Biểu hiện xúc cảm – tình cảm của trẻ mồ côi 7 -11 tuổi qua tranh vẽ tại làng trẻ em sos gò vấp thành phố hồ chí minh

  • Số trang: 132 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 22 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Trần Thị Thu Vân BIỂU HIỆN XÚC CẢM – TÌNH CẢM CỦA TRẺ MỒ CÔI 7 -11 TUỔI QUA TRANH VẼ TẠI LÀNG TRẺ EM SOS GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC Thành phố Hồ Chí Minh 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Trần Thị Thu Vân BIỂU HIỆN XÚC CẢM – TÌNH CẢM CỦA TRẺ MỒ CÔI 7 -11 TUỔI QUA TRANH VẼ TẠI LÀNG TRẺ EM SOS GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành : Tâm lý học Mã số : 60 31 04 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ THỊ MINH HÀ Thành phố Hồ Chí Minh 2013 LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Tâm lý giáo dục và phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành chương trình học cũng như luận văn này. Chân thành cảm ơn TS Lê Thị Minh Hà là người giảng dạy và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn này. Xin cảm ơn ban lãnh đạo, các giáo dục viên, các mẹ và tất cả các trẻ của Làng trẻ em SOS Tp HCM đã tham gia nhiệt tình trong suốt quá trình nghiên cứu của tôi. Cảm ơn BS Nguyễn Minh Tiến và chi hội tâm lý Trăng Non (Thuộc hội Tâm lý – Giáo dục Tp HCM) đã định hướng, giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này. Cảm ơn cha mẹ, gia đình, những người thân và bạn bè đã luôn sát cánh, giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần để tôi có thể đi đến giai đoạn hoàn thiện cuối cùng. 3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các phân tích, nhận định trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào. Tác giả Trần Thị Thu Vân 4 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN .........................................................................................................................3 LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................................4 MỤC LỤC ...............................................................................................................................5 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ....................................................................................8 MỞ ĐẦU .................................................................................................................................8 2. Mục đích nghiên cứu: .............................................................................................10 3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu: ......................................................................10 4. Giả thuyết nghiên cứu .............................................................................................10 5. Nhiệm vụ nghiên cứu ..............................................................................................10 6. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................10 7. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu............................................................11 7.1. Cách tiếp cận ..............................................................................................................11 7.2. Các phương pháp nghiên cứu .............................................................................11 Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN ..............................................................................................13 1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................13 1.1.1. Ở nước ngoài ........................................................................................................13 1.1.2. Ở Việt Nam ...........................................................................................................14 1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu ..................................................................15 1.2.1. Khái niệm trẻ mồ côi ............................................................................................15 1.2.2. Khái niệm về các loại xúc cảm – tình cảm:.........................................................16 1.2.3. Đặc điểm xúc cảm – tình cảm của trẻ trong độ tuổi 7 – 11 tuổi (độ tuổi tiểu học) 18 1.2.4. Tranh vẽ của trẻ em ..............................................................................................21 