Biện pháp quản lý thực hiện chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị ở các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện tỉnh bắc ninh

  • Số trang: 82 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -------***------- LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Ở CÁC TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ CẤP HUYỆN TỈNH BẮC NINH Giáo viên hướng dẫn: TS. NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI Học viên: Đàm Thế Sử Bắc Ninh, năm 2011 1- Lý do chọn đề tài Trải qua hơn 80 năm lãnh cách mạng, Đảng cộng sản Việt nam luôn coi trọng công tác giáo dục lý luận chính trị. Bởi công tác giáo dục lý luận chính trị có vai trò hết sức quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Được biết, trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta đang đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì vị trí, vai trò của công tác giáo dục lý luận chính trị lại càng quan trọng hơn. Mặt khác, Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ngày càng ráo riết chống phá cách mạng nước ta bằng nhiều thủ đoạn, âm mưu thâm độc qua chiến lược “Diễn biến hoà bình” nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta thì nhiều vấn đề mới nảy sinh cần phải có sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội. Trước thực tế trên, việc quản lý thực hiện chương trình giáo dục lý luận chính trị tại các Trung tâm bồi dưỡng chính trị (BDCT) cấp huyện nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chống lại Chiến lược “Diễn biến hoà bình” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở, đáp ứng nhu cầu trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là nhiệm vụ rất nặng nề, có ý nghĩa chính trị lớn lao. Ngày 03 tháng 6 năm 1995 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VII) ban hành Quyết định 100-QĐ/TW “V/v tổ chức Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện”. Từ đó, Trung tâm BDCT cấp huyện của các tỉnh trong cả nước đã lần lượt được ra đời, đi vào hoàn thiện mô hình và hoạt động từng bước có hiệu quả, đóng góp không nhỏ vào nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho địa phương, cơ sở. Nhiều chương trình bồi dưỡng các chỉ thị, nghị quyết, các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được tổ chức thực hiện tại các trung tâm đã góp phần giải quyết kịp thời những vướng mắc ở cơ sở trong công tác xây dựng Đảng. Trung tâm BDCT cấp huyện đã trở thành cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của cấp uỷ cơ sở. Trong thời kỳ đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay để khẳng định tầm quan trọng của hệ thống các Trung tâm BDCT đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở. Ngày 3/9/2008, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) đã ban hành Thông báo Kết luận số 181-KL/TW “về đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động Trường chính trị cấp tỉnh và Trung tâm BDCT cấp huyện” và Quyết định số 185-QĐ/TW “về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Trung tâm BDCT cấp huyện”. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy trong thời kỳ đất nước đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra nhiều vấn đề trong công tác quản lý, xây dựng, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là đôi ngũ cán bộ cơ sở. Mô hình hoạt động của Trung tâm BDCT cấp huyện sau 15 năm hoạt động đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, chưa phát huy tốt vai trò của mình; chất lượng hoạt động, sức thu hút của Trung tâm với người học chưa cao; có chương trình còn lạc hậu so với thực tiễn, chưa phù hợp với đối tượng, chưa theo kịp trình độ nhân thức chung của xã hội; tính liên thông giữa các chương trình và tính pháp lý chưa được coi trọng; chất lượng đội ngũ giảng viên và giảng viên kiêm chức chưa đáp ứng yêu cầu; quá trình chuyển hoá về LLCT cho cán bộ, đảng viên vào hoạt động thực tiễn ở cơ sở chưa được nhiều; tính định hướng, tính chiến đấu, tính thuyết phục và hiệu quả quản lý thực hiện chương trình giáo dục LLCT chưa cao; cơ sở vật chất còn thiếu thốn, chắp vá... Những tồn tại, yếu kém trên đòi hỏi phải sớm được khắc phục để các Trung