Các biện pháp phi thuế quan và lộ trình cắt giảm của việt nam trong quá trình gia nhập tổ chức thương mại thế giới (wto) tới năm 2010

  • Số trang: 92 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 16 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa nền kinh tế, Việt Nam đã và đang tham gia ngày càng sâu và rộng hơn vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tháng 71995, Việt Nam đã trở thành thành viên của ASEAN và nhanh chóng tham gia Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA). Tháng 11-1998, Việt Nam trở thành thành viên của Diễn đàn Hợp tác Châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Ngày 13-7-2000, Việt Nam đã ký Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ. và hiện nay đang tích cực chuẩn bị đàm phán để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Mặc dù quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại mang lại nhiều cơ hội và lợi ích rõ rệt nhưng bên cạnh đó cũng có không ít những thách thức đối với mỗi quốc gia. Các nước khi tham gia vào quá trình này đều cam kết thực hiện tự do hóa thương mại nhưng trên thực tế không một nước nào, dù là nước có nền kinh tế mạnh, lại không có nhu cầu bảo hộ sản xuất trong nước. Và một trong những công cụ bảo hộ hữu hiệu nhất đó là sử dụng các biện pháp phi thuế quan. Việc xây dựng chiến lược về các biện pháp phi thuế quan đóng một vai trò rất quan trọng đối với Việt Nam trong quá trình đàm phán gia nhập WTO. Với trình độ phát triển kinh tế còn thấp, thực lực còn rất yếu, chúng ta cần phải đưa ra những biện pháp phi thuế quan cần thiết để bảo hộ một số ngành sản suất non yếu trong nước, đồng thời những biện pháp đó lại phải phù hợp với các quy định của WTO. Bên cạnh đó chúng ta cũng cần phải cắt giảm một số hàng rào phi thuế trái với quy định của WTO để đẩy nhanh quá trình gia nhập WTO của Việt Nam. Vậy, vấn đề này sẽ được giải quyết như thế nào? Lộ trình cắt giảm và cắt giảm những biện pháp cụ thể nào để vừa đáp ứng yêu cầu của WTO, vừa bảo vệ quyền lời của Việt Nam với ý nghĩa là một nước đang phát triển, đang trong quá trình chuyển đổi? Điều này đòi hỏi phải có sự phân tích cụ thể. 1 Đó là lý do em chọn vấn đề “Các biện pháp phi thuế quan và lộ trình cắt giảm của Việt Nam trong quá trình gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tới năm 2010” làm đề bài khóa luận tốt nghiệp của mình. 2. Mục đích nghiên cứu: - Tìm hiểu những biện pháp phi thuế quan của WTO và phân tích những tác động của chúng đối với Thương mại quốc tế nói chung và các nước đang phát triển nói riêng, trong đó có Việt Nam. - Đánh giá thực trạng áp dụng các biện pháp phi thuế quan ở Việt Nam trong thời gian qua và đưa ra dự kiến lộ trình cắt giảm một số hàng rào phi thuế quan đồng thời định hướng các biện pháp phi thuế quan sẽ sử dụng ở Việt Nam đến năm 2010. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: - Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của WTO và của Việt Nam về các biện pháp phi thuế quan. - Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Số lượng các biện pháp phi thuế quan rất đa dạng và đôi khi còn chưa được định hình một cách rõ ràng vì vậy đề tài không có điều kiện nghiên cứu tất cả. Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu ở việc chỉ tập trung vào một số nhóm biện pháp phi thuế cơ bản của WTO và của Việt Nam. Khóa luận cũng không phân tích các biện pháp phi thuế đối với các lĩnh vực thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ v.v... chỉ phân tích thương mại hàng hóa hữu hình. 4. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu sử dụng cho đề tài này là nghiên cứu và phân tích theo tài liệu, sách, báo và kế thừa các nghiên cứu khoa học khác có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài, trên cơ sở đó để phân tích, so sánh và tổng hợp lại. 5. Bố cục của khóa luận: Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận bao gồm ba chương: Chương I: Các biện pháp phi thuế quan chủ yếu của WTO và ảnh hưởng của nó đối với Việt Nam. Chương II: Thực trạng áp dụng các biện pháp phi thuế quan ở Việt Nam giai đoạn 1996-2000. Chương III: Dự kiến lộ trình cắt giảm các biện pháp phi thuế quan của Việt Nam nhằm đẩy nhanh tiến trình gia nhập WTO giai đoạn từ 2001-2005 và 2 đến 2010. Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới PGS.TS Nguyễn Thị Mơ, người đã hướng dẫn em thực hiện khóa luận này, và tới tất cả các thầy cô giáo đã dạy em tại trường Đại học Ngoại thương trong thời gian qua. Mặc dù với sự cố gắng của bản thân, nhưng do kiến thức còn hạn chế và do tính phức tạp của đề tài nên khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn. Hà nội, ngày 10 - 5 - 2003. Sinh viên thực hiện Trần Thị Hằng Phương 3 CHƯƠNG I CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN CHỦ YẾU CỦA WTO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆT NAM i. WTO VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN: 1. Vài nét về WTO: 1.1: Sự thành lập: Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập trên cơ sở kế thừa và phát triển Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch (GATT), chính thức bắt đầu hoạt động từ 1-1-1995. Sự ra đời của WTO nhằm tạo điều kiện hơn nữa cho sự phát triển của hệ thống thương mại đa biên đảm bảo sự cạnh tranh công bằng, lành mạnh, xóa bỏ dần các rào cản trong thương mại quốc tế, thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại trên phạm vi toàn cầu. Trong số hàng chục tổ chức kinh tế quốc tế hiện nay, WTO là tổ chức thương mại toàn cầu lớn nhất và quan trọng nhất, thu hút tới 145 nước (trong số khoảng 200 nước là thành viên Liên Hợp Quốc) và chi phối tới 95% tổng kim ngạch thương mại toàn Thế giới. (nguồn: Tạp chí Kinh tế 2002-2003 Việt Nam và Thế giới, số ra tháng 3/2003 - Thời báo Kinh tế Việt Nam). Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là cơ quan quốc tế duy nhất giải quyết các qui định về thương mại giữa các quốc gia với nhau. Nội dung chính của WTO là các hiệp định được hầu hết các nước có nền thương mại cùng nhau tham gia đàm phán và ký kết. Các văn bản này qui định các cơ sở pháp lý làm nền tảng cho thương mại quốc tế. Các tài liệu đó về cơ bản 4 mang tính ràng buộc các chính phủ phải duy trì một chế độ thương mại trong một khuôn khổ đã được các bên thống nhất. Mặc dù các thoả thuận đạt được là do các chính phủ đàm phán và ký kết nhưng mục đích lại nhằm giúp các nhà sản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ trong nước; các nhà hoạt động xuất nhập khẩu có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh dễ dàng hơn. 1.2 Mục tiêu của WTO: Mục tiêu chính của hệ thống thương mại thế giới là nhằm giúp thương mại được lưu chuyển tự do ở mức tối đa, chừng nào nó còn nằm trong giới hạn không gây ra các ảnh hưởng xấu không muốn có. Ngoài ra, WTO còn có những mục tiêu sau: Nâng cao mức sống của con người. Bảo đảm tạo đầy đủ công ăn việc làm, tăng trưởng vững chắc thu nhập và nhu cầu thực tế của người lao động. Sử dụng hợp lý các nguồn lực của thế giới, đặc biệt là nguồn nhân lực. Mở rộng việc sản xuất và trao đổi hàng hóa dịch vụ trên phạm vi toàn thế giới. 1.3 Chức năng của WTO: WTO có những chức năng sau đây: Chức năng thứ nhất của WTO: Tổ chức các cuộc đàm phán mậu dịch đa biên mà nội dung của nó rất đa dạng đề cập lớn tới nhiều lĩnh vực khác nhau. Thông qua các cuộc đàm phán như vậy, việc tự do hoá mậu dịch của các nước trên thế giới được phát triển, đồng thời những qui tắc quốc tế mới cũng được xây dựng và sửa đổi theo yêu cầu của thời đại. 5 Chức năng thứ hai của WTO: WTO đề ra những qui tắc quốc tế về thương mại và đảm bảo các nước thành viên của WTO phải thực hiện các nguyên tắc đó. Đặc trưng của các quyết định và qui tắc của WTO là nó có hiệu lực bắt buộc tất cả các thành viên và có khả năng làm cho mọi thành viên có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện. Bất cứ một nước thành viên nào một khi đã thừa nhận "hiệp định WTO" và những hiệp định phụ khác của WTO thì nước đó cần phải điều chỉnh hay chuyển các quy định pháp luật và các thủ tục hành chính của mình theo các quy định của WTO. Chức năng thứ ba của WTO: Giải quyết các mâu thuẫn và tranh chấp mậu dịch quốc tế. WTO có chức năng như là một toà án giải quyết các tranh chấp nảy sinh giữa các thành viên trong các lĩnh vực liên quan. Bất cứ một