Tài liệu Bổ sung và sử dụng các thí nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thí nghiệm trong dạy học phần a thực vật, chương i, ii, sinh học 11

  • Số trang: 45 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 46 |
  • Lượt tải: 0
nguyenduychinh

Đã đăng 1600 tài liệu

Mô tả:

Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: Ths. An Biên Thùy MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài. Theo Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009-2020: Mục tiêu đào tạo của giáo dục Việt Nam là "Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện...", xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Giáo dục vừa đáp ứng yêu cầu xã hội, vừa thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi cá nhân, mang đến niềm vui học tập cho mỗi người và tiến tới một xã hội học tập. Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đang là một vấn đề thời sự cấp bách của đất nước ta nói chung và ngành giáo dục đào tạo nói riêng. PTTQ là nguồn thông tin phong phú và đa dạng giúp HS lĩnh hội tri thức một cách cụ thể, chính xác; là con đường tốt nhất giúp HS tiếp cận hiện thực khách quan. Ngoài ra, PTTQ góp phần khắc sâu, mở rộng, củng cố tri thức, phát triển năng lực tư duy, khả năng tìm tòi, khám phá và vận dụng tri thức. Do đó, dạy học bằng PTTQ là một phương pháp dạy học rất hiệu quả nhằm lấy học sinh làm trung tâm và phát huy được tính tích cực của học sinh. PTTQ gồm 3 nhóm chính: vât tự nhiên , vật tượng hình, thí nghiệm. SH là môn khoa học thực nghiệm, kiến thức SH thường được hình thành bằng phương pháp quan sát và thực nghiệm. Đối với GV, TN là phương pháp hiệu quả nhất để tổ chức HS nghiên cứu các hiện tượng SH. Đối với HS, TN là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan, là cơ sở xuất phát cho quá trình nhận thức của HS; TN là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn do đó nó là phương tiện duy nhất giúp HS hình thành kĩ năng, kĩ xảo thực hành và tư duy kĩ thuật; TN giúp HS đi sâu tìm hiểu bản chất của các hiện tượng và quá trình SH. TN do GV biểu diễn phải là mẫu mực về thao tác, việc tổ chức hoạt động nhận thức của HS dựa trên các TN phải theo hướng tích cực, sáng tạo. Do đó, việc Nguyễn Thị Thu Hằng 1 K34B Sinh – KTNN Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: Ths. An Biên Thùy sử dụng các TN trong dạy học SH là một yêu cầu quan trọng của đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông. Trong SGK SH 11, các TN được sử dụng để học bài mới; củng cố, hoàn thiện kiến thức. Tuy vậy, trên thực tế, GV thường dùng TN trong các buổi thực hành là chủ yếu, chỉ có một số ít GV biểu diễn thí nghiệm trong dạy bài lên lớp nghiên cứu tài liệu mới. Nguyên nhân của hiện tượng trên là do thiếu trang thiết bị hay trang thiết bị không đảm bảo chất lượng, những TN phức tạp, tốn kém, mất nhiều thời gian cùng với năng lực sử dụng, khai thác, tổ chức HS nhận thức TN của GV còn hạn chế, cùng với sự nhận thức chưa đúng đắn của GV. Vì lí do trên, để khai thác hết giá trị dạy học của TN, phát huy hết tính tích cực, chủ động học tập của HS, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Bổ sung và sử dụng các thí nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thí nghiệm trong dạy học phần A: Thực vật, chương I, II, sinh học 11” 2. Mục đích nghiên cứu Bổ sung các TN nhằm nâng cao hiệu quả trong dạy học phần A: Thực vật, chương I, II, SH 11. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu  Nghiên cứu cơ sở lí luận của vấn đề sử dụng TN trong quá trình dạy học.  