Tài liệu Bổ sung tư liệu hình ảnh kĩ thuật số nhằm nâng cao chất lượng dạy học chương 2 và chương 3 - phần 1 - công nghệ 10

  • Số trang: 62 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 37 |
  • Lượt tải: 0
nguyenduychinh

Đã đăng 1600 tài liệu

Mô tả:

Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp PHẦN 1 : MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1. 1. Do yêu cầu đổi mới của phương pháp dạy học Nhận thức đúng xu thế phát triển của thời đại, Đảng ta khẳng định: “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu”. Để thực hiện quan điểm này Nhà nước đã xây dựng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo 2001 – 2010, một trong những mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển đến năm 2010 chính là: “Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp và chương trình giáo dục”, nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong tình hình đó Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến giáo dục phổ thông: Điều 24.2 Luật giáo dục đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng kỹ năng tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm, niềm vui, hứng thú học tập cho HS”. Phải đổi mới và hiện đại hóa PPDH, khắc phục kiểu dạy học thụ động thầy giảng trò ghi với phương pháp độc thoại, truyền thụ kiến thức một chiều, người dạy chú trọng giảng giải minh họa, thông báo kiến thức, HS chăm chú lắng nghe, ghi chép, lĩnh hội kiến thức một cách thụ động. Kết quả là HS chỉ biết vâng lời, làm theo, bắt chước, không năng động sáng tạo. Vì vậy, người GV cần chuyển sang phương pháp hướng dẫn ngươi học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức. Cũng như các môn học khác, SGK Công nghệ 10 được biên soạn theo hướng phát huy tính tích cực học tập của HS. Nội dung của sách không chỉ cung cấp những kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại mà còn định hướng, chỉ Trường ĐHSP Hà Nội 2 1 Khoa Sinh - KTNN Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp dẫn hoạt động dạy và học, tạo điều kiện và thúc đẩy GV đổi mới PPDH. Và để đảm bảo việc đổi mới PPDH thành công, không những đổi mới nội dung SGK mà phải đổi mới phưong pháp trình bày nội dung bài học cụ thể, đặc biệt là đổi mới và sử dụng các trang thiết bị hiện đại trong đó có cả máy vi tính làm phương tiện hỗ trợ cho việc dạy học. Bộ GD - ĐT đã đề ra chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2020 tăng cường sử dụng máy tính trong trường học, tiến tới sử dụng CNTT đưa tư liệu hình ảnh kĩ thuật số vào bài giảng để thay đổi cách dạy và học. 1. 2. Do thực tiễn dạy học bộ môn Theo quan điểm của phép tư duy biện chứng, hoạt động nhận thức của con người đi từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”. Con đường nhận thức đó được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong. Và ngày nay để thỏa mãn nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của HS, các cấp quản lí, GV cần tạo điều kiện động viên, khuyến khích HS bằng nhiều hình thức như: Đổi mới nội dung và phương pháp, chương trình giảng dạy, bổ sung kịp thời cái mới vào bài giảng, các báo cáo ngoại khóa, các chuyên đề, tổ chức các câu lạc bộ khoa học. Quá trình dạy học hiện nay được tiến hành trong điều kiện cơ sở vật chất và các phương tiện kĩ thuật dạy học ngày càng hiện đại. Cùng với sự đổi mới nội dung và PPDH nhằm phát huy tính tích cực học tập của HS, các nhà trường hiện nay cũng đã được trang bị khá đầy đủ các PTDH hiện đại như: Các phương tiện nghe nhìn, các máy móc truyền tải thông tin… Nhờ vậy mà gây hứng thú học tập của HS, giúp HS lĩnh hội nhanh, dễ dàng hơn những trí thức và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức đó vào thực tiễn cuộc sống. Đồng thời, các PTDH mới còn giúp HS thu lượm nhanh, nhiều những thông tin mới, giảm cường độ lao động của GV về mặt truyền đạt thông tin trong những Trường ĐHSP Hà Nội 2 2 Khoa Sinh - KTNN Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp bài diễn giảng, thuyết trình để tập chung suy nghĩ, tổ chức, hướng dẫn hoạt động tự học của HS. Hiện nay, một trong những hướng đổi mới trong quá trình dạy học được triển khai với nhiều ưu thế đó là ứng dụng CNTT vào trong dạy học. Ứng dụng CNTT vào trong dạy học cũng có nhiều mức độ nhưng phổ biến nhất là thiết kế bài dạy trên phần mềm Microsoft PowerPoint. Ưu thế lớn nhất của phần mền Microsoft PowerPoint không chỉ là kênh chữ với nhiều hiệu ứng mà quan trọng hơn là khả năng tích hợp kênh hình với hình ảnh sinh động trong cùng một bài trình diễn. Tuy nhiên, người GV muốn ứng dụng CNTT theo hứơng trên còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt còn thiếu cơ sở dữ liệu là các tranh ảnh, phim ở dạng kĩ thuật số phù hợp cho từng bài giảng. Mặc dù, ngày nay nhờ sự phát triển của khoa học công nghệ người GV có thể dễ dàng tìm thấy các bài giảng điện tử trên rất nhiều trang Wed với nhiều hình ảnh song các bài giảng này lại không hoàn toàn phù hợp với kiến thức của bài học. Trong giảng dạy việc sử dụng hình ảnh có vai trò rất quan trọng. Hình ảnh là hệ thống cung cấp nguồn kiến thức, hình thành và rèn luyện kỹ năng cho HS. Nó vừa làm nhiệm vụ cung cấp, định hướng tri thức vừa là phương tiện để GV hướng dẫn HS cách học, cách khai thác tri thức. Đồng thời, tạo điều kiện cho HS trong quá trình học tập vừa tiếp thu được kiến thức, vừa rèn luyện được các kỹ năng và nắm vững phương pháp học tập, tạo hứng thú cho HS. Từ hình ảnh HS có thể rèn luyện được các kỹ năng quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh... Tuy nhiên hình ảnh dùng để dạy học trong sách giáo khoa Công Nghệ 10 nói chung vẫn chưa đủ để có thể khai thác tốt lượng kiến thức cần truyền đạt. Mặt khác, nhiều GV và HS vẫn coi môn Công nghệ là môn phụ nên GV không đầu tư nhiều vào bài giảng còn HS không chú ý vào bài học. Bên Trường ĐHSP Hà Nội 2 3 Khoa Sinh - KTNN Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp cạnh đó, với môn Công nghệ 10 là môn công nghệ nông nghiệp nên kiến thức với HS ở các trường ở nông thôn thì quá trình thu nhận kiến thức có phần dễ dàng hơn còn với HS ở các trường thành phố thì sẽ thấy xa lạ và khó hiểu. Chính vì vậy, việc sử dụng hình ảnh, phim sẽ rất có ý nghĩa trong quá trình dạy học. Xuất phát từ các lí do trên, đặc biệt để hỗ trợ cho GV nguồn tư liệu hình ảnh nhằm ứng dụng CNTT vào trong dạy học Chương 2 và Chương 3 Phần 1 - Công nghệ 10 chúng tôi chọn đề tài : “Bổ sung tư liệu hình ảnh kĩ thuật số nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chương 2 và Chương 3 - Phần 1 - Công nghệ 10” nhằm cung cấp tư liệu cho GV, góp phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng dạy học Chương 2 và Chương 3 - Phần 1 - Công nghệ 10 nói riêng và dạy học môn Công nghệ nói chung. 2. Mục đích nghiên cứu Bổ sung nguồn tư liệu hình ảnh dạng kĩ thuật số thuộc nội dung Chương 2 và Chương 3 - Phần 1 - Công nghệ 10 góp phần hỗ trợ về tư liệu dạy học cho GV trong việc đổi mới PPDH theo hướng ứng dụng CNTT. Tập dượt việc nghiên cứu khoa học, rèn luyện những kỹ năng cơ bản đặc biệt là nhóm kỹ năng phân tích bài giảng, lựa chọn phương tiện. Cung cấp tư liệu tham khảo cho sinh viên mới ra trường, GV ở những nơi còn gặp nhiều khó khăn trong việc tìm tư liệu dạy học làm PTDH. 3. Giả thuyết khoa học Nếu xây dựng được nguồn tư liệu là hình ảnh hợp lí sẽ góp phần nâng cao chất lương dạy học Chương 2 và Chương 3 - Phần 1 - Công nghệ 10. 4. Đối tượng nghiên cứu Hệ thống tranh ảnh, phim bổ sung nhằm phục vụ cho quá trình dạy học Chương 2 và Chương 3 - Phần 1 - Công nghệ 10. Trường ĐHSP Hà Nội 2 4 Khoa Sinh - KTNN Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 5. 1. Phân tích mục tiêu nội dung kiến thức Chương 2 và Chương 3 - Phần 1Công nghệ 10 làm cơ sở xây dựng nguồn tư liệu trên đĩa CD. 5. 2. Đánh giá kênh hình thuộc Chương 2 và Chương 3 - Phần 1 - Công nghệ 10 làm cơ sở cho việc sưu tầm nguồn tư liệu hình ảnh. 5. 3. Sưu tầm hình ảnh, phim phù hợp với nội dung kiến thức Chương 2 và Chương 3 - Phần 1- Công nghệ 10. 5. 4. Định hướng sử dụng nguồn tư liệu hình ảnh đã tìm được phương pháp nghiên cứu. 6. Phương pháp nghiên cứu 6. 1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết Nghiên cứu các tài liệu có liên quan làm cơ sở lí luận như: Nghiên cứu các giáo trình lí luận dạy học, các giáo trình công nghệ, SGK và các tài liệu có liên quan làm cơ sở cho việc xây dựng hệ thống tư liệu hình ảnh kĩ thuật số và sử dụng chúng để tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong dạy học Chương 2 và Chương 3 - Phần 1 - Công nghệ 10 theo hướng tích cực. 6. 2. Điều tra Làm phiếu khảo sát đánh giá về khả năng tự sưu tầm, biên tập tư liệu hình ảnh của GV trong tổ chuyên môn giảng dạy bộ môn Công nghệ 10 để dạy học Chương 2 và Chương 3 - Phần 1 - Công nghệ 10 ở trường THPT Nguyễn Huệ - Thành phố Yên Bái - Tỉnh Yên Bái. 6. 