thành viên nào của WTO khi thấy lợi ích của nước mình đang bị xâm hại trong hoạt động kinh tế ở một thị trường nào đó vì có thành viên khác đang thực hiện chính sách trái với các qui tắc của WTO thì có quyền khởi tố lên cơ quan giải quyết mâu thuẫn mậu dịch của WTO và yêu cầu nước đó ngừng các hoạt động kinh tế xâm hại đến lợi ích của mình. Bất cứ thành viên nào cũng phải chấp nhận khi bị các thành viên khác khởi tố lên WTO vì đây là một trong những nghĩa vụ của mọi thành viên, không nước nào có thể tránh khỏi. Chức năng thứ tư của WTO: Phát triển nền kinh tế thị trường. Để nền kinh tế thị trường hoạt động và nâng cao được hiệu quả, WTO xúc tiến việc giảm nhẹ quy chế. Phần lớn các nước trước kia theo cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung hiện nay đều đang chuyển sang nền kinh tế thị trường đã và đang làm thủ tục để xin gia nhập WTO. Qua các cuộc đàm phán cần thiết để gia nhập WTO, các nước này có thể tìm hiểu được về hệ 6 thống kinh tế thị trường và đồng thời xắp xếp lại những chế độ và qui tắc để có thể quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường. 1.4 Các nguyên tắc của WTO: Các hiệp định của WTO là những văn bản pháp lý bao trùm nhiều lĩnh vực hoạt động rộng lớn như nông nghiệp, hàng dệt may, mua sắm chính phủ, các quy định về vệ sinh dịch tễ, sở hữu trí tuệ v.v... Tuy nhiên có một số các nguyên tắc hết sức cơ bản xuyên suốt tất cả các hiệp định, các nguyên tắc đó chính là nền tảng của hệ thống thương mại đa biên. Bao gồm những nguyên tắc sau: Nguyên tắc thứ nhất: Thương mại không phân biệt đối xử. Nguyên tắc này được áp dụng bằng hai loại đãi ngộ song song, đó là đãi ngộ tối huệ quốc và đối xử quốc gia. - Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc (MFN): Đối xử mọi người bình đẳng như nhau. Mỗi thành viên đối xử với mọi thành viên khác bình đẳng với nhau như các bạn hàng được ưu đãi nhất. Nếu như một nước cho một nước khác được hưởng lợi nhiều hơn thì đối xử tốt nhất đó phải được giành cho tất cả các nước thành viên WTO khác. Nguyên tắc MFN đảm bảo rằng mỗi thành viên WTO đối xử với tất cả các thành viên khác tương tự nhau. - Đối xử quốc gia (NT): Đối xử với người nước ngoài và người trong nước tương tự nhau. Hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước phải được đối xử như nhau, ít nhất là sau khi hàng hóa nhập khẩu đã đi vào đến thị trường nội địa. Theo nguyên tắc này, khi áp dụng những qui chế trong nước và thuế nội địa đối với hàng nhập khẩu thì phải cung cấp các điều kiện tương tự như đối với sản phẩm trong nước. Vì thế các thành viên của WTO không được áp dụng thuế nội địa để bảo vệ sản xuất trong 7 nước và không được phân biệt đối xử với hàng nhập khẩu từ các nước thành viên WTO khác. Nguyên tắc thứ hai: Tự do thương mại hơn thông qua đàm phán. WTO đảm bảo thương mại giữa các nước ngày càng tự do hơn thông qua quá trình đàm phán hạ thấp hàng rào thuế quan để thúc đẩy buôn bán. Hàng rào thương mại bao gồm thuế quan, và các biện pháp phi thuế khác như cấm nhập khẩu, quota có tác dụng hạn chế nhập khẩu có chọn lọc, chính sách ngoại hối... cũng được đưa ra đàm phán. Nguyên tắc thứ ba: WTO tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng. WTO là một hệ thống các nguyên tắc nhằm thúc đẩy cạnh tranh tự do, công bằng và không bị bóp méo. Các quy định về phân biệt đối xử được xây dựng nhằm đảm bảo các điều kiện công bằng trong thương mại. Các điều khoản về chống phá giá, trợ cấp cũng nhằm mục đích tương tự. Tất cả các hiệp định của WTO đều nhằm mục đích tạo ra được một môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn giữa các nước. Nguyên tắc thứ tư: Tính tiên liệu được thông qua ràng buộc thuế. Các cam kết không tăng thuế cũng quan trọng như việc cắt giảm thuế vì cam kết như vậy tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể dự đoán tốt hơn các cơ hội trong tương lai. Nguyên tắc thứ năm: Các thỏa thuận thương mại khu vực. WTO thừa nhận các thỏa thuận thương mại khu vực nhằm mục tiêu đẩy mạnh tự do hóa thương mại. Các liên kết như vậy là một ngoại lệ của nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, nhằm bảo đảm các thoả thuận này tạo thuận lợi