Điều tra thực trạng việc sử dụng TN trong quá trình dạy – học.  Phân tích nội dung chương trình phần A: Thực vật, chương I, II, Sinh học 11.  Bổ sung, sử dụng các TN trong dạy học phần A: Thực vật, chương I, II, Sinh học 11 nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy – học. Nguyễn Thị Thu Hằng 2 K34B Sinh – KTNN Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: Ths. An Biên Thùy 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  Đối tượng nghiên cứu: Các TN dạy trong phần A: Thực vật , chương I, II, SH 11.  Phạm vi nghiên cứu: Bổ sung thí nghiệm ở phần A: Thực vật, chương I, II, SH 11- Ban cơ bản 5. Phương pháp nghiên cứu 5.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Nghiên cứu các tài liệu trong nướcvà nước ngoài có liên quan tới TN; kĩ thuật thực hiện các TN và phương pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TN trong quá trình dạy học 5.2 Phương pháp quan sát và điều tra sư phạm:  Dự giờ, trao đổi ý kiến với GV  Xây dựng hệ thống các câu hỏi, phiếu điều tra để điều tra thực trạng của việc sử dụng TN trong giảng dạy SH 11 ở trường THPT hiện nay, 5.3 Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã hỏi ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm trong việc bổ sung và cải tiến TN SH 11 ở trường THPT. 5.4 Phương pháp thống kê toán học: Xử lí các số liệu thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel 6 Đóng góp mới của đề tài Đề xuất bổ sung các thí nghiệm, biện pháp cải tiến cách làm và cách sử dụng TN trong phần A: thực vật, chương I, II, SH 11- Ban cơ bản 7 Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 2 chương: Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài Chương 2: Bổ sung, sử dụng các TN trong dạy học phần A: Thực vật, chương I, II, SH 11 Nguyễn Thị Thu Hằng 3 K34B Sinh – KTNN Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: Ths. An Biên Thùy NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1.1.1. Trên thế giới Xu thế của thế giới hiện nay là nhấn mạnh đào tạo người học làm trung tâm của quá trình dạy học. Và vấn đề sử dụng PTTQ, đặc biệt là TN đã được nghiên cứu từ rất lâu và được coi như vấn đề rất quan trọng trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học. K. Đ. Usinxki (1824 - 1870) cho rằng trực quan chính là phương tiện để phát triển tư duy. Trực quan là cái ban đầu và là nguồn gốc của mọi tri thức, cảm giác cung cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ của con người. Trực quan làm quá trình lĩnh hội tri thức của HS trở nên dễ dàng, tự giác, có ý thức và vững chắc hơn; tạo ra hứng thú học tập, kích thích tính tích cực của HS; là phương tiện tốt nhất giúp GV gần gũi với HS, HS gần gũi với thực tiễn và là phương tiện quan trọng để phát triển tư duy HS. X.G. Sapôralenkô, M.H. Sacmaep cho rằng: “Chất lượng PTTQ gắn chặt với chất lượng sử dụng nó của thầy giáo để PTTQ có thể đạt hiệu quả giảng dạy và giáo dục cao”. TN là phương tiện chứa đựng, chuyển tải thông tin, đáp ứng những yêu cầu nhận thức, giáo dục, phát triển của quá trình sư phạm nhưng bản thân nó có giá trị dạy học cao hay thấp hoàn toàn phụ thuộc vào quá trình sử dụng. Các TN được sử dụng không tốt sẽ dẫn đến hậu quả xấu về mặt sư phạm và kinh tế. Chúng có thể phá vỡ cấu trúc bài giảng, phân tán sự chú ý của HS, lãng phí thời gian và nguyên liệu, mất lòng tin ở HS. Đây cũng là vấn đề ít được quan tâm hiện nay. Nguyễn Thị Thu Hằng 4 K34B Sinh – KTNN Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: Ths. An Biên Thùy 1.1.2. Ở trong nước Ở Việt Nam, hiện nay, vấn đề sử dụng PTTQ, trong đó có sử dụng các TN đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở tất cả các môn học, cấp học. Trong lĩnh vực Vật lí: Năm 2005, Mai Khắc Dũng dựa trên cơ sở phân tích vị trí, vai trò của TN đã đưa ra kết luận: “Sử dụng TN để khuyến khích hứng thú và lôi cuốn HS tích cực tìm tòi kiến thức là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng dạy học Vật lí. Từ đó tác giả đã tiến hành nghiên cứu, tự làm một số TN trong dạy học Vật lí 11. Năm 2006, Huỳnh Trọng Dương dựa trên cơ sở phân tích vai trò của các bài tập TN đã đưa ra qui trình hướng dẫn HS giải các bài tập TN Vật lí. Theo tác giả, bài tập TN có vai trò quan trọng trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS. Một số tác giả như: Nguyễn Thành Chung; Đặng Trần Chiến; Nguyễn Trọng Bé; Nguyễn Trọng Hưng; Ngô Thị Bình … lại đi sâu nghiên cứu cách thức cải tiến và chế tạo các TN trong quá trình dạy học Vật lí ở trường THPT, đặc biệt là các TN ảo và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy các bài thực hành Vật lí. Trong lĩnh vực Hóa học: Năm 1994, Nguyễn Ngọc Quang đã hệ thống PTTQ trong môn Hóa học gồm: TN và phòng TN (dụng cụ thiết bị, hóa chất) và đồ dùng trực quan (mẫu vật, mô hình, hình vẽ, bảng biểu). Theo tác giả, trong quá trình dạy học PTTQ đóng vai trò là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan, là nguồn phát thông tin về sự vật, hiện tượng, là cơ sở quá trình dạy học phương tiện trực quan đóng vai trò là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan, là nguồn phát thông tin về sự vật, hiện tượng, là cơ sở cho sự lĩnh hội tri thức, kĩ năng, Nguyễn Thị Thu Hằng 5 K34B Sinh – KTNN Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: Ths. An Biên Thùy kĩ xảo của HS. Từ đó tác giả đã đề xuất các biện pháp, quy trình sử dụng PTTQ đạt hiệu quả cao. Năm 2004, Hoàng Thị Chiên đã đề xuất phương án sử dụng TN để rèn luyện ngôn ngữ Hóa học cho HS, nâng cao hứng thú và chất lượng học tập môn Hóa học. Năm 2006, Cao Cự Giác đã nghiên cứu việc sử dụng các hình vẽ mô phỏng TN để thiết kế các bài tập Hóa học thực nghiệm nhằm nâng cao chất lượng các giờ thực hành trong dạy học Hóa học ở trường THPT. Trong lĩnh vực Sinh học, đã có các tác giả sau: Năm 1999, Trịnh Bích Ngọc và Phan Minh Tiến cũng đã nghiên cứu việc tổ chức các hoạt động quan sát, TN trong dạy học SH ở trường THCS. Từ đó các tác giả đã đề xuất qui trình tổ chức cho HS quan sát và tiến hành TN, theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS. Năm 2003, Nguyễn Vinh Hiển từ sự phân tích vai trò của hoạt động quan sát, TN trong quá trình dạy học nói chung và dạy học SH nói riêng đã đề xuất biện pháp, quy trình sử dụng TN trong dạy học kiến thức hình thái, sinh lí thực vật SH 6. Năm 2005, Hoàng Thị Kim Huyền đã xây dựng cấu trúc bài thực hành phương pháp dạy học SH nhằm nâng cao chất lượng thực hành và bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên trường đại học sư phạm. Năm 2006, Nguyễn Thị Thắng đã đề xuất một số kinh nghiệm thực hiện thành công các TN thực hành trong dạy học SH 8. Năm 2007, Dương Tiến Sỹ trên cơ sở phân tích những khó khăn trong quá trình dạy học SH, đặc điểm tâm lí nhận thức của HS lớp 6, những hạn chế của các TN trường diễn đã đề xuất biện pháp sử dụng TN ảo đề tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học SH 6. Nguyễn Thị Thu Hằng 6 K34B Sinh – KTNN Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: Ths. An Biên Thùy Năm 2009, Hoàng Việt Cường trên cơ sở phân tích và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TN trong dạy học sinh học tế bào (SH 10) tạo ra nền tảng để nâng cao hiệu quả sử dụng TN trong dạy học SH nói riêng và dạy học nói chung. Trên đây là những công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề bổ sung, sử dụng các TN trong quá trình dạy học. