửi, ngân hàng căn cứ vào tính chất và đặc điểm của từng loại tiền gửi cũng như nhu cầu, tâm lý tiêu dụng của người dân, của các tổ chức kinh tế.v.v... để đưa ra những hình thức huy động khác nhau nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Nghiệp vụ huy động được xác định bởi các thể chế, quy định về thời gian về lãi suất, hình thức chi trả và hình thức tài khoản. Thông thường, các NHTM luôn luôn tìm cách cải tiến các hình thức huy động, đặc biệt là các hình thức gắn liền với lợi ích của người gửi tiền để tạo niềm tin đối với khách hàng. -Thứ ba là, hoạt động đi vay: Các NHTM có thể chủ động đi vay để có vốn đáp ứng nhu cầu kinh doanh. Đây là nguồn vốn có chi phí huy động đắt nhất trong các nguồn vốn vay huy động của NHTM nhưng lại không thể thiếu trong quá trình kinh doanh. Hoạt động này giúp cho NHTM chủ động trong quá trình kinh doanh và trong việc đối phó với khó khăn phát sinh. NHTM thường đi vay Ngân hàng Nhà nước hoặc từ các tổ chức tín dụng khác.Thông thường quy mô và mục đích sử dụng đã được xác định trước. Ngoài ra, các NHTM có thể phát hành trái phiếu, vay của các tổ chức tín dụng nước ngoài, vay trên thị trường Liên ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thanh toán, nhu cầu tín dụng của khách hàng.v.v... ngày nay, vốn vay mượn đang trở thành bộ phận quan trọng trong hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM. Ngoài ra, các NHTM có thể nhận được vốn uỷ thác từ Chính phủ, từ các tổ chức đầu tư quốc tế, các tổ chức nhân đạo.v.v... để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. 2.2 Hoạt động sử dụng vốn. Nếu như, hoạt động huy động vốn quyết định sự ra đời và điều kiện tiên quyết cho việc thực hiện các hoạt động khác của NHTM thì hoạt động sử dụng vốn quyết định tới sự tồn tại và phát triển của NHTM. Hoạt động này mang phần lớn lợi nhuận cho các NHTM. Khi thực hiện hoạt động này, các ngân hàng phải đảm bảo có một cơ cấu tài sản hợp lý nhằm đạt được mức lợi nhuận cao nhất, đồng thời vẫn đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng của mình. Để thực hiện được mục tiêu này, các NHTM phải có chính sách đầu tư, tín dụng thích hợp, kết hợp quản lý tài sản quản lý nguồn vốn, tuân thủ theo quy định của pháp luật và sự hướng dẫn của ngân hàng Nhà nước. Hoạt động này bao gồm: -Thứ nhất, hoạt động ngân quỹ: là hoạt động để đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên cho khách hàng của NHTM. Trên bảng cân đối tài sản, kết quả của hoạt động này được thể hiện ở khoản mục dự trữ. Có thể thấy, hầu hết các tài sản dự trữ đều không sinh lời hoặc có khả năng sinh lời thấp nhưng nó lại có tính lỏng rất cao, điều đó rất cần thiết cho hoạt động ngân hàng. Bên cạnh đó, là mối quan hệ với chủ thể quản lý: Ngân hàng Nhà nước do thực hiện hoạt động ngân quỹ phải đảm bảo yêu cầu dự trữ bắt buộc (được ngân hàng Nhà nước sử dụng như là công cụ để quản lý và điều hành chính sách tiền tệ, quản lý hoạt động của Ngân hàng). Trong quản lý các nguồn ngân quỹ, các NHTM phải xác định được một cơ cấu, tỷ lệ dự trữ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán, tránh ứ đọng và lãng phí vốn. Hoạt động này nó bao gồm: nghiệp vụ quỹ tiền mặt, tiền gửi ở các ngân hàng khác và ở Ngân hàng trung ương, tiền trong quá trình thu nhận, và cũng có thể bao gồm cả nghiệp vụ về bán chứng khoán ngắn hạn. -Hai là, hoạt động cho vay: Cùng với hoạt động đầu tư, hoạt động cho vay đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng thương mại. Nhưng đây là hoạt động quan trọng nhất, thể hiện là một trong các chức năng cơ bản của NHTM. Đó là, cho vay đối với nền kinh tế, qua đó thu được lợi nhuận cho mình. Tuy nhiên, đi kèm với thu nhập cao là tính lỏng kém và rủi ro lớn. Vì vậy, trong quản lý hoạt động cho vay cần xây dựng một chính sách tín dụng đúng đắn, phù hợp với điều kiện của ngân hàng, tuân thủ các nguyên tắc quản lý cho vay, quy trình nghiệp vụ tín dụng và triệt để tuân theo các quy định của pháp luật và của Ngân hàng Nhà nước về chất lượng tín dụng cũng như các quy định kiểm soát khác. -Ba là, hoạt động đầu tư: Đây là nguồn thu lớn quan trọng thứ hai, sau hoạt động cho vay. NHTM đầu tư vào chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao (được coi như là một khoản dự trữ thứ cấp của NHTM) hoặc đầu tư vào chứng khoán có tính lưu hoạt thấp nhưng có kỳ hạn dài hơn để bù lại lợi ích đem lại cao hơn khoản mục trên bảng cân đối tài sản thể hiện kết quả hoạt động này. Trong hoạt động đầu tư, ngân hàng chủ động lựa chọn từ một loạt