Biện pháp giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức và củng cố kĩ năng trong tiết ôn tập môn ngữ văn lớp 10 (ban cơ bản)

  • Số trang: 94 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA SƯ PHẠM BỘ MÔN SƯ PHẠM NGỮ VĂN -----    ----- LÊ HỮU THỜI BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC VÀ CỦNG CỐ KĨ NĂNG TRONG TIẾT ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN LỚP 10 (BAN CƠ BẢN) Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Sư phạm Ngữ văn Cán bộ hướng dẫn: VÕ HUY BÌNH Cần Thơ, 5-2013 CBHD: Võ Huy Bình Trang 1 SVTH: Lê Hữu Thời Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn LỜI CẢM ƠN -----    ----- Ai ơi ghi nhớ lời này Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy chớ quên. Bốn năm ở giảng đường Đại học là bốn năm tôi phải sống phụ thuộc vào gia đình, ra sức phấn đấu học tập để tự mình trang bị kiến thức và kĩ năng bước vào đời. “Công cha”, “nghĩa mẹ”, “ơn thầy” là những nhân tố quan trọng tiếp thêm niềm tin, nghị lưc giúp tôi vượt qua khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống. Nó quyết định đến sự thành công tương lai, sự nghiệp của tôi. Vì thế, là một người con đất Việt, tôi phải biết sống sao cho phù hợp với những giá trị truyền thống tốt đẹp của người Việt. Luận văn tốt nghiệp đánh dấu sự kết thúc quá trình học tập của bốn năm Đại học, là chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa tương lai. Đây là lần đầu tiên tôi nghiên cứu một vấn đề khoa học, nên không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực hiện đề tài. Nhưng nhờ sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy Võ Huy Bình, sự hỗ trợ của các bạn, sự động viên của gia đình và nỗ lực tìm tòi của bản thân, những khó khăn đó dần dần được khắc phục và tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Tôi xin cảm ơn quý thầy cô đã dẫn dắt và truyền đạt những kiến thức, kĩ năng cho tôi trong suốt quá trình học tập. Tôi xin cảm ơn tất cả các bạn đã giúp đỡ tôi trong việc tìm tài liệu nghiên cứu. Đặc biệt, tôi kính gởi lời biết ơn chân thành đến thầy Võ Huy Bình – người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành tốt công trình nghiên cứu. Cần Thơ, ngày 3 tháng 5 năm 2013 Sinh viên thực hiện Lê Hữu Thời CBHD: Võ Huy Bình Trang 2 SVTH: Lê Hữu Thời Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Từ ngàn đời nay, văn chương đã khẳng định được giá trị của mình đối với xã hội và trong đời sống chúng ta. Nó luôn được sử dụng như một công cụ đắc lực và không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của văn chương trong việc xây dựng xã hội và giữ gìn phẩm chất đạo đức con người. Người giáo viên được mệnh danh là “kĩ sư tâm hồn”. Họ không chỉ truyền đạt những kiến thức bổ ích làm hành trang tương lai cho học sinh mà còn đem đến những rung động, cảm xúc thẩm mĩ, tạo nên sự phát triển cân đối, toàn diện về tâm hồn, trí tuệ và xây dựng nhân cách cho các em. Lênin từng khẳng định “nếu không tích lũy được kiến thức của nhân loại thì người cộng sản chỉ là những anh nói khoác. Văn như một môn học phải vũ trang, nhất thiết phải vũ trang cho học sinh những kiến thức cơ bản, có hệ thống, vững chắc được quy định trong chương trình” [5; tr.54]. Thực tế những năm gần đây, môn Ngữ văn trong các trường phổ thông đang dần đánh mất vị thế của một môn học cuốn hút, say mê học trò thuở nào giờ đây chỉ còn là những tiết học thụ động, khiến học sinh cảm thấy nhàm chán. Cũng chính vì thế, vấn đề học văn trong nhà trường lại trở thành một đề tài thời sự nóng bỏng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà báo, nhiều nhà văn, nhà giáo và phụ huynh học sinh. Từ nhiều góc nhìn và trăn trở khác nhau, dư luận và cả thực tế hướng đến nhiều vấn đề đa dạng, phong phú: học sinh hiện nay không thích học văn, có sự sa sút về chất lượng học văn ở học sinh, những điều bất cập trong chương trình và sách giáo khoa, phương pháp dạy học cũ kĩ, tồn tại một số học sinh học theo kiểu đối phó, học sinh lười đọc, lười suy nghĩ về tác phẩm văn học, ngại viết, ngại luyện kĩ năng diễn đạt,... Thực trạng trước mắt đã đặt ra câu hỏi bức thiết phải nâng cao chất lượng học tập của học sinh, phải có những phương pháp dạy học mới để khôi phục động lực học tập, khơi dậy niềm say mê, tình yêu văn học của học sinh bằng những giờ học thật sự hấp dẫn, lôi cuốn. Những tiết ôn tập cuối năm là một phần rất quan trọng, giúp học sinh hệ thống hóa toàn bộ khối lượng kiến thức được dạy trong nhiều tuần, thậm chí suốt cả học kì. Thế nhưng nhìn chung ở cấp phổ thông, vấn đề củng cố và rèn luyện kĩ năng cho học sinh trong tiết ôn tập chưa được quan tâm và hầu như tất cả các giáo viên hơi xem nhẹ tiết dạy này. Thiết nghĩ, thời gian là điều kiện tốt nhất để nâng cao tri thức, nhưng nó CBHD: Võ Huy Bình Trang 3 SVTH: Lê Hữu Thời Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn cũng là “một chất ăn mòn” làm mai một tri thức nếu như ta không biết cách khơi gợi, nhắc lại và củng cố một cách có hệ thống. Vì thế, phải có biện pháp giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức và củng cố kĩ năng trong tiết ôn tập để nâng cao chất lượng dạy và học văn trong nhà trường. Giáo viên phải từng bước chuyển từ phương pháp dạy truyền thụ kiến thức sang phương pháp dạy học mới. Trong đó, học sinh dưới sự tổ chức, gợi mở, dẫn dắt của giáo viên tự mình chiếm lĩnh bài văn, tự rút ra những kết luận, những bài học cần thiết. Một số giáo viên có quan niệm cho rằng, tiết ôn tập không thật sự quan trọng vì những kiến thức đó đã được truyền đạt cho học sinh từ trước, hay họ ngại vì tốn nhiều thời gian và công sức. Trái lại, tổ chức tốt tiết ôn tập sẽ mang lại nhiều hiệu quả. Những học sinh khá, giỏi sẽ nắm kiến thức vững vàng và đào sâu tri thức hơn, còn những học sinh trung bình, yếu thì giúp các em hệ thống kiến thức lại một lần nữa. Từ đó có thể giúp quá trình học tập cũng như con đường tiếp nhận tri thức của học sinh ngày càng vững chắc, sâu rộng. Qua đó, ta thấy được sự cần thiết và tầm quan trọng của việc giúp học sinh củng cố kiến thức và rèn luyện kĩ năng trong tiết ôn tập. Vì thế, người viết đã chọn đề tài Biện pháp giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức và củng cố kĩ năng trong tiết ôn tập môn Ngữ văn lớp 10 (Ban cơ bản) để làm luận văn tốt nghiệp. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Mặc dù hệ thống hóa kiến thức và củng cố kĩ năng cho học sinh trong tiết ôn tập có vai trò quan trọng nhưng qua khảo sát của chúng tôi hiện nay, chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu một cách có hệ thống và đầy đủ về những biện pháp giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức và củng cố kĩ năng trong các tiết ôn tập Ngữ văn. Những tài liệu nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này chỉ dừng lại ở việc trình bày một số ý kiến, quan điểm riêng lẻ và rời rạc. Người viết đã chọn lọc những tài liệu làm cơ sở cho việc hệ thống hóa kiến thức và củng cố kĩ năng cho học sinh nhằm để khẳng định, đánh giá lại đề tài mà người viết đã chọn để tiến hành nghiên cứu. Trước hết là ý kiến về vấn đề tự ôn tập của bản thân học sinh và suy nghĩ của giáo viên trong quá trình hệ thống lại kiến thức cho các em. Trong cuốn Phương pháp dạy học văn, Phan Trọng Luận đã khẳng định: “Học sinh chúng ta chưa có những kĩ năng và thói quen bền vững: thói quen đọc sách, báo, văn nghệ, kĩ năng nói và viết trong giao tiếp xã hội, trình bày kiến thức văn học. Trong bài giảng giáo viên chưa chú ý thích đáng bài tập thực hành trên lớp, bài tập về nhà. Việc kiểm tra động viên CBHD: Võ Huy Bình Trang 4 SVTH: Lê Hữu Thời Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn học sinh hoạt động độc lập để thu nhận tri thức, hệ thống hóa kiến thức và củng cố kĩ năng văn học như đọc, kể, thuyết trình, bình luận, làm tóm tắt nội dung tác phẩm, tóm tắt cốt truyện, lập bảng hệ thống nhân vật, phát hiện hệ thống luận điểm trong văn học sử, lập dàn ý chặt chẽ trong tập làm văn chưa được coi trọng thường xuyên. Kĩ năng chưa biến thành hành vi tự động, chưa thành thói quen bền vững thì rất dễ dàng bị xóa mất” [4; tr.75]. Ý kiến này đã chứng minh được việc bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng chủ yếu là do học sinh, các em phải có một thái độ đúng đắn, biết lập kế hoạch học tập, biết cách để nâng cao tri thức rèn luyện kinh nghiệm. Cũng có thể nói rằng, đó là một phần các em tự ôn tập cho mình, tìm ra phương hướng học tập tốt, biết khái quát lại kiến thức, nhìn nhận, đánh giá lại vấn đề. Đây cũng là việc làm cần thiết, tự học sinh ôn tập đối với tất cả các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng. Bên cạnh việc các em tự ôn tập cho mình, người giáo viên cũng cần tìm biện pháp giúp các em hệ thống hóa kiến thức và củng cố kĩ năng, ôn tập lại vấn đề đã học. Vai trò của người giáo viên là định hướng, tác động để giúp học sinh ôn tập lại kiến thức nhưng một số giáo viên chưa thể phát huy và thực hiện hết chức năng này. Trong cuốn Phương pháp dạy học văn, tập 1, Phan Trọng Luận cũng đã đề cập “có giáo viên chỉ làm một cách vội vàng ít có hiệu quả khâu kết thúc bài giảng. Đây không phải là chuyện lặp lại nội dung đã phân tích mà là một bước có vị trí riêng của quá trình phân tích tác phẩm. Trong quá trình phân tích học sinh có khi đã dừng lại lâu ở những chi tiết, những sự kiện cụ thể của tác phẩm. Cho nên nhất thiết phải có sự tổng kết nội dung phân tích để tạo được một cái nhìn tổng thể về bài tập, về tác phẩm” [5; tr.273]. Ý kiến này đã khẳng định được vị trí của việc củng cố bài sau mỗi tiết học, góp phần thành công trong việc dạy học của người giáo viên. Điều này càng cho thấy việc ôn tập ở những tiết cuối năm lại hết sức cần thiết. Nó ôn tập lại toàn bộ kiến thức của một phần chương trình hoặc một năm học, giúp học sinh hệ thống lại kiến thức, lắp đầy lỗ hỏng và đào sâu tri thức hơn. Đồng thời còn củng cố được kĩ năng, nâng cao chất lượng học tập của học sinh. Ôn tập là một phần không thể thiếu đối với học sinh, nó chiếm một vị trí quan trọng trong một môn học của cả năm học. Nó làm sống lại kiến thức, kĩ năng cho học sinh, làm cho cách nhìn nhận của các em được sâu rộng hơn. Trong cuốn Phương pháp dạy học văn, tập 2, Phan Trọng Luận đã nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của tiết ôn tập văn học sử “ôn tập đó có tác dụng rất lớn đối với việc củng cố, nâng cao cũng như CBHD: Võ Huy Bình Trang 5 SVTH: Lê Hữu Thời Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn hệ thống hóa kiến thức văn học sử cho học sinh. Lâu nay, một số giáo viên thường coi nhẹ các bài ôn tập. Sách giáo khoa cũng hướng dẫn ôn tập một cách sơ sài, thường là chỉ bằng một số câu hỏi. Cần đánh giá đúng mức tác dụng của ôn tập văn học sử để tìm kiếm các phương hướng dạy sao cho có hiệu quả” [6; tr.117]. Ông đã nói lên được sức mạnh, chất lượng của tiết ôn tập mang lại cho học sinh và khẳng định được giá trị của nó trong chương trình môn học. Giá trị của tiết ôn tập là cần phải có bàn tay của giáo viên và học sinh thực hiện. Người giáo viên cần phải có cách nhìn xác đáng để tiến hành ôn tập cho học sinh, người học sinh cũng phải tích cực, chủ động và làm theo sự hướng dẫn của giáo viên. Từ đó, ta thấy “khâu củng cố kết quả học tập trên lớp không những thể hiện đúng đắn sự vận dụng quy luật