3. Phương pháp chuyên gia Xin ý kiến đánh giá của thầy, cô giáo có kinh nghiệm, tâm huyết với nghề đặc biệt là GV giảng dạy trực tiếp bộ môn Công nghệ 10 và tổ chuyên môn trong trường về các mặt chủ yếu sau: - Giá trị của đề tài đối với xu hướng dạy học hiện nay. - Giá trị của đề tài đối với sinh viên sư phạm và GV mới ra trường. Trường ĐHSP Hà Nội 2 5 Khoa Sinh - KTNN Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp 6. 4. Thực nghiệm sư phạm Chủ động tác động vào HS hướng dẫn HS tham gia vào bài học có sử dụng tư liệu hình ảnh. Thu nhận thông tin về sự thay đổi chất lượng trong nhận thức và tính tích cực của HS. Đánh giá hiệu quả sư phạm, tính khả thi của bài soạn thiết kế trong phạm vi nội dung đề tài. 7. Những đóng góp mới của đề tài 7. 1. Góp phần hệ thống hóa lí luận của việc xây dựng và sử dụng các nguồn tư liệu hình ảnh. 7. 2. Xác lập quy trình xây dựng tư liệu hình ảnh kĩ thuật số. 7. 3. Xây dưng tư liệu hình ảnh hỗ trợ dạy học Chương 2 và Chương 3- Phần 1 - Công nghệ 10. 7. 4. Góp phần làm phong phú thêm hệ thống phương tiện dạy học Chương 2 và Chương 3 - Phần 1 - Công nghệ 10. 8. Giới hạn của đề tài Trong phạm vi đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu nguồn tư liệu hình ảnh kĩ thuật số để hỗ trợ dạy học Chương 2 và Chương 3 - Phần 1 - Công nghệ 10. Trường ĐHSP Hà Nội 2 6 Khoa Sinh - KTNN Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp PHẤN 2 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SƠ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. 1. Cơ sở lí luận 1. 1. 1. Tổng quan tình hình ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học trên thế giới và ở Việt Nam 1. 1. 1. 1. Tình hình sử dụng CNTT vào quá trình dạy học trên thế giới Sự bùng nổ CNTT từ những năm cuối thế kỉ 20 đã làm cho tin học hóa trong nhà trường trở thành một trào lưu mạnh mẽ trên qui mô quốc tế. Sử dụng tư liệu hình ảnh theo hướng ứng dụng CNTT với những hình ảnh, đoạn phim sinh động là một tiến bộ khoa học kĩ thuật, mũi nhọn của thời đại, máy tính điện tử được sử dụng trong quá trình dạy học để cải tiến PPDH nhằm nâng cao chất lượng dạy học và sử dụng theo hai cách: Sử dụng máy tính điện tử như công cụ dạy học và máy tính điện tử dùng như máy dạy học thay thế hoàn toàn người thầy. Sự ứng dụng CNTT ở các nước phát triển trên thế giới như : Anh, Mỹ, Pháp… mọi trẻ em đến trường đều được cấp kiến thức cơ bản về máy tính, dạy học trên máy tính, mạng Internet đã trở thành một hoạt động cơ bản của HS. Ở những nước này nếu không biết sử dụng máy vi tính cũng coi như mù chữ vì mọi hoạt động dạy học đều liên quan đến máy vi tính. Ở một số nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương CNTT và truyền thông đang được ứng dụng hết sức rộng rãi và đạt được hiệu quả cao trong các lĩnh vực hoạt động của con người tạo nên những thay đổi to lớn trong xã hội, trong đó có hoạt động dạy học sử dụng kĩ thuật số như một công cụ lao động trí tuệ mới. GV và HS ở những nước này đã từng bước làm chủ và tìm cách sử dụng nó một cách hiệu quả trong quá trình dạy học. Và ở nhiều trường học đã có phòng kĩ thuật đươc trang bị những thiết bị hiện đại như: Đầu máy video, máy quét, máy chiếu, máy chiếu đa năng... sẽ giúp GV sử Trường ĐHSP Hà Nội 2 7 Khoa Sinh - KTNN Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp dụng đĩa ghi hình và băng hình bổ sung cho bài dạy dễ dàng, thuận tiện đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy học. 1. 1. 1. 2. Tình hình ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học ở Việt Nam Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước nhất là chỉ thị 58 - CT/UW của Bộ Chính Trị ngày 07 tháng 10 năm 2001 về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT, phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác GD – ĐT. Đây là nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ đã giao cho ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005 thông qua quyết định số 81/2001/QĐ - TTg. Hiện nay các trường phổ thông điều trang bị phòng máy, phòng đa năng, nối mạng Internet và Tin học được giảng dạy chính thức. Một số trường còn trang bị thêm thiết bị ghi âm, chụp hình, quay phim (Sound Recorder, Camera, Camcorder), máy quét hình (Scanner), và một số thiết bị khác, tạo cơ sở hạ tầng CNTT cho GV sử dụng vào quá trình dạy học của mình. CNTT mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học. Những PPDH theo cách tiếp cận kiến tạo, PPDH theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi. Các hình thức dạy học như dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường CNTT và truyền thông. Chẳng hạn, cá nhân làm việc tự lực với máy tính, với Internet, dạy học theo hình thức lớp học phân tán qua mạng, dạy học qua cầu truyền hình. Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho HS nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành và phát triển cho HS các phương pháp học chủ động. Nếu trước kia người ta thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt Trường ĐHSP Hà Nội 2 8 Khoa Sinh - KTNN Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp đến phát triển năng lực sáng tạo của HS. Như vậy, việc chuyển từ “lấy GV làm trung tâm” sang “lấy HS làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn. Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, trong đó các phàn mềm giáo dục cũng đạt được những thành tựu đáng kể như: bộ Office, Cabri, Crocodile, Violet… hệ thống WWW, Elearning và các phần mền đóng gói, tiện ích khác. Do sự phát triển của CNTT và truyền thông mà mọi người đều có trong tay nhiều công cụ hỗ trợ cho quá trình dạy học nói chung và phần mềm dạy học nói riêng. Nhờ có sử dụng các phần mềm dạy học này mà HS trung bình, thậm chí HS trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt trong môi trường học tập. Phần mềm dạy học được sử dụng ở nhà cũng sẽ nối dài cánh tay của GV tới từng gia đình HS thông qua hệ thống mạng. Nhờ có máy tính điện tử mà việc thiết kế giáo án và giảng dạy trên máy tính trở nên sinh động hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với cách dạy theo phương pháp truyền thống, chỉ cần “bấm chuột”, vài giây sau trên màn hình hiện ra ngay nội dung của bài giảng với những hình ảnh, âm thanh sống động thu hút được sự chú ý và tạo hứng thú nơi HS. Thông qua giáo án điện tử, GV cũng có nhiều thời gian đặt các câu hỏi gợi mở tạo điều kiện cho HS hoạt động nhiều hơn trong giờ học. Những khả năng mới mẻ và ưu việt này của CNTT và truyền thông đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy và quan trọng hơn cả là cách ra quyết định của con người. Do đó, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho HS, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là “thầy đọc, trò chép” như kiểu truyền thống, HS được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình. Trường ĐHSP Hà Nội 2 9 Khoa Sinh - KTNN Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp Ở Việt Nam, những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế CNTT đang phát triển mạnh mẽ. CNTT được được đưa vào nhiều ngành song việc nghiên cứu ứng dụng CNTT vào phục vụ giáo dục và đào tạo còn hạn chế và chưa được quan tâm đúng mức. Ở các trường THPT nhiều nơi đã được trang bị một số lượng máy vi tính nhất định máy vi tính song thiết bị thiếu đồng bộ. GV bộ môn gặp khó khăn vì thiếu nguồn tư liệu hình ảnh kĩ thuật số và kĩ năng sử dụng máy tính hoặc sử dụng không hợp lí làm ảnh hưởng đến sự chú ý của HS, mạch tiếp thu kiến thức trong giờ học bị gián đoạn, hiệu quả giờ học không cao. Bên cạnh đó, khả năng thiết kế đồ dùng dạy học, các phương tiện trực quan đặc biệt các phương tiện trực quan có ứng dụng CNTT vào dạy học còn hạn chế. Năng lực sử dụng CNTT của GV nói chung và GV Công nghệ nói riêng còn yếu. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản làm hạn chế kết quả dạy học. Muốn GV thiết kế và sử dụng có hiệu quả phương tiện trực quan cần phải xây dựng mẫu sẵn, chuyển thành các đồ dùng dạy học đơn giản và có hướng dẫn sử dụng. Cũng có thể nhận thấy, phần mềm được GV nói chung và GV Công nghệ nói riêng sử dụng chủ yếu trong dạy học là phần mềm Microsoft PowerPoint. Đây là phần mềm dễ học, dễ sử dụng và trong tương lai phần mềm này vẫn chiếm ưu thế. Tuy nhiên, khó khăn của GV khi sử dụng phần mềm này là trong việc thiết kế không chỉ cần kĩ thuật mà còn cần lựa chọn nguồn tư liệu hình ảnh kĩ thuật số bổ sung để đưa vào bài dạy. 1. 1. 