chứng khoán hiện có. Các NHTM thực hiện hoạt động này nhằm mục tiêu đa dạng lợi tức, lợi ích về thuế và trợ giúp về tính thanh khoản dự trữ thứ cấp. Các NHTM không thể cho vay hết các khoản vốn đã huy động về. Bởi lẽ, các NHTM phải đa dạng hoá đầu tư để giảm thiểu rủi ro. Các rủi ro có thể là: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất.v.v... Để đảm bảo thành công các ngân hàng phải có chính sách đầu tư đúng đắn để thu được mức lợi nhuận hợp lý, có được tính lỏng cao và hạn chế tối đa rủi ro. 2.3 Các hoạt động trung gian Với tư cách là nhà trung gian môi giới, NHTM thực hiện dịch vụ cho khách hàng, trên cơ sở đó, NHTM thu được một khoản phí nhưng quan trọng hơn đó là việc tạo điều kiện để thu hút khách hàng, nhằm tăng khả năng cạnh tranh và thu hút được nhiều lợi nhuận hơn. Ngày nay, chính nghiệp vụ trung gian là cơ sở để đánh giá và phân loại các NHTM Chất lượng của các dịch vụ quyết định đến hình ảnh và uy tín của ngân hàng thương mại, là cơ sở để thắt chặt mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng. Đặc trưng là các hoạt động: thu-chi hộ, chuyển tiền, thanh toán, trung gian mua bán trên thị trường chứng khoán, uỷ thác, đấu thầu, tư vấn và các hoạt động khác như bảo hiểm, bảo quản tài sản quý, giấy tờ có giá.v.v... Các NHTM ngày nay đã không ngừng tìm cách bành trướng phạm vi hoạt động của mình. Họ ra sức ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, trang bị những thiết bị tiên tiến nhất của công nghệ tin học vào các hoạt động nghiệp vụ. Sự lớn mạnh của NHTM cùng với quá trình quốc tế hoá đang ngày càng trở nên mạnh mẽ. Thêm vào đó khuynh hướng phát triển của các NHTM các ngân hàng đa năng cùng với dịch vụ tài chính và phi tài chính ngày càng đa dạng cộng với sự xâm nhập của các tổ chức phi tài chính, đã làm cạnh tranh trên thị trường tài chính ngày càng gay gắt. Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng đã không bó hẹp trong phạm vi nội bộ quốc gia mà mở rộng trên toàn thế giới, giữa các ngân hàng với nhau, giữa các ngân hàng với tổ chức phi tài chính và giữa các tổ chức này với nhau. Trong điều kiện như vậy, các NHTM phải chủ động quan tâm tới việc tìm ra nhu cầu và mong muốn đó. Việc sử dụng marketing đã và đang là một điều kiện tất yếu trong cơ chế thị trường. Trong nền kinh tế hiện đại, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại, vận dụng marketing, chuyên môn hoá kết hợp với kinh doanh đa năng được xem là xu hướng phát triển kinh doanh chính và cũng là để thắng trong môi trường cạnh tranh gay gắt của NHTM. 3.Vai trò của Ngân hàng đối với nền kinh tế Ngân hàng không chỉ đóng vai trò trong nền kinh tế-nhận tiền gửi và cho vay trên thực tế ngân hàng đã thực hiện nhiều vai trò để có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu xã hội, các ngân hàng ngày nay có những vai trò cơ bản sau: - Vai trò trung gian: Chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu tự hộ gia đình, thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các thành phần khác để đầu tư vào nhà cửa thiết bị và các tài sản khác. - Vai trò thanh toán: thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán việc mua bán hàng hoá và dịch vụ (như bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và phân phối tiền giấy và tiền đúc). - Vai trò người bảo lãnh: Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán (chẳng hạn phát hành thư tín dụng). - Vai trò đại lý: thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ, phát hành hoặc chuộc lại chứng khoán (thường được thực hiện tại văn phòng uỷ thác). - Vai trò thực hiện chính sách: thực hiện các chính sách kinh tế của Chính phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi mục tiêu xã hội. II. Khái quát về cạnh tranh trong hoạt động Ngân hàng 1. Cạnh tranh là gì? Cạnh tranh là hành động của một cá nhân hay tổ chức cố gắng để chiến thắng hoặc giành được công việc kinh doanh từ các đối thủ của mình. Tương tự như vậy, cạnh tranh là sự tranh giành thị trường (khách hàng) để tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp. Như vậy, một nền kinh tế thị trường luôn đòi hỏi phải có cạnh tranh mà cạnh tranh theo nghĩa là tranh giành thị phần chỉ có trong khuôn khổ của kinh tế thị trường. Cạnh tranh được phân chia thành 2 loại: cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo. Thị trường có cạnh tranh hoàn hảo là thị trường có quá nhiều người bán và người mua cùng một hàng hoá đồng nhất đến mức không ai có thể ảnh hưởng đến giá cả thị trường. Nếu có ít nhất một