tâm BDCT cấp huyện có thể đảm nhiệm tốt nhiệm vụ của mình trong giai đoạn cách mạng mới. Cụ thể hoá các Quyết định số 100-QĐ/TW, ngày 03/06/1995 của Ban Bí thư trung ương và Quy định số 54-QĐ/TW, ngày 12/05/1999 của Bộ chính trị, ngày 12/05/2004, Tỉnh uỷ Bắc Ninh đã ra kết luận số 70-KL/TU “ về tăng cường lãnh đạo thực hiện chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng, theo Quy định số 54/QĐ/TW ngày 12/05/1999 của Bộ chính trị đẩy mạnh hoạt động của Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp Huyện và Ban tuyên giáo xã, Phường, Thị trấn”. Bắc Ninh hiện có 08 Trung tâm BDCT cấp huyện với số lượng cán bộ công chức là 40 người, trong đó cán bộ quản lý là 15 người; số cán bộ hợp đồng là 06 người (theo số liệu báo cáo tính đến 30/10/2010). Nhìn chung, đội ngũ cán bộ quản lý tại các Trung tâm BDCT trong Tỉnh đều được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ; có phẩm chất đạo đức tốt, phát huy được năng lực trong công tác, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chính vì vậy, công tác bồi dưỡng lý luận chính trị Tỉnh Bắc Ninh đã đạt được kết quả tích cực góp phần quan trọng và sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh. Mặc dù vậy, công tác quản lý thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT tại các Trung tâm BDCT cấp huyện trong Tỉnh vẫn còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ và thống nhất; công tác quy hoạch cán bộ làm lãnh đạo, quản lý các trung tâm chưa được rõ nét, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn cách mạng mới. Để làm tốt hơn nữa công tác giáo dục LLCT cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân ở cơ sở đáp ứng nhu cầu của thời kỳ mới, cần nghiên cứu và đề xuất những biện pháp khả thi để quản lý thực hiện chương trình giáo dục LLCT tại các Trung tâm BDCT cấp huyện trong Tỉnh. 2- Lịch sử nghiên cứu vấn đề Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý thực hiện chương trình giáo dục LLCT tại Trung tâm BDCT cấp huyện là một vấn đề lớn và khó, được đặt ra trong quá trình hình thành và phát triển của các Trung tâm. Trong quá trình đó, việc nghiên cứu, tổng kết và giải quyết các vấn đề đặt ra của các Trung tâm thường được thực hiện thông qua báo cáo hàng năm của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ các địa phương. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tổng hợp các vướng mắc, tồn tại và kiến nghị từ các địa phương, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với các ngành có liên quan đề xuất hướng giải quyết với Đảng và Nhà nước. Thời gian qua đã có nhiều bài viết đề cập đến vấn đề trên ở những cấp độ và phạm vi khác nhau. Trong cuốn “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở”, tiến sĩ Vũ Ngọc Am đã đề cập đến yêu cầu khách quan phải tiếp tục đổi mới công tác giáo dục LLCT ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay. PGS.TS Đào Duy Quát cũng bàn về công tác giáo dục LLCT ở cấp huyện và vai trò, nhiệm vụ của Trung tâm BDCT cấp huyện trong cuốn “Công tác tư tưởng - văn hoá ở cấp huyện”. Đồng chí Nguyễn Khoa Điềm - nguyên uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương đã đề cập đến việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tuyên truyền giáo dục LLCT, tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân. Tác giả Đặng Công Minh có bài viết “Đổi mới quản lý đào tạo ở Trung tâm BDCT cấp huyện”. Một số bài viết khác như: “Quảng Ninh nâng cao chất lượng hoạt động của các Trung tâm BDCT cấp huyện”; “Vấn đề đặt ra sau 10 năm hoạt động của các Trung tâm BDCT cấp huyện ở Quảng Bình”; “Tỉnh Hải Dương xây dựng Trung tâm BDCT cấp huyện đáp ứng yêu cầu tình hình mới”;... Tuy nhiên, các tài liệu, bài viết trên thường dừng lại ở tầm khái quát hoặc chỉ đề cập đến từng lĩnh vực cụ thể của từng địa phương. Vấn đề đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý, thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT tại các Trung tâm BDCT cấp huyện đến nay chưa có một công trình khoa học cụ thể nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện. 3- Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT tại các Trung tâm BDCT cấp huyện tỉnh Bắc Ninh, đề xuất các biện pháp quản lý thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT tại Trung tâm BDCT nhằm nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng LLCT cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân ở cơ sở. 4- Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4.1- Khách thể nghiên cứu Quản lý thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT tại Trung tâm BDCT cấp huyện. 