2. Tổng quan tình hình ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học môn Công nghệ 10 Với sự phát triển của khoa học công nghệ việc ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học là hết sức cần thiết với tất cả các môn học, trong đó có môn Công nghệ 10. Chính những quan niệm sai lệch về môn học chính, môn học Trường ĐHSP Hà Nội 2 10 Khoa Sinh - KTNN Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp phụ đã làm ảnh hưởng đến tâm lí của GV và HS, ảnh hưởng đến tầm quan trong của môn Công nghệ 10 nói riêng và môn Công nghệ nói chung trong quá trình dạy học. Do vậy, GV muốn tạo sự hứng thú cho HS trong các bài giảng cần đầu tư thời gian, tâm huyết và sử dụng các PTDH dạng hình ảnh, phim sống động và chân thực vào các bài học. Nắm được các yêu cầu đó, hiện nay việc ứng dụng CNTT vào trong dạy học môn Công nghệ đã được chú ý và bước đầu mang lại hiệu quả nhất định. Việc ứng dụng CNTT trong dạy học Công nghệ 10 nói riêng và môn Công nghệ nói chung còn có ý nghĩa với những trường học ở thành phố, đa số HS không có điều kiện nắm bắt kiến thức thực tiễn nên các bài giảng nếu có hình ảnh, phim phục vụ cho nội dung bài học sẽ giúp cho HS thích thú, thoải mái hơn trong giờ học. 1. 1. 3. Khái quát về PTDH 1. 1. 3. 1. Khái niệm PTDH PTDH là đối tượng vật chất giúp cho GV và HS tổ chức có hiệu quả quá trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học. Nhờ những đối tượng vật chất này, GV tiến hành tổ chức, điều khiển quá trình dạy học giúp HS tự tổ chức hoạt động nhận thức của mình một cách có hiệu quả. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về PTDH. Theo Nguyễn Ngọc Quang, “PTDH bao gồm mọi thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo”. Trong các tài liệu về lí luận dạy học, coi PTDH có cùng khái niệm với phương tiện trực quan đó là những vật thật, vật tượng hình và các vật tạo hình được sử dụng để dạy học. 1. 1. 3. 2. Phân loại Hiện nay, các phương tiện và thiết bị dạy học rất đa dạng và hiện đại. Vì vậy, phân loại các phương tiện thiết bị dạy học có nhiều cách song để đi Trường ĐHSP Hà Nội 2 11 Khoa Sinh - KTNN Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp sâu vào PTDH cụ thể có thể phân loại dưạ theo: Nguyên lí hoạt động, chức năng, cấu tạo, tính chất, cách sử dụng, mức độ chế tạo phức tạp. Dựa vào nguyên lý hoạt động và chức năng của phương tiện. PTDH có thể được phân làm hai phần: Phần cứng và phần mềm. - Phần cứng bao gồm các phương tiện được cấu tạo trên cơ sở các nguyên lý thiết kế về cơ, điện, điện tử... theo yêu cầu biểu diễn nội dung bài giảng. Các phương tiện này có thể là: Các máy chiếu (phim, ảnh, xi nê), radio, ti vi, máy dạy học, máy tính điện tử, máy phát thanh và truyền hình...Phần cứng là kết quả tác động của sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong nhiều thế kỷ. Khi sử dụng phần cứng, người GV đã cơ giới hóa và điện tử hóa quá trình dạy học, mở rộng không gian lớp học và phạm vi kiến thức truyền đạt. - Phần mềm là những phương tiện trong đó sử dụng các nguyên lý sư phạm, tâm lý, khoa học kĩ thuật để xây dựng lên cho HS một khối lượng kiến thức hay cải thiện hành vi ứng xử cho HS. Phần mềm bao gồm: Chương trình môn học, báo chí, sách vở, tạp chí, tài liệu giáo khoa. Dựa vào mục đích sử dụng có thể phân loại các PTDH thành hai loại: Phương tiện dùng trực tiếp để dạy học và phương tiện dùng để hỗ trợ, điều khiển quá trình dạy học. - Phương tiện dùng trực tiếp để dạy học bao gồm những máy móc, thiết bị và dụng cụ được GV sử dụng trong giờ dạy để trình bày kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho HS. Đó có thể là: + Máy chiếu (truyền xạ, phản xạ), máy chiếu phim dương bản, máy chiếu phim, máy ghi âm, máy quay đĩa, máy thu hình, máy dạy học, máy tính điện tử, máy quay phim. + Các tài liệu in (sách giáo khoa, sách chuyên môn, các tài liệu chép tay, sổ tay tra cứu, sách bài tập, chương trình môn học...) Trường ĐHSP Hà Nội 2 12 Khoa Sinh - KTNN Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp + Các phương tiện mang tin thính giác, thị giác và hỗn hợp (băng ghi âm, đĩa ghi âm, các chương trình phát thanh, tranh vẽ, biểu bảng, bản đồ, đồ thị, ảnh, phim dương bản, phim cuộn, buổi truyền hình...) + Các vật mẫu, mô hình, tranh lắp ghép, phương tiện và vật liệu thí nghiệm, máy luyện tập, các phương tiện sản xuất. - Phương tiện hỗ trợ và điều khiển quá trình dạy học là những phương tiện được sử dụng để tạo ra một môi trường học tập thuận lợi, có hiệu quả và liên tục. + Phương tiện hỗ trợ bao gồm các loại bảng viết, các giá di động hoặc cố định, bàn thí nghiệm, thiết bị điều khiển âm thanh, ánh sáng. + Phương tiện điều khiển bao gồm các loại sổ sách, tài liệu ghi chép về tiến trình học tập, về thành tích học tập của HS. Dựa vào cấu tạo của phương tiện có thể phân các loại PTDH thành hai loại: Các phương tiện truyền thống và các phương tiện nghe nhìn hiện đại. Dựa theo chế độ phức tạp có: - Loại chế độ phức tạp - Loại chế độ không phức tạp 1. 