người bán lớn đến mức có thể ảnh hưởng tới giá thị trường thì xảy ra cạnh tranh không hoàn hảo (tình trạng độc quyền): Độc quyền được biểu hiện dưới các dạng: độc quyền tuyệt đối (một ngành chỉ có duy nhất một nhà cung cấp); độc quyền nhóm (một ngành do một số ít nhà cung cấp chi phối) hay một dạng đặc biệt trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa: chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước (sự câu kết giữa một nhóm tài phiệt tư bản với nhà nước tư bản). Để đạt được lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường, những nhà kinh doanh phải thông qua cạnh tranh. Vì vậy, cạnh tranh trở thành một yếu tố không thể thiếu trong sự vận động của thị trường và là đối tượng của nhiều môn khoa học kinh tế và luật pháp. 2.Tính tất yếu của cạnh tranh đối với Ngân hàng thương mại Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh giữa các NHTM là tất yếu khách quan. Cạnh tranh có một vai trò quan trọng trong hoạt động của các NHTM. Để tồn tại và phát triển trong một môi trường cạnh tranh gay gắt ngày càng cao, đòi hỏi các NHTM phải nỗ lực không ngừng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, áp dụng khoa học tiên tiến hiện đại hoá công nghệ ngân hàng, chú trọng hơn nữa công tác marketing ngân hàng, nguồn nhân lực, đào tạo lại nguồn nhân lực hiện có để đáp ứng các yêu cầu đặt ra, phù hợp với công nghệ hiện đại, đồng thời đưa ra chính sách lãi suất (tín dụng, huy động vốn), biểu phí dịch vụ có tính cạnh tranh lành mạnh, hấp dẫn nhằm duy trì và mở rộng quan hệ với khách hàng cũng như việc chủ động tìm đến khách hàng, chủ động tìm kiếm dự án... Mục tiêu quan trọng của NHTM là lợi nhuận, và việc cạnh tranh cũng làm tăng thêm hoặc ổn định thu nhập của ngân hàng. Vấn đề này buộc các NHTM phải chú ý nghiên cứu, thực hiện những biện pháp để tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất và hiệu quả lao động, mở rộng và phát triển các dịch vụ... Điều đó sẽ mang lại lợi ích cao cho bản thân các doanh nghiệp, dân chúng và xã hội, đồng thời tăng sức cạnh tranh cho các NHTM. Cạnh tranh thúc đẩy các NHTM luôn đánh giá được đúng thực lực của mình, thấy được điểm mạnh, yếu của đối thủ cạnh tranh để tìm được biện pháp cạnh tranh hữu hiệu và chiến thắng trong môi trường cạnh tranh. Cạnh tranh không chỉ đơn thuần là đối đầu nhau, chiến thắng tuyệt đối đối thủ của mình mà còn bao hàm vấn đề hợp tác giữa các NHTM với nhau, cạnh tranh trong xu thế hợp tác. Bởi lẽ để tồn tại và phát triển được các NHTM dựa vào sức mình là chính. Nhưng đôi khi cũng cần có sự hợp tác với nhau để cùng giải quyết những vấn đề chung của ngành, của hệ thống, cùng hợp tác trong hoạt động kinh doanh. Cụ thể là đối với những dự án hay hợp đồng tín dụng lớn một NHTM không thể thực hiện được, mà cần phải có sự chung sức của các NHTM, cùng nhau cho vay theo quy chế, đồng tài trợ, hoặc vấn đề điều hoà vốn nội bộ trong hệ thống liên ngân hàng, tham gia là thành viên của Hiệp hội ngân hàng, tham gia thanh toán bù trừ, thông tin tín dụng... Tuy nhiên cạnh tranh giữa các Ngân hàng diễn ra rất gay gắt và khốc liệt, đôi khi dẫn tới sự thiếu bình tĩnh trong hoạt động giữa các ngân hàng làm cho môi trường cạnh tranh không lành mạnh. Tạo ra nhiều khe hở cho các biểu hiện tiêu cực về kinh tế dẫn đến tình trạng “cá lớn nuốt cá bé” cũng như các yếu tố làm cho thị trường tài chính dễ biến động. Có nguy cơ làm giảm tiềm lực sức mạnh của toàn bộ hệ thống ngân hàng. 3. Khái niệm khả năng cạnh tranh trong hoạt động của NHTM Ngân hàng hoạt động chịu sự tác động của một số yếu tố trong đó không thể không kể đến môi trường hoạt động của bản thân các ngân hàng. Ngành ngân hàng các nước phát triển theo những phương thức không hoàn toàn giống nhau, tuy nhiên luôn tồn tại một lực lượng quan trọng là ngân hàng Nhà nước hay ngân hàng trung ương điều hành mọi hoạt động về mặt chính sách của khối ngân hàng nói chung. Các NHTM có thể thuộc nhà nước hay do tư nhân lãnh đạo dưới hình thức hội đồng quản trị nhưng đều liên quan mật thiết đến mọi hoạt động của nền kinh tế và không chỉ một ngân hàng có thể tạo nên thị trường mà cần có sự tham gia hoạt động của các ngân hàng khác. Nơi đâu có dân cư và sản xuất kinh doanh, nơi đó có ngân hàng. Ngoài ra, các tổ chức tín dụng và tổ chức tài chính phi ngân hàng ngày càng phát triển đang đặt các ngân hàng vào một tình thế khó khăn: những nghiệp vụ trước kia do ngân hàng đảm nhận nay được các tổ chức khác thực hiện dưới những hình thức ngày càng đa dạng và phong phú