Bút pháp trào phúng trong thơ văn nguyễn khuyến

  • Số trang: 71 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 47 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN BỘ MÔN NGỮ VĂN TÔ THÚY KIỀU MSSV: 6062186 BÚT PHÁP TRÀO PHÚNG TRONG THƠ VĂN NGUYỄN KHUYẾN  LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NGỮ VĂN KHÓA 32 (2006 – 2010) Cán bộ hướng dẫn: PHAN THỊ MỸ HẰNG CẦN THƠ, 05/2010 SVTH: TÔ THÚY KIỀU 1 GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG LỜI CẢM ƠN Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường. Em rất biết ơn các thầy cô đã tạo điều kiện cho em hoàn thành các tín chỉ học phần trong những năm qua. Và em cũng xin chân thành cảm ơn cô hướng dẫn luận văn đã nhiệt tình giảng giải, hướng dẫn cho em, giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này. Em cũng rất biết ơn các thầy cô trong thư viên khoa, trung tâm học liệu đã tạo điều kiện tốt nhất để em có đầy đủ nguồn tư liệu trong quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp. Trong quá trình làm luận văn, chúng tôi đã có nhiều cố gắng nhưng không trách khỏi sơ xót rất mong được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn bè để luận văn được hoàn chỉnh hơn. Người viết xin chân thành cảm ơn Sinh viên thực hiện: Tô Thúy Kiều SVTH: TÔ THÚY KIỀU 2 GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. 2. Lịch sử vấn đề. 3. Mục đích nghiên cứu. 4. Phạm vi nghiên cứu. 5. Phương pháp nghiên cứu. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG. 1.1. Bút pháp trào phúng. 1.1.1. Bút pháp. 1.1.2. Trào phúng. 1.1.3. Bút pháp trào phúng. 1.2. Nguyên nhân hình thành thơ văn trào phúng của Nguyễn Khuyến. 1.2.1. Sự sụp đổ chuẩn mực của đạo đức phong kiến. 1.2.2. Sự tiếp thu truyền thống trào phúng trong văn học bác học và bình dân. 1.2.2.1. Sự tiếp thu truyền thống trào phúng trong văn học bình dân. 1.2.2.2. Sự tiếp thu truyền thống trào phúng trong văn học bác học. CHƯƠNG 2. NGÔN NGỮ TRÀO PHÚNG TRONG THƠ VĂN NGUYỄN KHUYẾN ĐẠT ĐẾN TRÌNH ĐỘ THÂM SÂU, KÍN ĐÁO VÀ UYỂN CHUYỂN. 2.1. Nghệ thuật đối với việc thể hiện nội dung trào phúng. 2.1.2. Vài nét về đối. 2.1.2. Các hình thức đối. 2.2. Nghệ thuật chơi chữ với việc thể hiện nội dung trào phúng. 2.2.1. Vài nét về chơi chữ. 2.2.2. Các hình thức chơi chữ. 2.3. Nghệ thuật sử dụng từ tình thái với việc thể hiện nội dung trào phúng. 2.3.1. Vài nét về từ tình thái. SVTH: TÔ THÚY KIỀU 3 GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG 2.3.2. Nghệ thuật sử dụng từ tình thái. 2.4. Nghệ thuật ẩn dụ với việc thể hiện nội dung trào phúng. 2.4.1.Vài nét về ẩn dụ 2.4.2. Nghệ thuật ẩn dụ. 2.5.Nghệ thuật sử dụng khẩu ngữ với việc thể hiện nội dung trào phúng. 2.5.1. Vài nét về khẩu ngữ. 2.5.2. Nghệ thuật sử dụng khẩu ngữ. CHƯƠNG 3. HÌNH TƯỢNG TRÀO PHÚNG TRONG THƠ VĂN NGUYỄN KHUYẾN THỂ HIỆN SỰ ĐA DẠNG, PHONG PHÚ VÀ SẮC SẢO. 3.1. Hình tượng trào phúng được miêu tả bằng cách nói khẳng định để phủ định và ngược lại. 3.1.1. Cách nói phủ định để khẳng định. 3.1.2. Cách nói khẳng định để phủ định. 3.2. Hình tượng trào phúng được miêu tả bằng cách nói hạ thấp để đề cao và ngược lại. 3.2.1. Cách nói hạ thấp để đề cao. 3.2.2. Cách nói đề cao để hạ thấp. 3.3. Hình tượng trào phúng được miêu tả bằng cách nói đùa vui có tính chất giải khuây. 3.3.1 Cách nói đùa mà nghiêm. 3.3.2. Cách nói ngông mà hiền. 3.4. Hình tượng trào phúng được miêu tả bằng cách nói công khai trực diện. 3.4.1. Vạch trần bản chất của đối tượng. 3.4.2. Vạch trần mâu thuẫn của đối tượng. PHẦN KẾT LUẬN THƯ MỤC THAM KHẢO MỤC LỤC SVTH: TÔ THÚY KIỀU 4 GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của Việt Nam. Ông được nhà thơ Xuân Diệu mệnh danh là nhà thơ làng cảnh Việt Nam, nhưng Nguyễn Khuyến cũng rất thành công với bút pháp trào phúng độc đáo, đem lại tiếng cười vừa thâm sâu, uyển chuyển, và kín đáo. Trong thơ thể hiện rõ con người vừa yêu đời, lạc quan, cất lên tiếng cười ngông ngạo. Bên cạnh đó, Nguyễn Khuyến cũng rất bi quan, chán nản, bộc lộ tiếng cười chua cay, thầm kín, xót xa. Thơ Nguyễn Khuyến có rất nhiều màu sắc về ngôn ngữ cũng như cách vận dụng các biện pháp nghệ thuật, cho ta thấy một mảng thơ lớn muôn hình, muôn vẻ. Nếu ai chưa từng đọc hết thơ ông hay chưa tìm hiểu thơ ông thì quả thực khó ai nhận ra thơ ông có nhiều màu sắc như thế. Khi trữ tình, khi trào phúng, lúc ngông ngạo, lúc bi quan, sự kết hợp hòa quyện làm nên giọng thơ riêng đặc biệt. Sống trong thời kỳ lẫn lộn Tây – Ta, Nguyễn Khuyến không thể thích nghi với điều kiện như thế. Cuộc đời Nguyễn Khuyến đã chứng kiến những cảnh triều đình sụp đổ, đất nước mỗi lúc một suy vong, mà chính bản thân ông lại bất lực trước