1. 3. 3. Vai trò của PTDH Lí luận dạy học và thực tiễn dạy học đã khẳng định rằng: Các PTDH và thiết bị dạy học là một yếu tố trong chỉnh thể của quá trình dạy học. Trong quá trình nhận thức thế giới vi mô và vĩ mô, vai trò của các PTDH tỏ ra rất có hiệu quả. Với các cơ quan cảm giác thông thường, con người khó có thể quan sát được thế giới rộng lớn, bao la và cực kì bé nhỏ. Nhờ có các công cụ có kĩ năng kĩ thuật cao, con người có thể rút ngắn khoảng cách, thu nhỏ khối lượng hoặc kích thước, làm chậm lại quá trình phát triển của đối tượng nghiên cứu, v.v… Có thể nói, việc nhận thức thế giới vi mô và vĩ mô luôn gắn liền với sự phát triển của kĩ thuật công nghệ chế tạo công cụ Trường ĐHSP Hà Nội 2 13 Khoa Sinh - KTNN Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp hiện đại. Cũng theo đó, những thành quả của những loại kĩ thuật này được vận dụng vào việc dạy học, làm xuất hiện những PTDH tương ứng, tạo ra những điều kiện thuận lợi nhằm thúc đẩy quá trình nhận thức của HS. Có thể thấy rõ vị trí của PTDH trong mối quan hệ với các yếu tố cấu trúc quá trình dạy học trong sơ đồ dưới đây : Mục tiêu, kế hoạch dạy hoc Nội dung dạy học Phương tiện dạy học Phương pháp dạy học PTDH là một yếu tố quan trọng trong quá trình dạy học, giúp gắn kết các yếu tố cấu trúc trong quá trình dạy học thành một chỉnh thể toàn vẹn. Sự có mặt của PTDH giúp vận hành, thúc đẩy quá trình dạy học đạt kết quả cao. Có thể tóm tắt vai trò của PTDH như sau: - Giúp HS dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn. PTDH tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu dạng bề ngoài của đối tượng và các tính chất có thể tri giác trực tiếp của chúng. Và giúp cụ thể hóa những đối tượng quá trừu tượng, đơn giản hóa những đối tượng phức tạp. - PTDH giúp làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập bộ môn, nâng cao lòng tin của HS vào khoa học. - PTDH còn giúp cho HS phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra những kết luận có độ tin cậy...) - Giúp GV tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học. Giúp GV điều khiển được hoạt động nhận thức của HS, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của các em được thuận lợi và có hiệu suất cao. Trường ĐHSP Hà Nội 2 14 Khoa Sinh - KTNN Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp Tóm lại, PTDH học góp phần nâng cao hiệu suất lao động của thầy và trò. 1. 1. 4. Vai trò của “Tư liệu hình ảnh kĩ thuật số” trong quá trình dạy học. 1. 1. 4. 1. Khái niệm “Hình ảnh” và “Tư liệu hình ảnh kĩ thuật số” Hình ảnh là những gì chúng ta thấy được thông qua thị giác rồi sau đó chuyển về não giúp ta cảm nhận hình ảnh đó một cách chân thực nhất từ đó đưa ra những phản xạ, cảm nhận về hình ảnh mà ta vừa thu nhận. Tư liệu hình ảnh kĩ thuật số là một dạng công cụ hỗ trợ đa phương tiện, một dạng phương tiện mới xuất hiện trong thời đại CNTT. 1. 1. 4. 2. Vai trò “Tư liệu hình ảnh kĩ thuật số” Trong quá trình dạy học, các PTDH cụ thể là các hình ảnh sẽ giảm nhẹ công việc của GV và giúp cho HS tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi. Có được các hình ảnh thích hợp, người GV sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của HS trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, tạo ra cho HS những tình cảm tốt đẹp với môn học. Do đặc điểm của quá trình nhận thức, mức độ tiếp thu kiến thức mới của HS tăng dần theo các cấp độ của tri giác: Nghe - thấy - làm được (những gì nghe được không bằng những gì nhìn thấy và những gì nhìn thấy thì không bằng những gì tự tay làm) nên khi đưa những phương tiện vào quá trình dạy học, GV có điều kiện để nâng cao tính tích cực, độc lập của HS và từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo của HS. 1. 2. Cơ sở thực tiễn – nghiên cứu xây dựng “Tư liệu hình ảnh kĩ thuật số” hỗ trợ dạy học Chương 2 và Chương 3 - Phần 1 - Công nghệ 10 1. 2. 1. Đặc điểm mục tiêu dạy học Chương 2 và Chương 3 - Phần 1 Công nghệ 10 Trường ĐHSP Hà Nội 2 15 Khoa Sinh - KTNN Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp 1. 