hơn, hướng tới những thị trường mà ngân hàng đã bỏ ngỏ. Rõ ràng ngân hàng đang phải cùng lúc cạnh tranh với nhiều lực lượng: các ngân hàng trong cùng khối và các tổ chức tài chính phi ngân hàng có những thế mạnh riêng. Có thể nói, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng là sự nỗ lực hoạt động đồng bộ của ngân hàng trong một lĩnh vực khi cung ứng cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao nhằm khẳng định vị trí của ngân hàng vượt lên khỏi các ngân hàng khác trong cùng lĩnh vực hoạt động ấy. Sức mạnh đồng bộ của toàn bộ ngân hàng được phát huy khi ngân hàng tận dụng được hết những khả năng sẵn có của mình để nâng cao vị thế cạnh tranh. Mỗi ngân hàng đều có những lợi thế riêng và đều có khả năng tận dụng những lợi thế ấy nếu có những nhận thức thực sự hiệu quả và đúng đắn, tức là mỗi ngân hàng đều có khả năng phát triển mạnh mẽ hơn. Nói cách khác, khả năng cạnh tranh của ngân hàng được đánh giá như một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh khả năng kết hợp các lợi thế cạnh tranh mà ngân hàng đang có để biến đổi thành những công cụ hữu hiệu trong việc khẳng định vị trí của ngân hàng trên thị trường. 4. Biểu hiện khả năng cạnh tranh của NHTM 4.1 Ưu thế cạnh tranh và sự vận dụng vào hoạt động của NHTM - Trước hết, ưu thế cạnh tranh do địa điểm, vị trí hoạt động có nhiều thuận lợi. Tất cả các nhà quản lý ngân hàng đều nhận thức những vấn đề này, Tuy nhiên, việc lựa chọn được một địa điểm kinh doanh tốt không phải là việc dễ dàng. Nếu một ngân hàng thương mại đặt trụ sở ở gần một ngân hàng thương mại khác có nhiều ưu thế hơn, hoặc nơi đặt trụ sở không phù hợp sẽ gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh.Việc lựa chọn vị trí đặt trụ sở phải phù hợp với quy mô hoạt động kinh doanh, nếu ngân hàng có vốn ít mà chi phí xây dựng trụ sở lại tốn kém làm tăng chi phí ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh. - Hai là, bề dày hoạt động Bề dầy lịch sử là ưu thế khá quan trọng. Khách hàng thường chọn những nơi quen biết, có bề dầy hoạt động để gửi tiền hoặc vay tiền. - Ba là, Quy mô, địa bàn hoạt động Ngân hàng thương mại có quy mô lớn và địa bàn hoạt động rộng tạo nên ưu thế về tâm lý đối với khách hàng. khách hàng thương quan niệm khi gửi tiền vào các NHTM lớn thì sẽ yên tâm hơn. Mạng lưới chân dết của NHTM cũng có tác dụng tăng cường quy mô hoạt động của NHTM với phương châm “góp gió thành bão” - Bốn là, Tính chất sở hữu của loại hình NHTM Ngân hàng thương mại thuộc sở hữu Nhà nước hay cổ phần, tư nhân là một ưu thế tâm lý. Khách hàng rất tin tưởng đối với ngân hàng thương mại quốc doanh, khi gửi tiền vào họ không sợ bị mất, nhất là sau khi hàng loạt các tổ chức tín dụng đổ vỡ. Đối với NHTM cổ phần đa số là khách hàng lớn và họ gửi tiền như là một giải pháp tạm thời vì lãi suất hấp dẫn hơn. Các NHTM quốc doanh vẫn là nơi để các khách hàng lớn “chọn mặt gửi vàng”. - Năm là, Trình độ cán bộ nhân viên ngân hàng Trình độ cán bộ nhân viên không chỉ là trình độ chuyên môn mà còn là thái độ phong cách giao tiếp cư xử có văn hoá, lịch sự và văn minh. Đây là ưu thế mà bất cứ NHTM nào cũng muốn có. Trên thực tế chỉ có ngân hàng thương mại nào có chiến lược, chính sách đào tạo, thu hút nhân tài và có chế độ trả lương sòng phẳng thì mới sử dụng một cách có hiệu quả ưu thế này. - Sáu là, kỹ thuật nghiệp vụ Mỗi một ngân hàng đều quan tâm đến kỹ thuật nghiệp vụ của mình, đặc biệt trong nghiệp vụ tiết kiệm và nghiệp vụ tín dụng để có được thủ tục, quy trình đơn giản và gọn nhẹ nhưng hiệu quả. Công nghệ hiện đại và dễ sử dụng là những mục tiêu mà bất cứ NHTM nào cũng mong muốn đạt tới. - Bảy là, Chất lượng và giá cả dịch vụ cung cấp Đây là ưu thế cực kỳ quan trọng không chỉ trong lĩnh vực ngân hàng mà còn đối với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi khách hàng đến dịch vụ thì điều quan tâm trước hết là chất lượng và giá cả và dịch vụ mà họ yêu cầu, sau đó mới đặt ra các vấn đề khác. Chất lượng dịch vụ là việc vận dụng một loạt các ưu thế, NHTM nào thực hiện một cách nhuần nhuyễn và linh hoạt sẽ là người chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này. Trong hoạt động ngân hàng, giá cả dịch vụ thể hiện các mặt sau: Lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay và phí dịch vụ. Đối với chất lượng dịch vụ, các đích thật khó đạt đến, nhưng đối với giá cả dịch vụ cũng phải có giới hạn của nó, nếu vượt quá giới hạn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh. 4.2 Những lĩnh vực (khía cạnh) cạnh