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề bổ sung các TN nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phần A, chương I, II, SH 11. 1.2 Cơ sở lí luận 1.2.1 Một số khái niệm có liên quan 1.2.1.1 Phương tiện trực quan  PTTQ là những công cụ (phương tiện) mà người thầy giáo và HS sử dụng trong quá trình dạy - học nhằm xây dựng cho HS những biểu tượng về sự vật, hiện tượng, hình thành khái niệm thông qua sự tri giác trực tiếp bằng các giác quan của người học.  Trong DHSH có 3 loại PTTQ chính  4 : - Các vật tự nhiên: Mẫu sống, mẫu ngâm, mẫu nhồi, tiêu bản ép khô, tiêu bản hiển vi… - Các vật tượng hình: mô hình, tranh vẽ, ảnh, sơ đồ, biểu đồ, phim video… - Các TN: VD: Chọn 1 cành cây, bóc bỏ 1 khoanh vỏ. Sau 1 tháng sẽ có hiện tượng gì xảy ra? Tại sao? 1.2.1.2 Thí nghiệm  TN là phương pháp nghiên cứu đối tượng và hiện tượng ở những điều kiện nhân tạo. Trong phức hệ những điều kiện tự nhiên tác động lên cơ thể sinh vật, người nghiên cứu chỉ chọn một vài yếu tố riêng biệt để nghiên cứu lần lượt ảnh hưởng của nó. Nguyễn Thị Thu Hằng 7 K34B Sinh – KTNN Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: Ths. An Biên Thùy  Phân loại: Căn cứ vào con đường tổ chức hoạt động nhận thức và đặc điểm hoạt động của GV – HS chia TN ra làm 2 loại chính: - THTN - BDTN  THTN: là phương pháp HS tiến hành các TN, để hiểu rõ được mục đích TN, điều kiện TN. Qua tiến hành và quan sát TN, HS xác định được bản chất của hiện tượng, quá trình sinh học.  Phân loại: Tùy theo logic nhận thức của HS trong quá trình THTN mà có các phương pháp cụ thể sau:  Phương pháp THTN – TBTH: Ở phương pháp này, HS tiến hành TN nhằm minh họa, củng cố kiến thức đã tiếp thu từ các nguồn thông báo khác nhau. Mặt khác HS cũng có thể làm lại TN mà GV đã biểu diễn nhằm rèn luyện kĩ năng thực hành. VD: Khi dạy “Các kiểu hướng động” (Bài 23), GV nêu cho HS biết: Khi các cơ quan của cây sinh trưởng hướng tới nguồn hóa chất (nguồn dinh dưỡng) => hướng hóa dương. Khi cơ quan của cây sinh trưởng tránh xa nguồn hóa chất (nguồn chất độc) => hướng hóa âm. Để củng cố và minh học lời giảng của GV, HS tiến hành và quan sát kết quả TN sau: - Tạo 2 cốc trồng cây: +Cắt lấy phần đáy của chai lavi cao khoảng 10-15cm . - Cho phân NPK, hóa chất độc hại vào trong một miếng túi bóng nhỏ, châm thủng nhiều lỗ. - Đặt túi phân NPK, túi hóa chất độc ở một góc của 2 đáy cốc lần lượt gọi là cốc A, B. - Cho đất đầy cốc. - Trồng một hạt đậu nảy mầm vào giữa hoặc ở phía đối diện so với túi phân NPK và túi hóa chất độc. - Tưới ẩm. Nguyễn Thị Thu Hằng 8 K34B Sinh – KTNN Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: Ths. An Biên Thùy  Phương pháp THTN – TTBP: Ở phương pháp này, HS tự tiến hành TN, quan sát hiện tượng, phân tích, so sánh các hiện tượng xảy ra, để rút ra kết luận có giá trị nhận thức mới. Vai trò của GV là hướng dẫn HS phân tích kết quả tìm mối quan hệ nhân – quả bằng các câu hỏi định hướng. VD: Khi dạy “Các kiểu hướng động” (Bài 23), GV ra bài tập cho HS làm TNTH sau đây: - Gieo một ít hạt đậu hoặc cải trên đất trong 3 chậu trồng cây hay trong 3 hộp lồng đã lót giấy lọc ướt ở đáy. + Chậu 1: Đặt vào trong hộp có lỗ hở ở thành bên. +Chậu 2: Đặt vào trong hộp kín. + Chậu 3: Đặt ở nơi có ánh sáng chiếu đồng đều. Yêu cầu HS quan sát sự sinh trưởng của các cây ở 3 chậu trên. - Để định hướng cho HS tự rút ra kết luận, đi đến kiến thức mới, GV nêu các câu hỏi sau: (?) Nêu nhận xét về sự sinh trưởng của thân cây non ở các điều kiện chiếu sáng khác nhau. (?) Tính hướng sáng của rễ và ngọn cây khác nhau như thế nào? (?) So sánh số lượng tế bào và kích thước tế bào ở phía nhận kích thích với phía không nhận kích thích? Từ đó giải thích vì sao cây cong về phía có ánh sáng?  