2. 1. 1. Về kiến thức Trang bị cho HS những kiến thức cơ bản đại cương về chăn nuôi thủy sản. Cụ thể: - Những kiến thức đại cương về giống vật nuôi và thủy sản bao gồm quy luật sinh trưởng phát dục của vật nuôi, các phương pháp chọn lọc nhân giống vật nuôi và thủy sản, kĩ thuật sản xuất giống vật nuôi và thủy sản, cơ sở khoa học và quy trình công nghệ tế bào trong sản xuất giống vật nuôi. - Những kiến thức cơ bản về dinh dưỡng và thức ăn của vật nuôi bao gồm nhu cầu dinh dưỡng, tiêu chuẩn, khẩu phần ăn của vật nuôi, sản xuất thức ăn cho vật nuôi và thủy sản, cở sở kĩ thuật và quá trình ứng dụng công nghệ vi sinh để chế biến thức ăn chăn nuôi. - Trang bị những kiến thức cơ bản và đại cương về môi trường sống của vật nuôi và thủy sản bao gồm xây dựng chuồng trại, chăn nuôi, chuẩn bị ao nuôi cá. - Trang bị cho HS những kiến thức cơ bản đại cương về phòng và chữa bệnh cho vật nuôi, thủy sản bao gồm điều kiện phát sinh, phát triển bệnh của vật nuôi. Cơ sở khoa học và quy trình ứng dụng công nghệ gen, công nghệ vi sinh trong sản xuất văcxin và một số… thường dùng trong chăn nuôi thủy sản. Trang bị cho HS những kiến thức cơ bản, đại cương về bảo quản chế biến nông, lâm, thủy sản. Bao gồm: Nội dung, ý nghĩa của công tác bảo quản, chế biến nông, lâm, thủy sản. Đặc điểm của nông, lâm, thủy sản; ảnh hưởng của môi trường đến nông, lâm, thủy sản. Các biện pháp bảo quản thịt, trứng, sữa. Chế biến lương thực, thực phẩm, chế biến các sản phẩm chăn nuôi thủy sản, chế biến các sản phẩm của cây công nghiệp, chế biến gỗ. 1. 2. 1. 2. Kĩ năng Phối hợp được khẩu phần ăn cho vật nuôi. Trường ĐHSP Hà Nội 2 16 Khoa Sinh - KTNN Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp Thực hiện được quy trình sản xuất thức ăn hỗn hợp cho cá theo công thức thức ăn hỗn hợp có sẵn. Nhận biết, mô tả được triệu chứng, bệnh tích điển hình của vật nuôi, thủy sản bị bệnh truyền nhiễm. Chế biến được rau, quả bằng một số phương pháp đơn giản. Thực hiện một số thao tác kĩ thuật cơ bản, cần thiết trong quy trình công nghệ sản xuất giống cây trồng (chiết cành, giâm cành, ghép mắt…), vật nuôi. Thực hiện được một số quy định đơn giản trong bảo quản, chế biến một số nông, lâm, thủy sản chủ yếu. 1. 2. 1. 3. Thái độ Quan tâm tới công tác giống vật nuôi trong chăn nuôi, thủy sản. Hứng thú tìm hiểu công nghệ bảo quản, chế biến sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp. Có ý thức bảo quản sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp. Tích cực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn đời sống và sản xuất. 1. 2. 2. Đăc điểm sinh lí của HS THPT – HS lớp 10 1. 2. 2. 1. Cơ sở sinh lí của HS THPT – HS lớp 10 Vận dụng qui luật hoạt động của hệ thần kinh cấp cao và học thuyết Pavlov (Pavlov là một nhà sinh lý học, tâm lý học và thầy thuốc người Nga) vào trong day học thì có thể nói: Thời gian kéo dài, lời giảng đều đều của thầy cô giáo, bài giảng kém hấp dẫn… là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng, mệt mỏi, chán nản cho HS. Chính vì vậy để HS tập trung và có giờ học hiệu quả cần có những hoạt động và cách thức khác nhau. Và có thể xem việc sử dụng phương tiện trực quan sinh động, hấp dẫn là một cách tạo sự hứng thú cho HS giúp đạt hiệu quả cao trong học tập. Trường ĐHSP Hà Nội 2 17 Khoa Sinh - KTNN Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp 1. 2. 2. 2. Cở sở tâm lí Nhiều nhà tâm lí lứa tuổi đặc biệt là lứa tuổi HS đã được rất nhiều nhà tâm lí quan tâm và họ quan tâm rất nhiều đến việc tạo nhu cầu, hứng thú của HS trong quá trình học tập. Việc hiểu tâm lí HS ở từng lứa tuổi để từ đó có cách dạy học cho việc dạy học là rất quan trọng. Có thể kể đến một vài đặc điểm tâm lí của lứa tuổi HS phổ thông như: Các em đã có ý thức cao trong học tập và lao động, tư duy phát triển, khả năng tiếp thu bài giảng nhanh… Tuy nhiên, HS còn thiếu tính kiên nhẫn khi bài học kéo dài. Những bài học khô khan, kém hấp dẫn dễ gây nhàm chán, mệt mỏi cho HS ảnh hưởng đến việc học tập của các em. Đã có rất nhiều cách để khắc phục hiện tượng trên, trong đó sự hỗ trợ của PTDH có thể giúp phát huy tối đa khả năng phát triển trí tuệ của lứa tuổi này. Với các môn học nói chung và Công nghệ 10 nói riêng vẫn được coi là môn học thuộc và nhớ máy móc trong khi đó là môn thực nghiệm, khả năng ứng dụng thực tế cao, đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của phương tiện trực quan, của thực hành, thí nghiệm. 