tiếp nhận văn chương vào quá trình giảng văn mà còn có tác dụng đưa học sinh vào những hoạt động thực hành gắn người học sinh với đời sống văn học văn hóa của bản thân và của tập thể” [4; tr.209]. Hoạt động học văn phải gắn liền với những yêu cầu, quy luật của nó, phải có những biện pháp thích hợp. Khâu ôn tập chính là một phần không thể thiếu trong việc học văn, là một quá trình tiếp nhận tri thức tốt, biết khái quát, đào sâu kiến thức, biết được những kĩ năng cần thiết trong học tập cũng như trong đời sống xã hội. Để có thể giúp học sinh hệ thống hóa lại kiến thức và củng cố kĩ năng trong tiết ôn tập thì người giáo viên cần phải có nhiều biện pháp, tạo được một quá trình dạy học thật lí thú, phù hợp “đó là quá trình hoạt động nhận thức tự giác của học sinh, được thực hiện dưới sự hướng dẫn về mặt sư phạm của giáo viên, nhằm mục đích nắm kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, hình thành thế giới quan và phát triển nhân cách cũng như năng lực riêng về trí tuệ” [2; tr.119]. Thật vậy, người giáo viên cũng đóng vai trò chủ đạo trong việc giúp học sinh hệ thống lại kiến thức và củng cố kĩ năng trong quá trình học tập, là người dẫn dắt, tìm hướng đúng cho học sinh tiếp nhận tri thức. Một người giáo viên giỏi nhất thiết không phải ở chuẩn kiến thức của họ mà còn là con đường, biện pháp của họ giúp cho học sinh nắm được kiến thức, hình thành nên những kĩ năng trong học tập và trong cuộc sống. Việc học tập không chỉ thể hiện ở sự truyền đạt kiến thức của người thầy mà còn thể hiện ở sự tự tìm tòi, nghiên cứu của học sinh. Chúng phải có sự tác động qua lại lẫn nhau thì kết quả thu nhận được mới thực sự có hiệu quả. Một quá trình dạy học thì bao giờ cũng cần có sự trao đổi giữa thầy và trò, trao đổi về kiến thức, về kĩ năng làm bài. Chính từ đó mới có thể để lại dấu ấn sâu, và trở thành kiến thức của chính bản thân học sinh. Như Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc CBHD: Võ Huy Bình Trang 6 SVTH: Lê Hữu Thời Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn trong quyển Lí luận dạy học Địa Lí phần đại cương cũng đề cập “Tác động giữa giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học không phải là tác động đơn giản, mà là tác động qua lại độc đáo, trong đó giáo viên phải tổ chức hoạt động dạy làm sao để khêu gợi, phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trang bị cho các em những kĩ năng độc lập công tác để tự mình nhận thức, lĩnh hội được tri thức chuyển hóa chúng thành năng lực của bản thân” [2; tr.120]. Đúng vậy, chính sự tác động qua lại đó là một cơ hội, một phương pháp tốt để cho học sinh tiếp nhận kiến thức, hình thành kĩ năng cho chính mình. Tiết ôn tập cũng rất cần thiết trong sự tác động qua lại đó, bởi học sinh có sự tiếp thu và phản hồi kiến thức. Đây cũng là một nguyên tắc chung để áp dụng ôn tập cho học sinh. Ôn tập là công việc thực hiện để đáp ứng yêu cầu của việc giảng dạy Ngữ văn trong nhà trường phổ thông. Nhưng ta cần phải biết ôn tập như thế nào để có thể dễ dàng cho học sinh tiếp nhận tri thức và hình thành được kĩ năng. Đó là điều băn khoăn của các giáo viên. Trong cuộc thi Sáng tạo Giáo dục tác giả Hồng Điều cũng đã nhận xét “nhiều đề tài đặc biệt chú ý tới kĩ năng sống, kĩ năng làm việc theo nhóm – điều cần thiết của công dân trong một thế giới chuyển động và đòi hỏi sự thích ứng nhanh nhẹn như thời đại hiện nay” [3; tr.61]. Có thể thấy việc học của học sinh cần chú ý đến hợp tác nhóm, thông qua đó mà người học có thể nêu lên chính kiến của mình, tiếp nhận ý kiến của người khác để từ đó rút ra bài học cho bản thân. Đồng thời, làm việc nhóm cũng góp phần hình thành nên nhiều kĩ năng cho học sinh: kĩ năng giao tiếp, trình bày một vấn đề,... Ôn tập là tiết có số lượng kiến thức nhiều, nó bao quát và hệ thống khối lượng kiến thức của cả học kì hoặc cả một năm học nên việc học theo nhóm là rất cần thiết. Thời gian qua đi có những kiến thức học sinh còn mang đậm dấu ấn, có kiến thức đã bị mờ nhạt. Thông qua việc học tập này, các em có thể bổ sung kiến thức lẫn nhau, hoàn thành cho mình một kiến thức chuẩn theo chương trình học. Và học theo nhóm cũng có thể tiết kiệm được thời gian, làm cho tiết học diễn ra nhanh, đúng thời gian quy định của chương trình. Bên cạnh đó, trong Tạp chí Giáo dục số 192 kì 2 năm 2008, tác giả Lê Ngọc sơn cũng đã nêu lên biện pháp giúp hình thành và phát triển kĩ năng cho học sinh “dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là quá trình dạy học trong đó giáo viên tạo ra tình huống vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề, thông qua đó mà kiến tạo tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác” [12; tr.23]. Đây được xem là một phương CBHD: Võ Huy Bình Trang 7 SVTH: Lê Hữu Thời Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn pháp dạy học hay trong tiết ôn tập, nhưng cần đòi hỏi cao ở người giáo viên là phải biết cách thiết lập câu hỏi phù hợp, nhất là câu hỏi có vấn đề có vấn đề và học sinh phải biết tích cực tham gia hoạt động theo yêu cầu của giáo viên. Như thế mới có thể hoàn thành tiết ôn tập tốt, hoàn thành tốt hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Để có được kết quả như vậy, người giáo viên cần phải thiết kế bài dạy trước ở nhà, chuẩn bị một cách cẩn thận, chi tiết và phù hợp. Cũng như “Thiết kế bài dạy học là công việc của giáo viên trước khi lên lớp thực hiện bài giảng. Đó là khâu xây dựng kế hoạch, tổ chức hoạt động học tập để học sinh nhận thức kiến thức, và rèn luyện kĩ năng, thái độ” [12; tr.23]. Lịch sử nghiên cứu vấn đề đã cho ta thấy rõ được vị trí, vai trò của việc hệ thống hóa kiến thức và củng cố kĩ năng cho học