BDTN: là phương pháp mà những TN dưới sự hướng dẫn của GV, HS được quan sát những hình ảnh, những thao tác làm TN cụ thể. Con đường nhận thức này có ý nghĩa to lớn, nó phát triển ở học sinh kỹ năng quan sát, hoàn thiện tư duy ( phân tích, tổng hợp, so sánh…) hình thành những những kiến thức được cụ thể hơn.Từ đó giúp nâng cao chính bản thân học sinh, thể hiện tính tích cực độc lập ở mức độ cao trong quá trình học tâp.  Phân loại: Tùy theo logic nhận thức của HS trong quá trình BDTN mà có các phương pháp cụ thể sau: Tiêu chí BDTN – GTMH BDTN– TTBP so sánh Nguyễn Thị Thu Hằng 9 K34B Sinh – KTNN Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: Ths. An Biên Thùy Dựa vào TN để hình thành kiến Dựa vào TN để hình thành kiến Bản chất thức mới thông qua sự giảng thức mới thông qua sự định giải của thầy. hướng, gợi ý, tổ chức của GV, HS tự lực tìm ra tri thức mới. GV biểu diễn TN cho HS quan GV biểu diễn TN, tổ chức cho sát đồng thời giải thích cho HS. HS quan sát, phát hiện vấn đề, Hoạt động của GV TN minh hoạ cho lời giảng của bằng việc kết hợp với hệ thống thầy. GV nêu ra các câu hỏi câu hỏi logic. Hệ thống câu hỏi nhằm kiểm chứng lại thông tin GV ra theo một trình tự logic đã giải thích cho HS. nhất định, mà câu trả lời của HS chỉ có thể tìm được thông Hoạt động của HS qua sự tìm tòi, nghiên cứu TN. Quan sát TN khi đã nghe thầy Quan sát TN theo trình tự tổ giải thích. Tiếp thu tri thức mới chức của GV, tìm tòi nghiên từ TN một cách thụ động. cứu, phát hiện, khai thác TN để tìm ra tri thức mới. HS tri giác PTTQ (TN) và tiếp Hình thành các kiến thức mới ở thu kiến thức mới một cách thụ HS một cách chủ động, sáng Kết quả động. Chưa phát huy được tính tạo. Phát huy tính tích cực, chủ tích cực, độc lập, sáng tạo của động, rèn luyện các thao tác tư HS duy, khả năng tự học tự nghiên cứu của HS.  Khi dạy mục “Hô hấp ở TV VD  Khi dạy mục là gì”. - GV biểu diễn TN: “Hô hấp ở + Lấy 2 cốc nước vôi trong đặt TV là gì”, lên 2 tấm kính ướt + Dùng 2 chuông thủy tinh A, B GV khẳng úp vào 2 cốc nước vôi trên, Nguyễn Thị Thu Hằng 10 K34B Sinh – KTNN Khóa luận tốt nghiệp đại học định GVHD: Ths. An Biên Thùy quá trong đó trong chuông A có đặt trình hô thêm 1 chậu cây + Đặt 2 chuông TN vào chỗ tối. hấp ở TV - Yêu cầu HS dự đoán hiện thải CO2, tượng xảy ra sau 6h sau đó - GV đưa ra kết quả TN và hệ biểu diễn thống câu hỏi gợi mở: + Không khí trong hai chuông TN để thủy tinh có những loại khí cơ minh họa: bản nào? - Lấy 2 + Chất khí nào tác dụng với cốc nước nước vôi trong tạo ra kết tủa? vôi trong + Kết quả của TN như sau vì đặt lên 2 tấm kính sao?  Cốc nước vôi ở chuông thủy tinh B trong có váng ướt - Dùng 2 mỏng.  Cốc nước vôi ở chuông chuông thủy tinh thủy tinh A có lớp váng trắng A, B úp đục rất dày trên mặt cốc nước vào 2 cốc vôi. + Qua đó ta có thể rút ra kết nước vôi trên, trong luận như thế nào? đó trong chuông A có đặt thêm 1 chậu cây - Đặt 2 chuông Nguyễn Thị Thu Hằng 11 K34B Sinh – KTNN Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: Ths. An Biên Thùy TN vào chỗ tối sau 6h lấy ra. - Kết quả thu được: + Cốc nước vôi ở chuông thủy tinh B trong có váng mỏng. + Cốc nước vôi ở chuông thủy tinh A có lớp váng trắng đục rất dày trên mặt cốc nước vôi.  