Phóng chiếu (Projection) ..................................................................................................24 5 1.2.5. Sự bộc lộ xúc cảm - tình cảm của trẻ qua tranh vẽ ............................................27 1.3. Kỹ thuật phân tích tranh vẽ của trẻ .....................................................................29 1.3.1. Quan sát khi trẻ vẽ tranh .....................................................................................29 1.3.2. Thu thập thông tin khi trẻ hoàn thành ................................................................30 1.3.3. Kỹ thuật phân tích tranh vẽ .................................................................................30 1.3.4. Một số chỉ dẫn cụ thể về kỹ thuật xem tranh ......................................................31 1.3.4.1. Những biểu hiện về nội dung hình vẽ ..........................................................31 1.3.4.2. Những biểu hiện về mặt hình thức của bức tranh .......................................35 1.3.4.3. Sử dụng màu sắc .........................................................................................37 1.3.4.4. Vị trí hình vẽ - biểu tượng không gian của hình vẽ .....................................40 1.3.5. Cách “đọc” tranh vẽ của trẻ: ...............................................................................42 1.3.5.1. Đọc trực cảm (ấn tượng tổng thể ban đầu).................................................42 1.3.5.2. Đọc bình thường..........................................................................................42 1.3.5.3. Đọc phân tích diễn giải ...............................................................................42 Chương 2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...............................................................................46 2.1. Tổng quan về Làng trẻ em SOS ...........................................................................46 2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng ................................................................................48 2.3. Kết quả nghiên cứu sự biểu hiện xúc cảm – tình cảm của trẻ qua tranh vẽ .....49 2.3.1. Các trường hợp nghiên cứu .................................................................................49 2.3.2. Đặc điểm chung của các trường hợp ................................................................107 2.3.3. Một số ý kiến của các giáo dục viên và các mẹ ở Làng SOS ............................108 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...........................................................................................115 1. Kết luận ..................................................................................................................115 2. Kiến nghị ................................................................................................................118 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................................122 PHỤ LỤC ............................................................................................................................125 6 PHỤ LỤC 1:Câu hỏi phỏng vấn ....................................................................................125 PHỤ LỤC 2: ....................................................................................................................125 PHỤ LỤC 3: TÓM TẮT CÁC TRƯỜNG HỢP .............................................................126 7 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TH1-H1-Vẽ nhà – Nam 11t: trường hợp 1, hình 1, vẽ nhà, đối tượng: nam 11 tuổi. TH2-H2-Vẽ người – Nam 11t: trường hợp 2, hình 2, vẽ người, đối tượng: nam 11 tuổi. Làng: làng trẻ em SOS – Gò Vấp – Thành phố Hồ Chí Minh. Bà mẹ SOS: người mẹ ở làng trẻ em SOS - Gò Vấp – Thành phố Hồ Chí Minh. 8 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao, cùng theo đó các nhu cầu của con người về đời sống vật chất cũng như tinh thần đang tiến dần lên những nấc thang mới. Ngoài nhu cầu vật chất đã trở thành tiền đề cơ bản, loài người ngày càng quan tâm hơn đến đời sống tinh thần với rất nhiều nhu cầu khác nhau như giải trí, giải tỏa căng thẳng, chăm sóc tinh thần, cảm nhận nghệ thuật và đặc biệt là nhu cầu bộc lộ xúc cảm, tình cảm của bản thân. Trong quá trình sống, con người tác động vào thế giới khách