thời thế. Mỗi câu thơ là một tình cảm của một vị quan tthanh liêm khong gặp thời. Nguyễn Khuyến không thể đối kháng hay chống đối một cách thẳng thừng, ông cũng không gia nhập vào các cuộc khởi nghĩa nhưng Nguyễn Khuyến luôn là một thành viên yêu nước. Ông dùng ngòi bút của mình để làm vũ khí chiến đấu, đó là tinh thần yêu nước quật cường của một nhà thơ. Ở buổi giao thời, Nguyễn Khuyến đã chứng kiến biết bao cuộc thăng trầm, dời đổi của cuộc đời. Từ khó khăn, Nguyễn Khuyến đã tạo nên những vần thơ khó quên làm người đọc phải ngẫm nghĩ, xót xa. Bút pháp trào phúng đã được Hồ Xuân Hương và Tú Xương thể hiện khá đặc sắc, nhưng ngòi bút của Nguyễn Khuyến luôn mang một nét riêng mà chỉ có ông mới có. Tính trào phúng trong thơ sâu cay nhưng không đốp chát, vừa kín đáo nhưng cũng rất công khai. Thơ ông luôn là đề tài mà các nhà nghiên cứu thế hệ sau muốn tìm đến. SVTH: TÔ THÚY KIỀU 5 GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG Cuộc đời Nguyễn Khuyến đã trải qua biết bao khó khăn, chính vì thế mà thơ ông luôn có nhiều cung bậc khác nhau, thể hiện cái tâm, cái tình của mình. Tìm hiểu đề tài “Bút pháp trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến” giúp cho người viết hiểu thêm về con người cũng như thơ ông trong thời kỳ thực dân nửa phong kiến. Với đề tài này người viết có cơ hội tiếp cận cách thức sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong thơ Nguyễn Khuyến. Sự phối hợp hoài hòa giữa phương tiện ngôn ngữ với các biện pháp nghệ thuật tạo nên những vần thơ độc đáo. Tâm tư tình cảm của nhà thơ cũng được tìm hiểu kĩ hơn, giúp người viết có cách nhìn sâu sắc hơn về bậc thi nhân Việt Nam. 2. Lịch sử vấn đề. Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Khuyến là nguồn tư liệu vô cùng phong phú và quý báu để các nhà nghiên cứu tìm hiểu. Từ khi làm quan đến khi về ở ẩn là cả một quá trình dài của một con người. Suốt khoảng thời gian ấy, Nguyễn Khuyến đã để lại biết bao đề tài tâm đắc cho nhiều thế hệ đi sau. Đặc biệt là lượng tác phẩm đồ sộ của Nguyễn Khuyến với nhiều mảng thơ như: Trào phúng, tả cảnh, trữ tình … đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu phát hiện những cái hay, cái đẹp trong thơ văn Nguyễn Khuyến, đi tìm những tư tưởng, tình cảm cũng như khẳng định sức mạnh không thể phủ nhận của văn chương Nguyễn Khuyến. Đồng thời khẳng định tinh thần dân tộc và lòng yêu nước của mình. Công trình nghiên cứu của Nguyễn Khuyến tiêu biểu như: Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ [1], phê bình bình luận về văn học Nguyễn Khuyến [16], Nguyễn Khuyến, Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm [17] … Trong “Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ” [1] Nguyễn Huệ Chi nhấn mạnh “Thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến, mặc dù mức độ đã kích, sâu cay và tính tập trung, cô động khác nhau, song xét trên phương diện lý tưởng thẩm mỹ và đặc trưng nghệ thuật phải nói đã tạo nên một giọng điệu hết sức độc đáo”[ 271; 1] .Công trình nghiên cứu này đã đề cập đến bút pháp trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến, mặc dù đây không phải là phần nói riêng đến bút pháp nghệ thuật nhưng thông qua “sự kết hợp phức điệu trào phúng và trữ tình” chúng ta có thể nhận thấy được bút pháp trào phúng thể hiện trong thơ. Ở phần này, tác giả đã đưa ra dẫn chứng xác thực về tác phẩm để làm sáng tỏ tính trào SVTH: TÔ THÚY KIỀU 6 GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG phúng. Ở công trình nghiên cứu này, có những nhận định chính xác về Nguyễn Khuyến cũng như bút pháp nghệ thuật của ông “Điều cơ bản là, trong khi nhìn nhận diện mạo dòng văn học trào phúng Việt Nam cổ trung đại, mọi người điều dễ thống nhất thơ Nguyễn Khuyến là một đại biểu xuất sắc của làng thơ trào phúng, bên cạnh Hồ Xuân Hương và Tú Xương”[ 271; 1] . Trong phần này, công trình nghiên cứu còn cho chúng ta thấy rõ mối quan hệ đồng cảm giữa tác giả và đối tượng nghệ thuật, điều này đã làm cho thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến trở nên chân thực. Qua đó, Nguyễn Khuyến cũng gửi gấm nổi buồn thương và tâm sự của mình. Trong “Nguyễn Khuyến”[4], Hồ Sĩ Hiệp đã đề cập đến nhiều yếu tố nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn Khuyến. Phần “ Cuộc đời và sự nghiệp” tác giả nêu rõ “Ông hay chỉ trích những cái dở, cái xấu của người đời. Hạng người bị ông chỉ trích là tham quan ô lại, những người dốt mà thích khoe chữ, những kẻ tham tiền mà quên điều sĩ nhục. Trong những lời thơ tự trào, ông cũng đã nghiêm khắc với chính mình đem những tật xấu của mình mà chế giễu”[16; 4] . Công trình nghiên cứu đã đánh giá, nhận xét