tranh chủ yếu của NHTM. Các NHTM cạnh tranh với nhau trong mọi hoạt động. Tuy nhiên, chúng có thể được khái quát trên các lĩnh vực (khía cạnh) chủ yếu như sau: - Thứ nhất là: cạnh tranh về khách hàng Với động cơ kinh doanh là nhằm đạt tới lợi nhuận ngày càng cao, do đó mỗi NHTM đã hoạch định chiến lược kinh doanh trong đó công bố các chính sách và các giải pháp ưu đãi đối với khách hàng nhằm lôi kéo khách hàng về mình trong việc khỏi tăng nguồn vốn, cho vay và làm dịch vụ khép kín cho khách hàng. Quá trình cạnh tranh giữa các NHTM đã làm tăng thêm nhu cầu tìm kiếm và chọn lựa khách hàng, đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng theo hướng nhanh nhạy, kịp thời, chi phí phục vụ thấp nhất và bảo đảm an toàn nhất. - Thứ hai là: cạnh tranh về sản phẩm dịch vụ Các NHTM đều có chiến lược sản phẩm. Việc tung các sản phẩm và dịch vụ ra thị trường được các nhà hoạch định tính toán kỹ lưỡng các ích lợi vật chất và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ cũng như các công nghệ truyền thống. Những ý tưởng về sản phẩm dịch vụ mới là những vấn đề phức tạp liên quan đến hiệu quả kinh tế, tiện dụng và an tâm cho cả khách hàng và Ngân hàng. Đây là khía cạnh của cạnh tranh mà các NHTM rất chú trọng, luôn luôn nâng cao và đổi mới. - Thứ ba là, Cạnh tranh về công nghệ và phong cách làm việc Việc giao dịch với khách hàng một cửa, vừa đảm bảo nhanh chóng, chính xác và kịp thời, vừa đảm bảo văn minh, lịch sự đối với khách hàng, phù hợp với xu hướng mở cửa, hội nhập khu vực cũng như quốc tế. Giao dịch một cửa (nhưng không nhiều khoá), nhiều tổ chức tín dụng đã gắn liền với việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại; kết nối mạng vi tính thông suốt đảm bảo chế độ thường xuyên có người trực máy giao dịch với khách hàng; nhanh chóng khắc phục và xử lý kịp thời sự cố do máy móc, hoặc quy trình tác nghiệp ùn tắc gây nên; việc đổi mới các quy trình, quy phạm về nghiệp vừa tiếp thu công nghệ hiện đại, vừa kế thừa công nghệ truyền thống. Đồng thời không ngừng bồi dưỡng, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ công nhân viên, cũng như tuyển mới làm cho đội ngũ người lao động đạt trình độ chuyên môn cao, phong cách giao dịch tốt, đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển đảm bảo cạnh tranh theo nhu cầu ngày càng phát trình đảm bảo cạnh tranh theo luật pháp thắng lợi. - Cuối cùng là, Cạnh tranh về mạng lưới giao dịch Việc mở rộng mạng lưới kinh doanh, tiếp thị trong và ngoài nước, các NHTM trong nền kinh tế thị trường là hết sức cần thiết. Để tìm kiếm và mở rộng thị phần trong kinh doanh, các NHTM có xu hướng thành lập thêm các chi nhánh NHTM khu vực tỉnh, thành phố và nhất là những nơi có trung tâm kinh tế lớn; mặt khác, mở rộng chi nhánh văn phòng đại diện ở nước ngoài, nhất là thành lập các liên doanh với các ngân hàng nước ngoài và tổ chức tài chính tiền tệ thế giới. III. Chỉ tiêu thể hiện khả năng cạnh tranh của NHTM Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp nói chung và một ngân hàng nói riêng là “chỉ tiêu tổng hợp, toàn diện” được tính toán từ nhiều chỉ tiêu khác nhau. Hệ thống phản ánh sức mạnh cạnh tranh của NHTM gồm 4 chỉ tiêu sau: Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh, nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng dịch vụ; nhóm chỉ tiêu phản ánh tính đổi mới hoạt động của ngân hàng và nhóm các chỉ tiêu phản ánh mức độ thoả mãn của khách hàng. 1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh Với nghĩa thông thường, hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp được hiểu là mức chênh lệch đầu vào và đầu ra. Giá trị đầu vào được xác định bởi giá các nhân tố chính tham gia quá trình sản xuất như lao động đất đai, công nghệ... giá trị đầu ra xác định bởi các sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp đó cung ứng ra thị trường. Một doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả là doanh nghiệp có khả năng tăng mức chênh lệch giá trị đầu ra so với giá trị đầu vào càng lớn càng tốt. áp dụng vào lĩnh vực ngân hàng, hiệu quả kinh doanh thường được đánh giá thông qua 3 chỉ số phân tích cơ bản: Lợi nhuận ròng (1). ROA = * 100 Tổng tài sản có Chỉ số ROA cho nhà phân tích thấy được khả năng bao quát của ngân hàng thương mại trong việc tạo ra thu nhập từ tài sản có. Nói cách khác, ROA giúp nhà phân tích xác định hiệu quả kinh doanh tính trên một đồng tài sản có. ROA lớn chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tốt, NHTM có cơ cấu tài sản hợp lý. NHTM