quan, cải tạo thế giới, cải tạo xã hội nhằm phục vụ cho đời sống, đồng thời cũng cải tạo chính bản thân mình. Không những thế, con người còn tỏ thái độ của mình với thế giới. Khi nghe một bản nhạc, một bài thơ hay, chứng kiến một hoàn cảnh thương tâm con người đều có những rung động của bản thân mình. Khi thoả mãn hay không được thoả mãn những nhu cầu của bản thân, con người cũng có những cảm xúc tương ứng. Những hiện tượng tâm lý biểu lộ những rung động, những thái độ của con người đối với sự vật hiện tượng đó gọi là cảm xúc và tình cảm. Cảm xúc và tình cảm của con người rất phong phú và đa dạng, thể hiện qua nhiều cung bậc, cấp độ khác nhau. Cảm xúc cũng đã xuất hiện ở con người từ rất sớm, khi mới sinh, nhưng cách bộc lộ cảm xúc ở trẻ nhỏ lại là một quá trình dài theo năm tháng, hình thành từ việc trẻ giao tiếp với người thân (cha, mẹ, ông bà…) và học hỏi bằng cách nhìn người lớn giao tiếp hàng ngày.Cách bộc lộ cảm xúc của trẻ ảnh hưởng rất nhiều bởi cách chăm sóc của cha mẹ và quá trình dạy dỗ mà trẻ nhận được. Một trong những phương tiện để con người bộc lộ xúc cảm tình cảm của mình ngôn ngữ - một hệ thống tín hiệu (chữ viết và lời nói) dùng để thông tin liên lạc. Nói rộng hơn, ngôn ngữ là các công cụ (có lời và không lời) dùng để truyền thông giao tiếp. Một trong những ngôn ngữ không lời đó là tranh vẽ - tranh vẽ được dùng để phản ánh con người, qua đó con người bộc lộ tâm tư, cảm xúc, tình cảm. Ở bất cứ thời đại nào, lứa tuổi nào con người đều có thể bộc lộ tâm tư qua hình vẽ. Ngay cả khi có sự khác biệt về ngôn ngữ hay mất khả năng nói, con người vẫn có thể hiểu nhau qua tranh vẽ. Do đó truyền đạt bằng hình vẽ có tính nguyên sơ, cơ bản và phổ biến. Nó có thể dùng cho nhiều người, nhiều đối tượng khác nhau, dù biết chữ hay không biết chữ, dù biết nói hay không biết nói... đặc biệt là cho trẻ em. Những nét vẽ nguệch ngoạc, đơn điệu tưởng chừng vô nghĩa, nhưng trong nghiên cứu, tìm hiểu tâm lý của trẻ, những “tác phẩm” đó vô cùng có giá trị. Qua nét vẽ trẻ bộc lộ 8 cảm xúc, sự nhận thức, thái độ...đồng thời nó cũng trở thành phương tiện giao tiếp của trẻ với thế giới bên ngoài. Ngoài ra, tranh vẽ có ý nghĩa lớn trong khoa học nghiên cứu tâm lý trẻ em. Đây là một vấn đề không hề đơn giản trong tâm lý lâm sàng trẻ em. Ở Việt Nam, tuy chưa có nhiều công trình nghiên cứu về hình vẽ của trẻ nhưng một số tác giả cũng đã sử dụng tranh vẽ trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về trẻ em, gợi mở nhiều vấn đề lý thú cần đào sâu. Do đó bản thân người viết muốn tiếp cận, tìm hiểu tình cảm của trẻ em qua tranh vẽ để có thể hiểu thêm về cảm xúc, tình cảm của trẻ trước cuộc sống, mong muốn và tương lai. Gia đình là tổ ấm an toàn nhất của đa phần mọi người, là nơi nuôi dưỡng, ấp ủ để mỗi người trưởng thành, là cội nguồn phát sinh tình thương. Đã là con người ai chẳng mong muốn được mẹ cha thương yêu, chăm sóc. Tuy nhiên, không phải ai cũng may mắn có được điều đó. Nhiều trẻ nhỏ không biết đến hơi ấm của mẹ ngay từ khi lọt lòng, hình ảnh người cha, người mẹ trở nên xa lạ, cao vời. Sự thèm khát một mái ấm, sự chăm sóc, bảo bọc của mẹ cha nhưng không được. Đối với các em tất cả chỉ là mơ, những giấc mơ rất đỗi bình thường, dung dị, được sống trong vòng tay của mẹ cha như bao nhiêu đứa trẻ khác nhưng lại vô cùng xa vời. Các em luôn thường trực sự thèm khát có mẹ, có cha, các em mất đi chỗ dựa an toàn nhất của cuộc đời, mất đi sự yêu thương vô điều kiện. Liệu sự chở che, yêu thương của những người khác thay thế bố mẹ có thể bù đắp được những gì các em đã mất. Trong quá trình làm việc với nhiều đối tượng trẻ em, người viết cảm nhận được sự thiếu vắng, lạnh lẽo trong tâm hồn các em. Vì vậy mong muốn thực hiện đề tài này để phần nào có thêm công cụ giúp các em bộc lộ mình, cũng như những người đang chăm sóc, làm việc với trẻ hiểu các em hơn. Xúc cảm, tình cảm là những hiện tượng tâm lý phản ánh sự vật hiện tượng xung quanh dưới dạng những rung động, trải nghiệm trong bản thân mỗi chủ thể. Con người luôn có nhu cầu được yêu thương, chăm sóc, bao bọc và bộc lộ xúc cảm, tình cảm của mình. Đối với trẻ nhỏ nhu cầu này càng được thể hiện rõ nét. Với trẻ mồ côi, cùng với sự thiếu hụt tình cảm của mình, những xúc cảm, tình cảm âm tính sẽ nảy sinh. Làm thế nào để chúng dễ dàng bộc lộ buồn, vui, giận hờn, yêu ghét mà không cảm thấy khó khăn trước những rào cản. Từ đó có thêm cơ hội biểu