những nét hay, nét độc đáo trong thơ văn Nguyễn Khuyến. Tuy công trình này viết không nhiều về các biện pháp trào phúng nhưng cũng đã giúp người đọc hiểu thêm về sự thành công của bút pháp nghệ thuật này. Trong “Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm”[17] đã khái quát quá trình sáng tác và các biện pháp nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn Khuyến. Công trình đã khai thác sự vận dụng cũng như sự thành công của các biện pháp nghệ thuật này, làm nâng cao tính trào phúng trong thơ. Bài viết “ Nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn Khuyến” ,Văn Tân đã nêu rõ nghệ thuật ám dụ hay ẩn dụ, Văn Tân nhấn mạnh “Không phải là sự ngẫu nhiên mà Nguyễn Khuyến dùng phương pháp ám dụ để nói lên ý nghĩa của ông ở hầu hết những văn thơ có liên quan đến thời cuộc. Để chửi thực dân pháp đã chiếm cứ nước ta, cướp của phá nhà của nhân dân ta, ông phải dùng tích “Chuột lớn” (Thạc Thử) ở thiên Ngụy Phong trong kinh thi. Để lên án tính chất tàn bạo của thực dân bắt nông dân đưa đi những nơi như Yên Bái, Lào Cai … làm đường xe lửa, hoặc khai mỏ để làm giàu cho thực dân, ông đã viết bài “Mồng bảy tháng bảy không mưa”[394;17] hay trong phần “Tâm trạng Nguyễn Khuyến trong thơ tự trào” do Vũ Thanh viết cũng đã đề cập trực tiếp đến SVTH: TÔ THÚY KIỀU 7 GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG hình tượng trào phúng được miêu tả bằng cách nói phủ định để khẳng định và ngược lại. Vũ Thanh đã chỉ rõ sự biến đổi tâm trạng Nguyễn Khuyến trong thơ văn. Từ thời điểm Nguyễn Khuyến lui về ở ẩn đã có sự thay đổi về cách nhìn, cách cảm “Ở giai đoạn này tiếng cười tự tin, khẳng định vẫn không tắt đi nhưng bên cạnh đó đã xuất hiện hàng loạt tiếng cười đau đớn, xót xa, cười ra nước mắt, tiếng cười từ nghi ngờ đến nhạo báng chính mình, phủ nhận chính mình”[374; 17] . Vũ Thanh đã đưa ra những lý do thỏa đáng, xác thực chứng minh sự thay đổi ở con người Nguyễn Khuyến, khẳng định bút pháp trào phúng được Nguyễn Khuyến nâng lên theo từng giai đoạn. Trong bài viết “Tài chơi chữ”, Đào Thản cũng đề cập đến vấn đề ngôn ngữ trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến. Ông đã khẳng định “Nguyên tắc chơi chữ nói chung là sự lợi dụng tính hai mặt nhập nhằng của các tính hiệu đồng âm. Đó là thủ pháp nghệ thuật có tính chất truyền thống, chứng tỏ óc thông minh linh hoạt của con người và đặc sắc của tiếng nói”[546; 17] để dựa trên nguyên tắc đó mà phát huy nghệ thuật chơi chữ trong việc thể hiện nội dung trào phúng “Nghệ thuật hài hước coi chơi chữ là biện pháp lợi hại trong văn chương”. Quả như vậy, chơi chữ đã được Nguyễn Khuyến sử dụng một cách rất tài tình để thể hiện tính trào phúng. Dùng nghệ thuật trào phúng để chửi thẳng vào những đối tượng là quan lại, tay sai hay những đối tượng làm băng hoại xã hội khác. Từ đây chơi chữ không còn là biện pháp tỉa tót về hình thức, chỉ để đùa vui mà trở thành một nghệ thuật kín đáo và sắc sảo. Đào Thản đã nhận xét, đánh giá tỉ mỉ về biện pháp nghệ thuật này. Đồng thời, ông cũng chứng minh cho người đọc thấy sự tinh túy của nghệ thuật chơi chữ, làm nổi bật nội dung trào phúng trong thơ, và khẳng định tài chơi chữ của Nguyễn Khuyến. “Bút pháp trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến” không phải là đề tài xa lạ mà chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy trong các công trình nghiên cứu. Nhưng công trình nghiên cứu riêng về bút pháp trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến thì còn rất khiêm tốn. Chúng tôi thực hiện đề tài này là muốn tìm thấy sự mới mẻ hơn và góp phần làm sáng tỏ hơn về bút pháp trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến. SVTH: TÔ THÚY KIỀU 8 GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG Các công trình nghiên cứu trên được xem là nguồn tư liệu quí báu mà người viết tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn. 3. Mục đích nghiên cứu. Tìm hiểu “Bút pháp trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến” để xem xét về những phẩm chất và đóng góp của nhà thơ trong mối tương quan với thời đại mà Nguyễn Khuyến đang sống. Từ đề tài, người viết có thể nắm bắt thêm một vài vấn đề quan trọng trong thơ văn Nguyễn Khuyến. Đề tài sẽ giải quyết những vấn đề chung về bút pháp trào phúng và nguyên nhân hình thành thơ văn trào phúng của Nguyễn Khuyến, thông qua những diễn biến của xã hội để thấy sự sụp đổ chuẩn mực của đạo đức phong kiến và sự tiếp thu, phát triển tính trào phúng trong văn học bình dân và văn học bác học. Giúp người viết hiểu thêm về nguồn gốc của nghệ thuật trào phúng. Thông qua đề tài này, người viết có cơ hội tiếp cận đến ngôn ngữ trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến dựa trên các biện pháp nghệ thuật như: Nghệ thuật đối; nghệ thuật chơi chữ; tình thái từ; ẩn dụ hay nghệ thuật sử dụng khẩu ngữ để chứng minh cho vấn đề ngôn ngữ trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến đạt đến trình độ thâm sâu, kín đáo và uyển chuyển. Đề tài “Bút pháp trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến” giúp người viết thấy được sự độc đáo của ngôn ngữ thơ văn Nguyễn Khuyến. Không chỉ trên phương diện ngôn ngữ thâm sâu, kín đáo đề tài còn giúp người viết có cơ hội nghiên cứu về hình tượng trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến để thấy được sự đa dạng, phong phú và sắc sảo. Hình tượng trào phúng được đề tài khai thác khá đầy đủ bằng các cách nói như: cách nói khẳng định để phủ định và ngược lại; cách nói hạ thấp để đề cao và ngược lại; cách nói đùa vui có tính chất giải khuây hay bằng cách nói công khai, trực diện để làm rõ cho sự đa dạng, phong phú của hình tượng trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến. Qua quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã có được rất nhiều điều bổ ích cũng như vốn kiến thức cần thiết về nhà thơ Nguyễn Khuyến và đặc biệt là nghệ thuật trong thơ ông. Tuy chỉ tìm hiểu một khía cạnh về bút pháp trào phúng nhưng thông qua đề tài này chúng tôi có cách nhìn khái quát hơn về bút pháp nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn SVTH: TÔ THÚY KIỀU 9 GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG Khuyến. Trước tiên, là về những vấn đề chung về bút pháp trào phúng và nguyên nhân hình thành của bút pháp này. Khi hoàn cảnh đất nước thay đổi, Nguyễn Khuyến đã hướng những trang thơ của mình theo một hướng đi khác. Mặc dù có sự kế thừa của truyền thống trào phúng bình dân và truyền thống trào phúng bác học, nhưng Nguyễn Khuyến đã có lối rẽ riêng tạo phong cách thơ đặt biệt, sắc sảo … Qua đề tài này, chúng tôi cũng được hiểu thêm về phương tiện ngôn ngữ và hình tượng trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến, thông qua các biện pháp nghệ thuật và các cách nói khác nhau tạo nên sự phong phú, đa dạng nhưng không kém phần kín đáo, thâm sâu. 4. Phạm vi nghiên cứu. Để nghiên cứu đề tài này, phạm vi khảo sát chủ yếu là thơ văn Nguyễn Khuyến, và những công trình nghiên cứu có liên quan đến bút pháp trào phúng. Bên cạnh đó, người viết có so sánh với bút pháp trào phúng của Hồ Xuân Hương, Tú Xương. Kết cấu đề tài gồm ba chương: chương thứ nhất, tìm hiểu về một số vấn đề chung. Chương thứ hai, tìm hiểu về ngôn ngữ trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến đạt đến trình độ thâm sâu, kín đáo và uyển chuyển. Chương thứ ba, tìm hiểu về hình tượng trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến, thể hiện sự đa dạng, phong phú và sắc sảo. Về phạm vi tư liệu, người viết đã khảo sát các công trình nghiên cứu về thơ văn Nguyễn Khuyến và một số tư liệu liên quan đến đề tài như: “Từ điển tiếng Việt”[5] giúp người viết tham khảo thông tin một cách chính xác về bút pháp trào phúng; “Nguyễn Khuyến tác gia và tác phẩm” [17] là nguồn tư liệu chính mà người viết tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài. Công trình nghiên cứu này đã cung cấp khà đầy đủ những vấn đề có liên quan đến đề tài. Một vài tư liệu khác như: Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ[1]; phê bình bình luận văn học Nguyễn Khuyến[16]; lịch sử văn học Việt Nam[9]; cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt [18] cũng góp phần quan trọng trong việc thực hiện đề tài. 5. Phương pháp nghiên cứu. Để giúp cho việc nghiên cứu đề tài một cách khoa học, logic, và dễ tiếp nhận người viết đã sử dụng các phương pháp như: phân tích, so sánh, tổng hợp, chứng minh để SVTH: TÔ THÚY KIỀU 10 GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG làm sáng tỏ bút pháp trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến, đồng thời cũng tạo nên sự phong phú cho đề tài SVTH: TÔ THÚY KIỀU 11 GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1. Bút pháp trào phúng 1.1.1. Bút pháp. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về “bút pháp”.Theo Từ điển tiếng Việt ngôn ngữ học[11]: “ Bút pháp là phong cách viết chữ Hán, cách dùng ngôn ngữ hay đường nét, màu sắc, hình khối, ánh sáng để biểu hiện hiện thực, tư tưởng, còn trong tác phẩm nghệ thuật là một bút pháp già dặn”[129;11]. Theo Đại từ điển tiếng Việt[19]: “Bút pháp là cách thức sử dụng các phương tiện biểu hiện để phê phán tư tưởng, ý nghĩa trong tác phẩm nghệ thuật”[213;19]. Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt – Nam [7]: “ Bút: Viết; Pháp: phép. Bút pháp là cách viết chữ Hán của con người và lối viết văn”[169; 7]. 