4.2- Đối tượng nghiên cứu Các biện pháp quản lý thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT tại các trung tâm BDCT cấp huyện tỉnh Bắc Ninh. 5- Giả thuyết khoa học Nếu xây dựng được một hệ thống các biện pháp quản lý thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT tại Trung tâm BDCT cấp huyện thống nhất, đồng bộ và có tính khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng LLCT cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân ở cơ sở. 6 -Nhiệm vụ nghiên cứu 6.1- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận của hoạt động quản lý thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT tại Trung tâm BDCT cấp huyện. 6.2- Khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động quản lý thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT tại các Trung tâm BDCT cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. 6.3- Đề xuất các biện pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng quản lý thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT tại Trung tâm BDCT cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất. 7- Giới hạn phạm vi nghiên cứu 7.1- Về khách thể khảo sát Khách thể khảo sát là 15 cán bộ quản lý, 40 giáo viên và 100 học viên của trung tâm bồi dưỡng LLCT cấp huyện tỉnh Bắc Ninh. 7.2 Về thời gian nghiên cứu Khảo sát thực trạng việc thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT của trung tâm BDCT năm 2010. 8- Phương pháp nghiên cứu 8.1- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận Sử dụng các phương pháp như phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá lý luận để xác định các khái niệm công cụ và xây dựng khung lý thuyết cho đề tài. 8.2- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp điều tra: Sử dụng phương pháp này nhằm trưng cầu ý kiến của các đối tượng thông qua phiếu điều tra. Các nội dung cần trưng cầu ý kiến là các vấn đề có liên quan đến thực trạng cần nghiên cứu. - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm của Trung tâm BDCT cấp huyện trên địa bàn toàn tỉnh về hoạt động quản lý thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT. - Phương pháp chuyên gia: Trưng cầu ý kiến chuyên gia về các nội dung như đánh giá thực trạng nghiên cứu, đánh giá về tính khả thi và ý nghĩa của các biện pháp được đề xuất. 8.3- Nhóm phương pháp dự báo Sử dụng phương pháp này để dự báo về quy mô phát triển của Trung tâm BDCT cấp huyện trong tỉnh thời gian tới, từ đó đề ra các biện pháp quản lý thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT tại các Trung tâm BDCT cho phù hợp. 8.4- Nhóm phương pháp thống kê Sử dụng phương pháp này để xử lý các số liệu thu thập được do các phương pháp khác đem lại, phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài. 9- Những đóng góp mới của đề tài Trên cơ sở lý luận khoa học, quan điểm, đường lối của Đảng về công tác giáo dục LLCT và thực tiễn quản lý thực hiện chương trình giáo dục LLCT tại các Trung tâm BDCT cấp huyện tỉnh Bắc Ninh, đề xuất một số biện pháp quản lý thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT mang tính khả thi, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của địa phương, nhằm góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả công tác bồi dưỡng LLCT cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân ở cơ sở. 10- Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, các đề xuất, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn gồm 3 chương: Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT tại Trung tâm BDCT cấp huyện. Chương II: Thực trạng quản lý thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT tại Trung tâm BDCT cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Chương III: Một số biện pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng quản lý thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT tại Trung tâm BDCT cấp huyện tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới. Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG LLCT TẠI TRUNG TÂM BDCT CẤP HUYỆN 1.1- Một s ố khái niệm cơ bản 1.1.1- Chương trình giáo dục và quản lý chương trình giáo dục "Chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ, nội dung học tập, các phương pháp, phương tiện, cách thức tổ chức học tập, các cách thức đánh giá kết quả học tập... nhằm đạt được mục tiêu học tập đã đề ra (Nguyễn Hữu Chí, Viện Khoa học giáo dục, 2002)"[20, tr.14]. "Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan"[60, tr.40]. Quản lý chương trình giáo dục là quản lý xây dựng chương trình giáo dục, quản lý quá trình thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện chương trình giáo dục nhằm đạt được mục tiêu mong muốn của nhà quản lý. Quản lý chương trình giáo dục bao gồm những công việc cơ bản: Phân cấp quản lý từ mô hình tổ chức, danh mục các ngành đào tạo, khung chương trình giảng dạy, chương trình chi tiết môn học cốt lõi, môn học bắt buộc, môn học tự chọn; điều chỉnh, xây dựng và thông qua chương trình giáo dục; thực hiện chương trình giáo dục; kiểm tra và thanh tra chương trình giáo dục. Trong lịch sử nghiên cứu phát triển giáo dục, có ba cách tiếp cận khác nhau khi xây dựng chương trình giáo dục. Đó là cách tiếp cận nội dung, cách tiếp cận mục tiêu và cách tiếp cận quá trình (hay còn gọi là cách tiếp cận phát triển). Tương ứng với 3 cách tiếp cận này là các phương pháp quản lý chương trình giáo dục. * Với cách tiếp cận nội dung: Đây là cách tiếp cận truyền thống trong xây dựng chương trình đào tạo. Cách tiếp cận này đã và đang được nhiều giáo viên và các nhà làm công tác xây dựng chương trình sử dụng. Nội dung khối lượng kiến thức chương trình thường ngắn gọn, chắt lọc, đảm bảo nguyên lý giáo dục và mang tính thời sự; theo khuôn mẫu định sẵn; nhưng thường là một chiều, mang tính áp đặt, giáo viên không có cơ hội để bổ sung tài liệu hoặc thay đổi hình thức dạy học, người học thụ động. Quản lý chương trình giáo dục theo cách tiếp cận này chủ yếu là quản lý nội dung, khối lượng công việc giáo viên hoàn thành trong một quỹ thời gian đã định trước. Với phương pháp quản lý này, về cơ bản người quản lý nhìn vào khối lượng công việc hoàn thành để đánh giá chất lượng công việc; khó có thể kích thích được sự năng động, sáng tạo của người học khi thực hiện chương trình nên hiệu quả không cao. Cách tiếp cận này hiện nay đã trở nên lạc hậu, nhiều quốc gia cũng như các trường học khác nhau trên thế giới không còn sử dụng để xây dựng chương trình giáo dục hoặc đã có những cải tiến đáng kể. * Với cách tiếp cận mục tiêu: Theo cách tiếp cận này thì xuất phát điểm của việc xây dựng chương trình giáo dục phải là mục tiêu giáo dục. Mục tiêu giáo dục tạo được thể hiện dưới dạng mục tiêu đầu ra, thể hiện qua những hành vi của người học (theo một khuôn mẫu nhất định). Quản lý chương trình giáo dục ở đây là quản lý sản phẩm đào tạo, quản lý kết quả cuối cùng của một chương trình đào tạo; người ta quan tâm đến việc người học sau khi học xong có khả năng "làm" được những việc gì hay thực hiện được những gì về mặt nhận thức, kỹ năng cũng như tình cảm và thái độ; không quản lý quá trình đạt đến mục đích, mục tiêu. Khi yếu tố mục tiêu được xác định rõ ràng, cụ thể ở các cấp độ khác nhau (dài hạn và ngắn hạn), người dạy có thể căn cứ vào đó để lựa chọn nội dung, phương pháp, cách đánh giá và đặc biệt là tài liệu để giảng dạy. Người học có thể không cần lên lớp nghe giảng, chỉ cần phát tài liệu, hướng dẫn đọc tài liệu, sau đó làm bài thu hoạch đạt yêu cầu là được. Cách tiếp cận này vẫn xem người học là bị động, không thể giúp phát triển các năng lực tiềm ẩn ở mỗi cá nhân người học, tất cả người học đều phải chịu sự rèn giũa theo một khuôn mẫu cứng nhắc đã được xác định trước; khó có thể áp dụng cho các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn cũng như trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Cách thức tổ chức quản lý chương trình giáo dục