sinh là hết sức cần thiết. Có một số biện pháp đề cập đến vấn đề này trong dạy học nói chung và trong dạy Ngữ văn nói riêng. Trên cơ sở tham khảo những tài liệu đó, người viết sẽ đi sâu tìm hiểu những biện pháp giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức và củng cố kĩ năng trong dạy học Ngữ văn. Từ đó, vận dụng những biện pháp trên vào việc tiến hành dạy tiết ôn tập cho học sinh sao phù hợp với yêu cầu, kết quả cần đạt được của chương trình học Ngữ văn. 3. Mục đích nghiên cứu Ở đề tài Biện pháp giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức và củng cố kĩ năng trong tiết ôn tập môn Ngữ văn lớp 10 (Ban cơ bản) người viết tìm hiểu để có thể đưa ra một số biện pháp thích hợp nhằm giúp cho học sinh có thể củng cố kiến thức và kĩ năng trong học tập, thiết kế được các hoạt động dạy và học để tăng cường hiệu quả của tiết ôn tập, cung cấp và chia sẻ kinh nghiệm để đồng nghiệp tham khảo. Đồng thời đây còn là bước đầu hình thành kĩ năng cho người nghiên cứu để có thể thiết kế các bài dạy sau này một cách tốt hơn. 4. Phạm vi nghiên cứu Do phạm vi đề tài được giới hạn trong tiết ôn tập nên người viết chỉ đi sâu vào nghiên cứu các biện pháp giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức và củng cố kĩ năng trong tiết ôn tập Ngữ văn lớp 10 (Ban cơ bản). Từ đó đề xuất các biện pháp thích hợp để học sinh có thể nắm vững những kiến thức chính và kĩ năng trong chương trình Ngữ văn lớp 10. 5. Phương pháp nghiên cứu CBHD: Võ Huy Bình Trang 8 SVTH: Lê Hữu Thời Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn Để thực hiện tốt đề tài luận văn này, người viết đã phối hợp một số phương pháp sau: - Phương pháp sưu tầm, tổng hợp tài liệu có liên quan đến đề tài thông qua sách vở, tạp chí, các công trình nghiên cứu để viết về lịch sử vấn đề nghiên cứu và xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu. - Các phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp để tìm hiểu đưa ra biện pháp giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức và củng cố kĩ năng trong tiết ôn tập. CBHD: Võ Huy Bình Trang 9 SVTH: Lê Hữu Thời Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn B. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC VÀ CỦNG CỐ KĨ NĂNG CHO HỌC SINH TRONG CÁC TIẾT ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN 1. Mục tiêu dạy học môn Ngữ văn trong trường THPT 1.1. Mục tiêu chung dạy học môn Ngữ văn ở THPT Môn Ngữ văn là một môn học có vai trò quan trọng trong chương trình đào tạo từ xưa cho đến nay. Cũng chính vì thế mà mục tiêu được đặt ra cao hơn, đòi hỏi người giáo viên và học sinh phải nỗ lực, cố gắng trong quá trình dạy và học. Môn Ngữ văn (bao gồm 3 bộ phận: Đọc văn; Tiếng Việt; Làm văn) là một môn học mang tính tích hợp, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho học sinh trong việc tiếp thu, trau dồi kiến thức. Đây còn là một môn học có nền tảng, làm tiền đề cho việc đánh giá trình độ văn hóa của con người. Dạy và học tốt môn Ngữ văn chẳng những tạo cơ sở cho học sinh học tốt các môn học khác mà còn phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu văn hóa nhân loại, giáo dục tư tưởng, tình cảm cao đẹp cho con người. Mục tiêu dạy học môn Ngữ văn cũng được cụ thể hóa ở từng cấp học, lớp học, phân môn,… Ở THPT môn Ngữ văn là sự tích hợp của ba môn học. Phân môn Đọc văn có chức năng cung cấp một hệ thống tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại về văn học Việt Nam và thế giới, thông qua việc phân tích tác phẩm văn chương mà bồi dưỡng cho học sinh những giá trị Chân – Thiện – Mỹ. Học sinh không chỉ được rèn luyện năng lực phân tích, cảm thụ tác phẩm nghệ thuật, mà còn biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống. Phân môn Làm văn có chức năng rèn luyện kĩ năng viết văn bản. Chức năng của phân môn Tiếng Việt là hình thành và rèn luyện cho học sinh năng lực sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ với bốn kĩ năng cơ bản: đọc, viết, nghe, nói, qua đó mà rèn luyện tư duy; giúp các em có những hiểu biết nhất định về hệ thống tri thức tiếng Việt và ngôn ngữ để sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo, có ý thức; giúp học sinh biết yêu quý tiếng Việt, có ý thức giữ gìn, bảo vệ và phát triển tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách và bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm,… Đồng thời, CBHD: Võ Huy Bình Trang 10 SVTH: Lê Hữu Thời Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn môn Ngữ văn còn giúp ta nắm được phương pháp học tập bộ môn, tạo thành tập quán học tập Ngữ văn, biết tìm tòi, phát hiện, suy nghĩ, giải quyết vấn đề, làm cơ sở cho sự phát triển trí tuệ và nhân cách suốt đời. Tác giả Phan Trọng Luận cũng đã đề cập “xét về mục tiêu giáo dục thì môn giảng văn có một ưu thế đặc biệt, đó là sức mạnh riêng của các tác phẩm văn chương trong việc bồi dưỡng tâm hồn và nhân cách cho học sinh. Cảm xúc thẩm mĩ, tình cảm nhân văn, lòng yêu đất nước nhân dân, khát vọng sống cao thượng, v.v… được bắt nguồn và hình thành một cách có hệ thống và sâu sắc, nhất là trong các giờ giảng văn ở nhà trường phổ thông và chính đó cũng là những hành trang quý báu cho các em đi vào đời sống công dân sau này” [5; tr.163]. Trong quá trình dạy học, với đặc trưng riêng của mình, môn Ngữ văn hướng tới bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu tiếng Việt, yêu văn hóa, văn học nước nhà. Giáo dục lòng yêu nước và tự hào dân tộc, tinh thần nhân văn, lí tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức cao thượng, thị hiếu thẩm mĩ tốt, đa dạng. Hướng dẫn học sinh quan tâm, tu dưỡng phẩm chất văn hóa cá nhân, góp phần hình thành