lộ những xúc cảm, tình cảm dương tính khác mà chúng có được. Nhờ có xúc cảm, tình cảm con người nhận biết được về bản thân mình rõ nét hơn. Sự bộc lộ bản thân là điều không thể thiếu trong quá trình giao tiếp hay công việc. Đây cũng là một trong những khó khăn đối với trẻ mồ côi mà tác giả nhận thấy trong quá trình tiếp xúc. 9 Như vậy, nhu cầu bộc lộ xúc cảm, tình cảm là một trong những nhu cầu rất quan trọng ở mỗi con người. Ngay từ thuở nhỏ, mỗi người đã có những cách thức khác nhau bộc lộ tình cảm khác nhau và rất phong phú. Trẻ mồ côi là đối tượng gặp nhiều tổn thương, mất mát, đau buồn trong cuộc sống và việc bộc lộ xúc cảm, tình cảm cũng trở nên khó khăn hơn. Nếu có một phương thức nào đó vừa giúp trẻ thể hiện xúc cảm, tình cảm của mình lại vừa tránh nói trực tiếp đến những tổn thương sẽ giúp trẻ rất nhiều trong việc bộc lộ mình, đồng thời giúp người lớn hiểu và có những phương pháp giáo dục phù hợp hơn. Do đó nười viết đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Biểu hiện xúc cảm – tình cảm của trẻ mồ côi 7 – 11 tuổi qua tranh vẽ tại làng trẻ em SOS Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh”. 2. Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu xúc cảm – tình cảm của trẻ mồ côi qua tranh vẽ và các yếu tố ảnh hưởng đến cảm xúc. Từ đó giúp giáo dục viên, tình nguyện viên và những người chăm sóc khác hiểu thêm về các em để có những phương pháp giáo dục phù hợp. 3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: xúc cảm – tình cảm của những trẻ mồ côi 7 -11 tuổi thông qua tranh vẽ. Khách thể nghiên cứu: trẻ mồ côi từ 7 – 11 tuổi tại làng SOS Gò Vấp – Thành phố Hồ Chí Minh. 4. Giả thuyết nghiên cứu Trẻ mồ côi bộc lộ xúc cảm – tình cảm tích cực và tiêu cực qua tranh vẽ. Trẻ mồ côi bộc lộ sự khao khát về một mái ấm, một gia đình hạnh phúc (có đầy đủ mẹ cha) qua tranh vẽ. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài: xúc cảm – tình cảm của trẻ mồ côi nói chung và trẻ mồ côi trong độ tuổi 7 -11 tuổi nói riêng. Tìm hiểu sự bộc lộ xúc cảm – tình cảm của trẻ mồ côi 7 – 11 tuổi qua tranh vẽ. 6. Phạm vi nghiên cứu Đề tài giới hạn trong phạm vi nghiên cứu sau: Nghiên cứu trên nhóm 12 trẻ mồ côi từ 7 – 11 tuổi tại làng trẻ em SOS Gò Vấp. Nghiên cứu sự bộc lộ xúc cảm – tình cảm của trẻ mồ côi 7 – 11 tuổi tại làng trẻ em SOS Gò Vấp qua tranh vẽ. 10 7. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 7.1. Cách tiếp cận Tiếp cận cá nhân trẻ: mỗi trẻ là một cá thể riêng biệt, có cuộc sống, thế giới nội tâm, hoàn cảnh sống độc nhất. Cần tiếp cận từng trẻ để có cơ hội thấu hiểu các em. Tiếp cận tâm lý trị liệu dựa trên quan điểm hệ thống. Tìm hiểu các đặc điểm, hoàn cảnh sống của trẻ, các mối quan hệ có ý nghĩa của trẻ đối với gia đình gốc cũng như những người quan trọng đối với trẻ trong làng SOS. Tiếp cận giáo dục: Hiểu được cảm xúc và cách bộc lộ của trẻ, từ đó có những phương thức giáo dục thích hợp. Có sự lưu tâm đối với những em gặp khó khăn trong việc bộc lộ xúc cảm – tình cảm. Tiếp cận phát triển: Quan sát biểu hiện xúc cảm tích cực cũng như tiêu cực của trẻ theo độ tuổi. 7.2. Các phương pháp nghiên cứu 7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: - Mục đích: Nhằm xây dựng đề cương nghiên cứu và cơ sở lý luận của đề tài; lựa chọn phương pháp làm cơ sở cho việc tìm hiểu, đánh giá những biểu hiển xúc cảm – tình cảm của trẻ mồ côi 7 -11 tuổi tại làng trẻ em SOS Gò Vấp – Thành phố Hồ Chí Minh. - Nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến xúc cảm sự biểu hiện xúc cảm – tình cảm của trẻ mồ côi qua tranh vẽ. - Cách thức thực hiện: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa lý thuyết để làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. 7.2.2 Phương pháp quan sát: - Mục đích: Quan sát những biểu hiện xúc cảm – tình cảm của trẻ khi vẽ tranh. - Nội dung: Quan sát nét mặt, thao tác vẽ trong quá trình trẻ thực hiện vẽ tranh. - Cách thức thực hiện: Quan sát không can thiệp khi trẻ vẽ tranh và ghi chép những điều xảy ra trong quá trình đó. 7.2.3 Phương pháp phỏng vấn: - Mục đích: Thu thập thông tin của những người liên quan đến trẻ. - Nội dung: sử dụng một số câu hỏi soạn sẵn về thông tin, lý lịch, tính cách của trẻ trong cuộc phỏng vấn. 11 - Cách thức thực hiện: tiến hành phỏng vấn trực tiếp người nuôi dạy, giáo dục viên của trẻ (phỏng vấn cá nhân) và bản thân trẻ. 7.2.