dễ dẫn đến bệnh hình thức và máy móc. Đối với quản lý chương trình bồi dưỡng LLCT, phương pháp quản lý này không phù hợp. Tuy nhiên chúng ta cần nghiên cứu để sử dụng hợp lý, khuyến khích các mặt tích cực của phương pháp quản lý này. * Với cách tiếp cận quá trình (tiếp cận phát triển): Đây là cách tiếp cận đang được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới. Cách tiếp cận này xem chương trình đào tạo là quá trình, còn giáo dục là sự phát triển. Giáo dục là sự phát triển với nghĩa là phát triển con người, phát triển một cách tối đa mọi tiềm năng tiềm ẩn trong mỗi con người, làm cho con người có khả năng làm chủ tình huống, đương đầu được với những thách thức mà mình sẽ gặp phải trong đời một cách chủ động và sáng tạo. Giáo dục là quá trình diễn ra liên tục, suốt đời, do vậy mục đích cuối cùng không phải là thuộc tính của nó. Cách tiếp cận này mang tính toàn diện, chú trọng nhiều đến khía cạnh nhân văn. Bản chất của quản lý chương trình giáo dục theo cách tiếp cận quá trình là quản lý sự phát triển con người, sự hình thành và phát triển nhân cách; chủ thể quản lý nắm bắt được những diễn biến, quá trình phát triển của đối tượng quản lý. Khi chương trình bồi dưỡng được xây dựng theo kiểu quá trình, người học được coi là trung tâm, người thầy trở thành người cố vấn cung cấp thông tin, hướng dẫn người học tìm kiếm và thu thập thông tin, gợi mở giải quyết vấn đề. Những nội dung và phương thức giáo dục đào tạo thường xuyên đạt được nhu cầu và trình độ của người học. Người thầy đánh giá người học qua một quá trình làm việc chứ không phải kết quả cuối cùng. Quản lý theo cách tiếp cận này huy động được mọi nguồn lực tham gia vào quá trình quản lý, trong đó người học phải là người chủ động, tích cực tham gia vào quá trình dạy và học. 1.1.2- Lý luận và lý luận chính trị. 1.1.2.1- Khái niệm lý luận: Khái niệm lý luận là những khái niệm hình thành gắn liền với những công trình nghiên cứu lý luận của những nhà nghiên cứu lý luận. Các khái niệm lý luận gắn liền với những hệ thống lý luận nhất định. Nếu chúng phản ánh trung thực các mối liên hệ bản chất, các quy luật vốn có củahiện thực khách quan thì những hệ thống lý luận đó chính là các học thuyết khoa học được kiểm nghiệm bằng thực tiễn (hay thực nghiệm). Nếu trái lại, thì đó chỉ là những lý luận giả khoa học và sớm muộn cũng sẽ bị sự phát triển của khoa học và thực tiễn bác bỏ. Việc nghiên cứu lý luận gắn liền với hoạt động tư duy, hoạt động lý luận và thực tiễn của con người luôn là điều khó khăn. Bởi vì, vấn đề lý luận đòi hỏi tính hệ thống, tính trừu tượng, tính thực tiễn và sự sâu sắc rất cao. Bên cạnh đó, trong đời sống xã hội, chúng ta thường thấy tình trạng: cùng một vấn đề, có người hiểu thế này, lại có người hiểu thế khác, có người diễn đạt tốt nhưng người khác thì không; có công việc người này thì hoàn thành nhanh chóng nhưng người khác thì lại hoàn thành chậm hoặc rất chậm;… hoặc có người lúc này thì sáng suốt nhưng lúc khác thì không, tại sao vậy? Thực tế cuộc sống đòi hỏi cần thiết đi sâu tìm hiểu và làm rõ những vấn đề trên về mặt lý luận và thực tiễn. Chính vì vậy, các câu hỏi như: Lý luận là gì? Lý luận có vai trò gì? Lý luận sinh ra từ đâu? Lý luận có những hình thái nào? Những vấn đề then chốt của lý luận là gì?... cần được làm sáng tỏ. Bàn về vấn đề lý luận ra đời sẽ nâng cao nhận thức xã hội về tầm quan trọng của vấn đề lý luận cũng như việc nghiên cứu lý luận, đề xuất hình thành một môn khoa học nghiên cứu về lý luận và có thể được gọi là “Lý luận học”. “Lý luận học” nghiên cứu các vấn đề nêu trên cùng với việc bàn về con người và công nghệ tư duy lý luận của con người. Lý luận học có quan hệ mật thiết với rất nhiều môn khoa học khác. Trong đó, nổi bật như với triết học, lôgíc học, chính trị học, kinh tế chính trị học, xã hội học, nhân chủng học, kinh tế học, sử học, toán học… Con người là nhân lõi của tất cả các khoa học gần gũi với lý luận học và giữ vị trí trung tâm của lý luận học. Toán học có đối tượng nghiên cứu là các quan hệ số lượng và hình dạng trong thế giới khách quan; Triết học có đối tượng nghiên cứu là các quy luật chung nhất của thế giới và nhận thức thế giới