1.1.2.Trào phúng. Có thể phân biệt giữa trào phúng và trào lộng để thấy rõ sự khác nhau giữa hai bút pháp và ý nghĩa khi sử dụng bút pháp trào phúng. Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt – Nam [7]: “Trào: chế nhạo; Phúng: răn đe. Trào phúng là mỉa mai, chế giễu một cách bóng bảy”[1879;7]. Theo Từ điển tiếng Việt - Ngôn ngữ học[11]: “Trào phúng là có tác dụng gây cười để châm biếm, phê phán”[1376;11]. Đối với trào lộng cũng có hai cách định nghĩa nhưng ý nghĩa không khác nhau. Theo Từ điển tiếng Việt - Ngôn ngữ học: “Trào lộng có tính chất chế giễu để đùa cợt, gây cười”[1376;11]. Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt – Nam [7]: “ Trào: chế nhạo; lộng: chơi đùa. Trào lộng là đùa cợt và chế nhạo”[1879;7]. SVTH: TÔ THÚY KIỀU 12 GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG Trào phúng và trào lộng tuy đều mang ý nghĩa chế giễu nhưng lại có ý nghĩa khác nhau. Trào phúng chế giễu để răn đe, cũng là tiếng cười nhưng tiếng cười ấy xót xa, cay đắng, để lại nhiều suy ngẫm. . Trong tiếng cười, hay những lời chế giễu đều mang một ý nghĩa sâu xa. Sử dụng bút pháp trào phúng là để khai thác những ý nghĩa ngầm sâu bên trong của từng bài thơ mà bên ngoài đang phủ một tiếng cười châm biếm. Nguyễn Khuyến là một nhà thơ luôn chất chứa trong lòng nổi uất hận, đau xót muốn nói thẳng lòng mình nhưng ngại thời thế. Vì thế ông mượn bút pháp trào phúng để cười và chế nhạo nhưng thực ra ông muốn bài tỏ thái độ cũng như quan điểm của mình trước thời cuộc. Đối với trào lộng cũng cất lên tiếng cười chế nhạo nhưng là để đùa cợt, chế giễu, gây cười để giải khuây. Thơ Nguyễn Khuyến không phải đùa cợt để giải khuây mà luôn mang tâm sự, cười để đau xót, ngậm ngùi. Vì thế, trào phúng luôn là bút pháp hợp lý khi nói đến thơ văn Nguyễn Khuyến, bao quát cả về hình thức lẫn nội dung của thơ ông. Còn đối với trào lộng thiên về hình thức hơn, chỉ gây cười trên bề mặt ngữ nghĩa. Do đó, khi tìm hiểu thơ văn Nguyễn Khuyến chỉ có thể tìm hiểu ở bút pháp trào phúng, vì bút pháp trào lộng không thể bao hàm hết ý nghĩa thơ ông. 1.1.3. Bút pháp trào phúng. Sử dụng các phương tiện nghệ thuật tiêu biểu để phản ánh tư tưởng, ý nghĩa trong tác phẩm nhằm châm biếm, phê phán, mỉa mai một cách bóng bảy. Trong văn học trung đại, nhiều nhà thơ là bậc thầy trong việc thể hiện bút pháp trào phúng như: Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương. Hồ Xuân Hương đã thể hiện bút pháp trào phúng khá đặc sắc. Bà đã giám nói lên những điều bọn “mũ cao áo dài” không dám nói đến, đặc biệt Hồ Xuân Hương dám thẳng tay tát vào mặt cả một bọn phong kiến thống trị từ trên xuống dưới không sợ hãi, chẳng nể nang ai một chút nào. Nhà thơ xé toạc hết các bộ mặt giả dối, lột trần hết những chiếc áo đạo đức cũn cỡn để chúng lộ nguyên hình là một lũ bịp bợm, dối đời, dốt nát. Đối với giai cấp thống trị nhà thơ đã nói to lên với mọi người rằng “chúa dấu vua yêu một cái này” vua chúa chỉ yêu “cái này” thôi và không yêu cái gì khác nữa. SVTH: TÔ THÚY KIỀU 13 GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG Đối với bọn văn nhân tài tử, dốt nát mà thích khoe chữ là chuyện lố lăng, bà chửi thẳng mặt. “Ai về nhắn bảo phường lòi tói, Muốn sống đem vôi quét trả đền”. (Phường lòi tói) Đối với bọn tu hành giả dối nhà thơ tỏ ra khó chịu và đã kích bọn chúng. Y như rằng mỗi lần nói đến sư là Xuân Hương lai quất chiếc roi đánh mạnh vào bọn chúng “Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta, Đầu thì trọc lốc, áo không tà. Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm, Vải núp sau lưng sáu bảy bà Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe, Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha” (Sư hổ mang) Bút pháp trào phúng đã được Hồ Xuân Hương khai thác khá triệt để, cả một bức tranh xã hội thời phong kiến đã được bà phơi bài ra trước mắt. Hồ Xuân hương phê phán gay gắt, châm biếm, đả kích không khoan nhượng làm nổi bật lên bút pháp trào phúng. Sau Nguyễn Khuyến Tú Xương đã nổi danh là ông tổ thơ trào phúng Việt Nam ông đã thể hiện một cái cười sâu sắc khóc liệt để bóc trần thối hư, tật rởm của người đời và một cái cười phong phú và sinh động. Bút pháp trào phúng đã được Tú Xương thể hiện rất thành công trong việc lột trần những cái xấu của xã hội, người đời “Trên ghế bà đầm ngoi đích vịt, Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng” Hay: Đối với bọn thầy tu thì Tú Xương phơi bày một cách rõ ràng SVTH: TÔ THÚY KIỀU 14 GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG “Một thằng trọc tếch ngồi khua mõ, Hai ả tròn xoe đứng múa bông”. Bút pháp trào phúng được các nhà thơ trung đại thể hiện một cách nổi bậc nhằm châm biếm, phê phán, mĩa mai một cách bóng bẫy bằng các phương tiện nghệ thuật để phản ánh tư tưởng, bộc lộ tình cảm của mỗi nhà thơ vào tác phẩm của mình. 1.2. Nguyên nhân hình thành thơ văn trào phúng của Nguyễn Khuyến. 