1. 2. 3. Thực trạng việc sử dụng “Tư liệu hình ảnh kĩ thuật số” trong dạy học Chương 2 và chương 3 - Phần 1 - Công nghệ 10 Để tìm hiểu thực trạng việc sử dụng “Tư liệu hình ảnh kĩ thuật số” trong dạy học Chương 2 và Chương 3 - Phần 1- Công nghệ 10 chúng tôi tiến hành khảo sát qua phiếu khảo sát. - Mục đích khảo sát : Nhằm đánh giá thực trạng việc sử dụng “Tư liệu hình ảnh kĩ thuật số” trong dạy học môn Công nghệ 10 nói chung và dạy học Chương 2 và Chương 3 - Phần 1 - Công nghệ 10 nói riêng làm cơ sở thực tiễn cho đề tài. - Đối tượng khảo sát : GV dạy môn Công nghệ 10. Trường ĐHSP Hà Nội 2 18 Khoa Sinh - KTNN Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp - Nội dung khảo sát: Trong giới hạn của đề tài, tiến hành khảo sát với các nội dung: + Phương pháp chủ yếu được GV sử dụng trong dạy học Chương 2 và Chương 3 - Phần 1 - Công nghệ 10. + Loại phương tiện dạy học thường sử dụng trong dạy học Chương 2 và Chương 3 - Phần 1 - Công nghệ 10. + Hướng sử dụng “Tư liệu hình ảnh kĩ thuật số” trong dạy học Chương 2 và Chương 3 - Phần 1 - Công nghệ 10. + Nội dung GV mong muốn hỗ trợ “Tư liệu hình ảnh kĩ thuật số” trong dạy học Chương 2 và Chương 3 - Phần 1 - Công nghê 10. - Phương pháp khảo sát: Khảo sát bằng phiếu khảo sát nhằm thu thập thông tin từ GV bộ môn về một số nội dung đã xây dựng. Tổng kết các kết quả khảo sát về các nội dung trên, qua thực tiễn chúng tôi rút ra kết luận như sau: Trong dạy học môn Công nghệ 10 hiện nay đã ứng dụng các PTDH hiện đại như máy chiếu, máy chiếu cảm ứng đã mang lại hiệu quả song việc ứng dụng các phương tiện đó còn gặp nhiều sai sót như sau: + Một trong những sai sót chủ yếu là đánh giá chưa đúng (quá thấp hoặc quá cao) vai trò của PTDH cụ thể là bổ sung nguồn tư liệu hình ảnh kĩ thuật số. Do đánh giá chưa đúng nên nhiều GV chỉ thấy được chức năng minh họa của các hình ảnh mà quên rằng mỗi hình ảnh có thể mang một lượng tin lớn đến cho HS. Do đánh giá thấp các PTDH mà một số GV coi thường các PTDH và cho rằng không cần phải có PTDH thì họ vẫn có thể dạy tốt và HS vẫn tiếp thu tốt. Việc đánh giá quá cao vai trò của PTDH dẫn đến tình trạng GV luôn luôn bị động, không phát huy được tính năng động sáng tạo của mình và của HS. Điều đó dẫn đến sự quá tải, làm cho HS không thể thấu hiểu Trường ĐHSP Hà Nội 2 19 Khoa Sinh - KTNN Nguyễn Thị Thanh Tám - K34D Khoá luận tốt nghiệp vấn đề. Trong trường hợp này GV chỉ đóng vai trò người giới thiệu các PTDH. + Sai sót tiếp theo của GV là không bảo đảm được tính đúng lúc, đúng chỗ của việc sử dụng tư liệu hình ảnh. GV thường đưa ra hàng loạt tranh ảnh quá lâu trong lớp học. Điều đó làm cho HS mất đi cảm giác mới mẻ hàng ngày khi vào lớp. Khi GV giảng bài trên các tranh ảnh khác, HS sẽ bị phân tán tư tưởng. GV phạm phải sai sót này là do họ không tính đến khía cạnh cảm xúc của PTDH, không dựa vào khả năng đặc thù của chúng và hoàn cảnh cụ thể. + Đối với phương tiện nghe nhìn thì sai sót điển hình là việc sử dụng quá hạn chế vì một số GV còn lúng túng cho việc thiết kế soạn giảng ví dụ như soạn giảng ở chương trình chiếu Microsoft PowerPoint là việc tạo các hiệu ứng, khai thác các tư liệu, các hình ảnh từ đâu, khai thác như thế nào nên khi soạn giảng thường phải mất rất nhiều thời gian vì thế nhiều GV còn ngại soạn giảng bằng chương trình trình chiếu Microsoft PowerPoint. GV chỉ chú trọng đến khả năng minh họa mà quên rằng chúng có thể là nguồn tin cơ bản trên lớp. Ngoài ra nhờ phương tiện nghe nhìn GV có thể tổ chức các bài tập về nhận thức và xây dựng các tình huống nêu vấn đề. + Một số GV thường sử dụng hình ảnh, phim dạy học sai mục đích và nội dung (ví dụ phim dùng để dạy thực hành lại dùng trong giờ học lý thuyết) hoặc sử dụng không đúng thời điểm (quá sớm hoặc quá trễ so với nội dung lý thuyết). Từ những sai sót nêu trên có thể rút ra kết luận là: Việc áp dụng nguồn tư liệu hình theo hướng ứng dụng CNTT ở trường THPT đòi hỏi người GV phải được chuẩn bị kỹ càng và phải làm quen trước với nội dung và công dụng của chúng. Kiến thức về phương pháp của GV trong lĩnh vực sử dụng tư liệu hình ảnh cũng là một yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của việc áp dụng PTDH. Trường ĐHSP Hà Nội 2 20 Khoa Sinh - KTNN
- Xem thêm -