của con người; Chính trị học có đối tượng nghiên cứu là chính trị và các hình thái của chính trị; Kinh tế học có đối tượng nghiên cứu là các quan hệ sản xuất, các quy luật chi phối quá trình sản xuất, phân phối và trao đổi của cải vật chất của con người; Kinh tế phát triển có đối tượng nghiên cứu là yếu tố kinh tế của sự phát triển… Còn đối tượng nghiên cứu của Lý luận học như tôi đã nói ở trên là con người, tư tưởng của con người và công nghệ tư duy của con người về lý luận cùng những vấn đề cơ bản của lý luận nhằm cải biến thực tế khách quan vì sự phát triển của con người và đem lại lợi ích cho con người. Có thể nói, nghiên cứu lý luận là công việc đòi hỏi có sự công phu, nghiêm túc. Lý luận là phạm trù luôn luôn phát triển không ngừng theo quá trình phát triển của đời sống xã hội. Có nhận định hôm nay đúng nhưng có thể ngày mai hoặc ngày kia không còn đúng nữa. Vì thế, khi làm sách nghiên cứu lý luận, rất cần các tác giả đặt mình vào tình huống và tự đặt ra câu hỏi để ngẫm suy cho thấu tình đạt lý, để bổ sung tri thức nhằm không ngừng nâng cao cả về tư duy và hành động. Lý luận là hệ thống những tri thức đã được khái quát, tạo ra một quan niệm hoàn chỉnh về các quy luật và về mối liên hệ cơ bản của hiện thực. Lý luận là sự phản ánh và tái hiện hiện thực khách quan. Mọi Lý luận đều quy định bởi hoàn cảnh lịch sử, được hình thành từ điều kiện cụ thể của lịch sử sản xuất, kỹ thuật và thực nghiệm. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”[42, tr.487]. Theo nghĩa rộng, Lý luận là một dạng hoạt động của con người nhằm thu nhận tri thức về hiện thực tự nhiên, xã hội và cùng với thực tiễn tạo thành hoạt động tổng thể của xã hội. Thuật ngữ Lý luận đồng nghĩa với các hình thức có tổ chức cao và phát triển nhất của ý thức xã hội. Với tư cách là sản phẩm cao nhất của tư duy có tổ chức, Lý luận biểu hiện quan hệ gián tiếp của nguời đối với hiện thực và là điều kiện cho sự cải biến thực sự có ý thức hiện thực. Theo nghĩa hẹp, Lý luận là một dạng tri thức khoa học đáng tin cậy về một tổng thể các khách thể nào đó. Nó là hệ thống các luận điểm gắn bó chặt chẽ với nhau về mặt lô gíc và phản ánh bản chất, các quy luật hoạt động, phát triển của khách thể để nghiên cứu. Lý luận cách mạng tạo nên nền tảng tư tưởng của đảng. Đảng ra đời trên nền tảng tư tưởng đó, tức là có lý luận một cách cơ bản nhất; những người giác ngộ, tiên tiến cùng nhau xây dựng tổ chức đảng theo lý luận đó. Khi đảng ra đời, cương lĩnh hành động, đường lối chiến lược, sách lược do đảng đề ra cũng dựa trên nền tảng tư tưởng đó. 1.1.2.2- Khái niệ m lý luậ n chính trị : Hiện nay, trên thế giới đã hình thành 4 cách hiểu khác nhau về chính trị: 1) nghệ thuật của phép cai trị 2) những công việc của chung 3) sự thỏa hiệp và đồng thuận 4) quyền lực và cách phân phối tài nguyên hay lợi ích Nếu quan niệm rằng chính trị chỉ là những hoạt động xoay quanh vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước thì, theo lý luận của chủ nghĩa Marx, trong xã hội cộng sản tương lai sẽ không có chính trị bởi vì lúc đó nhà nước đã tiêu vong. Nói cách khác, chính trị sẽ dần dần trở nên thừa thãi và mất hẳn trong xã hội lý tưởng của nhân loại - xã hội cộng sản. Chính trị theo nghĩa rộng hơn là hoạt động của con người nhằm làm ra, gìn giữ và điều chỉnh những luật lệ chung mà những luật lệ này tác động trực tiếp lên cuộc sống của những người góp phần làm ra, gìn giữ và điều chỉnh những luật lệ chung đó. Với cách hiểu như thế này thì dù trong xã hội cộng sản, chính trị vẫn còn tồn tại và vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng đối với từng con người cũng như toàn xã hội. Trong bất kỳ xã hội nào thì cũng cần những luật lệ chung để hoạt động nhịp nhàng và khoa học, tránh tình trạng vô tình hay cố ý xâm phạm quyền lợi, lợi ích, tài sản, sức khỏe hay thậm chí tính mạng của người khác hay của cộng đồng. Một ví dụ đơn giản, xã hội dù có phát triển đến đâu thì cũng cần có luật giao thông để con người có thể lưu thông một cách trật tự và hiệu quả. Hay, con người không thể sống trong một xã hội mà tình trạng an ninh không đảm bảo (cướp bóc, khủng bố chẳng hạn) do thiếu luật lệ. Mặc dù phần