Quá trình hô hấp của cây ở Nguyễn Thị Thu Hằng 12 K34B Sinh – KTNN Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: Ths. An Biên Thùy trong chuông A thải khí CO2 1.2.2 Tầm quan trọng của việc sử dụng TN trong dạy học SH Quá trình dạy học bao gồm nhiều thành tố có mối quan hệ mật thiết với nhau như: mục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học. Có thể biểu diễn mối quan hệ của các thành tố trong quá trình dạy học theo sơ đồ sau: Trong các thành phần nêu trên, phương tiện là đối tượng vật chất giúp GV và HS tổ chức có hiệu quả quá trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học và GV giữ vai trò chủ đạo. Căn cứ vào nội dung dạy học, tình hình HS, phương tiện hiện có, GV lựa chọn phương pháp tác động vào HS nhằm đạt mục đích dạy học. Nguyễn Thị Thu Hằng 13 K34B Sinh – KTNN Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: Ths. An Biên Thùy Thực tế dạy học đã chứng minh rằng, quá trình nhận thức của con người đều xuất phát điểm từ thực tiễn, từ những hình tượng trực quan mà ta tri giác được trong cuộc sống. Trực quan là phương tiện giúp cho sự phát triển tư duy lôgic của HS. Vì thế, trong quá trình dạy học, việc vận dụng các phương pháp dạy học không thể tách rời với việc sử dụng những phương tiện dạy học. Phương tiện dạy học có thể được coi là công cụ nhận thức thế giới của HS. Nó được sử dụng nhằm khắc phục những khoảng cách giữa việc tiếp thu lý thuyết và thực tiễn, làm cho hoạt động nhận thức của HS trở nên sinh động, cụ thể hơn. Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học SH nói riêng, một trong những phương tiện dạy học đắc lực nhất là TN bởi các lí do sau: a. TN là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan, là cơ sở xuất phát cho quá trình nhận thức của HS. Các hiện tượng SH có thể mô phỏng lại dưới dạng các TN. HS quan sát GV BDTN hay trực tiếp tiến hành các TN, tự lực tìm hiểu cấu tạo trong mối quan hệ với chức năng, tìm ra bản chất của các sự vật, hiện tượng và trực tiếp giúp cho các em tin tưởng và hiểu sâu sắc tri thức được lĩnh hội. Trong các hoạt động TN có sự tham gia của nhiều cơ quan cảm giác, đồng thời HS phải động não suy nghĩ, tìm tòi nên phát triển được tư duy sáng tạo. Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng là con đường nhận thức cơ bản nhất. b. TN là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn. Vì vậy nó là phương tiện duy nhất giúp hình thành ở HS kĩ năng, kĩ xảo thực hành và tư duy kĩ thuật. Qua hoạt động TN, HS hiện thực hóa được những kiến thức lí thuyết đã học, làm cho những kiến thức đó trở nên thiết thực và gần gũi với thực tiễn. Được tự mình quan sát, tiến hành các TN, suy nghĩ, tìm tòi bản chất của các sự vật hiện tượng giúp cho HS có những hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về các vấn Nguyễn Thị Thu Hằng 14 K34B Sinh – KTNN Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: Ths. An Biên Thùy đề SH, thực tiễn. Do những yêu cầu chặt chẽ khi tiến hành các TN đã giúp cho HS có được những phẩm chất tốt đẹp của người lao động, hình thành và phát triển ở các em thao tác tư duy kĩ thuật. c. TN giúp HS đi sâu tìm hiểu bản chất của các hiện tượng, các quá trình SH. Trong khoảng thời gian 45 phút của một tiết học, GV rất khó có thể giải thích hết cho HS những vấn đề phức tạp mang tính bản chất, cơ chế của các sự vật, hiện tượng. Với tư cách là phương tiện giúp HS nghiên cứu, ôn tập, củng cố kiến thức, các TN sẽ giúp HS hiểu rõ được bản chất của các vấn đề SH. Tự mình tiến hành các TN, quan sát diễn biến và kết quả TN giúp cho HS