Bộ thủ chữ hán trong cấu tạo chữ nôm

  • Số trang: 70 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 156 |
  • Lượt tải: 1
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN BỘ MÔN NGỮ VĂN NGUYỄN HOA ĐẦM BỘ THỦ CHỮ HÁN TRONG CẤU TẠO CHỮ NÔM Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Ngữ Văn Cán bộ hướng dẫn: ThS. TẠ ĐỨC TÚ Cần Thơ, 2011 Trang 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 2. Lịch sử vấn đề 3. Mục đích nghiên cứu. 4. Phạm vi nghiên cứu 5. Phương pháp nghiên cứu PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Bộ thủ trong cấu tạo chữ Hán 1. Lược sử chữ Hán 2. Cấu tạo chữ Hán. 3. Bộ thủ 3.1 Vị trí của bộ thủ 3.2 Vai trò của bộ thủ Chương 2: Một số vấn đề về chữ Nôm 1. Nguồn gốc của chữ Nôm 1.1 Chữ Nôm 1.2 Sự ra đời của chữ Nôm 2. Diễn biến của chữ Nôm 3. Vai trò của chữ Nôm 4. Ưu và khuyết điểm của chữ Nôm 4.1 Ưu điểm 4.2 Khuyết điểm 5. Cấu tạo của chữ Nôm 5.1 Chữ mượn Hán 5.2 Chữ sáng tạo Chương 3: Bộ thủ chữ Hán trong cấu tạo chữ Nôm 1. Bộ thủ chữ Hán được sử dụng trong chữ Nôm 1.1 Số lượng 1.2 Một số bộ thủ Nôm thường sử dụng 1.3 Sự khác biệt giữa bộ thủ chữ Hán và bộ thủ chữ Nôm. 2. Vấn đề sử dụng bộ thủ chữ Hán trong cấu tạo chữ Nôm Trang 2 2.1 Vị trí của bộ thủ Hán trong cấu tạo chữ Nôm 2.2 Bộ thủ Hán trong cấu tạo chữ Nôm PHẦN KẾT LUẬN Trang 3 PHẦN MỞ ĐẦU Trang 4 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài: Đất nước Việt Nam trải qua hơn 4000 năm lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước đã sản sinh ra biết bao vị anh hùng dân tộc và những giá trị văn hóa tinh thần bất hủ với thời gian. Trong quá trình đấu tranh hào hùng và không kém phần khốc liệt ấy dân tộc ta, đất nước ta đã kiên quyết giữ gìn tiếng nói (hay nói đúng hơn là ngôn ngữ) của dân tộc mình. Có ngôn ngữ rồi mới có chữ viết. Chữ viết ra đời trên cơ sở ngôn ngữ và hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài. Đó là nét chung của các hệ thống ngôn ngữ văn tự cổ đại. Và đối với Việt Nam chúng ta cũng không ngoại lệ. Sự sáng tạo ra chữ viết là một thành quả văn minh vĩ đại. Nhờ có chữ viết, nhiều thành tựu tư duy sáng tạo đã được lưu trữ trong các loại văn bản, sách vở, được lưu truyền qua hàng nghìn năm lịch sử và đã trở thành văn hóa di sản thành văn vô cùng quý báu của từng quốc gia, dân tộc và của toàn thể loài người. Như chúng ta đã biết, do hoàn cảnh lịch sử mà đất nước ta đã có một thời gian dài sử dụng văn tự Hán một cách rộng rãi trong các lĩnh vực hành chính, văn chương và học thuật. Rất nhiều di sản văn hóa quý báu của tổ tiên ta đã được bảo tồn và lưu truyền đến nay qua hệ thống văn tự được sáng tạo trên cơ sở của văn tự cổ xưa ấy – đó chính là chữ Nôm. Do đó, muốn tiếp thu tốt phần di sản văn hóa này chúng ta không thể không nghiên cứu kĩ về chữ Nôm. Sự sáng tạo ra chữ viết theo nghĩa rộng rãi và phổ biến nhất là một khả năng tiềm tàng trong bản thân đời sống văn hóa xã hội của mọi dân tộc [16; tr. 4]. Trong quá trình giao lưu với ngôn ngữ văn hóa Hán qua nhiều thế kỷ dân tộc ta đã sáng tạo ra chữ Nôm dựa trên những yếu tố của văn tự Hán để ghi lại các từ trong tiếng việt theo nguyên tắc ghi âm tiết trên cơ sở âm Hán Việt (tức cách đọc chữ Hán của người Việt Nam), nhằm đáp ứng nhu cầu ghi tên người, tên đất, hoa cỏ cây trái của người Việt Nam mà những vấn đề này chữ Hán không thể đảm nhận được. Chữ Nôm là một sáng tạo rất có ý nghĩa của cha ông ta, sự xuất hiện của chữ Nôm là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu một bước tiến lớn trên con đường phát triển văn hóa dân tộc trong quá khứ. Trang 5 Đó là một thứ văn tự của dân tộc ta đã được sử dụng trong gần mười thế kỷ cho tới cuối thời thuộc Pháp thì trở thành một thứ chữ cổ không được dùng trong đời sống hằng ngày nữa. Cùng với chữ Hán, chữ Nôm là một phương tiện ghi chép một phần quan trọng văn hóa dân tộc ta [3; tr. 283]. Chữ Nôm được cấu tạo trên cơ sở chữ Hán. Muốn đọc chữ Nôm thì điều kiện cơ bản là phải biết chữ Hán, song đó là điều kiện cần chứ không phải điều kiện đủ. Còn phải nắm vững các phương pháp cấu tạo của chữ Nôm, nắm vững tình hình diễn biến của chữ Nôm trải qua các thời kỳ đồng thời phải nắm vững một số quy luật ngữ âm học lịch sử tiếng Việt và tiếng Hán Việt [16; tr. 283]. Để hiểu rõ hơn về chữ Hán, chữ Nôm cũng như cấu tạo của từng loại chữ ấy như thế nào và đặc biệt là tầm quan trọng của Bộ thủ chữ Hán trong cấu tạo chữ Nôm nên tôi chọn đề tài này để tìm hiểu và nghiên cứu. 2. Lịch sử vấn đề. Cùng với sự ra đời và phát triển lâu dài của chữ Hán và chữ Nôm là những quá trình nghiên cứu dày công của các nhà ngôn ngữ học. Từ xưa đến nay, việc nghiên cứu tìm tòi phát hiện những cái mới là mơ ước của không riêng gì mỗi chúng ta mà con là của cộng đồng xã hội. Và đối với chữ Nôm là lọai văn tự của dân tộc thì điều đó càng cần thiết hơn. Bởi lẽ, ai ai trong chúng ta cũng muốn biết nhiều hơn về thứ văn tự này. Theo tác giả Đặng Đức Siêu và Nguyễn Ngọc San trong Giáo trình Ngữ Văn Hán Nôm (tập II), xuất bản năm 1988, thì việc nghiên cứu chữ Nôm được đặt ra từ đầu thế kỉ XX. Các ông Lê Dư, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Đổng Chi đã dựa vào các cứ liệu lịch sử để bàn về nguồn gốc chữ Nôm. Trong Việt Nam văn học sử yếu (1996), Dương Quảng Hàm có bàn tới vấn đề này. Ông cho rằng giả thuyết chữ Nôm ra đời từ thời Hàn Thuyên (Nguyễn Thuyên) tức là vào cuối thế kỷ XIII (đời nhà Trần) là một sai lầm. Vì sử sách chỉ ghi Hàn Thuyên sáng tác thơ, phú bằng tiếng Nôm chứ không hề nói ông đã đặt ra chữ Nôm hoặc chữ Nôm đã ra đời từ thời của ông. Cũng trong cuốn sách này, Dương Quảng Hàm cũng đã bàn tới một số quy tắc cấu tạo chữ Nôm nhưng chưa thật hoàn chỉnh. Bửu Cầm, trong quyển Dẫn nhập nghiên cứu chữ Nôm đã giới thiệu một cách khái quát về nguồn gốc, kết cấu và những ưu nhược điểm của chữ Nôm. Trang 6 Theo tác giả Nguyễn Ngọc San trong Lí thuyết chữ Nôm văn Nôm thì các ông Trần Văn Giáp, Hoa Bằng, Đinh Gia Khánh, Hoàng Xuân Hãn chỉ tập trung đánh giá vai trò quan trọng của chữ Nôm chứ chưa đi sâu vào vấn đề chuyên biệt vì họ không có điều kiện để tiếp xúc với văn bản Nôm. Cũng theo Nguyễn Ngọc San thì công trình khảo cứu đầu tiên về chữ Nôm là quyển Chữ Nôm: Nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến (1975) của Đào Duy Anh. Trong quyển sách này tác giả đã chứng minh gốc tích xưa nhất của chữ Nôm nằm trong tấm bia chùa, tháp, miếu huyện Yên Lãng tỉnh Vĩnh Phú mang tên Hội thích giáo Thiền tự già báo ân tự bi ký (năm 1210 đời Lí Cao Tông) với 20 chữ Nôm khác nhau chủ yếu là ghi tên người. Ngoài ra, tác giả còn nghiên cứu khá kỹ về cấu tạo và diễn biến của chữ Nôm nhưng nhìn chung vẫn chưa thoát khỏi ảnh hưởng của chữ Hán. Ngành nghiên cứu chữ Nôm chỉ mới thực sự có sự chuyển mình mạnh mẽ từ khi có sự kết hợp nghiên cứu chữ Nôm với nghiên cứu ngữ âm lịch sử tiếng Việt. Và công đầu có thể ghi cho Nguyễn Tài Cẩn. Trong những bài báo của mình Nguyễn Tài Cẩn đã chứng minh thời điểm xuất hiện của chữ Nôm dựa vào tình hình sử dụng chữ Hán ở Việt Nam, các cứ liệu lịch sử và nhất là sự hình thành của âm Hán Việt. Âm Hán Việt giữ vai trò âm đọc cơ bản của chữ Nôm nên sự hình thành của nó đã làm tiền đề cho sự xuất hiện của chữ Nôm. Với Nguyễn Khuê trong Những vấn đề cơ bản của chữ Nôm (1987 – 1988), nhìn chung tác giả đưa ra một số giả thuyết đã có trước đó nhưng trình bày theo trật tự thời gian nên có hệ thống và dễ hiểu hơn những tài liệu trước. Và cuối cùng có đưa ra những nhận xét nhưng chỉ dừng lại đánh giá một cách chung chung, chưa có ý kiến dứt khoát là chữ Nôm có từ bao