lớn xã hội hiện nay trên thế giới không tránh khỏi các hiện tượng cướp bóc và khủng bố nhưng phải thừa nhận rằng pháp luật đã góp phần ngăn chặn đáng kể những hành vi bất lương đó. Các lĩnh vực của khoa học chính trị bao gồm: lý thuyết chính trị, triết học chính trị (tìm kiếm các nhân tố cơ bản cho chính trị), giáo dục công dân, các hệ thống chính trị của các quốc gia, phân tích chính trị, phát triển chính trị, quan hệ quốc tế, chính sách ngoại giao, quân sự và pháp luật. Mặt khác, chính trị: là một quá trình theo đó một nhóm người có lợi ích và quan điểm ban đầu khác nhau, đi đến những quyết định chung mà về cơ bản được chấp nhận như là sự ràng buộc lên toàn nhóm và được đảm bảo thực hiện như chính sách chung. Tóm lại, chính trị theo nghĩa chung nhất là quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp. Là một khái niệm của thượng tầng kiến trúc. Chính trị là một lĩnh vực đặc biệt rất phức tạp, nó liên quan đến lợi ích trực tiếp của các giai cấp và các lực lượng xã hội nên có nhiều cách tiếp cận và nhìn nhận khác nhau. Trong Từ điển Triết học giản yếu của Việt Nam, nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, xuất bản năm 1987, cho rằng: Chính trị là lĩnh vực hoạt động gắn liền với mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc và các tập đoàn xã hội khác nhau, mà hạt nhân là vấn đề giành, giữ và sử dụng chính quyền nhà nước. Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học xã hội xuất bản năm 1994, cho rằng: Chính trị là những vấn đề thuộc về tổ chức điều khiển bộ máy nhà nước trong nội bộ một nước và quan hệ quốc tế về mặt nhà nước giữa các nước với nhau... Những quan điểm nêu trên đã nêu lên bản chất của Chính trị là tính giai cấp, mối quan hệ và mục tiêu của các giai cấp, các lực lượng chính trị trong việc giành quyền điều khiển nhà nước. Để đánh giá sự tiến bộ của xã hội thông qua việc thực hiện dân chủ mà dân chủ cao nhất, đầy đủ nhất, triệt để nhất là quyền làm chủ của nhân dân đối với nhà nước, V.I. Lênin cho rằng: Chính trị là sự tham gia của nhân dân vào công việc của nhà nước; “... chính trị phải là việc của nhân dân, việc của giai cấp vô sản”[59, tr.482]. Khi xem xét nguồn gốc, bản chất chính trị về mặt lợi ích, V.I. Lênin lại cho rằng: Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế. Khi tiếp cận Chính trị với tư cách hình thức hoạt động nhằm duy trì quyền lực chính trị có thể thấy: Chính trị là những hoạt động tổ chức, điều hành, quan hệ của bộ máy đảng, nhà nước. Vì vậy, Chính trị có thể hiểu là những hoạt động của một số cá nhân, một giai cấp, một chính đảng, một tập đoàn xã hội nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành bộ máy nhà nước, giành quyền lực chính trị. Như vậy, có thể thấy Chính trị là vấn đề đa dạng, phức tạp, nhiều mối quan hệ, nhiều lĩnh vực nghiên cứu xem xét và sử dụng theo mục đích, yêu cầu riêng của từng môn khoa học. Song, điều quan trọng của tất cả các vấn đề liên quan đến Chính trị, thực hiện được mục đích của chính trị, tức là giành được quyền lực chính trị của giai cấp này hoặc giai cấp khác đối với toàn xã hội. Từ đó, có thể hiểu Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các cộng đồng xã hội trong vấn đề chính quyền nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào các công việc của nhà nước; là tổng hợp những phương thức, phương pháp, những hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái để giành, giữ và điều khiển hoạt động của nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp mình. Qua thực tiễn của cách mạng Việt Nam, trong phạm vi đề tài này, chúng ta tiếp cận đến Chính trị với tư cách là những hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam nhằm giác ngộ, nâng cao nhận thức cho quần chúng nhân dân. Trong đó, cán bộ, đảng viên cơ sở là lực lượng nòng cốt để lãnh đạo, tổ chức quần chúng nhân dân thực hiện mục đích của Đảng là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản đặc biệt quan tâm tới vấn đề LLCT. Chỉ dựa trên nền tảng lý luận Mác - Lênin, Đảng mới có thể nhận thức sâu sắc được những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội và vận dụng chúng vào sự nghiệp cách mạng cao cả. LLCT