cho thương mại các nước liên quan, song không làm tăng hàng rào cản trở thương mại với các nước ngoài liên kết. 8 Nguyên tắc thứ sáu: Các điều kiện đặc biệt dành cho các nước đàng phát triển. WTO là một tổ chức quốc tế với hơn 2/3 tổng số nước thành viên là các nước đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi, vì thế một trong những nguyên tắc cơ bản của WTO là khuyến khích phát triển, dành những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt cho các nước này, với mục tiêu đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của họ vào hệ thống thương mại đa biên. Để thực hiện được nguyên tắc này, WTO dành cho các nước đang phát triển và các nền kinh tế đàng chuyển đổi những linh hoạt và các ưu đãi nhất định trong việc thực thi các hiệp định, đồng thời chú ý đến việc trợ giúp kỹ thuật cho các nước này. WTO là tổ chức kinh tế thương mại đưa ra các yêu cầu rất cao về minh bạch hóa các quy định thương mại, về cắt giảm thuế quan nhập khẩu, tiến tới xóa bỏ thuế quan, tự do hóa thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, về thực hiện quy chế tối huệ quốc-hay thương mại bình thường, về xóa bỏ biện pháp phi thuế quan như hạn chế định lượng, giấy phép xuấtnhập khẩu, trợ cấp xuất khẩu; về thực hiện các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại nhưng không vi phạm nguyên tắc đãi ngộ quốc gia nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, tăng cường xuất khẩu hàng hóa và nâng cao khả năng phát triển kinh tế. Tóm lại, khi hội nhập WTO các thành viên phải tuân thủ một hệ thống các luật lệ, quy tắc nhằm điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thương mại quốc tế với tổng cộng khoảng 60 hiệp định, phụ lục và các văn bản giải thích. Tham gia vào WTO là đích hội tụ và mẫu số chung của các nước trong xu hướng mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế. Chứng nhận thành viên WTO cũng là chứng chỉ quốc tế đầy uy tín cho “đẳng cấp” về sự phát triển và hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường mở cửa của các nước hiện nay; đồng thời đặt quốc 9 gia thành viên trước nhiều cơ hội lớn và cả những thách thức mới trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mình. 2. Các biện pháp phi thuế quan trong WTO: 2.1. Khái niệm và đặc điểm của các biện pháp phi thuế quan: Khái niệm: Ngoài thuế quan ra, tất cả các biện pháp khác, dù là theo quy định pháp lý hay tồn tại trên thực tế, ảnh hưởng đến mức độ và phương hướng nhập khẩu được gọi là các biện pháp phi thuế quan (Tiếng Anh: Non Tariff Measures - NTM). Các biện pháp này được biểu hiện dưới hình thức như trợ cấp, giấy phép xuất nhập khẩu, hàng rào kỹ thuật v.v... Mỗi biện pháp phi thuế quan có thể có một hoặc nhiều thuộc tính như áp dụng tại biên giới hay nội địa, được duy trì một cách chủ động hay bị động, phù hợp hoặc không phù hợp với thông lệ quốc tế, nhằm bảo hộ sản xuất hay không có mục đích bảo hộ... Sau 7 vòng đàm phán thương mại nhiều bên trước vòng đàm phán Tokyo của GATT, từ vòng thứ nhất đến vòng thứ bảy, mức thuế bình quân của 9 sản phẩm công nghiệp chủ yếu trên thế giới giảm từ 40% còn 4,7%. Hàng rào thuế quan giảm đi thì hàng rào phi thuế quan tăng lên. Hơn nữa vì bản thân các biện pháp phi thuế quan có tính chất kín đáo và không rõ ràng, nên so với hàng rào thuế quan, các biện pháp phi thuế quan có tác dụng hạn chế nhập khẩu nhiều hơn. Có thể nói, các biện pháp phi thuế quan đã dần dần thay thế hàng rào thuế quan, trở thành biện pháp chủ yếu được các nước dùng để hạn chế nhập khẩu. Về các biện pháp thuế quan, người ta chuyển từ chỗ chú trọng thuế suất cao tới chỗ chú trọng điều chỉnh kết cấu thuế. Vì vậy, ở vòng đàm phán Tokyo của GATT các nước thành viên quyết định đặt các biện pháp phi thuế quan dưới sự ràng buộc của các quy tắc của tổ chức 10 này nhằm mục đích giảm bớt và tiến tới loại bỏ hoàn toàn các biện pháp phi thuế quan. Tháng 4-1979, GATT đã đạt được 5 thoả thuận về trợ cấp, thuế, hàng rào kỹ thuật đối với thương mại, trị giá tính thuế hải quan, mua sắm chính phủ và thủ tục cấp phép nhập khẩu, hơn nữa còn lập ra một hội đồng giám sát và đôn đốc việc thực hiện các thoả thuận trên. Để chuẩn