có sự điều chỉnh linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản có trước những biến động của nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu ROA quá lớn nhà phân tích sẽ lo lắng vì rủi ro luôn song hành với lợi nhuận. Vì vậy việc so sánh ROA giữa các kỳ hạch toán là rất cần thiết, giúp nhà phân tích có thể sự báo thành công cũng như thất bại của ngân hàng thương mại. Lợi nhuận sau thuế (2). Chỉ số ROE = *100 Vốn chủ sở hữu ROE là chỉ số đo lường hiệu quả sử dụng của một đồng vốn tự có. Nó cho biết lợi nhuận ròng mà các cổ đông có thể nhận được từ việc đầu tư vốn của mình. Nếu ROE quá lớn so với ROA chứng tỏ vốn tự có của ngân hàng chiếm tỉ trọng nhỏ so với tổng nguồn vốn. Vốn kinh doanh vì vậy sẽ chủ yếu từ nguồn huy động và như vậy có thể ảnh hưởng tới mức độ lành mạnh trong kinh doanh của NHTM. Tổng chi phí (3). Chỉ số COI = *100 Tổng thu nhập Chỉ số COI tính toán khả năng bù đắp chi phí từ nguồn thu nhập của NHTM. Đây cũng là chỉ số đo lường hiệu quả kinh doanh của NHTM. Thông thường chỉ số này phải nhỏ hơn 1. Nếu lớn hơn 1 chứng tỏ NHTM hoạt động kém hiệu quả và đang có nguy cơ phá sản trong tương lai. Thông qua bảng tổng kết tài sản và báo cáo thu nhập-chi phí được các NHTM công bố trong các bản báo cáo thường niên được phát hành rộng rãi, các nhà phân tích sẽ dễ dàng có được chỉ số trên. 2. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh chất lượng dịch vụ của NHTM Chất lượng dịch vụ luôn là vấn đề quan tâm của NHTM. Vì chất lượng dịch vụ ngày càng trở nên lợi thế cạnh tranh, mang ý nghĩa sống còn đối với hoạt động của NHTM. Các công trình nghiên cứu trước đây về chất lượng dịch vụ đều đi đến hai kết luận cơ bản: - Chất lượng dịch vụ được đánh giá theo quan điểm chủ quan của khách hàng. - Chất lượng dịch vụ phụ thuộc quá lớn vào tín hiệu vô hình trong quá trình giao dịch như sự tin cậy, cảm tình, thuận tiện và thông cảm. Đối tượng kinh doanh của NHTM là tiền tệ, nên chất lượng dịch vụ không chỉ đánh giá thông qua chất lượng của nhân viên NHTM mà còn được đánh giá thông qua độ an toàn chính xác trong xử lý nghiệp vụ, tính đơn giản thuận tiện trong giao dịch và cuối cùng là khoảng thời gian cần thiết để có thể hoàn tất một giao dịch. Tóm lại, các chỉ tiêu phản ánh chất lượng dịch vụ của một NHTM bao gồm: *Chất lượng nhân viên trực tiếp cung ứng dịch vụ *Độ an toàn và chính xác *Thủ tục giao dịch *Tốc độ xử lý giao dịch Để có thể đo lường hầu hết các yếu tố mang tính chất vô hình nêu trên, các NHTM có thể thực hiện các công cụ nghiên cứu Marketing như làm bảng hỏi khách hàng, phỏng vấn trực tiếp khách hàng, tổ chức toạ đàm theo chuyên đề hoặc sử dụng hộp thư góp ý của khách hàng... Riêng hai chỉ tiêu về độ an toàn, chính xác của giao dịch và thời gian cho một giao dịch phòng chuyên trách của ngân hàng có thể tự thống kê với một số lưu ý sau: Độ an toàn, chính xác trong giao dịch là tiêu chuẩn hàng đầu đối với mọi khách hàng. Vì vậy, thực tế các NHTM đều đã đảm bảo tỷ lệ này ở mức suýt soát 100%. Việc thống kê các sai sót trong quá trình cung ứng dịch vụ vì vậy gặp khó khăn. Tuy nhiên, các sai sót khi phát hiện được, cần trừ điểm cao trong tổng số điểm đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng. Tốc độ xử lý giao dịch: thời gian giao dịch cần thiết đối với các loại dịch vụ khác nhau sẽ rất khác nhau. Ví dụ thời gian giao dịch cho một khoản vay ngắn hạn có thể là 2 ngày trong khi thời gian cần thiết để hoàn tất một khoản vay trung và dài hạn tối thiểu là 30 ngày, thậm chí là một năm vì vậy cũng nên so sánh theo từng loại hình dịch vụ, không thể so sánh cùng lúc giữa các loại dịch vụ khác nhau. 3. Nhóm chỉ tiêu phản ánh sự hài lòng của khách hàng Đây là chỉ tiêu mang tính tổng hợp nhất và có thể nói là quan trọng nhất theo quan điểm Marketing, vì suy cho cùng các NHTM cạnh tranh với nhau là thu hút được nhiều khách hàng thông qua việc thoả mãn tốt nhất các nhu cầu của họ. Như trên đã trình bày, sự hài lòng của khách hàng mang đậm tính chủ quan của chính họ. Vì vậy, việc hình thành một nhóm chỉ tiêu cụ thể để đánh giá gặp nhiều khó khăn. Song, nhìn chung, khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng khi họ nhận được dịch vụ đúng (đáp ứng đúng mục đích giao dịch), chất lượng đúng (như họ mong đợi), giá cả đúng (họ cho rằng hợp lý) và thời gian đúng (không quá lâu). Do hầu hết các tiêu chuẩn yêu cầu của khách hàng về dịch vụ đã được thể hiện qua hai nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng và chỉ tiêu phản ánh