của chủ nghĩa cộng sản khoa học không chỉ giải thích thế giới một cách khoa học, bóc trần sự bất công tồn tại trong các xã hội có giai cấp đối kháng mà còn chỉ rõ căn nguyên của những áp bức, bất công đó, đồng thời vạch ra con đường, phương thức đấu tranh nhằm xoá bỏ chế độ bất bình đẳng, xây dựng xã hội mới văn minh, tiến bộ. LLCT của chủ nghĩa cộng sản khoa học hướng dẫn các đảng Cộng sản xác định được nhiệm vụ chủ yếu. Lênin đã viết; “Lý luận đó đã chỉ rõ nhiệm vụ thật sự của một đảng xã hội chủ nghĩa cách mạng không phải là đặt ra những kế hoạch cải tạo xã hội, không phải là khuyên nhủ bọn tư bản và tôi tớ của chúng cải thiện đời sống cho công nhân, không phải là sắp đặt những cuộc âm mưu, mà là tổ chức cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản và lãnh đạo cuộc đấu tranh đó mà mục đích cuối cùng là giai cấp vô sản giành lấy chính quyền và tổ chức xã hội xã hội chủ nghĩa”[57, tr.231]. Vì vậy, LLCT luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của một đảng. 1.3- Quả n lý thực hiệ n chương trình bồi dưỡ ng LLCT tạ i các Trung tâm BDCT chính trị cấ p huyệ n Bồi dưỡng LLCT là một bộ phận cơ bản trong công tác tư tưởng của Đảng; là quá trình phổ biến, truyền bá có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Giáo dục LLCT được thực hiện theo các chương trình quy định, nhằm xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan cộng sản, tạo nên bản lĩnh chính trị, niềm tin có cơ sở khoa học, vững chắc vào mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa; nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn, giáo dục đạo đức, lối sống, tinh thần tự giác và tính cực trong các hoạt động xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân đáp ứng yêu cầu của từng thời kỳ phát triển đất nước. Để đạt được mục đích và yêu cầu đó, đòi hỏi việc quản lý thực hiện chương trình giáo dục LLCT cần có một thiết chế tổ chức với những hình thức và phương pháp tiên tiến, phù hợp với những đặc trưng riêng của nó. Nghĩa là khi tiến hành thực hiện chương trình giáo dục LLCT đòi hỏi phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học và phương pháp dạy học tiên tiến như: Hệ thống chương trình, hệ thống tổ chức chỉ đạo và thực hiện, giáo trình, sách giáo khoa, đội ngũ cán bộ giảng dạy (giảng viên), cơ sở vật chất (trường, lớp, phấn, bảng,... và các phương tiện kỹ thuật khác để phục vụ cho quá trình dạy và học). Trong hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, chương trình giáo dục LLCT có nhiều cấp độ khác nhau như: Cử nhân, cao cấp, trung cấp, sơ cấp, bồi dưỡng ngắn hạn,... Ngoài ra còn có các chương trình giáo dục lý luận chuyên đề; chương trình học tập, quán triệt các nghị quyết Đại hội Đảng, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, Ban Bí thư; kế hoạch tự học theo hướng dẫn của cơ quan phụ trách;… Quản lý thực hiện chương trình giáo dục LLCT bao gồm các khâu: Từ phân cấp lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện; xây dựng lịch trình thực hiện; lựa chọn phương pháp thực hiện đến tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên. Trong phạm vi Luận văn này, tác giả xin phép được tập trung nghiên cứu về quản lý thực hiện chương trình giáo dục LLCT tại các TTBDCT cấp huyện tỉnh Bắc Ninh. 1.3.1- Chức năng , nhi ệ m vụ của Trung tâm BDCT chính trị cấ p huyệ n: Vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu đi từ khủng hoảng đến sụp đổ, phong trào cách mạng thế giới lâm vào thoái trào đã ảnh hưởng rất lớn đến Việt Nam. Từ đó gây nên những khó khăn không nhỏ trong công tác giáo dục LLCT, trước hết là những vấn đề cơ bản như: Khẳng định giá trị bền vững của Học thuyết Mác - Lênin, định hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội, vai trò lãnh đạo của Đảng,... Trong khi đó, tình hình kinh tế - xã hội nước ta chưa ra khỏi khủng hoảng. Cán bộ, đảng viên có biểu hiện ngại học LLCT, hệ thống trường Đảng huyện không duy trì được. Trước tình hình đó, Đảng ta đã thực hiện đường lối đổi mới phát triển đất nước. Sau hơn 20 năm thực hiện, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể. Lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân
- Xem thêm -