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp: - Mục đích: Phân tích sâu cảm xúc của một số trẻ qua tranh vẽ. Thu thập thông tin về lịch sử phát triển, hoàn cảnh gia đình để có thêm cơ sở hiểu về cảm xúc của trẻ. - Nội dung: Tìm hiểu sự bộc lộ cảm xúc của trẻ qua tranh vẽ, lịch sử cá nhân, mối quan hệ của trẻ với người khác. - Cách thức thực hiện: phân tích tranh vẽ, thu thập thông tin qua quan sát, phỏng vấn, trò chuyện. Trên cơ sở đó hiểu rõ cảm xúc của trẻ qua tranh vẽ. 7.2.5 Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động: - Mục đích: Đánh giá, phân tích tranh vẽ của trẻ. - Nội dung: phân tích, tổng hợp các tranh vẽ của trẻ để hiểu cảm xúc, tình cảm của trẻ qua tranh vẽ. - Cách thức thực hiện: mô tả hoàn cảnh khách quan và chủ quan của trẻ trong quá trình tạo ra sản phẩm. Từ đó có những phân tích, kết luận. 12 Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1.1. Ở nước ngoài Các hình vẽ trẻ em qua nhiều thế kỷ bị xem thường, mãi đến những năm cuối thế kỷ 19 mới được chú ý một cách nghiêm túc. Lần đầu tiên, các hình vẽ của trẻ nhỏ được in ra vào năm 1887. Tác giả là ông Corado Ricci là một nhà phê bình hội họa nổi tiếng đã có một phát hiện đáng kể về các ý nghĩa bao hàm trong hình vẽ người. Cuốn sách này in ra đã mở đầu cho nhiều tư liệu nghiên cứu khác lần lượt ra đời trong và ngoài nước. Trong đó chủ yếu là các tác giả Sully (1895), Partridge (1902), Kerschensteiner (1905), Levinstein (1905), Katzaroff (1909-1910) và Luquet (1913) Năm 1926, có một bước tiến quan trọng: F.Goodenough cho ra đời một hệ thống đánh giá trí năng qua hình vẽ người. Hệ thống này đã được Harris (1963; Harris và Roberts, 1972) mở rộng và chuẩn hóa đầy đủ. Hình vẽ người đã thành một đề mục trong nhiều test IQ, chủ yếu trong test Stanford – Binet nhưng tiến trình Goodenough – Harris cũng được coi là một test riêng biệt. Các nhà lâm sàng đã tin rằng các hình vẽ, nét vẽ của một người còn thể hiện những gì khác, ngoài tư duy đã có công nghiên cứu lâu dài một cách sinh động các hình vẽ người nhằm tìm ra những chứng cứ khẳng định hoặc gợi ý xây dựng một cách tiếp cận chẩn đoán về những vấn đề thuộc cảm xúc. Các nhà lâm sàng đã kiên trì đi theo con đường đó. [tr59,6] Cách tiếp cận bằng phóng chiếu của Rorschach và nhiều phương pháp phóng chiếu khác (test Szondi, test vẽ cây của Koch, test nhà – cây – người của Buck) cũng như cách nhìn nhận hình vẽ người là bằng chứng thể hiện nét cảm xúc, đã làm cho các phương pháp phóng chiếu lại được chú ý nhiều. Phương pháp khảo sát nhân cách của Machover (1949) được các nhà tâm lý học rất hoan nghênh, cũng như hệ thống chấm điểm các hình vẽ người nhằm xây dựng chỉ số IQ cho trẻ từ 5 – 11 tuổi của Koppitz (1968) và gần đây hơn là các hình vẽ về động thái gia đình (kinetic family drawings) của Burns và Kaufman (1970, 1972). Năm 1981 Dunleary, Hason và Ssasz đã cho thấy hệ thống chấm điểm của Koppitz ứng dụng rất tốt để nghiên cứu các trẻ nhỏ ở vườn trẻ đến tuổi đi học. Các kiểu test hình vẽ người, nhà, cây đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu trong nhiều năm như: Buck (1948, 1964), Hammer (1953, 1980), Jolles (1971). Các tác giả này cho rằng 13 vẽ nhà, cây sẽ có thể đi sâu hơn vào nhân cách của trẻ (nhưng vẽ cây bộc lộ nhiều hơn cả), nên cho vẽ nhiều hình màu và hỏi chuyện trẻ thêm sau khi trẻ vẽ. Như vậy, tuy nghiên cứu tâm lý trẻ em qua tranh vẽ có lịch sử nghiên cứu và ứng dụng không dày nhưng đã và đang được sử dụng như một trong những công cụ đắc lực nhất trong các nghiên cứu đặc điểm tâm lý cá thể. Những nghiên cứu trên tập trung chủ yếu thực hiện nhằm đánh giá phát triển trí tuệ, nhân cách và cảm xúc ở trẻ nhỏ. 1.1.2. Ở Việt Nam Vào những năm 1973, Nguyễn Văn Thành đã có những nghiên cứu về hình vẽ người để so sánh sự phát triển của trẻ bình thường với trẻ chậm khôn. Đến thập niên 80, thì việc sử dụng các test đánh giá chỉ số trí khôn (IQ) được tiến hành với tính chất thử nghiệm tại các cơ sở dạy trẻ chậm khôn, trung tâm sức khỏe tâm thần TP.HCM (nay là bệnh viện tâm thần TP.HCM). Trần Thị Cẩm đã biên dịch bộ tài liệu “Sổ tay chẩn đoán tâm lý trẻ em” vào năm 1987, cũng đã đề cập đến một số khía cạnh về các test vẽ hình người, hình nhà và cây cối. Ngoài ra, trong một số sách về tâm lý giáo dục như cuốn “Thử trắc nghiệm con bạn” do Văn Hòa (biên dịch) – NXB Văn Hóa Thông Tin 1998, có giới thiệu một trắc nghiệm vẽ hình đơn giản. Trong tập sách “Tâm lý và sức khỏe” do BS Đặng Phương Kiệt (chủ biên) – NXB Văn Hóa Thông Tin 2000, cũng có giới thiệu trong một chương về Test vẽ hình người do Lê Khanh biên soạn. Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em (trung tâm N-T) BS Nguyễn Khắc Viện sáng lập 1989, đã có những công trình biên dịch khá công phu về lĩnh vực này. Nhưng khuynh hướng hiện nay đối với các test vẽ hình người, thường chú trọng đến việc phát hiện những vấn đề của nội tâm đứa trẻ hơn là tìm cách đánh giá khả năng trí tuệ. Viện Nhi Hà Nội cũng tiến hành nghiên cứu việc trẻ vẽ hình người theo Goodenough tại một trường phổ thông cơ sở ở Hà Nội (1992). Các tác giả nhận xét có sự tương ứng giữa điểm vẽ hình người với điểm học tập & hình vẽ phản ánh trí khôn theo tuổi (rõ rệt nhất từ 7 đến 10 tuổi). Trẻ gái và trẻ trai có những đặc điểm khác nhau. Năm 2002 có một sinh viên Pháp qua Việt Nam nghiên cứu về hình vẽ người ở trẻ em (sử dụng thang chấm điểm Goodenough). Báo cáo trong bài giảng của hai chuyên gia Pháp tại bệnh viện Nhi Đồng 1 – Tp Hồ Chí Minh. Tuy chưa có nhiều công trình nghiên cứu về tranh vẽ của trẻ nhưng một số tác giả cũng đã sử dụng tranh vẽ trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về trẻ em, gợi mở nhiều vấn đề lý thú cần đào sâu. Như Trần Thu Hương với bài viết tranh vẽ gia đình của trẻ - nhìn từ góc độ của 14 khoa học tâm lý (tạp chí tâm lý học số 4 – 2010) và đánh giá rỗi nhiễu tâm lý ở trẻ bằng tranh vẽ: nghiên cứu trường hợp trẻ trai 12 tuổi (Hội thảo khoa học quốc tế tâm lí học đường lần thứ ba tại ĐHSP TPHCM 2012). Sách tìm hiểu tâm lý trẻ em qua tranh vẽ của Trần Thị Minh Đức đã phân tích tranh của học sinh một số trường giáo dưỡng. Gần đây, trong hội thảo khoa học của hội Khoa học tâm lý – Giáo dục thành phố Hồ Chí Minh (25/05/2013), Nguyễn Minh Anh (Cao đẳng Sư phạm Trung ương TP HCM), có bài tham luận “ứng dụng tranh vẽ trong chẩn đoán và tư vấn tâm lý”. Bài viết đã trình bày khái quát về giá trị của tranh vẽ, một trong những phương pháp phóng chiếu quan trọng và hữu dụng nhất đối với việc chẩn đoán và trị liệu tâm lý. Tác giả đã sử dụng test “tranh vẽ gia đình thú” như một công cụ phát hiện xung đột gia đình, từ đó làm rõ tính ứng dụng cao của phương pháp này trong điều kiện Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về tranh vẽ của trẻ em ở Việt Nam được thực hiện trên nhiều đối tượng trẻ khác nhau như thiếu niên ở trường giáo dưỡng, các trẻ có các vấn đề rỗi nhiễu... Các nghiên cứu còn riêng lẻ, chưa mang tính hệ thống, chưa có sự nhất quán về phương pháp và quy trình chẩn đoán tâm lý trẻ qua tranh vẽ. 1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1.2.1. Khái niệm trẻ mồ côi Đối với luật pháp Quốc tế và Việt Nam, trẻ mồ côi là một thành phần của đối tượng trẻ có hoàn cảnh đặc biệt. Pháp luật Quốc tế Cơ sở pháp lý: Điều 20 và 21 Công ước quốc tế về quyền trẻ em . Nội dung:Việc xếp trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa, bị bỏ rơi vào một nhóm là vì đặc điểm của nhóm trẻ em này là không có bố mẹ hoặc vì lý do nào đó không được sống cùng bố mẹ: “Trẻ em tạm thời hoặc hoàn toàn không được sống trong môi trường gia đình hoặc vì lý do ảnh hưởng đến lợi ích của một cá nhân không được quyền tiếp tục sống trong môi trường gia đình sẽ có quyền được nhận sự trợ giúp và bảo vệ đặc biệt của Nhà nước” (Điều 20 Công ước về quyền trẻ em) Nguyên nhân khiến trẻ em mồ côi, không nơi nương, bị bỏ rơi tựa là do cha mẹ chết trong tai nạn, bệnh tật, chết trong thiên tai, chiến tranh hay mất tích trong các vụ thiên tai, lũ lụt, hay cha mẹ vì lý do nào đó không nuôi dưỡng chúng, vứt bỏ chúng, hoặc bị thất lạc…. Theo điều 20 qui định,“Các nhà nước thành viên tùy theo luật pháp của quốc gia mình đảm bảo việc chăm sóc bảo vệ cho những trẻ em như vậy.” 15 Tại khoản 3 của điều 20 cũng đưa ra các phương thức giúp đỡ đối với nhóm trẻ em này: “Việc chăm sóc trẻ em bao gồm các hình thức trong đó có hình thức nuôi dưỡng khác theo luật pháp của đạo Hồi, nhận làm con nuôi hoặc nếu cần thiết đưa vào các trung tâm chăm sóc trẻ em thích hợp. Trong quá trình xem xét lựa chọn phương án, cần phải tính đến nguyện vọng được giáo dục, dạy dỗ liên tục và cơ sở nền tảng về ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo và dân tộc của trẻ em”. Một trong những phương thức giúp đỡ hữu hiệu đối với nhóm trẻ em này là việc cho nhận con nuôi và điều đó đã được Điều 21 của Công ước đã