1.2.1. Sự sụp đổ các chuẩn mực của đạo đức phong kiến. Nguyễn Khuyến đã chứng kiến cảnh mất nước.Triều đình bất lực dâng đất nước cho thực dân pháp. Mẫu mực đất nước theo hệ Nho giáo hầu như bị sụp đổ hoàn toàn khi xuất hiện văn hóa ngoại lai xâm nhập vào đời sống văn hóa dân tộc, xã hội trở nên nhố nhăng lộn xộn, từ trong ra ngoài từ trên xuống dưới. Cả chế độ đã như đập vào mắt nhà thơ tạo nên vết hằng vĩnh viễn trong lòng Yên Đổ. Chính ông đã từng là anh khóa nghèo qua chín lần dự thi mà bảy lần “không đâu cả” để được rạng ngời công danh, mong được giúp nước thoả chí bình sinh. Nhưng suốt cuộc đời làm quan, Nguyễn Khuyến đã làm một vị quan thanh liêm nhưng bất lực trước thời thế, không thay đổi được thời cuộc. Thời đại Nguyễn Khuyến là một thời đại khủng hoảng toàn diện. Trước hết và chủ yếu là khủng hoảng về hệ tư tưởng- văn hóa. Đất nước không những bị thực dân xâm lược mà còn bị sự biến loạn trong lòng dân tộc, sự sụp đổ của một hệ tư tưởng là sụp đổ cả một nền Hán học mấy mươi đời. Sự thối nát trong triều đình là nguồn gốc cho sự mất nước, mất văn hóa của dân tộc. Dưới ngòi bút của Nguyễn Khuyến vua quan như những thằng hề trong tuồng hát. Đất nước ta vốn theo chế độ quân chủ, triều đình là nơi mẫu mực cho thiên hạ, là gốc của thiên hạ, đại diện cho một quốc gia, nay lại bị hạ bệ dưới ngòi bút của Nguyễn Khuyến. Sự kính trọng đối với một vị vua hoàn toàn mất đi chỉ còn lại sự xem thường châm biếm. Nguyễn Khuyến viết ít nhưng lại có hàm ý rất sâu xa phơi bày hiện thực một cách trần trụi của cả hệ thống quan lại trong triều đình nhằm phê phán một triều đình thối nát. “Từ năm Đoan Khánh (1505-1509) trở về sau thì lời bàn luận sáng suốt bẵng đi, thói cầu cạnh mỗi ngày một thịnh, người có chức vị ít giữ được phong độ thanh liêm nhún nhường, SVTH: TÔ THÚY KIỀU 15 GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG trong triều đình không nghe có lời can gián, gặp có việc thì rụt rè cẩu thả, thấy lúc nguy thì bán nước để toàn thân, dẫu người gọi là bậc danh nho, cũng đều yên tâm nhận sủng vinh phi nghĩa, rồi nào thơ, nào ca trao đổi, khoe khoang tán tụng lẫn nhau, tập tục sĩ phu thối nát đến thế là cùng, tệ hại biến đổi lần này không thể nào nói cho xiết được”.[642;17] Nền Nho học đầu nhà Nguyễn được bừng sáng lên lần cuối rồi lại vụt tắt, nho giáo, quân chủ đều đã ở cuối con đường. Sự đổi mới đã không diễn ra trên đất nước hàng ngàn năm theo chế độ phong kiến mà dẫn đến kết quả là mất nước. Triều đình, quan lại đều đã trở nên bất lực xuôi tay để đất nước rơi vào tay giặc, chưa kể một số đã đầu hàng giặc. Nguyễn Khuyến là chứng nhân mà cũng là nạn nhân trong vấn đề tồn vong của đất nước, chính thời cuộc không chấp nhận một vị quan như Nguyễn Khuyến, công lý không tồn tại, mây đen phủ mờ cả đất nước để lại uất hận cho bao nhiêu sĩ tử nhà nho. Nguyễn Khuyến cũng là một vị quan yêu nước, muốn đem công sức cống hiến cho nước, cho dân nhưng thời thế không cho phép một vị quan như ông tồn tại, bất lực, ông đã đem cả danh vị của mình và của cả giới trí thức cũ ra châm biếm. Ông phê phán chế độ quân chủ bù nhìn đã làm tan tác cả nền văn hóa truyền thống. Chế độ thi cử cũng đã lụi tàn dần theo thời thế, mặc dù còn thi Nho giáo nhưng đã theo chiều hướng đáng châm biếm và Nguyễn Khuyến đã dùng ngòi bút của mình để phơi bày một thể trang trọng ấy. Sự hạ bệ đến tận cùng và dần lụi tàn đi. Trước đây, ông Nghè, ông Cống vẫn còn được xem là vinh dự nhưng đến đây thì “Ông nghè, ông Cống cũng nằm co” thể hiện sự bật gốc của giáo dục và nền văn hóa cổ truyền của chế độ phong kiến. Pháp xâm lược, nước ta làm thuộc địa, nền văn hóa gọi là tiến bộ dần dần tràn vào gần như giao thoa với văn hóa truyền thống nước ta. Sự xuất hiện một thứ văn hóa ngoại lai ấy đã hủy hoại dần tính truyền thống tốt đẹp của một xã hội. Sự đối chọi giữa cái cũ và cái mới tạo nên một thời “nhố nhăng” Ta không là Ta, Tây không ra Tây, lúc này xã hội như thể hỗn loạn đủ tất cả loại người mà chế độ phong kiến không có, sự xuất hiện của Me tây, ông Cò, ông Cẩm làm thay đổi cuộc sống của xã hội. Cái tốt đẹp của dân tộc gần như bị biến dạng làm băng hoại giá trị của con người. Con người dưới chế độ quân chủ trước đây luôn mẫu mực như Kiều Nguyệt Nga, như Đồ Chiểu làm tấm gương chung cho nữ nhi, cho học trò thì nay nữ nhi trong thời này SVTH: TÔ THÚY KIỀU 16 GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG lại là Đĩ cầu nôm, thầy đồ thì lại là “Thầy đồ ve gái góa”, tiến sĩ thì là Tiến sĩ giấy. Ngòi bút của Nguyễn Khuyến đả kích mạnh mẽ mọi phương diện, sâu xa, buồn bã, phát lên tiếng cười đau xót cho cả chế độ mẫu mực nay lại hủy hoại về đạo đức, nhố nhăng về phẩm chất, xã hội như đảo điên bởi những thứ văn hóa ngoại lai, bởi con người tham lam, đen bạc. 1.2.2. Sự tiếp thu truyền thống trào phúng trong văn hóa bác học và bình dân. 1.2.2.1. Sự tiếp thu truyền thống trào phúng trong văn học bình dân. Trong văn học bình dân, trào phúng cũng là thể loại quen thuộc đối với con người nói chung và đặc biệt là đối với tầng lớp bình dân trong xã hội. Những câu chuyện ngắn tuy không hàm ẩn nhiều ý nghĩa sâu xa nhưng đã thể hiện quan niệm sống phê phán, đả kích những thối nát trong xã hội, những việc làm trái tai, gai mắt trong đời sống hằng ngày. Những câu chuyện ấy tuy quen thuộc nhưng ý nghĩa như Trạng Quỳnh, Trạng Tí, Trạng Lợn…Từ trong truyện Trạng ta có thể thấy được những ý nghĩa châm biếm phê phán, đả kích của nó đối với bọn quan lại, nịnh bợ, tham lam như “Đào thường thọ” hay ích kỉ, xem thú vật quý hơn con người, xa hoa, lãng phí trong “Mèo quý tộc”. Nguyễn Khuyến đã tiếp thu những tinh hoa của truyền thống trào phúng trong văn học bình dân, từ những câu truyện Trạng của dân gian, tuy còn mộc mạc nhưng ý nghĩa, tuy chưa trau chuốt nhưng lại đẹp. Nguyễn Khuyến đã tiếp thu những tinh hoa ấy tạo nên sự thâm sâu, kín đáo và sâu sắc, uyển chuyển nhằm châm biếm, đả kích bọn tham tiền, nịnh nọt, ích kỉ…Văn học bình dân tạo nên những tiếng cười sảng khoái. Từ tiếng cười đó, Nguyễn Khuyến đã biến thành tiếng cười ra nước mắt, cười để mà khóc, cười không chỉ để vui mà còn để buồn, tiếng cười trong thơ Nguyễn Khuyến có nhiều cung bậc khác nhau. Nguyễn Khuyến đã góp nhặt những tinh hoa trào phúng trong văn học bình dân để tạo thành cái thâm sâu trong văn thơ của mình.Trong văn học bình dân những câu chuyện mang tính trào phúng, hài hước được nhân dân truyền miệng và sáng tác có tính chất rộng rãi dễ đi vào lòng người bởi truyện trào phúng dân gian phản ánh mặt trái của xã hội của SVTH: TÔ THÚY KIỀU 17 GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG bọn quan lại, triều đình nhưng không có nhân vật cụ thể, không phản ánh rõ ràng, phản ánh theo hướng chung chung. Nguyễn Khuyến đã biến cái chung chung thành mục tiêu cụ thể, phản ánh có mục đích và nâng cao hơn ý nghĩa phê phán, châm biếm. Vì vậy mà Nguyễn Khuyến là nhà thơ biết cười, không chỉ vậy, tiếng cười của ông có nhiều cung bậc khác nhau làm người khác thắm thía nỗi đau chung của xã hội và nỗi đau riêng của mình. Từ mộc mạc giản đơn, Nguyễn Khuyến đã biến văn học bình dân thành vũ khí sắc bén, để phản ánh một cách sâu sắc lòng yêu nước và tinh thần phản kháng đối với bọn bù nhìn, quan lại, tay sai. Điều này chứng tỏ nhân dân ta từ xưa đã có truyền thống ghét cái xấu, phê phán chuyện bất công. Nguyễn Khuyến cũng tiếp thu truyền thống ấy và phát huy ngòi bút trào phúng của mình dựa trên văn hóa trào phúng của văn học bình dân. Mặc dù, ngoài Nguyễn Khuyến còn nhiều nhà thơ thể hiện ngòi bút trào phúng, nhưng nhà thơ Yên Đổ đã dùng sự tinh túy của văn học truyền thống trào phúng để tạo nên nét khác biệt của riêng mình, lên tiếng tố cáo thẳng thừng bọn người chỉ biết khom lưng uốn gối, chê trách bản thân mình, lấy ý nghĩa của truyện Trạng làm gương soi cho ngòi bút trào phúng của mình. Ngoài ý nghĩa đả kích, phê phán đối với sự bất công thói tham nịnh của bọn quan lại, văn thơ Nguyễn Khuyến còn thể hiện sự sâu xa, uyển chuyển, kín đáo hơn, khiến người đọc phải lặng người suy nghĩ. So với văn học bình dân thì văn thơ Nguyễn Khuyến tiến bộ hơn rất nhiều. Mặc dù nhà thơ đã tiếp thu lối viết, tính chất trào phúng trong văn học dân gian nhưng nhà thơ đã có sự phát huy và có những thay đổi về hình thức và mở rộng về nội dung làm cho văn học trào phúng có nhiều mới mẻ hơn. Trong dân gian có rất nhiều câu truyện mang tính trào phúng như truyện Trạng, truyện ngụ ngôn, nhưng xét cho cùng thì những câu truyện ấy phản ánh sự bất công, cái đáng lên án trong một xã hôi yên bình, còn nằm trong mẫu mực của dân tộc, vì thế nội dung của truyện trào phúng ấy còn mộc mạc, đơn sơ. Đến thời đại Nguyễn Khuyến thì thời thế đã thay đổi, đất nước đã không còn nằm trong cảnh thanh bình mà là sự hỗn loạn, rối ren, không còn giữ được tính mẫu mực tốt đẹp của xã hội, tất nhiên nội dung, đối tượng phản ánh cũng phải thay đổi theo thời cuộc để lột trần hiện thực. Song, Nguyễn SVTH: TÔ THÚY KIỀU 18 GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG Khuyến vẫn giữ nét truyền thống trào phúng của dân tộc từ đó mà phát huy thành một nền văn học rộng lớn. 1.2.2.2. Sự tiếp thu truyền thống trào phúng trong văn học bác hoc. Trước Nguyễn Khuyến ta thấy xuất hiện nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương, thơ Hồ Xuân Hương cũng đã kích, châm biếm bọn tham quan, thể hiện cái tôi của mình.. Đối tượng trong thơ bà là những người đại diện cho chính quyền phong kiến vua chúa, quan lại, hiền nhân, quân tử, anh hùng. “Hiền nhân quân tử ai mà chẳng Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo” (Đèo Ba Dội) Những con người sống trái tự nhiên, quan lại hay những gương mặt nam nhi lại không đáng mặt nam nhi, những danh tướng bại trận như Sầm Nghi Đống, những tên học trò dốt Phường lòi tói hoặc đối tượng là nhà sư…Hồ Xuân Hương phê phán, đã kích một cách táo bạo, mạnh mẽ. Nguyễn Khuyến đã tiếp thu lối phê phán ấy, nhưng ông đã mở rộng đối tượng phê phán, Nguyễn Khuyến đã phê phán cả những Bà Đầm, Me Tây, những cô gái thích lấy ông Tây, ông Phán, phê phán những gì bình dân nhất trong cuộc sống. Vì lẽ đó thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến nhiều màu sắc hơn về đối tượng, không táo bạo mạnh mẽ nhưng thâm sâu, kín đáo. Trong văn học trung đại, có sự tiếp nối giữa các thế hệ về mặt tư tưởng cũng như trên văn học Nguyễn Khuyến đã tiếp nối tính trào phúng của thế hệ trước tạo nên sự đa dạng trong văn học. Thời thế thay đổi, văn học thay đổi, nếu Hồ Xuân Hương lên tiếng bênh vực cho người phụ nữ thì nay Nguyễn Khuyến lên tiếng phê phán lối sống vì vật chất bỏ mất phẩm chất con người, mất đi truyền thống tốt đẹp của người phụ nữ. Trước thực trạng xã hội đang lúc rối ren, triều đình hỗn loạn, cái xấu đang ngự trị thì tính trào phúng càng tồn tại có hiệu quả để phản ánh hiện thực xã hội. Nhờ tiếp thu truyền thống trào phúng trong văn học bác học, sự trau chuốt, thâm thúy, châm biếm mạnh bạo của thế hệ trước mà Nguyễn Khuyến đã tạo thành cái riêng của mình một giọng cười sâu cay, văng vào nền văn học một trường thơ sắc sảo đôi lúc cũng tục tằn nhưng vẫn giữ được tính chuẩn mực, cốt cách của một vị quan, cũng là phê phán SVTH: TÔ THÚY KIỀU 19 GVHD: PHAN THỊ MỸ HẰNG những việc bất mãn đối với xã hội, con người nhưng giữa thế hệ trước với thế hệ sau ta thấy rằng có một khoảng cách khá xa, tiến bộ rõ rệt chứng tỏ Nguyễn Khuyến đã tiếp thu có chọn lọc và phát huy hết cái hay của nền văn học truyền thống trào phúng trong văn học bác học. Không những thế Nguyễn Khuyến còn cải tiến thành cái riêng độc đáo của mình. Trong văn học, không chấp nhận sao chép ý tưởng văn chương. Vì vậy, trong thơ của Tam Nguyên mặc dù đối tượng phê phán cũng là bọn quan lại, bọn nhà sư nhưng trong mắt của nhà thơ thì tiến sĩ chỉ là Tiến sĩ giấy, bên cạnh đó những hình ảnh trong thơ phong phú và đa dạng mà thế hệ trước chưa hoặc ít khi đề cập đến như tự chế nhạo bản thân mình, hình ảnh người phụ nữ trong mắt Yên Đổ thì lại là đĩ Cầu Nôm, thầy đồ cũng không giữ được phẩm chất của một vị nho sư đúng mực hoặc thi cử, trong mắt nhà thơ cũng chỉ là trò cười cho thiên hạ, điều khác biệt nhất là thế hệ trước luôn tôn trọng bậc chí tôn nhưng trong ngòi bút của Nguyễn Khuyến thì vua chẳng khác chi một thằng hề trong tuồng hát, sự khác biệt về đối tượng và cách thức phê phán có phần cách xa nhau và cũng làm tăng thêm hiệu quả trào phúng . Tính trào phúng trong văn học tuy đã có từ rất lâu nhưng qua nhiều thế hệ sự tiến bộ đã vượt lên một cách rõ ràng. Văn học đã có sự cải tiến qua những ngòi bút sành sỏi như Hồ Xuân Hương làm khơi dậy một nguồn cảm xúc, làm tăng thêm sự căm ghét đối với những đối tượng mà Hồ Xuân Hương nhắc đến, lòng yêu nước thiết tha, sự phóng khoáng trong từng câu thơ thể hiện được tính phê phán, đả kích mạnh mẽ cho cả triều đại của nữ sĩ. Nhưng lúc này văn học trào phúng vẫn còn mộc mạc về nội dung còn có khoảng cách so với thế hệ sau. Xét về mặt thời thế ta cũng đã thấy rõ sự khác biệt ấy. “Tam cương ngũ thường” trước đây là điều kiện mẫu mực cho một xã hội và vẫn còn là nền móng vững chắc cho chế độ quân chủ. Bậc đế vương vẫn là đấng quân vương khiến cho người người rất mực tôn kính, quân xâm lược cũng chẳng phải là điều nguy hại đến thời cuộc, không làm thay đổi cả một cơ chế vững chắc của một quốc gia. Nhưng nay đến thời đại Nguyễn Khuyến thì tất cả đã thay đổi, thời thế, con người, xã hội, thay đổi cả cơ chế quản lí của nước nhà. Lúc này đấng quân vương không còn là một vị vua đáng tôn kính mà chỉ là bù nhìn cho bọn thực dân, không chỉ có thế mà nền văn hóa nước ta lại bị xâm lấn bởi nền SVTH: TÔ THÚY KIỀU 20
- Xem thêm -