giờ. Nguyễn Tá Nhí, Hoàng Thị Ngọ, Lã Minh Hằng cũng có một số công trình nghiên cứu về chữ Nôm trong những luận án Tiến sĩ của mình. Nhìn chung, những thành tựu nghiên cứu trong mấy chục năm qua rất đáng kể nhưng so với những gì cần làm thì những thành tựu đó vẫn còn khiêm tốn. Trong quá trình nghiên cứu sau này chắc chắn chúng ta còn phát hiện ra nhiều điều mới mẻ, góp phần thúc đẩy ngành Nôm học tiến lên một tầm cao mới. 3. Mục đích nghiên cứu. Mục đích thực tiễn cuối cùng của việc học tập Hán Nôm là đọc hiểu các văn Trang 7 bản cổ, trên cơ sở đó tiến hành việc phân tích, kế thừa và phát huy di sản văn hóa dân tộc. Những văn bản này nói chung đều cách xa ta quá nhiều về thời gian. Nhìn chung, nội dung của chúng gắn bó với chúng ta trên một mức độ nhất định, qua một số mặt nhất định của cuộc sống xưa kia mà chúng ta có thể tự hào coi là những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những tinh hoa của quá khứ. Nhưng, có thể nói một cách tổng quát rằng những văn bản này thông báo với chúng ta những cách nhìn, điệu cảm, lối nghĩ, kiểu sống không hoàn toàn đồng điệu với chúng ta. Những cách nhìn, điệu cảm, lối nghĩ, kiểu sống ấy lại được bộc lộ ra qua một hệ thống ngôn ngữ văn học mang nhiều đặc trưng độc đáo trong bản thân chữ nghĩa, trong các biện pháp tu từ và phương thức biểu đạt... Qua những văn bản này, sau khi đã tìm hiểu phần chữ nghĩa trên bề mặt, người học phải đi tới chỗ đào sâu khai thác những lớp ý nghĩa tiềm ẩn bên dưới các chữ, các câu, các đoạn mạch thơ văn rồi từ đó sẽ tiến hành việc phân tích, nhận định, đánh giá về nội dung và hình thức của văn bản [16; tr. 11]. Trên cơ sở tìm hiểu đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về nguồn gốc, cấu tạo chữ Nôm, cũng như thấy rõ vai trò của bộ thủ chữ Hán trong cấu tạo chữ Nôm. Và qua đó, ta cũng hiểu rõ tầm quan trọng của Bộ thủ trong cấu tạo chữ Hán có điểm gì khác và giống so với Bộ thủ trong cấu tạo chữ Nôm. Vì vậy nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập, tiếp nhận và phân biệt các văn bản chữ Hán với chữ Nôm. Muốn giải thích một tác phẩm văn học hay một văn bản Nôm nào mà thiếu hiểu biết về chữ Nôm, văn Nôm thì rất dễ mắc phải những sai lầm đáng tiếc. Vì lẽ đó mà Vũ Văn Kính trong Học chữ Nôm đã có viết: Chúng ta nghiên cứu chữ Nôm và học chữ Nôm không phải để sáng tác viết ra những bản văn Nôm mới, mà là để đọc được, khai thác được những bản văn Nôm đã có [11; tr. 15]. Tìm hiểu đề tài Bộ thủ chữ Hán trong cấu tạo chữ Nôm ta sẽ biết thêm nhiều hơn về chữ Nôm cũng như những thói quen sinh hoạt văn hóa xã hội, những vật dụng, công cụ được sử dụng hằng ngày được làm từ những vật liệu gì và có khác biệt gì so với thời đại của chúng ta hiện nay. Ngoài ra, việc tìm hiểu đề tài này còn giúp ta hiểu thêm vài nét về sự giao lưu văn hóa giữa nước ta với nước láng giềng Trung Hoa và từ đó thấy được những giá trị nhân văn được thể hiện qua các văn bản Nôm của dân tộc. Trang 8 4. Phạm vi nghiên cứu. Trong đề tài này người viết triển khai phân tích và làm rõ các vấn đề bộ thủ trong cấu tạo chữ Nôm qua văn bản Nôm Truyện Kiều của Nguyễn Du trong Truyện Kiều (Đối chiếu chữ Nôm – chữ Quốc ngữ), xuất bản năm 2001 do Vũ Văn Kính (khảo lục) cùng với một số văn bản Nôm cổ. Đồng thời làm rõ vị trí của bộ thủ trong cấu tạo chữ Hán qua một số văn bản chữ Hán của Việt Nam như: Nam quốc sơn hà – Lí Thường Kiệt, Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão, Độc Tiểu Thanh kí – Nguyễn Du, Tụng giá hoàn kinh sư – Trần Quang Khải. 5. Phương pháp nghiên cứu. Sử dụng các phương pháp hệ thống, liệt kê những bộ thủ được sử dụng trong chữ Hán và có xuất hiện trong cấu tạo chữ Nôm, tiến hành các phương pháp chứng minh, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu vị trí vai trò của bộ thủ trong chữ Hán và chữ Nôm để từ đó rút ra tầm quan trọng của bộ thủ trong cấu tạo chữ Nôm. Trang 9 PHẦN NỘI DUNG Trang 10 Chương 1 BỘ THỦ TRONG CẤU TẠO CHỮ HÁN 1. Lược sử chữ Hán. Chữ Hán là một nền văn tự cấu tạo theo lối chữ vuông, được người Hán sáng tạo ra cách đây khoảng 3500 năm (thuộc vào loại sớm nhất thế giới) khi người Hán còn đóng khung địa bàn cư trú của mình ở lưu vực sông Hoàng Hà và Vị Hà. Lúc đầu, chữ Hán chỉ phục vụ riêng cho người Hán và các tầng lớp trên trong xã hội Trung Hoa. Dần dần, nó được sử dụng ở nhiều quốc gia như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên. Chữ Hán được du nhập vào nước ta từ thời Bắc thuộc và phát triển mạnh từ thế kỉ X đến thế kỉ XX. Lịch sử ra đời của chữ Hán gắn liền với Thương Hiệt – một sử quan đời Hoàng Đế. Theo đó, thời điểm xuất hiện của nó cũng rất xa xưa gắn liền với việc phát hiện và giải mã văn tự Giáp cốt ở di chỉ Ân Khư – kinh đô cũ của nhà Ân. Từ văn tự Giáp cốt cho đến bây giờ, chữ Hán đã trải qua nhiều lần biến đổi về hình thể để tạo thành hệ thống chữ khối vuông hoàn chỉnh. Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu quá trình biến đổi của chữ Hán:  Giáp cốt văn 甲 骨 文: Đây là dạng chữ viết của thời nhà Ân, khắc trên mai rùa hoặc xương thú. Vì nó dùng vào việc bói quẻ nên còn gọi là Bốc từ (lời bói) hoặc Khế văn (chữ khắc bằng khế đao, một loại tiền cổ). Chữ Giáp cốt còn có tên gọi là Ân Khư văn tự (vì được nó được tìm thấy ở vùng Ân Khư - cố đô của nhà Ân). Đây là dạng chữ đã tương đối hoàn chỉnh nhưng nó vẫn còn nhiều nét viết và bộ thủ chưa hoàn toàn ổn định.  Kim văn 金 文 (còn gọi là chữ Chung đỉnh): Đây là dạng chữ được khắc hoặc đúc trên dụng cụ bằng đồng thau và đời Chu (từ thế kỉ XI – 771 TCN). Loại chữ này về hình thể còn gần với chữ Giáp cốt nhưng chữ Kim đã hoàn chỉnh hơn, đã chú ý đến vẻ đẹp của chữ và dễ khắc hơn, không đòi hỏi phải giống với các vật thật.  Tiểu triện 小 篆: Đây là dạng chữ thông dụng vào đời Tần. Trong thời kì Chiến quốc, chữ viết ở các địa phương Trung Quốc có nhiều hình dạng khác nhau. Sau khi Tần thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc đã chỉnh lí và giản hóa chữ viết. Trên cơ sở của chữ Đại triện Trang 11 (cuối đời Chu), nhà Tần đã quy định một dạng chữ viết chuẩn gọi là chữ Tiểu triện với những đường nét đơn giản hơn nhiều.  Lệ thư 隸 書: Là dạng chữ thông dụng vào đời nhà Hán, bắt đầu được dùng từ cuối đời Tần đến thời Tam quốc. Chữ Lệ còn gọi là Hán lệ. Ở giai đoạn đầu, chữ Lệ còn bảo lưu một số dạng nét của Tiểu triện. Với chữ Lệ, văn tự Hán đã bước vào một giai đoạn mới trong quá trình ổn định thể chữ, hoàn toàn đã thoát khỏi tình trạng hình vẽ và được cấu tạo bằng một số thành phần cố định gọi là nét.  Khải thư 楷 書: Là dạng chữ bắt đầu xuất hiện và cuối thời nhà Hán và lưu hành đến ngày nay. Với dạng chữ ngay ngắn, nét bút thẳng đáng được coi là chuẩn mực nên được gọi là Khải thư. Khải thư được chia làm hai loại là: chữ Chân và chữ Hành.  Thảo thư 草 書: Thảo thư xuất hiện sớm hơn Khải thư, tức vào khoảng đầu nhà Hán. Thời kì đầu, Thảo thư là biến thể của chữ Lệ viết nhanh, nên có tên Thảo lệ, sau gọi là Chương thảo. Từ cuối đời Hán trở đi, chữ Thảo đã thoát li hẳn dấu vết của Lệ thư còn sót lại trong Chương thảo, để hình thành một loại chữ có nét bút liền nhau (loại chữ này viết rất nhanh).  Hành thư 行 書: Là loại chữ nằm giữa chữ Khải và chữ Thảo, được sử dụng phổ biến trong thời Tam quốc. Hành thư có đặc điểm là viết nhanh hơn Khải thư.  