điều chỉnh bằng cách quy định thẩm quyền cho phép nhận con nuôi, điều kiện mà người nhận con nuôi phải tuân thủ… Pháp luật Việt Nam Cơ sở pháp lý: Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được quy định tại điều 51 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, điều 65 Hiến pháp 1992. Nội Dung:Tại điều 51 Luật bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em nói về việc giáo dục, chăm sóc nhóm trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa với nội dung như sau: Thứ nhất, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi được Uỷ ban nhân dân địa phương giúp đỡ để có gia đình thay thế hoặc tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp trẻ em công lập, ngoài công lập. Thứ hai, nhà nước khuyến khích gia đình, cá nhân nhận nuôi con nuôi; cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận đỡ đầu, nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi. Thứ ba, nhà nước có chính sách trợ giúp gia đình, cá nhân hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em ngoài công lập nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi. Trẻ mồ côi hiểu theo nghĩa rộng đó là: Những trẻ không có cha mẹ hoặc có cha mẹ nhưng không được cha mẹ chăm sóc quan tâm (trẻ không bao giờ biết, gặp cha mẹ mình), thậm chí không có cả cha lẫn mẹ vì bất cứ lý do nào. 1.2.2. Khái niệm về các loại xúc cảm – tình cảm: Mỗi xúc cảm sinh ra một loạt phản ứng sinh lý, do tác động lên thần kinh giao cảm và phó giao cảm (cũng gọi là á giao cảm), với hậu quả là: tim đập nhanh hơn, huyết áp, nhịp thở, kích thước con ngươi, kích thước các mạch máu, trương lực cơ, nhiệt độ đều biến động. Tất cả những phản ứng sinh lý này đều có thể ghi ký một cách chính xác, thể hiện thành những đường biểu đồ. 16 Một xúc cảm thường lặp đi lặp lại, trong những tình huống và với những con người, những sự vật nhất định, quyện với những tri thức và tập quán nhất định trở thành tình cảm. [18] Xúc cảm là những rung động của con người đối với từng sự vật, hiện tượng riêng lẻ có liên quan đến nhu cầu, động cơ của người đó trong những tình huống nhất định. Tình cảm là những rung động biểu thị thái độ của con người đối với một loạt sự vật, hiện tượng có liên quan đến nhu cầu, động cơ của chủ thể. [18] Theo nghĩa sát nhất của từ xúc cảm, từ điển tiếng Anh của Oxford định nghĩa xúc cảm như “một kích động hay rối loạn tinh thần, tình cảm, đam mê, mọi tình cảm, đam mê, mọi trạng thái mãnh liệt hay kích thích”. Có hàng trăm xúc cảm với những kết hợp, biến thể và biến đổi của chúng. Những sắc thái của chúng trên thực tế nhiều đến mức chúng ta không đủ từ để chỉ. Các nhà nghiên cứu chưa đồng ý với nhau là có những xúc cảm căn bản không – theo kiểu như màu xanh, màu đỏ, màu vàng của tình cảm từ đó hình thành ra tất cả sự pha trộn. Một số nhà lý thuyết xếp loại các xúc cảm thành các họ cơ sở, nhưng không đồng ý về ý nghĩa của chúng. Sau đây là xúc cảm rất thường được nhắc tới, với một số thành phần của chúng. Giận: cuồng nộ, phẫn nộ, oán giận, nổi giận, bực tức, gay gắt, hung hăng, bất mãn, cáu kỉnh, thù địch và có thể đạt tới độ tột cùng, thù hằn và bạo lực bệnh lý. Buồn: buồn phiền, sầu não, rầu rĩ, u sầu, thương thân, cô đơn, ủ rũ, thất vọng và trầm cảm sâu. Sợ: khi trở thành bệnh lý lo hãi, e sợ, bị kích thích, lo âu, rụng rời, sợ sệt, rón rén, bải hoải, khiếp hãi, khủng khiếp, ghê sợ, và khi trở thành bệnh lý là chứng sợ và hoảng hốt. Khoái: sung sướng, vui vẻ, nhẹ nhõm, bằng lòng, rất hạnh phúc, khoái trá, hoan hỉ, tự hào, khoái cảm, nhục dục, rung lên (vì vui), mê ly, hài lòng, sảng khoái, ngông, ngây ngất và mức tột cùng. Yêu: ưng ý, tình bạn, tin cậy, dễ ưa, cảm tình, tận tụy, sùng kính, hâm mộ. Ngạc nhiên: choáng váng, ngơ ngác, kinh ngạc. Ghê tởm: khinh miệt, coi thường, kinh tởm, chán ghét, phát ngấy. Xấu hổ: ý thức phạm tội, bối rối, phật ý, ăn năn, nhục nhã, hối tiếc. 17 Một vài loại cảm xúc cơ bản trên đây chắc không đáp ứng hết sự bộc lộ đa dạng trong cuộc sống. Người ta chưa thể trả lời rõ ràng tất cả các loại cảm xúc và cuộc tranh luận vẫn còn để ngỏ. 1.2.3. Đặc điểm xúc cảm – tình cảm của trẻ trong độ tuổi 7 – 11 tuổi (độ tuổi tiểu học) Xúc cảm là những rung động của con người đối với từng sự vật, hiện tượng riêng lẻ có liên quan đến nhu cầu, động cơ của người đó trong những tình huống nhất định. Khác với xúc cảm, tình cảm cũng là những rung động nhưng nó biểu thị thái độ của con người đối với một loạt sự vật, hiện tượng có liên quan đến nhu cầu, động cơ của chủ thể chứ không phải là những rung động đối với từng sự vật, hiện tượng riêng lẻ. Trước 7 tuổi, trẻ em thường nhận xét và mô tả người khác bằng các từ cụ thể, gắn với các đặc điểm hoặc hành động của họ ngay trước đó. Kiểu như “chú tôi cao, chú ấy ăn ớt giỏi...”