mực hóa hành vi hành chính của các nước thành viên, Ban thư ký GATT đã liệt kê danh sách các biện pháp phi thuế quan có ảnh hưởng tới sản xuất các sản phẩm công nghiệp, đồng thời quy định sẽ bổ sung và sửa đổi theo định kỳ tuỳ theo tình hình thay đổi. Danh sách này bao gồm hàng trăm biện pháp phi thuế quan, nhưng có thể chia thành 5 nhóm: - Những việc chính phủ thường tham gia để hạn chế thương mại. - Các biện pháp hạn chế nhập khẩu có tính chất hành chính và do hải quan thực hiện - Hàng rào có tính chất kỹ thuật đối với thương mại - Hạn chế đặc thù, như hạn chế cấp phép nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu, quy chế về giá trong nước - Lệ phí thuế nhập khẩu, như tiền ký quỹ, thuế điều tiết nhập khẩu, hạn chế cho vay có tính chất phân biệt đối xử. Để quản lý, giám sát việc “tuân thủ quy tắc về trợ cấp và về thuế”, hàng năm GATT công bố báo cáo thường niên, trong đó có danh sách các biện pháp phi thuế quan. Song, thoả thuận về các biện pháp phi thuế quan nói trên đạt được tại vòng đàm phán Tokyo của GATT không được các nước ký kết thoả thuận tuân thủ, vì thỏa thuận này vốn được tuyên bố là các bên ký kết có thể thực hiện trên cơ sở lựa chọn. Do vậy, vòng đàm phán Urugoay của GATT lại một lần nữa đàm phán về hàng rào phi thuế quan, các quy định về điều này đều có ghi tỷ mỷ trong văn kiện cuối cùng của vòng đàm phán này. Hiện nay WTO đang bắt tay xử lý các biện pháp phi thuế quan có ảnh hưởng tới sản xuất nông phẩm, bằng cách chủ yếu thông 11 qua phương thức thu thuế đối với hàng nhập khẩu để tác động vào giá thị trường của những hàng hóa ấy, rồi từ đó thông qua quan hệ cung cầu đối với hàng hóa ấy để tác động vào số lượng nhập khẩu hàng hóa này. Đặc điểm: - Đặc điểm về vai trò của chúng đối với các nước: Biện pháp phi thuế quan giữ vai trò ngày càng quan trọng trong chính sách bảo hộ thương mại, ngày càng có nhiều nước sử dụng, hình thức và loại hình cũng tăng lên không ngừng. Với sự phong phú về hình thức nên việc kết hợp nhiều NTM khác nhau có thể đáp ứng cùng một mục tiêu, áp dụng cho cùng một mặt hàng mà không bị gò bó chật hẹp trong khuôn khổ một công cụ duy nhất như thuế quan. - Đặc điểm về mục tiêu của các NTM mà các nước đang hướng tới: Một NTM có thể đồng thời đáp ứng nhiều mục tiêu với hiệu quả cao. Mỗi quốc gia thường theo đuổi nhiều mục tiêu trong chính sách kinh tế, thương mại của mình. Các mục tiêu đó có thể là: (i) bảo hộ sản xuất trong nước, khuyến khích phát triển một số ngành nghề; (ii) bảo vệ an toàn sức khỏe con người, động thực vật, môi trường; (iii) hạn chế tiêu dùng; (iv) đảm bảo cân bằng cán cân thanh toán; (v) bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, v.v... Các NTM có thể đồng thời phục vụ hiệu quả nhiều mục tiêu khác nhau mà khi sử dụng công cụ thuế quan không khả thi hoặc không hữu hiệu bằng. Ví dụ: quy định về vệ sinh kiểm dịch đối với nông sản nhập khẩu vừa đảm bảo an toàn sức khỏe con người, động thực vật lại vừa gián tiếp bảo hộ sản xuất nông nghiệp trong nước một cách hợp pháp. - Đặc điểm về những tác động ngầm do các NTM gây ra: Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đó, các NTM cũng có không ít nhược điểm. Nếu như thuế quan là biện pháp kinh tế, có đặc điểm là tính 12 chuẩn mực cao, độ trong sáng lớn, dễ định lượng, được WTO thừa nhận là biện pháp bảo vệ hợp pháp duy nhất. Thì biện pháp thuế quan là những biện pháp hành chính pháp lý, có đặc điểm hay thay đổi, độ kín đáo và mơ hồ đều lớn. Do thường mang tính mập mờ, mức độ ảnh hưởng không rõ ràng như những thay đổi định lượng của thuế quan, nên tác động của chúng có thể lớn nhưng lại là tác động ngầm, có thể che đậy hoặc biện hộ bằng cách này hay cách khác. Hiện nay các hiệp định của WTO chỉ mới điều chỉnh sử dụng một số NTM nhất định. Trong đó, tất cả các NTM hạn chế định lượng1 đều không được phép áp dụng, trừ trường hợp ngoại lệ. Biện pháp thuế quan chỉ làm thay đổi cơ chế thị trường còn biện pháp phi thuế quan hoàn toàn thay thế cơ chế thị trường. Ví dụ trong trường hợp sử dụng biện pháp hạn ngạch nhập khẩu, khi hạn ngạch nhập khẩu đã xác định nếu nhu cầu nhập khẩu tăng thì lượng hàng nhập khẩu theo hạn