sự đổi mới nên tại nhóm chỉ tiêu này chủ yếu sẽ được đánh giá theo khía cạnh kết quả vấn đề, cụ thể như sau: Tốc độ tăng trưởng (suy giảm) số lượng khách hàng, tốc độ tăng trưởng (suy giảm) thị phần. Phương pháp tính toán hai chỉ tiêu trên chủ yếu là thống kê thông tin từ trong nội bộ ngân hàng và thông tin từ bên ngoài ngân hàng. Do mức sinh lợi của các nhóm khách hàng/dịch vụ khác nhau sẽ khác nhau. Vì vậy hai chỉ tiêu nói trên cần được thống kê theo từng loại hình dịch vụ cụ thể. IV.Các công cụ cạnh tranh của NHTM 1. Cạnh tranh bằng lãi suất Lãi suất là giá cả của việc sử dụng vốn trong một thời gian nhất định mà người sử dụng phải trả cho người sở hữu nó Dẫn đầu về giá có lẽ là chiến lược rõ ràng nhất, trong đó công ty cố gắng trở thành một nhà sản xuất có giá thấp trong toàn ngành. Đối với các ngành sản xuất khác, đây có thể là một trong những chiến lược hiệu quả nhất và giá cả có thể được sử dụng như một yếu tố cơ bản đánh giá trình độ cạnh tranh của công ty. Tuy nhiên ngành ngân hàng có những đặc trưng riêng nên đòi hỏi phải có những phân tích khác. Dữ liệu về giá của các giao dịch đơn lẻ có thể có ích và cần thiết cho các ngành khác nhưng rất ít thông tin loại này phù hợp với ngân hàng. Các ngân hàng khó có thể sử dụng công cụ này trong cạnh tranh vì những đặc thù rất riêng của ngành ngân hàng. Sản phẩm của các ngân hàng hầu như là giống nhau tạo nên sự đơn điệu chung trên thị trường sản phẩm nhưng những ngân hàng có ý định hạ giá để tạo sự khác biệt cho sản phẩm của mình sẽ không thành công. Ngân hàng nào cũng có tiềm năng cạnh tranh về giá nên giá cho vay chung trên thị trường chính là giá thấp nhất đảm bảo cho ngân hàng vẫn còn có thể có lãi từ hoạt động cho vay. Bất cứ ngân hàng nào muốn phá vỡ thế ổn định đó sẽ kéo theo sự chuyển động của cả một hệ thống và tính suy yếu cũng mang tính hệ thống sâu sắc. Vượt qua giới hạn cuối cùng, ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ trong hoạt động kinh doanh và tiếp đó là khả năng tài chính giảm sút, làm mất đi khả năng cạnh tranh trong tương lai do không thể đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, ta cũng có thể dễ dàng nhận thấy là các ngân hàng có thể sử dụng những lãi suất khác nhau cho những khách hàng khác nhau trong những khoản vay thoạt trông là cùng loại và cùng quy mô. Điều này một phần là do các nhân tố rủi ro khác nhau và các điều khoản khác nhau của khoản vay: tài sản bảo đảm, thời điểm trả nợ v.v... Khách hàng có nhiều sự lựa chọn, bao gồm cả lựa chọn không cần vay vì có khả năng tài chính vững mạnh, thường nhận được lãi suất thấp hơn so với những khách hàng có ít hơn hay không có lựa chọn nào. Những sự lựa chọn trên cho phép khách hàng “mua hàng” giữa các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác để có được những điều kiện tốt nhất. Nếu điều này xảy ra ở quy mô lớn, sự khác biệt về lãi suất của mỗi ngân hàng đối với các khoản cho vay sẽ có xu hướng thu hẹp lại và sẽ chỉ có một sự khác biệt không đáng kể về lãi suất giữa các ngân hàng trên cùng một thị trường. Nói cách khác, quyền lực của độc quyền bán quan hệ nghịch đảo với khả năng lựa chọn của khách hàng. Tóm lại, đối với ngành ngân hàng, cạnh tranh bằng lãi suất không phải là một công cụ đem lại lợi ích mong muốn. Một minh chứng dễ thấy nhất là tại các nước phát triển, lãi suất không phải là một công cụ được ưa thích và trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất LIBOR và SIBOR không cách biệt nhau bao nhiêu. Để có thể sử dụng công cụ này có hiệu quả trong cạnh tranh là một điều vô cùng khó khăn, trong những trường hợp cụ thể thì biện pháp an toàn và thực tế nhất là bám theo lãi suất cơ bản của ngân hàng trung ương. Đây cũng chính là cách thức mà các ngân hàng trên thế giới đang sử dụng trong cho vay trung và dài hạn nhằm bảo đảm được kết quả hoạt động kinh doanh nhưng cũng không vượt quá khỏi ngưỡng của lãi suất cạnh tranh. 