nhân cách người lao động mới trong xã hội mới và thời đại mới. 1.2. Mục tiêu dạy học môn Ngữ văn lớp 10 Một trong những nguyên tắc khi biên soạn chương trình Ngữ văn THPT là bám sát tiến trình phát triển của nền văn học Việt Nam. Do vậy, chương trình Ngữ văn từ lớp 10 đến lớp 12 thể hiện rõ lịch sử phát triển của văn học. Ngoài những mục tiêu chung của việc dạy học môn Ngữ văn, ở chương trình dạy học Ngữ văn lớp 10 (Ban cơ bản), ta sẽ đi tìm hiểu về những thành tựu ban đầu của nền văn học. Đó là thời kì của văn học dân gian và giai đoạn đầu của thời kì văn học viết (văn học trung đại). Nó đòi hỏi phải đạt được những mục tiêu riêng về kiến thức, kĩ năng, thái độ để làm tiền đề cho việc tiếp nhận văn học ở những thế kỉ tiếp sau này. Về kiến thức, người giáo viên cần phải quan tâm sâu sắc đến việc truyền đạt kiến thức cho học sinh. Không chỉ dạy tác phẩm văn học mà còn hướng các em liên hệ đến đời sống thực tế. Dạy cho các em hiểu rõ đâu là giá trị truyền thống, đâu là các chuẩn mực đạo đức xã hội để hình thành nhân cách cho học sinh, giúp các em trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Đồng thời cũng cần tạo cho các em có cách nhìn nhận và thiết lập một quan điểm đúng đắn khi đánh giá một vấn đề. Hơn nữa, môn Ngữ văn lớp 10 cũng cho ta biết được sự bắt đầu hình thành và dần dần phát triển của văn học nước nhà, dạy cho ta biết cách sử dụng từ ngữ trong tiếng Việt ở những hoàn CBHD: Võ Huy Bình Trang 11 SVTH: Lê Hữu Thời Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn cảnh cụ thể và bước đầu hình thành việc viết văn cho học sinh. Ngoài việc chú trọng giáo dục, phát triển tình cảm thẩm mĩ, nhân văn cho học sinh thì người giáo viên cũng cần phải quan tâm đến việc phát triển tư duy lôgic, tư duy khoa học và những vấn đề của cuộc sống mà hằng ngày và sau này học sinh sẽ đối mặt. Về kĩ năng, chú trọng về định hướng nghiên cứu trong đọc văn, bao quát các hiện tượng tác phẩm, tác giả, thể loại, gợi năng lực phát hiện sáng tạo cho học sinh. Chương trình Ngữ văn 10 (Ban cơ bản) giúp rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc hiểu các loại văn bản, tiến đến hiểu đúng về nội dung, tư tưởng tác phẩm, rèn luyện năng lực phân tích tổng hợp, đánh giá vấn đề, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống,… Các kĩ năng mà học sinh có được ở môn học này không chỉ giúp học tốt những môn học khác mà còn cần thiết cho cuộc sống của các em trong tương lai. Về thái độ, các bài học trong các phân môn: Đọc văn, Tiếng Việt, Làm văn đều được thiết kế giảng dạy với mục tiêu bồi dưỡng thái độ quan niệm sống tích cực cho học sinh. Giúp các em biết trân trọng, gìn giữ những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, biết yêu cái đẹp, biết nhìn nhận cuộc sống với cái nhìn đa chiều, biết yêu mến và học tập tinh hoa văn hóa nhân loại. Từ đó giúp học sinh hình thành nhân cách tốt của con người hiện đại. Tóm lại, những mục tiêu kể trên đều hướng đến giáo dục học sinh một cách toàn diện. Bởi đây là năm học đầu tiên của bậc THPT nên cần tạo một cở sở để cho các em tiếp nhận tri thức, hình thành kĩ năng trong những năm học tiếp theo và trong hành trình cuộc sống sau này. 2. Quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm Quá trình dạy học gồm hai mặt quan hệ hữu cơ: hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Trong lí luận dạy học có những quan niệm khác nhau về vai trò của giáo viên và vai trò của học sinh nhưng tựu chung lại có hai hướng: hoặc tập trung vào vai trò hoạt động của giáo viên (lấy giáo viên làm trung tâm) hoặc tập trung vào vai trò hoạt động của học sinh (lấy học sinh làm trung tâm). Những năm gần đây các tài liệu giáo dục và dạy học ở nước ngoài và trong nước thường nói tới việc cần thiết phải chuyển từ dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sang dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Đây là một xu hướng tất yếu và phù hợp với thời đại. Theo bài giảng lý luận dạy học Ngữ văn của nhóm tác giả Nguyễn Minh Chính, Nguyễn Thị Hồng Nam, Trần Đình Thích, Hà Hồng Vân trường Đại học Cần Thơ, CBHD: Võ Huy Bình Trang 12 SVTH: Lê Hữu Thời Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn 2002, quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm đặc biệt được xem trọng “Học sinh trở thành trung tâm của quá trình dạy học”. Trong quá trình giáo dục – dạy học, người học vừa là đối tượng vừa là chủ thể. Thông qua sự chỉ đạo của giáo viên, người học phải chủ động cải biến bản thân, không ai làm thay cho mình được. Trò học tích cực bằng các hành động của chính mình, tự tìm ra cái chưa biết, cái cần khám phá, tự tìm ra kiến thức, chân lí. Điều đó sẽ giúp các em nhớ được kiến thức lâu hơn và vận dụng nó một cách linh hoạt, sáng tạo. Trong phương pháp dạy học này, toàn bộ quá trình dạy học đều hướng vào nhu cầu, khả năng, lợi ích của học sinh. Mục đích là phát triển ở học sinh những kĩ năng và năng lực độc lập học tập giải quyết các vấn đề,… Còn lớp học là cộng đồng các chủ thể, là thực tiễn xã hội hiện tại và cả tương lai của người học trong nhà trường. Lớp học được tổ chức nhằm mục đích giáo dục, là môi trường xã hội trung gian giữa thầy – trò. Trong lớp học mức độ khả năng học tập của mỗi học sinh sẽ có sự chênh lệch. Vì thế, nếu những thành viên trong lớp học có sự chủ động, tích cực, hợp tác sẽ tạo cơ hội để các em tiếp nhận, trao đổi kiến thức và dễ dàng tiến bộ trong học tập. Trong quá trình dạy học lấy học sinh làm trung tâm, người dạy cũng đóng vai trò quan trọng. Muốn thực hiện dạy học theo hướng đó, người thầy vừa phải chú ý đến người học vừa phải chú ý đến điều để học. Giáo viên là người hướng dẫn vì vậy