ngạch không thể thỏa mãn được nhu cầu, từ đó giá cả thị trường trong nước của hàng hóa ấy sẽ tăng. Vì vậy, có thể nói rằng trong trường hợp là biện pháp thuế quan thì điều xảy ra là điều chỉnh số lượng nhập khẩu, còn trường hợp phi thuế quan thì điều xảy ra là điều chỉnh giá, cơ chế thị trường hoàn toàn mất tác dụng. - Đặc điểm về tính hạn chế gián tiếp của các NTM: Tính chất kín đáo của hàng rào này ngày càng biểu hiện nhiều ở sự hạn chế gián tiếp. Trước đây, phần nhiều là các biện pháp hạn chế số lượng có tính chất hành chính trực tiếp (như chế độ hạn ngạch nhập khẩu, cấp phép nhập khẩu, tự nguyện hạn chế xuất khẩu), hiện nay phần nhiều là hạn chế gián tiếp như hàng rào kỹ thuật, biện pháp bảo hộ màu xanh, quyền sở hữu 1 Các NTMs hạn chế định lượng như cấm nhập khẩu, hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu không tự động v.v... gây cản trở, bóp méo thương mại và thường bị coi là hàng rào phi thuế quan (NTBs). 13 trí tuệ, tiêu chuẩn lao động v.v.., được quy định cụ thể trong các hiệp định chi tiết của WTO. 2.2. Các biện pháp phi thuế quan chủ yếu của WTO: 2.2.1: Các biện pháp hạn chế định lượng: Ngoài thuế quan, thuế nội địa và các loại phí khác, các thành viên không được tạo ra hay duy trì những biện pháp như hạn ngạch, giấy phép hay các biện pháp khác nhằm hạn chế số lượng nhập khẩu từ các thành viên khác, hay hạn chế số lượng xuất khẩu hoặc bán để xuất khẩu tới các thành viên khác. 2.2.1.1 Cấm xuất khẩu, nhập khẩu (Prohibitions): Cấm xuất khẩu, nhập khẩu là biện pháp bảo hộ cao nhất, gây ra hạn chế lớn nhất đối với thương mại quốc tế và nói chung không được phép sử dụng trong WTO. Tuy nhiên, các thành viên có thể thi hành các biện pháp cấm xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở không phân biệt đối xử trong một số trường hợp sau: Cần thiết để đảm bảo an ninh quốc gia (GATT 1994, điều XXI) Cần thiết để bảo vệ đạo đức xã hội Cần thiết để bảo vệ con người, động vật và thực vật Liên quan tới nhập khẩu hay xuất khẩu vàng và bạc Cần thiết để bảo vệ các tài sản quốc gia về nghệ thuật, lịch sử hay khảo cổ Cần thiết để bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên khan hiếm, với điều kiện là các biện pháp này cần phải thực hiện kèm theo việc hạn chế sản xuất hay tiêu dùng nội địa liên quan tới chúng. (GATT 1994, điều XX) Được áp dụng một cách tạm thời để ngăn cản hay giảm bớt sự khan hiếm lương thực, thực phẩm hay các sản phẩm thiết yếu khác Cần thiết để áp dụng các tiêu chuẩn hay quy định để phân loại, xếp hạng hay tiếp thị các sản phẩm trong thương mại quốc tế (GATT 1994,điều XI) 14 2.2.1.2 Hạn ngạch (quotas): WTO không cho phép các thành viên áp dụng biện pháp hạn ngạch. Trong một số trường hợp đặc biệt, biện pháp hạn ngạch có thể được sử dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử: Được áp dụng một cách tạm thời để ngăn cản hay giảm bớt sự khan hiếm lương thực, thực phẩm hay các sản phẩm thiết yếu khác Cần thiết để áp dụng các tiểu chuẩn hay quy định để phân loại, xếp hạng hay tiếp thị các sản phẩm trong thương mại quốc tế Các nông sản và thủy sản (GATT 1994, Điều XI, 2(c)) Có thể hạn chế số lượng hay giá trị hàng nhập khẩu để bảo vệ sự cân bằng cán cân thanh toán. Việc tạo ra, duy trì hay mở rộng hạn chế số lượng vì mục đích này không được vượt quá mức cần thiết: Để ngăn ngừa sự đe doạ sắp xảy ra hay để ngăn chặn lại sự thiếu hụt nghiêm trọng dự trữ tiền tệ, hay Trong trường hợp một thành viên có dự trữ tiền tệ rất thấp, để đạt được một mức tăng hợp lý dự trữ tiền tệ (GATT 1994, điều XII) 2.2.1.3 Hạn ngạch thuế quan (Tariff Rate Quota): Đối với các sản phẩm nông nghiệp (quy định tại Phụ lục I, Hiệp định Nông Nghiệp) có thể áp dụng một hình thức hạn ngạch đặc biệt gọi là hạn ngạch thuế quan. Theo Hiệp định Nông nghiệp, các thành viên không được áp dụngcác biện pháp phi thuế quan đối với nông sản. Tất cả các biện pháp phi thuế quan cần phải được thuế hóa (Phụ lục V, Hiệp định Nông Nghiệp). Thông thường với mức thuế hóa tại vòng Urugoay thì mức nhập khẩu nông sản hầu như không đáng kể. Để đảm bảo một mức độ mở cửa thị trường nhất định, WTO cho phép áp dụng biện pháp hạn ngạch thuế quan. Hạn