. Trẻ ít chú ý đến việc mô tả tính cách. Các em kết bạn chủ yếu vì bạn có đồ chơi, cùng thích chơi một trò chơi hoặc có những đặc điểm bề ngoài được đánh giá cao như xinh đẹp... Trong độ tuổi tiểu học trẻ càng ngày càng ít dựa vào các đặc điểm cụ thể để mô tả bạn bè và người khác mà đã biết dựa vào các cấu trúc tâm lý tương đối ổn định hay những nét tính cách của họ. [tr62, 10] Một biểu hiện khá rõ sự phát triển nhận thức xã hội của trẻ em ở độ tuổi này là kỹ năng nhập vai người khác để phân tích nhận thức, thái độ và cách ứng xử của người khác. Trẻ mẫu giáo thường có xu hướng đồng nhất nhận thức, thái độ và hành vi của người khác với của mình (trẻ cho rằng người khác cũng nghĩ như mình). Bước sang tuổi đầu tiểu học, trẻ đã nhận ra người khác có thể có suy nghĩ, thái độ và hành động khác với mình, do nhận được các thông tin khác nhau. Khi lên 8 – 10 tuổi, trẻ nhận ra người khác có thể có nhận thức, thái độ và ứng xử khác với mình, mặc dù cùng từ một thông tin. Do đó đã có thể dự đoán được hành vi ứng xử của người khác trong hoàn cảnh cụ thể. Trẻ 10 – 12 tuổi có thể đồng thời nhận biết suy nghĩ và ứng xử của mình và của người khác. [tr37,9] Khi trẻ có kỹ năng nhập vai thì sự hiểu biết về ý nghĩa và tính chất quan hệ giữa người với người đã thay đổi. tác nhân quan trọng dẫn đến sự phát triển nhận thức người khác của lứa tuổi nhi đồng là sự phát triển các thao tác nhận thức và sự trải nghiệm của trẻ thông qua tương tác với người khác. Sở dĩ trẻ có thể dựa vào cấu trúc tâm lý tương đối ổn định để đánh giá người khác là nhờ đã phát triển các thao tác trí tuệ cụ thể, đặc biệt là do trẻ đã có khả năng bảo toàn (phát hiện ra cái tương đối ổn định, ít biến đổi qua cái dễ biến đổi). Mặt 18 khác, thông qua tương tác xã hội như qua các trò chơi, các hoạt động cùng nhau trong học tập và sinh hoạt cộng đồng giữa các bạn cùng lứa, trẻ dần dần tăng hiểu biết của mình về sự khác biệt quan điểm, tính cách giữa bản thân và người khác. Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ. Đối tượng gây xúc cảm cho học sinh tiểu học chủ yếu là những sự vật, hiện tượng, hình ảnh cụ thể (tính cụ thể, trực tiếp). Sự thích thú, buồn bực, sợ hãi… của các em thường xảy ra trong khi đang trực tiếp tri giác các sự vật, hiện tượng cụ thể. Trẻ em tiểu học dễ xúc cảm hay xúc động và khó kìm hãm xúc cảm của mình. Tính dễ xúc cảm của trẻ trước hết thể hiện ở chỗ xúc cảm thâm nhập vào mọi quá trình tâm lý của các em. Các em dễ xúc cảm, đồng thời hay xúc động (xúc cảm mạnh). Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư...Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi, tuy vậy so với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều. [tr92,10] Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu học luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học,... khi đó cần phát hiện và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui chột năng khiếu của trẻ. Đặc điểm xúc cảm – tình cảm của trẻ mồ côi Cho đến nay vẫn chưa có một kết quả nghiên cứu hay tài liệu cụ thể nào nói rõvề tâm lý hay xúc cảm, tình cảm của trẻ em mồ côi, thông thường người ta dựa trên tâm lý trẻ em và những nét biểu hiện thực tế của trẻ em mồ côi để phác họa một số nét tâm lý cơ bản của trẻ em mồ côi. Mặc dù những nhu cầu vật chất căn bản có lẽ được cung cấp, nhưng những đứa trẻ trong trại mồ côi hầu như hoàn toàn đã bị tách biệt khỏi thế giới bên ngoài và có thể không tiếp xúc với các gia đình bình thường và các tương quan xã hội. Điều này có lẽ gây hại cho nhân cách của chúng vào giai đoạn trưởng thành và những kĩ năng xã hội. Những kết quả này chỉ ra mối liên hệ rõ rệt giữa sựkém tự tin và trầm cảm đã là hậu quả nào đó của hoàn cảnh mồ côi và đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm chất lượng cuộc sống của trẻ. Lòng tự tin và trầm cảm có lẽ được xem xét như những biến số trung gian trong mối liên hệ nguyên nhân giữa trại mồ côi, chất lượng cuộc sống và sự hiện diện của một đứa trẻ mồ côi và trầm cảm đã là những nguyên nhân tiêu cực. 19
- Xem thêm -