phải không ngừng vươn lên học tập suốt đời để làm gương tốt cho học sinh. Người thầy phải là người có khả năng tổ chức, điều khiển mọi hoạt động của học sinh, giúp học sinh học tập tốt. Vai trò của giáo viên là tạo ra những tình huống để phát triển vấn đề, giúp học sinh nhận biết vấn đề, lập giả thuyết, làm sáng tỏ và thử nghiệm các giả thuyết để rút ra kết luận. Ở đây, các nhà nghiên cứu cũng coi trọng việc tổ chức cho học sinh hoạt động độc lập hoặc theo nhóm. Học sinh vừa tự mình nắm các tri thức, kĩ năng mới, đồng thời được rèn luyện về phương pháp tự học, được tập dượt phương pháp nghiên cứu. Giáo viên quan tâm vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân và của tập thể học sinh để xây dựng bài học. Giáo án được thiết kế theo kiểu phân nhánh. Những dự kiến của giáo viên phải được tập trung chủ yếu vào các hoạt động của học sinh và cách tổ chức các hoạt động đó, cùng với khả năng diễn biến các hoạt động của học sinh để khi lên lớp có thể linh hoạt điều chỉnh theo diễn tiến của tiết học, thực hiện giờ học phân hóa theo trình độ và năng lực của học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho sự bộc lộ và phát triển tiềm năng của mỗi em. Để phát huy tính chủ động của học sinh trong học tập việc đánh giá kết quả đạt được cũng CBHD: Võ Huy Bình Trang 13 SVTH: Lê Hữu Thời Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn có sự thay đổi. Nếu như trước đây giáo viên là người trực tiếp đánh giá khả năng, kết quả học tập của học sinh thì hiện nay học sinh cũng có quyền tham gia vào hoạt động đó. Học sinh tự đánh giá kết quả học tập của chính bản thân mình và đánh giá kết quả học tập của bạn học. Từ đó, học sinh có thể nhận ra những sai lầm, thiếu sót của bản thân, của người khác và tự rút ra kinh nghiệm cho mình. Học sinh cũng nhận ra những cách suy nghĩ, ý kiến hay, sáng tạo của bạn học và đúc kết điều đó thành bài học, kiến thức cho bản thân. Trong việc đánh giá có hai kết quả cần đánh giá: tính chính xác của kiến thức và nguyên nhân những lỗi lầm trong nhận thức. Đồng thời cũng có ba biện pháp đánh giá: thầy đánh giá, trò tự đánh giá, học sinh đánh giá lẫn nhau. Những điều nói trên cũng rất phù hợp với một phương châm giáo dục nổi tiếng của UNICEF: “Dạy học không phải là ban bố những gì mà ta có, mà là giúp người học phát hiện sự phong phú của chính mình” [13; tr.115]. Đây cũng là một phương châm dạy học theo quan điểm lấy học sinh làm trung tâm. Vấn đề dạy học lấy học sinh làm trung tâm là một cách dạy học mới, có nhiều hiệu quả và là nguyên tắc xuyên suốt để học sinh thật sự tham gia vào hoạt động học tập. Để chứng minh cho việc dạy học theo quan điểm lấy học sinh làm trung tâm là một phương pháp dạy học tốt và đạt hiệu quả cao, bảng dưới đây sẽ so sánh quan điểm trên với quan điểm truyền thống dạy học lấy giáo viên làm trung tâm. Từ đây, ta có thể thấy rõ được vai trò, vị trí và tầm quan trọng của việc dạy học “lấy học sinh làm trung tâm”. Dạy học lấy giáo viên làm trung Dạy học lấy học sinh làm trung tâm tâm Học là quá trình tiếp thu và lĩnh Học là quá trình kiến tạo, học sinh Quan niệm hội. Qua đó hình thành kiến thức, tìm tòi, khám phá, xử lí thông tin, tư tưởng. tự hình thành hiểu biết, năng lực, phẩm chất. Truyền thụ tri thức, chứng minh Tổ chức hoạt động nhận thức cho Bản chất học sinh. Dạy học sinh cách tìm ra chân lí. chân lí. Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ Chú trọng hình thành các năng năng. Học để đối phó với thi cử. lực: sáng tạo, hợp tác,… Dạy CBHD: Võ Huy Bình Trang 14 SVTH: Lê Hữu Thời Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn Sau khi thi những điều đã học phương pháp, dạy cách học cho thường bị quên hoặc ít dùng đến. học sinh. Những điều đã học giúp ích cho học sinh trong cuộc sống, cho sự phát triển xã hội. Từ sách giáo khoa, từ giáo viên. Từ nhiều nguồn: sách giáo khoa, giáo viên, thực tế, các tài liệu Nội dung khoa học phù hợp gắn với vốn hiểu biết, kinh nghiệm thực tế cuộc sống của học sinh. Phương pháp Hình thức tổ chức Phương tiện Các phương pháp truyền thụ kiến Các phương pháp giải quyết vấn thức một chiều. đề. Có sự trao đổi kiến thức. Cố định, cứng nhắc. Giáo viên đối Cơ động, linh hoạt: học cá nhân, diện với cả lớp. học đôi bạn, học sinh với giáo viên, học sinh với học sinh. Chưa được quan tâm đúng mức. Các thiết bị hiện đại, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học giảng dạy. Giáo viên là người độc quyền Học sinh tự chịu trách nhiệm về Kiểm tra đánh giá đánh giá kết quả học tập của học kết quả học tập của mình. Được sinh, chú ý khả năng ghi nhớ và tham gia đánh giá lẫn nhau. tái hiện các thông tin giáo viên đã cung cấp. Dạy học theo truyền thống lấy giáo viên làm trung tâm là cách truyền thụ một chiều từ thầy đến trò. Việc đánh giá chủ yếu nhằm xem trò nắm được bao nhiêu thông tin, chính xác ở mức độ nào, điều đó quan trọng hơn là xem trò hiểu như thế nào. Còn dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm là mối quan hệ hai chiều giữa thầy và trò. Thầy huy động vốn kiến thức đã có ở trò để giúp trò xây dựng kiến thức mới. Việc đánh giá chủ yếu là xem sự hứng thú, lợi ích của trò, xem trò hiểu đến đâu và hiểu như thế nào. Mục đích của việc dạy học này là làm cho trò biết cách học và học phải hiểu. Tóm lại, trong quá trình chuyển từ kiểu dạy học truyền thống sang kiểu dạy học mới có sự thay đổi về tỉ trọng, nội dung vai trò của người dạy và người học. Dạy học CBHD: Võ Huy Bình Trang 15 SVTH: Lê Hữu Thời Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn lấy học sinh làm trung tâm phát huy được vai trò chủ động, tích cực và sáng tạo của học sinh, đồng thời đề cao hơn vai trò của người thầy. Ở đây, giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu, có trình độ sư phạm lành nghề, có đầu óc sáng tạo và nhạy cảm mới có thể đóng vai trò là người gợi mở, xúc tác, trợ giúp, hướng dẫn, động viên, cố vấn trong các hoạt động của học sinh, đánh thức năng lực tiềm tàng trong mỗi em, chuẩn bị cho học sinh tham gia tích cực vào phát triển cộng đồng. Những ý kiến trên đã chứng minh cho việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm là một quan điểm dạy học hiện đại, đạt nhiều hiệu quả và được nhiều giáo viên áp dụng hiện nay. Đối với các tiết ôn tập, vấn đề trung tâm của học sinh lại càng quan trọng hơn nữa. Giáo viên không nên chỉ nêu ra, nhắc lại, liệt kê các bài, các kiến thức đã học mà cần phải thiết kế các hoạt động các phương tiện hỗ trợ để học sinh tự mình hệ thống kiến thức, củng cố kĩ năng trên lớp, tiếp tục ôn tập, nâng cao kĩ năng ở nhà để chuẩn bị cho các kì thi, kiểm tra và cho cấp lớp cao hơn. Như thế, đã khẳng định được dạy học lấy học sinh làm trung tâm trong tiết ôn tập là một việc làm cần thiết. Giáo viên chủ yếu chỉ đóng vai trò là người chỉ đạo, người hướng dẫn để cho học sinh tự thực hiện, đúc kết kiến thức và kĩ năng cho bản thân mình trong học tập cũng như trong cuộc sống. 3. Các bậc nhận thức của Bloom Theo Bloom, nhận thức của học sinh được xét theo mức độ từ dễ đến khó, từ cao đến thấp, từ đơn giản đến phức tạp. Nhận thức của học sinh được chia thành 6 bậc đánh giá sau đây: 3.1. Biết (nhớ) Đây được xem là bậc thấp nhất trong các bậc nhận thức của Bloom. Nó yêu cầu học sinh nhớ, tái hiện lại kiến thức mà chưa cần phải hiểu một cách cặn kẽ và thấu đáo. Các câu hỏi được đặt ra với yêu cầu tái hiện kiến thức chính là những câu hỏi thuộc bậc nhận thức này. Ví dụ: - Đọc thuộc lòng bài thơ Cảm xúc mùa thu (Thu hứng) của Đỗ Phủ. - Nêu khái niệm của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt. 3.2. Hiểu Bậc nhận thức này đòi hỏi người học không những nhớ được kiến thức mà còn phải lí giải được những kiến thức đã học, biết diễn giải nội dung đã học theo một cách CBHD: Võ Huy Bình Trang 16 SVTH: Lê Hữu Thời Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn khác. Đối với môn Ngữ văn, mức độ nhận thức này được thể hiện trong những câu hỏi yêu cầu học sinh lí giải ý nghĩa của chi tiết, sự kiện hoặc một nhận định nào đó xung quanh tác phẩm đã học. Ví dụ: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao.” Hãy nêu nội dung và biện pháp nghệ thuật được sử dụng ở hai câu thơ trên? 3.3. Vận dụng Đây là bậc nhận thức cao đòi hỏi người học phải nhớ, hiểu có khả năng áp dụng các vấn đề đặt ra, có khả năng trình bày các vấn đề đã học bằng ngôn ngữ của mình, giải quyết những vấn đề trong học tập và trong cuộc sống. Ở mức độ này, người học phải vận dụng các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, nhận xét, đánh giá, vận dụng các kiến thức đã học, đã nhớ. Trong giảng dạy môn Ngữ văn, chúng ta thường kiểm tra mức độ nhận thức học sinh ở mức độ vận dụng. Ví dụ: Cảm nhận của anh (chị) về vẻ đẹp của thiên nhiên và tâm hồn Nguyễn Trãi qua bài thơ Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới – bài 43). 3.4. Phân tích Mức độ này yêu cầu học sinh phải làm chủ được tri thức của mình, đồng thời phải nhanh nhẹn trong các thao tác tư duy. Thao tác phân tích rèn luyện cho học sinh khả năng chia nhỏ vấn đề để so sánh, đối chiếu nhằm tìm hiểu một cách chi tiết toàn bộ đối tượng. Ví dụ: Phân tích những điểm khác nhau về tính cách giữa Trương Phi và Quan Công. 3.5. Tổng hợp Là nhìn bao quát lên một chỉnh thể gồm nhiều bộ phận (sau khi đã phân tích), mô tả được bức tranh toàn cảnh của chỉnh thể, các mối quan hệ giữa các bộ phận của chỉnh thể với nhau và quan hệ của chỉnh thể với môi trường xung quanh. Bậc nhận thức này có yêu cầu cao đối với người học. Muốn đạt được yêu cầu thì người học phải hiểu được thấu đáo đối tượng, biết phân tích nó rồi sau đó mới có thể mô tả toàn cảnh đối tượng đó bằng ngôn ngữ của mình, chú ý sắp xếp các bộ phận cấu thành (đã phân tích) theo một trật tự hợp lí để có thể xếp nó vào một loại đối tượng mới, từ đó tìm ra CBHD: Võ Huy Bình Trang 17 SVTH: Lê Hữu Thời Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn hướng giải quyết đối tượng theo nhiệm vụ đã đặt ra hoặc tìm theo hướng phân tích tiếp theo. Ví dụ: Phân tích bi kịch của Thúy kiều qua đoạn trích Nỗi thương mình (Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) để thấy được thành công trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của tác giả. 3.6. Đánh giá Đánh giá là khả năng đưa ra nhận định, phán xét về đối tượng nào đó đã được phân tích, tổng hợp: đúng hay sai, hay hay dở, chính xác hay không chính xác, có giá trị hay không có giá trị,… Để đạt được yêu cầu này, học sinh không những phải thực hiện tốt những thao tác phân tích, tổng hợp mà còn phải có trình độ và kinh nghiệm sống nhất định. Ví dụ: Đánh giá vai trò, vị trí của tác gia Nguyễn Trãi đối với nền văn học Việt Nam. Kết luận: qua việc tìm hiểu các bậc nhận thức của Bloom để có thể xác định được kiến thức, kĩ năng cần hệ thống hóa cho học sinh trong tiết ôn tập. Tiết ôn tập không thể chỉ tập trung tái hiện, nhắc lại những gì học sinh đã học, đã biết mà còn coi trọng phát triển những kĩ năng, năng lực bậc cao trong nhận thức của học sinh theo thang nhận thức của Bloom: biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá. Từ đó, ta có thể xây dựng tốt hoạt động dạy và học, xây dựng tốt các biện pháp giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức và củng cố kĩ năng trong các tiết ôn tập Ngữ văn lớp 10 (Ban cơ bản). 