ngạch thuế quan cho phép sử 15 dụng hai mức thuế suất, một mức thấp cho khối lượng trong hạn ngạch, mức thứ hai có thể cao hơn cho nhập khẩu ngoài hạn ngạch. Hạn ngạch có thể được tính bằng mức chênh lệch giữa tiêu dùng và sản xuất trong nước. Việc quản lý hạn ngạch thuế quan tuy khó khăn nhưng sẽ đáp ứng được người tiêu dùng muốn sử dụng hàng nhập khẩu giá rẻ, đồng thời bảo vệ được người sản xuất trong nước. Tại vòng Urugoay, biện pháp hạn ngạch thuế quan được thông qua để đảm bảo tiếp cận thị trường hiện tại (hay tối thiểu) khi các biện pháp phi thuế quan đã được thuế hóa (điều IV, Hiệp định Nông nghiệp). Cũng tại vòng này, hạn ngạch được tính để đảm bảo các yêu cầu về tiếp cận thị trường hiện tại và tối thiểu. 2.2.1.4 Giấy phép nhập khẩu (import licences): Định nghĩa: Cấp phép nhập khẩu được xác định như là các thủ tục hành chính được sử dụng để thực hiện chế độ cấp phép nhập khẩu, đòi hỏi đệ trình đơn hay các tài liệu khác (không liên quan tới mục đích hải quan) tới các cơ quan hành chính thích hợp là điều kiện tiên quyết để được phép nhập khẩu. Yêu cầu chung: thủ tục hành chính để thực hiện chế độ cấp phép không được bóp méo thương mại do sử dụng không thích hợp các thủ tục đó. Các quy tắc đối với thủ tục cấp phép nhập khẩu phải được áp dụng trung lập và được quản lý theo một cách thức công bằng và hợp lý. Cần phải công khai các thông tin liên quan tới thủ tục nộp đơn, tiêu chuẩn của nhà nhập khẩu, cơ quan tiếp nhận, danh sách các sản phẩm đòi hỏi giấy phép trong thời hạn 21 ngày trước khi chúng có hiệu lực. Người nộp đơn chỉ cần tiếp cận tới một cơ quan hành chính. Trường hợp đặc biệt không được quá ba cơ quan. Nhà nhập khẩu hàng cần giấy phép có thể tiếp 16 cận ngoại tệ cần thiết trên cùng một cơ sở với hàng nhập khẩu không cần giấy phép. (điều 1, Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu) Cấp phép nhập khẩu tự động: khi tất cả đơn đều được chấp thuận, không hạn chế khối lượng nhập khẩu trong phạm vi điều chỉnh, không đặt ra hạn chế với nhà nhập khẩu, được chấp thuận trong vòng 10 ngày. (điều 2, Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu) Cấp phép nhập khẩu không tự động: Là thủ tục cấp phép không phải là cấp phép tự động. Cấp phép không tự động không được gây ra hạn chế hay bóp méo thương mại hơn mức các điều kiện do yêu cầu cấp phép đặt ra. Các thủ tục cấp phép không tự động cần phải tương ứng về phạm vi và thời hạn với biện pháp mà chúng được sử dụng để thực hiện, và sẽ không đặt ra những gánh nặng hành chính hơn mức cần thiết để quản lý biện pháp đó. Trong trường hợp đòi hỏi cấp phép không vì mục đích quản lý số lượng, các thành viên phải công bố đầy đủ thông tin về cơ sở để cấp phép. (Điều 3, Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu) 2.2.1.5 Các biện pháp khác: - Hạn chế xuất khẩu tự nguyện và thoả thuận về thị trường: Trước 1995 do GATT cấm sử dụng hạn ngạch nhập khẩu, nên một số nước đã sử dụng biện pháp hạn chế xuất khẩu “tình nguyện”. Hạn chế xuất khẩu tình nguyện là một thỏa thuận song phương giữa hai chính phủ. Nước xuất khẩu giới hạn xuất khẩu một số sản phẩm nhất định tới nước nhập khẩu. Nói chung, ngành công nghiệp đang phải cạnh tranh gay gắt với hàng nhập khẩu tương tự gây áp lực với chính phủ đàm phán về hạn chế xuất khẩu với nước xuất khẩu để giảm bớt áp lực canh trạnh. Các nhà xuất khẩu bị “bắt buộc” chấp nhận số lượng đó và bị đe doạ nhận được các hành động khắc nghiệt hơn nếu không chấp nhận thỏa thuận tự nguyện hạn chế số lượng xuất 17 khẩu. Chính phủ xuất khẩu hoặc chính các nhà sản xuất quản lý thỏa thuận này. Hạn chế xuất khẩu tình nguyện từng là một công cụ quan trọng hạn chế thương mại và đã được sử dụng khá rộng rãi. Trong khi hạn ngạch được áp dụng chung thì hạn chế xuất khẩu tình nguyện chỉ áp dụng với một số nước xuất khẩu chủ yếu, so đó tạo ra sự phân biệt đối xử giữa các thành viên và rõ ràng vi phạm nguyên tắc tối huệ quốc (MFN). Mỗi thành viên không được tìm kiếm, thực hiện hay duy trì bất cứ thỏa thuận hạn chế xuất khẩu, thỏa thuận về thị trường nào hay bất cứ biện pháp tương tự khác lên phía xuất khẩu hay nhập khẩu. Điều này bao gồm các hành động do một