Chữ Giản thể: Hiện nay, chữ Giản thể này chủ yếu dược sử dung ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và do các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đưa ra vào năm 1956. Chữ Giản thể là chữ Hán được giản hóa đi bằng cách giảm số nét, dùng chữ ít nét thay cho chữ đồng âm nhiều nét. 2. Cấu tạo chữ Hán. Để ghi nhận chữ Hán, ngay từ thời xa xưa người Trung Hoa đã phải tìm kiếm nhiều biện pháp để phân loại, sắp xếp các đơn vị văn tự. Thời Hán đã xuất hiện bộ Thuyết văn giải tự của Hứa Thận – bộ sách chuyên nghiên cứu, giải thích chữ Hán dựa trên mối quan hệ gắn bó giữa 3 mặt: hình thể – âm đọc và ý nghĩa. Trong Thuyết văn giải tự Hứa Thận đã trình bày tương đối cặn kẽ một hệ thống phân loại, sắp xếp chữ Trang 12 Hán xây dựng trên nguyên tắc tạo chữ và dùng chữ được gọi chung là Lục thư (sáu loại chữ) bao gồm: Tượng hình, Chỉ sự, Hội ý, Giả tá, Chuyển chú và Hình thanh. [2; tr. 14] 2.1 Tượng hình 象 形 Chữ tượng hình là chữ vẽ theo vật thực, nét chữ quanh co, uốn lượn theo hình thể của vật thực. (Hứa Thận) Ví dụ: Thấy mặt trời tròn, muốn biểu thị mặt trời người Trung Hoa cổ đã vẽ một hình tròn luôn luôn khép kín với vạch ở chính giữa tượng trưng cho ánh sáng, về sau đổi thành hình vuông cho dễ viết. 日 月 Trong kho văn tự Hán, những chữ thuộc loại Tượng hình không nhiều nhưng chúng đóng vai trò khá quan trọng bởi hai nguyên nhân sau: - Loại chữ Tượng hình dùng để ghi hầu hết những từ nằm trong vốn từ cơ bản của Hán ngữ cổ đại. - Chữ Tượng hình là cơ sở để tạo ra những chữ thuộc loại khác, trong đó đặc biệt là hai loại chữ Hội ý và Hình thanh. 2.2 Chỉ sự 指 事 Chỉ sự là xét vào nét bút, thấy việc được chỉ. (Hứa Thận) Đây là loại chữ mà qua hình thể của chữ ta có thể thấy được tính chất của sự vật. Khác với chữ Tượng hình, chữ Chỉ sự đã bao hàm ý nghĩa trừu tượng chỉ sự vật. Thực tế, có nhiều sự vật, động tác, hiện tượng không sao vẽ được theo lối Tượng hình. Giả sử, nếu vẽ được cũng kém phần chính xác, dễ hiểu lầm hoặc quá rườm rà, phức tạp. Vì vậy chữ Chỉ sự ra đời biểu thị những sự vật, hiện tượng, động tác khó vẽ ra được. Ví dụ: Chữ mạt 末 là ngọn cây (dấu - ở tại phần trên chữ mộc 木) Chữ nhận 刃 là lưỡi dao (dấu - ở tại phần chỉ phía lưỡi của chữ đao 刀: con Trang 13 dao). 2.3 Hội ý 會 意 Chữ hội ý là chữ hợp các phần mà thấy được nghĩa. (Hứa Thận) Đây là loại chữ được ghép bởi hai hay nhiều chữ khác hoặc giống nhau nhằm chỉ mối liên hệ hoặc để tăng thêm về mặt chất hay lượng. Chữ Hội ý thường được dùng để cấu tạo nên những tính từ, động từ hoặc những danh từ không có hình tượng cụ thể (danh từ chỉ thời gian). Loại nghĩa này khá trừu tượng, rất khó thể hiện bằng phương pháp Tượng hình. Ví dụ: Để tìm và xác định người vào ban đêm phải dựa vào cách gọi tên nên chữ danh 名 được cấu tạo bởi bộ khẩu 口 (chỉ miệng gọi) và chữ tịch 夕 (đêm) tạo thành ý nghĩa đi đêm phải gọi tên. Chữ minh - với ý nghĩa mặt trời là vật sáng nhất ban ngày, mặt trăng là vật sáng nhất ban đêm, người ta ghép hai chữ 日 nhật: mặt trời và 月 nguyệt: mặt trăng lại với nhau tạo thành chữ 明 minh: sáng. Chữ sâm 森 có nghĩa là rậm rạp, để chỉ nghĩa của từ này người ta đã kết hợp nhiều chữ mộc 木 lại với nhau. 2.4 Giả tá 假 借 Giả tá là loại chữ vốn không có chữ, nhờ thanh mà gửi tự. (Hứa Thận) Giả tá là chữ vay mượn chữ này để ghi lại chữ kia trên cơ sở đồng âm. Để ghi lại một từ trong khẩu ngữ chưa từng có từ tương ứng, người Trung Hoa cổ đã sử dụng biện pháp tạo chữ mà không thêm chữ tức là có 2 từ (hoặc nhiều từ), mặc dù có ý nghĩa khác nhau cũng vẫn được ghi lại bằng một chữ ô vuông miễn là kết cấu ngữ âm của những từ đó và âm đọc của chữ ô vuông kia giống nhau. Giờ đây, để thể hiện những chữ chưa có người Trung Hoa đã sử dụng những từ có sẵn, có âm đọc và kết cấu ngữ âm tương đồng với kết cấu ngữ âm và âm đọc với những từ chưa có chữ để vay mượn. Trên cơ sở này, hàng loạt từ mới đã xuất hiện và có chữ để ghi lại [2; tr. 18]. Ví dụ: Chữ ô 烏: than ôi. Nghĩa gốc là chỉ con quạ (vốn là chữ tượng hình), sau được Trang 14 mượn dùng làm thán từ ôi. Chữ chi 之 có nghĩa là của. Nghĩa gốc là cây nhỏ bắt đầu mọc ra khỏi đất (vốn là chữ Tượng hình), sau được mượn dùng để chỉ một từ có nghĩa là sở hữu. Chữ tây 西 là phương tây. Nghĩa gốc là tổ chim (vốn là chữ Tượng hình), sau được mượn làm từ chỉ phương hướng. 