có cơ sở thực tiễn để giải thích bản chất của các hiện tượng đó. d. TN do GV biểu diễn phải là mẫu mực về thao tác để qua đó HS học tập, bắt chước dần dần, khi HS tiến hành được TN, họ sẽ hình thành được khả năng thực hành TN. e. TN có thể được sử dụng để tổ chức hoạt động nhận thức của HS với các mức độ tích cực, tự lực và sáng tạo khác nhau. TN có thể được sử dụng ở mức độ thông báo, tái hiện và ở mức độ cao hơn là tìm tòi bộ phận, nghiên cứu. Ngoài ra, TN còn giúp HS thêm yêu môn học, có được đức tính cần thiết của người lao động như: cần cù, kiên trì, ý thức tổ chức kỉ luật cao… Như vậy, trong quá trình dạy học SH, TN được sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học TN được tiến hành với nhiều hình thức và mức độ khác nhau. TN có thể được GV biểu diễn hoặc HS tự tiến hành, TN có thể nhằm thông báo, tái hiện, tìm tòi bộ phận hoặc cũng có thể nhằm mục đích nghiên cứu. TN có thể được tiến hành ở trên lớp hoặc trong phòng TN, trong vườn, ruộng hoặc ở nhà. Tuy nhiên, các thí nghiệm trong nội dung chương trình chưa đủ để sử dụng trong quá trình dạy học. Vì vậy, việc bổ sung, sử Nguyễn Thị Thu Hằng 15 K34B Sinh – KTNN Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: Ths. An Biên Thùy dụng các thí nghiệm trong quá trình dạy học là một vấn đề quan trọng và cấp thiết. 1.3Cơ sở thực tiễn 1.3.1 Thực trạng sử dụng TN trong trường THPT Để xác lập cơ sở thực tiễn cho việc bổ sung các TN vào quá trình giảng dạy chương trình SH 11 phần A chương I, II, chúng tôi đã tiến hành bằng phương pháp quan sát sư phạm, dự giờ, trao đổi với các GV bộ môn, điều tra thực trạng sử dụng TN ở trường THPT Phủ Lý A và trường THPT Nguyễn Như Tiến (Tỉnh Hà Nam). a. Đối với GV Kết Nội dung phiếu điều tra % quả 1. Nhận thức về vấn đề sử dụng TN trong quá trình giảng dạy môn SH Rất cần thiết  6 60 Cần thiết  4 40 Không cần thiết  0 0 8 80 Tại vì: Kích thích được hứng thú học tập của HS  Phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS trong quá trình dạy học  10 100 Chuẩn bị công phu, mất nhiều thời gian  2 20 Hiệu quả bài dạy không cao  0 0 Không có trong đề thi  7 70 Đảm bảo kiến thức vững, chắc  9 90 3 30 2. Mức độ sử dụng thí nghiệm như thế nào? Thường xuyên Nguyễn Thị Thu Hằng  16 K34B Sinh – KTNN Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: Ths. An Biên Thùy Thỉnh thoảng  6 60 Không sử dụng  1 10 3. Trong quá trình giảng dạy, đã bao giờ GV bổ sung, cải tiến thí nghiệm chưa? Thường xuyên  0 0 Thỉnh thoảng  2 20 Không bao giờ  8 80 4. Thường sử dụng thí nghiệm trong khâu nào của quá trình dạy học? Khâu nghiên cứu tài liệu mới  3 30 Khâu ôn tập củng cố kiến thức  9 90 Khâu kiểm tra, đánh giá  0 0 5. Mục đích sử dụng thí nghiệm: Thông báo kiến thức mới  2 20 Minh họa cho kiến thức lí thuyết  8 80 Củng cố, mở rộng kiến thức của HS.  9 90 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS  0 0 0 0 10 100 6. Các trang thiết bị nhà trường chuẩn bị có đủ để làm các TN SH 11 không? Có  Không 7. Khi sử dụng thí nghiệm thường căn cứ vào những đặc điểm nào sao đây: Mục đích bài dạy  10 100 Nội dung bài dạy  10 100 Đặc điểm nhận thức của HS  10 100 Đặc điểm đồ dùng dạy học  10 100 Nguyễn Thị Thu Hằng 17 K34B Sinh – KTNN Khóa luận tốt nghiệp đại học Khả năng thành thạo của GV GVHD: Ths. An Biên Thùy  8 80  0 0 Vừa đủ  1 10 Thiếu 9 90 Lí do khác 8. Thời gian tiến hành các thí nghiệm có đủ không? Thừa  Kết quả thu được cho thấy: Hiện nay, giáo viên THPT đều đánh giá cao tầm quan trọng và sự cần thiết của việc sử dụng TN trong quá trình dạy học. 100% GV được khảo sát đều khẳng