thành viên thực hiện riêng rẽ cũng như các hành động do hai thành viên trở lên thực hiện. Nói chung các thành viên phải loại bỏ các biện pháp hạn chế xuất khẩu tình nguyện và các biện pháp tương tự trước năm 2000. (Điều 11, Hiệp định tự vệ) 2.2.2. Các biện pháp quản lý giá: Các biện pháp quản lý giá nhập khẩu hay giá bán trong nước có thể có tác động trực tiếp hay gián tiếp tới xuất khẩu hàng hóa. 2.2.2.1 Trị giá hải quan: Việc định giá tính thuế hải quan tuỳ tiện có thể bóp méo kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa. WTO quy định giá tính thuế hàng nhập khẩu là giá giao dịch, tức là giá đã trả hay phải trả cho hàng hóa khi được bán để xuất khẩu đến nước nhập khẩu có tính đến những điều chỉnh nhất định như phí hoa hồng, môi giới, đóng gói. (Điều 1- 6 và Điều 8, Hiệp định xác định trị giá tính thuế hải quan) 18 WTO không cho phép xác định giá tính thuế quan theo các cách sau: - giá nhập khẩu tối thiểu - giá bán trong nước của hàng hóa tương tự được sản xuất tại nước mà hàng hóa cần xác định trị giá hải quan được nhập khẩu - một hệ thống cho phép chấp nhận giá cao hơn trong hai loại giá sử dụng để xác định trị giá tính thuế quan của hàng hóa - giá bán của hàng hóa tại thị trường nước xuất khẩu - định giá trên cơ sở giả định hay tuỳ tiện (Điều 7, Hiệp định xác định trị giá tính thuế hải quan) 2.2.2.2 Giá bán tối đa: Giá bán tối đa trong nước đối với một hàng hóa nào đó có thể hạn chế nhập khẩu, đặc biệt là đối với những nhà xuất khẩu không có khả năng cạnh tranh cao. Các thành viên thừa nhận là các biện pháp quản lý giá tối đa dù cho có phù hợp với nguyên tắc không phân biệt đối xử quốc gia (NT) cũng có thể có tác động xấu tới lợi ích của các thành viên đang cung cấp hàng nhập khẩu. Do đó các thành viên đang áp dụng các biện pháp quản lý giá tối đa cần phải tính đến lợi ích của các thành viên xuất khẩu nhằm tránh mở rộng các tác động xấu đó. (GATT 1994, Điều 3) Mặc dù các quy định về giá bán tối đa trong nước này thiếu tính ràng buộc nhưng vấn đề này thường được các thành viên đặt ra với các nước đang gia nhập. 2.2.2.3 Phí thay đổi: Những loại phí thay đổi cản trở đáng kể thương mại do tính không minh bạch của chúng. Hiệp định Nông nghiệp quy định phải thuế hóa cac loại phí thay đổi (Điều 4, Hiệp định Nông nghiệp). 2.2.2.4 Phụ thu: Tất cả các loại phí và phụ thu (không phải là thuế xuất nhập khẩu và các loại thuế nội địa khác) đánh vào hàng xuất nhập khẩu chỉ được giới hạn ở mức tương ứng chi phí dịch vụ thực sự bỏ ra và không được sử dụng như 19 sự bảo hộ gián tiếp các sản phẩm trong nước, hay như thuế xuất nhập khẩu, hay cho mục đích thu ngân sách. (GATT 1994, Điều VIII) 2.2.3. Các biện pháp liên quan tới doanh nghiệp: 2.2.3.1 Doanh nghiệp thương mại nhà nước (DNTMNN): Các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu được nhà nước ban cho những đặc quyền nhất định có thể gây ra những trở ngại lớn tới thương mại quốc tế. Các thành viên phải cam kết các hoạt động xuất nhập khẩu của các DNTMNN phù hợp với các nguyên tác chung về đối xử không phân biệt với các doanh nghiệp tư nhân và phải tiến hành các hoạt động mua bán hàng hóa chỉ dựa trên tiêu chí thương mại, chẳng hạn như giá cả, chất lượng, tiếp thị, vận tải. Đồng thời phải dành cho các doanh nghiệp của cá thành viên khác những cơ hội thích hợp tham gia cạnh tranh trong việc mua bán hàng hóa phù hợp với thông lệ kinh doanh chung. Các thành viên có nghĩa vụ thông báo cho WTO về các DNTMNN của họ. (GATT 1994, Điều XVII) Định nghĩa triển khai: Trên thực tế định nghĩa về DNTMNN tại điều XVII GATT 1994 rất mơ hồ gây khó khăn trong việc thực hiện. Vòng Urugoay đã đưa ra “định nghĩa triển khai” của DNTMNN tại Bản giải nghĩa Điều XVII GATT 1994 như sau: “Các doanh nghiệp chính phủ hoặc phi chính phủ, kể cả các ban quản lý thị trường (marketing board), được ban đặc quyền dù cho theo pháp luật hay trên thực tế, khi thực hiện các đặc quyền đó có tác động tới mức độ hay phương hướng xuất nhập khẩu thông qua việc mua bán của mình”. Như vậy đó là những doanh nghiệp thương mại Nhà nước có mối quan hệ với Chính phủ thông qua việc ban quyền hay đặc ân của Chính phủ 20
- Xem thêm -