2. Cạnh tranh bằng sự phân biệt Như trên đã khẳng định, một ngân hàng muốn tạo được sự khác biệt với các ngân hàng khác thì phải có những vũ khí chiến lược riêng thật hiệu quả nhằm đạt được sự tán thưởng và ủng hộ cao nhất của khách hàng, từ đó mới có thể hy vọng sẽ tạo được chỗ đứng trên thị trường và hoạt động có chất lượng, vượt lên hẳn các đối thủ cạnh tranh trước đó. Loại bỏ yếu tố lãi suất không hiệu quả, chúng ta có thể xem xét một số công cụ chủ yếu của ngân hàng trong hoạt động tín dụng trung và dài hạn như sau: uy tín của ngân hàng, năng lực của bộ máy lãnh đạo, nguồn vốn tự có và huy động , hệ thống thu thập và xử lý thông tin, khả năng phân tích rủi ro, chất lượng nguồn nhân lực, công nghệ ngân hàng và đổi mới công nghệ và công tác quản trị chiến lược. - Uy tín của ngân hàng Uy tín của một tổ chức tài chính là tài sản vô hình quan trọng nhất, một loại tài sản có thể phân biệt được những đối thủ thành công nhất trong ngành dịch vụ tài chính so với những người còn lại. Nó là sản phẩm của những thành tích tích luỹ được trong quá khứ của một tổ chức. Uy tín có thể nâng cao từ nhiều nguồn khác nhau nhưng nói chung là được rút ra từ một khả năng và chuyên môn cụ thể mà thị trường đánh giá cao và bản thân tổ chức đó đã phát triển trong một thời gian. Khái niệm về uy tín đã được sử dụng để giải thích cho rất nhiều hiện tượng cạnh tranh và thường được liên hệ với vị trí của ngân hàng trên thị trường như là kết quả của sự phối hợp đồng bộ của tất cả các thành phần như công nghệ tài chính và đổi mới, hệ thống thông tin, chất lượng nguồn nhân lực, khả năng phân tích rủi ro và cơ sở về vốn. Uy tín, hay còn được gọi là “good will”, gắn kết chặt chẽ với ngân hàng như là một sản phẩm của những hoạt động trong quá khứ được phản ánh trong tương lai. Uy tín của một ngân hàng thường được quyết định qua nhận xét của những khách hàng đã sử dụng dịch vụ ngân hàng. Một khi ngân hàng đã tạo được vị trí trong lòng khách hàng, điều này sẽ là một lợi thế cho ngân hàng trong việc quảng cáo và bán sản phẩm mới. Thị trường của ngân hàng rộng lớn và phức tạp với rất nhiều kênh thông tin dày đặc cũng có tính 2 mặt của nó. Nếu ngân hàng hoạt động tốt và phục vụ khách hàng tận tình chu đáo, sẽ được lan rộng nhanh chóng. Nhưng khi ngân hàng sơ sót thì danh tiếng của ngân hàng còn bị hạ thấp nhanh chóng hơn, uy tín của ngân hàng giúp cho khách hàng có những lựa chọn tốt nhất để quyết định vay vốn đầu tư. - Bộ máy lãnh đạo Không phải ngân hàng nào cũng có nhiều lợi thế như địa điểm, nguồn vốn tự có để có thể phát huy thành một lợi thế cạnh tranh của mình. Vậy trong trường hợp này, các ngân hàng trên làm thế nào để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển giữa những lực lượng hùng hậu khác? Một trong những chiếc chìa khoá của sự thành công chính là năng lực sáng tạo và điều hành của bộ máy lãnh đạo ngân hàng. Sức mạnh của bộ máy này là biết đánh giá, kết hợp một cách tài tình tất cả mọi nguồn lực có trong tổ chức và phát huy tối đa khả năng của từng bộ phận vào kết quả tổng hợp chung của ngân hàng. Để có thể thành công trong môi trường cạnh tranh hiện nay, các nhà quản trị ngân hàng cần có những tố chất sau đây: + Khả năng chuyên môn: tuy có ý kiến cho rằng người quản lý ngày nay không cần thiết phải có những hiểu biết chuyên sâu nhưng thực chất, muốn có một sự sắp xếp cho cơ chế hoạt động của bất cứ một bộ máy thì người quản lý phải có những hiểu biết nhất định, nhờ thế mới có thể phát huy được khả năng của từng bộ phận trong tổ chức. Khi mỗi cá nhân và bộ phận được đặt vào đúng vị trí và năng lực hoạt động của mình, họ mới có thể phát huy hết khả năng phục vụ cho lợi ích của ngân hàng cũng như là lợi ích của chính họ. + Khả năng phán đoán: ban lãnh đạo ngân hàng cần phải có tầm nhìn xa chiến lược, nhờ đó có thể phán đoán tương đối chính xác các xu hướng của thị trường, có khả năng phân tích và dự đoán tác động của các biến đổi hiện tại, từ đó đưa ra các chiến lược ở tầm vĩ mô nhằm trang bị cho ngân hàng những vũ khí hiệu quả nhất giữ vững vị trí trên thị trường. + Khả năng, nghệ thuật đối nhân xử thế: khả năng này không những thể hiện trong phương pháp bố trí nhân lực, khuyến khích cố gắng của nhân viên trong ngân hàng để thu được hiệu quả làm việc xuất sắc nhất mà còn được áp dụng trong giao tiếp đối với khách hàng và các cấp có thẩm quyền. Hoạt động ngân hàng diễn ra ở trung tâm của xã hội, mối quan hệ của ngân hàng với các thành phần kinh tế khác lại dày đặc cũng như chịu ảnh hưởng tác động của các bộ ngành khác nhau trong nền kinh tế nên sự khéo léo và uyển chuyển trong giao tiếp của cán bộ lãnh đạo ngân hàng sẽ mang lại cho ngân hàng những ưu thế đặc biệt trong mối quan hệ với khách hàng và bộ máy chính quyền trung ương và địa phương. Điều này cho thấy ngân hàng không chỉ đơn thuần thực hiện công việc kinh doanh mà ngân hàng phải thực hiện công việc kinh doanh đó một cách nghệ thuật. Như vậy chính là cán bộ lãnh đạo ngân hàng đã thể hiện được văn hoá trong kinh doanh của ngân hàng. - Nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động
- Xem thêm -