2.5 Chuyển chú 轉 注 Phép chuyển chú là một chữ nào đó do sự thay đổi về âm đọc dẫn đến thay đổi về mặt hình thể từ đó tạo ra chữ mới. Phép Chuyển chú này tạo nên những cặp chữ khác nhau về hình thể và âm đọc nhưng giống nhau (hoặc gần giống nhau) về mặt ý nghĩa. Ví dụ: 訊 tấn có nghĩa là hỏi, chuyển chú cho 問 vấn: hỏi. Chữ tấn thuộc bộ 言 ngôn: lời nói. Chữ vấn thuộc bộ 口 khẩu: miệng. Hai chữ không cùng bộ nhưng cùng loại chỉ hoạt động của lời nói [2; tr. 20]. Chữ 謹 cẩn: cẩn thận, chuyển chú cho 慎 thận: cẩn thận. Chữ cẩn có bộ 言 ngôn: lời nói. Chữ thận có bộ 心 tâm: tim. Tuy hai chữ trên không cùng bộ nhưng cùng loại chỉ hoạt động tinh thần. 2.6 Hình thanh 形 聲 Đây là phép thông dụng nhất trong cách cấu tạo chữ Hán. Hình thanh là loại chữ lấy sự làm tên, mượn thanh cấu thành. (Hứa Thận) Chữ hình thanh kết hợp cả 2 xu hướng biểu ý và biểu âm trong cách cấu tạo,bộ phận chỉ ý nghĩa của chữ gọi là HÌNH; Bộ phận chỉ âm đọc gọi là THANH. Ví dụ: Dùng chữ 刃 nhận: lưỡi dao (chữ Chỉ sự), kết hợp kèm theo các kí hiệu chỉ ý để ghi các từ có âm nhận với các nghĩa khác nhau như: 刃 nhận – lưỡi dao kết hợp với xa 車 trở thành 軔 nhận: cái hãm xe, hoặc nhận 刃 + vi 葦 = 韌 nhận: dẻo dai, hay: nhận 刃 + ngưu 牛 = 牣 nhận: khâu vá. Chữ Hình thanh là hình thức phát triển cuối cùng của văn tự Hán. Cơ sở hình thành và phát triển của nó là tất cả các loại chữ đã có trước nó, hoặc ra đời cùng với nó và tồn tại song song với nó. Từ thời Hán đến nay, chữ Hình thanh luôn luôn chiếm Trang 15 khoảng trên dưới 90% tổng số văn tự Hán [2; tr.24]. Xét về cấu tạo chữ Hán ta thấy rằng, chữ Hán cũng như tiến trình tiến hóa của văn tự nhân loại đã đi từ giai đoạn vẽ hình (Tượng hình) sang biểu ý (Hội ý) và cuối cùng là đến biểu âm (Hình thanh). Những văn tự cổ xưa hiện nay không còn quốc gia nào dùng nữa, thế nhưng đối với chữ Hán ta vẫn thấy dâu vết xưa của văn tự nhân loại đọng lại. Như vậy, có thể nói rằng chữ Hán là một văn tự quý giá trong văn tự nhân loại. 3. Bộ thủ. Bộ thủ (部首) hoặc gọi tắt trong tiếng Việt là bộ chữ Hán (một thành phần cốt yếu của từ và tự điển tiếng Hán). Danh mục bộ thủ chữ Hán đóng vai trò gần giống như một bộ chữ cái tiếng Hán. Hầu như tất cả chữ Tượng hình của tiếng Hán đều được phân vào các bộ thủ và những chữ thuộc cùng một bộ thủ lại được chia theo số nét. Số nét thay đổi từ 1 đến 17. Những chữ thuộc cùng một bộ thủ được xếp theo số nét cộng thêm vào số nét của bộ thủ [20]. Để sắp xếp, hệ thống hóa kho văn tự Hán một cách hợp lí, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ghi nhớ và sử dụng, Hứa Thận đã chia 9353 chữ được đem ra phân tích trong Thuyết văn giải tự thành 540 đơn vị tập hợp gọi là Bộ, dựa trên mối quan hệ khăng khít giữa 3 mặt hình thể – âm đọc – ý nghĩa của văn tự Hán. Dưới mỗi bộ sẽ có những chữ có liên quan với nhau về một mặt nào đó. Đứng đầu mỗi bộ có tên một chữ làm tiêu biểu, gọi là Bộ thủ [16; tr. 38 - 39 ]. Ví dụ: Những chữ mộc 木: cây, bản 本: gốc cây, mạt 末: ngọn cây, quả 果: trái cây... đều được xếp chung vào một bộ, lấy mộc làm Bộ thủ. Đến đời Minh (1368 – 1661), Mai Ưng Tộ đã phân chia, sắp xếp lại các bộ chữ Hán của Hứa Thận, chỉ giữ lại 214 bộ. 3.1 Vị trí của Bộ thủ: Bộ thủ đứng ở nhiều vị trí khác nhau trong chữ Hán. 3.1.1 Đứng bên trái chữ Hán : Ta có thể xét ở một vài chữ Hán thường gặp như: Chữ hà 河 trong câu thơ: Nam quốc sơn hà nam đế cư (南 國 山 河 南 帝 居) (Nam quốc sơn hà) là chỉ về sông, nó còn chỉ sông Hà Hán là sông Thiên Hà ở trên trời, cao xa vô cùng cho nên những kẻ nói khoác không đủ tin gọi là hà hán [5; tr. 317 – 318]. Chữ hà