4. Tiêu chí lựa chọn các phương pháp giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức và củng cố kĩ năng trong các tiết ôn tập môn Ngữ văn Trước hết, ta tìm hiểu thế nào là phương pháp. “Theo nghĩa chung nhất, phương pháp là con đường, là cách thức mà chủ thể sử dụng để tác động nhằm chiếm lĩnh hoặc biến đổi đối tượng theo mục đích đã định” [15; tr.91]. Theo nhóm tác giả Nguyễn Minh Chính, Nguyễn Thị Hồng Nam, Trần Đình Thích, Hà Thị Hồng Vân thì có những phương pháp dạy học sau: - Phương pháp diễn giảng. - Phương pháp đàm thoại. - Phương pháp trực quan. CBHD: Võ Huy Bình Trang 18 SVTH: Lê Hữu Thời Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn - Phương pháp thảo luận nhóm. Chúng ta có thể thấy mỗi phương pháp dạy học đều có những ưu thế và hạn chế nhất định, bởi lẽ không có phương thuốc nào có thể chữa được bách bệnh, không có phương pháp dạy học nào là chìa khóa vạn năng, là tối ưu cho mọi trường hợp. Chính vì thế việc nghiên cứu kĩ nội dung bài giảng, đặc điểm riêng của từng môn học và đối tượng người học góp phần thành công trong tiết dạy nói chung và trong dạy học Ngữ văn nói riêng. Thêm vào đó, việc sử dụng có hiệu quả mỗi cách dạy luôn đòi hỏi người dạy và người học phải có những phẩm chất, kĩ năng nhất định và những điều kiện cần thiết để đảm bảo thực hiện. Vì vậy, vấn đề không phải là cách dạy nào tốt hơn, mà là cách dạy nào phù hợp hơn. Cho nên việc lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp, hiệu quả cần dựa trên các tiêu chí sau: Thứ nhất, là việc lựa chọn những phương pháp dạy học có khả năng cao nhất đối với việc thực hiện mục tiêu dạy học. Như trên đã trình bày, mỗi phương pháp dạy học đều có những điểm mạnh, điểm hạn chế nhất định. Nhưng khi xem xét việc thực hiện một mục tiêu dạy học nhất định thì có một số phương pháp dạy học có khả năng cao hơn các phương pháp dạy học khác. Tùy thuộc vào mục tiêu yêu cầu cần đạt được của quá trình dạy học mà lựa chọn phương pháp nào cho thích hợp. Thứ hai, lựa chọn các phương pháp dạy học phải phù hợp với nội dung bài dạy. Giữa nội dung và phương pháp dạy học có mối quan hệ tác động lẫn nhau, trong nhiều trường hợp quy định lẫn nhau. Ở bình diện kĩ thuật dạy học, phương pháp dạy học cần tương thích với nội dung dạy học. Mỗi nội dung dạy học phải lựa chọn những phương pháp dạy học phù hợp với nội dung dạy học đó. Thứ ba, lựa chọn phương pháp dạy học cần chú ý đến đối tượng học sinh và kinh nghiệm sư phạm của giáo viên. Ở đây, khi lựa chọn phương pháp dạy học người giáo viên cần quan tâm tìm hiểu nhu cầu, hứng thú, thói quen của học sinh. Đối với những trường hợp cần trình bày thông tin thì giáo viên nên ưu tiên lựa chọn các phương pháp sử dụng phương tiện nghe, nhìn. Đối với các hoạt động khám phá thông tin thì cần tổ chức các hoạt động để học sinh tự phát hiện, phối hợp với làm việc theo nhóm, phát huy càng tối đa tính tích cực, sáng tạo của học sinh càng tốt. Mặt khác, trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần chú ý thay đổi phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tránh nhàm chán, từ đó gây hứng thú cho người học. Kinh nghiệm cho thấy trong một tiết dạy, người giáo viên cần thay đổi, sử dụng ít nhất là hai phương pháp, hình thức CBHD: Võ Huy Bình Trang 19 SVTH: Lê Hữu Thời Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: Sư phạm Ngữ văn dạy học để đạt hiệu quả. Bên cạnh đó, giáo viên cũng phải quan tâm ưu tiên lựa chọn các phương pháp dạy học mà học sinh và giáo viên đã thành thạo. Quán triệt vấn đề này sẽ đảm bảo cho giáo viên và học sinh tích cực, chủ động trong việc truyền đạt cũng như tiếp nhận kiến thức của bài học. Tuy nhiên, không vì vấn đề này mà ta quay trở lại với phương pháp truyền thụ một chiều. Ngược lại, giáo viên cần tạo cơ hội để học sinh trao đổi và tự rút ra bài học cho bản thân. Thứ tư, việc lựa chọn phương pháp dạy học phải phù hợp với điều kiện dạy học hiện có. Yêu cầu này đặt ra vấn đề việc lựa chọn phương pháp dạy học nào cũng cần phải đặt nó trong mối quan hệ với các điều kiện vật chất, đặc biệt là thiết bị dạy học: điều kiện của nhà trường, phòng học, quy mô lớp học và thời gian cũng là một vấn đề không thể thiếu trong việc lựa chọn phương pháp dạy học. Qua những tiêu chí trên, ta cần phải biết chọn lựa cho mình một phương pháp dạy đúng đắn, phù hợp và đạt hiệu quả cao trong việc dạy học nói chung và trong việc giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức và củng cố kĩ năng trong tiết ôn tập Ngữ văn 10 (Ban cơ bản) nói riêng. Phương pháp dạy học nào được sử dụng cũng cần phù hợp với thực tế, đem lại hiệu quả thiết thực. 5. Một số phương pháp giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức và củng cố kĩ năng trong các tiết ôn tập môn Ngữ văn Trong các phương pháp dạy học trên, phương pháp quan trọng và cần tăng cường sử dụng để hệ thống hóa kiến thức và củng cố kĩ năng trong các tiết ôn tập môn Ngữ văn là phương pháp trực quan và phương pháp thảo luận nhóm. Hai phương pháp này có thể giúp người giáo viên và học sinh thực hiện tốt mục tiêu dạy – học tiết ôn tập. 5.1. Phương pháp trực quan 5.1.1. Khái niệm Theo triết học duy vật biện chứng và các thành tựu tâm lí học cho rằng “trực quan theo nghĩa đúng của nó không đơn giản chỉ là quan sát sự vật bằng các giác quan, mà là hành động, tác động lên sự vật, làm biến đổi các dấu hiệu bề ngoài của chúng, làm cho các bản chất, các mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của chúng được bộc lộ, được phơi bày một cách cảm tính, mà nếu không có sự tác động đó thì chúng mãi còn là bí ẩn đối với nhận thức của con người” [8; tr.342]. CBHD: Võ Huy Bình Trang 20 SVTH: Lê Hữu Thời
- Xem thêm -