định không thể thiếu TN trong quá trình dạy học SH. Theo đánh giá của giáo viên THPT, việc sử dụng các TN trong dạy học SH tạo được hứng thú cho HS (80%), phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS trong quá trình học tập (100%), đảm bảo cho HS nắm kiến thức vững chắc (90%). Trong các trường THPT hiện nay, GV đã sử dụng TN trong quá trình dạy học nhưng mức độ sử dụng là không thường xuyên (60% GV thỉnh thoảng có sử dụng và 10% GV không bao giờ sử dụng). TN chủ yếu được GV sử dụng trong khâu ôn tập, củng cố kiến thức (90%), trong khâu nghiên cứu tài liệu mới cũng đã được các GV sử dụng các TN nhưng chủ yếu chỉ với mục đích minh họa cho kiến thức lí thuyết (80%). Còn các khâu khác của quá trình dạy học, GV rất ít đưa nội dung TN vào. Trong quá trình giảng dạy, GV đã bổ sung thêm các TN tuy nhiên ở mức độ thấp (20%). Và khi sử dụng TN, các GV thường căn cứ vào mục đích, nội dung bài dạy, đặc điểm nhận thức của HS, đặc điểm đồ dùng dạy học (100%). Nguyễn Thị Thu Hằng 18 K34B Sinh – KTNN Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: Ths. An Biên Thùy Từ sự phân tích trên cho thấy GV THPT đã có sự nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của TN trong quá trình dạy học SH. Điều đó có thể cho phép khẳng định mức độ cần thiết và ý nghĩa của TN trong dạy học ở trường THPT hiện nay. Mặc dù giáo viên đã nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của TN trong quá trình dạy học SH, nhưng việc sử dụng TN trong thực tế lại rất hạn chế. Điều này tạo nên mâu thuẫn giữa nhận thức và mức độ sử dụng TN của GV trong quá trình dạy học ở trường THPT hiện nay. b. Đối với HS Nội dung phiếu diều tra 1. Em có thích học môn SH không? Kết quả % Có  98 70 Bình thường  32 22,86 Không  10 7.14 2. Lí do tại sao? Thầy cô giáo dạy hay, dễ hiểu  69 49,28 Được quan sát trực tiếp và làm TN  50 35,71 Có nhiều ứng dụng trong thực tiễn  37 26,43 10 7.14 Lí do khác 3. Không khí của tiết học có TN như thế nào? Sôi nổi  121 86,43 Bình thường  18 12.86 Không hứng thú  1 0,71 4. Mức độ nhận thức của các em? Sâu sắc hơn  129 92,14 Bình thường  11 7,86 Hạn chế  0 0 Nguyễn Thị Thu Hằng 19 K34B Sinh – KTNN Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: Ths. An Biên Thùy 5. Thời gian tiến hành các thí nghiệm có đủ không? Thừa  0 0 Vừa đủ  0 0 Thiếu  140 140 Qua bảng số liệu trên cho thấy, nguyên nhân hàng đầu khiến HS yêu thích môn SH là phương pháp giảng dạy của thầy cô (49,28%), lí do thứ hai khiến HS yêu thích môn học này là do được quan sát và được làm TN (35,71%). Trong các tiết học có TN thì không khí lớp học sôi nổi hơn (86,43%) và mức độ nhận thức của HS cũng sâu sắc hơn (92,14%). Điều này một lần nữa đã khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động TN trong quá trình dạy học. 1.3.2 Nguyên nhân của thực trạng * Nguyên nhân khách quan Có hai nguyên nhân cơ bản: Một là: Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thực hành TN ở nhiều trường THPT chưa đảm bảo (100%) (Thiếu thiết bị hay có những thiết bị không sử dụng được). Hai là: Công tác quản lí, chỉ đạo của lãnh đạo một số trường THPT chưa sát sao, chặt chẽ. Trong đó, sự thiếu hụt về chủng loại và suy giảm về chất lượng thiết bị, dụng cụ và thời gian tiến hành TN là nguyên nguyên nhân khách quan cơ bản nhất. * Nguyên nhân chủ quan Vấn đề cốt lõi dẫn đến hiệu quả sử dụng các TN chưa cao là do khả năng và mức độ sử dụng của GV. Thực tế cho thấy, quá trình sử dụng các TN của GV còn gặp nhiều khó khăn, việc áp dụng theo đúng qui trình TN trong Nguyễn Thị Thu Hằng 20 K34B Sinh – KTNN
- Xem thêm -