Trang 16 có bộ thủy ở bên trái, còn bộ phận bên phải là chữ khả 可. Chữ như 如 trong câu thơ: Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm (如 何 逆 虏 來 侵 犯) (Nam quốc sơn hà) có nghĩa là bằng, cùng. Có thể dùng để so sánh như: ái nhân như kỉ - yêu người như mình. Cũng có thể dùng để hình dung, lời nói ví thử. Ngoài ra, trong kinh Phật cho rằng vẫn còn nguyên chân tính, không nhiễm trần ai là như. Như có bộ nữ 女 ở bên trái chữ. Chữ hà 何 trong câu thơ: Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ? (天 下 何 人 泣 素 如) (Độc Tiểu Thanh kí) là từ dùng để hỏi: sao, gì lời nói hỏi vặn lại như: hà cố - cớ gì?, hà dã – sao vậy? Chữ hà có bộ nhân cũng ở vị trí bên trái chữ. Chữ nghịch 逆 là chỉ ý làm trái trái lại với thuận. Phàm cái gì không thuận đều gọi là nghịch cả. Kẻ dưới mà phản đối người trên cũng gọi là nghịch như: ngỗ nghịch (忤 逆)– ngang trái, bạn nghịch – bội bạn [5; tr. 618]. Chữ nghịch có bộ sước 辶ở vị trí bên trái, ngoài ra còn bộ phận bên phải là những chữ Hán khác để cấu tạo nên chữ nghịch hoàn chỉnh. Theo đó, các chữ phạm 犯 trong có nghĩa là xâm phạm, cái không nên xâm vào gọi là phạm, như: can phạm (干 犯), mạo phạm; nhữ 汝 – sông Nhữ ( 滝 汝); thuật 述 – sông Thuật (滝 述); hoài 懷 (trong thuật hoài - 述 懷) – nhớ, ví dụ như: hoài đức úy uy có nghĩa là nhớ đức sợ uy; ngoài ra, hoài còn có nghĩa là: bọc, chứa, mang hoặc lòng, bế, như: bản hoài – nguyên lòng này; hoài còn có nghĩa là lo nghĩ, hay hoài bão,…; đều có bộ thủ ở vị trí bên trái chữ như: Bộ khuyển 犭, bộ thủy , bộ sước 辶, bộ tâm 忄. 3.1.2 Đứng bên phải chữ Hán. Chữ thủ 取 trong câu thơ: Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (汝 等 行 看 取 敗 虛) (Nam quốc sơn hà) có nghĩa là chịu lấy, như: nhất giới bất thủ - một mảy chẳng chịu lấy. ngoài ra, thủ Trang 17 còn có nghĩa là chọn lấy, như: thủ sĩ – chọn lấy học trò để dùng [5; tr. 89]. Chữ thủ có bộ hựu 又 ở bên phải chữ. Ngoài ra còn có bộ phận bên trái chữ là bộ nhĩ 耳. Chữ công 功 là việc như: nông công – việc làm ruộng; công còn có nghĩa là công hiệu, công lao. Ngoài ra, công còn chỉ những loại đồ làm khéo tốt. Công 功 có bộ lực 力 cũng ở bên phải chữ, và phần còn lại của chữ là một chữ Hán khác (chữ công 工). Nam nhi vị liễu công danh trái (男 兒 未 了功 名 債). (Tụng giá hoàn kinh sư) Chữ sư 師 trong Tụng giá hoàn kinh sư (從 駕 還 京 師) có nghĩa là nhiều, đông đúc, như: chỗ đô hội trong nước gọi là kinh sư – có nhiều chỗ ở to rộng và đông người; sư còn có nghĩa là dạy người ta học về đạo đức, học vấn, như: sư phạm giáo khoa tức khoa dạy đạo làm thầy. Ngoài ra, có một sở trường về một nghề gì cũng gọi là sư, như: họa sư, nhạc sư… [5; tr. 171]. Chữ sư 師 có bộ cân 巾 ở bên phải, còn lại là một chữ Hán khác ở vị trí bên trái chữ để bổ sung về mặt âm đọc của chữ. Các chữ hồ 胡 trong câu thơ: Cầm hồ Hàm Tử quan (擒 胡 鹹 子 關) (Tụng giá hoàn kinh sư) có nghĩa là yếm cổ, dưới cổ có mảng thịt sa xuống gọi là hồ. Râu mọc ở đấy gọi là hồ tu; hồ còn có nghĩa là cổ họng, nói năng không được rành mạch gọi là hàm hồ; hồ còn được dùng làm trợ từ, từ để hỏi, như: hồ khả - sao vậy? hồ bất – sao chẳng? Tu 須 có nghĩa là đợi, ví dụ như: tương tu thậm ân – cùng đợi rất gấp hoặc tu còn có nghĩa là nên. Phàm cái gì nhờ đó để mà làm không thể thiếu được gọi là tu, vì thế nên sự gì cần phải có ngay gọi là thiết tu: Thái bình tu trí lực (太 平 須 致 力). (Tụng giá hoàn kinh sư) Hoặc 或 là hoặc, lời nói còn ngờ, chưa quyết định hẳn, ví dụ như: hoặc nhân – hoặc người nào, hoặc viết (或 曰) – hoặc có kẻ nói rằng; hoặc còn có nghĩa là ai, có. Những chữ vừa đề cập trên đều có các bộ thủ ở bên phải chữ như: Bộ nhục 月, bộ hiệt 頁, bộ qua 戈 và những bộ phận còn lại của chúng thuộc về những chữ Hán khác ở vị trí bên trái. Trang 18 3.1.3 Đứng phía trên chữ Hán. Chữ nam 南 có nghĩa là phương Nam hay tên bài nhạc, như: Chu nam, Triệu nam (召 南) là tên những bài nhạc trong Kinh Thi [5; tr. 82]. Chữ nam có bộ thập 十 nằm bên trên còn phần bên dưới là một chữ Hán khác dùng để biểu thị âm đọc của chữ. Chữ đẳng 等 có nghĩa là bực, như: xuất giáng nhất đẳng – giáng xuống một bực. Đẳng còn có nghĩa là cùng, đều, ngang, như: mạc dữ đẳng luân (莫 與 等 倫) – chẳng ai cùng ngang với mình. Ngoài ra, đẳng còn có nghĩa là chờ đợi, như: đẳng đãi, đẳng hậu đều có nghĩa là đợi chờ [5; tr. 426]. Đẳng có bộ trúc 竹 nằm phía trên chữ biểu thị ý nghĩa còn bộ phận còn lại nằm bên dưới để biểu thị âm đọc cho chữ. Chữ hoa 花 trong câu thơ: Tây hồ hoa uyển tận thành khư (西 湖 花 苑 盡 成 墟) (Độc Tiểu Thanh kí) có nghĩa là hoa, hoa của cây cỏ hay tục gọi các vật lang lỗ sặc sỡ như vẽ vời thêu thùa là hoa. Ngoài ra, hoa còn có nghĩa là nhà trò, con hát. Chữ hoa có bộ thảo 艹 cũng nằm ở vị trí bên trên chữ. 3.1.4 Bộ thủ nằm ở phía dưới của chữ Hán. Chữ thiên 天 là bầu trời hoặc cái gì kết quả tự nhiên, sức người không thể làm được thì gọi là thiên. Tôn giáo gọi chỗ của các thần linh ở là thiên, như: thiên quốc (天 國), thiên đường [5; tr. 127]. Thiên có bô thủ đại 大 nằm ở vị trí bên dưới của chữ. Chữ phân 分 có nghĩa là chia, tách ghẽ, như: ngũ cốc bất phân (五 穀 不 分) – không phân biệt năm giống thóc. Phân còn có nghĩa là phút, hoặc chỉ về một môn số học. Chữ phân 分, còn có âm đọc là phận [5; tr. 65]. Phân 分 có bộ đao 刀 nằm ở bên dưới, còn lại phần bên trên là một chữ Hán khác để cấu tạo nên chữ phân. Chữ quân 軍 – quân lính, như: lục quân (六 軍) – quân bộ, hải quân – quân thủy; quân là một tiếng thông thường gọi về việc binh, như: tòng quân - theo lệnh, hành quân – đem quân đi. Chữ cổ 古 là ngày xưa, không xu phụ thói thời, như: cổ đạo – đạo cổ, cao cổ cao thượng như thói xưa: Vạn cổ thử giang san (萬 古 此 江 山). (Tụng giá hoàn kinh sư) Trang 19 Hai chữ trên đều có những bộ thủ xếp ở vị trí bên dưới chữ chẳng hạn như: Bộ xa 車, bộ khẩu 口. 3.1.5 Bộ thủ nằm ở bên trong của chữ Hán. Chữ vấn 問 là hỏi, cái gì không biết đi hỏi người khác thì gọi là vấn. Ngoài ra, vấn còn có nghĩa là hỏi thăm, tra hỏi, tra hỏi kẻ có tội. Hoặc vấn còn có nghĩa khác là tin tức: âm vấn, lễ ăn hỏi – vấn danh (問 名) [5; tr. 102]. Chữ vấn có bộ thủ khẩu 口 nằm bên trong, còn bộ phận bên ngoài là một chữ Hán khác để cấu tạo nên chữ. Chữ thù 讎 có nghĩa là đáp lại, tùy ý câu hỏi mà trả lời lại từng câu từng mối gọi là thù. Đền trả ngang cái giá đồ của người gọi là thù, như: thù trị (讎 値) - trả đủ số. Thù còn có nghĩa là ngang nhau, ứng nghiệm, so sánh [5; tr. 579]. Trung 中 là giữa, chỉ vào bộ vị trong vật thể, như: trung ương – chỗ giữa, trung tâm – giữa ruột. Trung còn có nghĩa là trong, như: đối với nước ngoài thì gọi nước mình là trung quốc (中 國). Cả 2 chữ trên đều có các bộ thủ nằm ở vị trí bên trong chữ như: Bộ 言, bộ cổn 丨. 3.1.6 Bộ thủ nằm ở vị trí bên ngoài của chữ Hán. Chữ quốc 國 trong Nam quốc sơn hà (南 國 山 河) có nghĩa là nước, có đất có dân, có quyền cai trị thì gọi là nước. Chữ quốc có bộ thủ vi 囗 nằm bên ngoài chữ [5; tr. 113]. Bộ phận bên trong của chữ góp phần cấu tạo nên sự hoàn chỉnh về hình thể, âm đọc và ý nghĩa của chữ. Chữ quan 關 có nghĩa là đóng, các máy móc trong các đồ gọi là cơ quan. Các văn bằng để đi lĩnh lương gọi là quan hướng hay hai bên cùng đính ước với nhau gọi là quan thư. Ngoài ra, quan còn có nghĩa là cửa ải, như: biên quan (邊 關) – cửa ải [5; tr. 662]. Chữ thái 太 là to lớn như: Thái bình (太 平), tiếng gọi người tôn trưởng, như: thái lão bá – hàng tôn trưởng hơn bác, gọi người tôn trưởng của kẻ sang cũng gọi là thái [5; tr.128] Chữ tù 囚 – bỏ tù, bắt người có tội giam lại gọi là tù, người có tội cũng gọi là tù như: tù nhân ( 囚 人) [5; tr.111]. Các chữ trên đều có các bộ thủ nằm ở vị trí bên ngoài của chữ như: Bộ môn 門, Trang 20
- Xem thêm -