Báo cáo tuyên bố thế giới về môi trường và phát triển

  • Số trang: 31 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

BÁO CÁO TUYÊN BỐ THẾ GIỚI VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN Nhóm thực hiện: 1 1. Lê Thị Thu Huyền 2. Hoàng Văn Hùng 3. Phan Đình Hưng MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................................................ 3 1. HỘI NGHỊ STOCKHOLM 1972 ................................................................................... 3 1.1 Bối cảnh ............................................................................................................................ 3 1.2 Nội dung ........................................................................................................................... 4 1.2.1 Tuyên bố Stockholm ....................................................................................................... 4 1.2.2 Công ước Stockholm về chất hữu cơ khó phân hủy POP .............................................. 8 1.3 Ý nghĩa ............................................................................................................................. 9 1.4 Việt Nam với hội nghị Stockholm 1972 ......................................................................... 10 2. HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH TRÁI ĐẤT RIO 1992 .................................................... 10 2.1 Bối cảnh ......................................................................................................................... 10 2.2 Nội dung hội nghị ........................................................................................................... 12 2.2.1 Tuyên bố Rio về “môi trường và phát triển” ........................................................ 12 2.2.2 Tuyên bố các nguyên tắc về rừng .......................................................................... 15 2.2.3 Công ước khung về biến đổi khí hậu .................................................................... 17 2.2.4 Công ước đa dạng sinh học ................................................................................... 17 2.2.5 Chương trình nghị sự 21 ........................................................................................ 18 2.3 Kết quả ............................................................................................................................... 21 2.4 Việt Nam với RIO 92 .................................................................................................... 21 3. TUYÊN BỐ THIÊN NIÊN KỶ ..................................................................................... 22 3.1 Bối cảnh ra đời ............................................................................................................... 22 3.2 Nội dung ......................................................................................................................... 22 4. HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH TRÁI ĐẤT VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 2002 (RIO +10) 23 4.1 Bối cảnh ...................................................................................................................... 23 4.2 Nội dung hội nghị ........................................................................................................ 23 4.3 Kết quả .......................................................................................................................... 25 4.4 Việt Nam với RIO +10 ................................................................................................... 25 5. HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH TRÁI ĐẤT VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG (RIO +20) 25 5.1 Bối cảnh .......................................................................................................................... 25 5.2 Nội dung ........................................................................................................................ 26 5.3 Kết quả và ý nghĩa ........................................................................................................ 26 5.4 Việt Nam với RIO +20 ................................................................................................... 27 KẾT LUẬN .................................................................................................................................. 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................................... 30 2 MỞ ĐẦU Cùng với sự đi lên của cuộc sống con người, sự phát triển của xã hội thì các vấn đề môi trường từ những mức độ nhỏ lẻ nay đã và đang gia tăng với mức độ nghiệm trọng và lan nhanh trên cả thế giới. Đó chính là “vũ khí” mạnh nhất hủy diệt Trái Đất của chúng ta. Vấn đề môi trường đã xuất hiện từ rất lâu, tuy nhiên, cách mà chúng ta nhìn ra nó, thấy được nó và hiểu ra nó thì là cả chặng đường dài lịch sử. Từ cái nhìn cá nhân của một người hay một nhóm người, nhận thức và nhìn nhận về vấn đề môi trường đã mở rộng cũng với sự gia tăng tính bức thiết cần giải quyết chúng trong bối cảnh phát triển chóng mặt của nền kinh tế. Bài viết này sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn tổng quan nhất các sự kiện thế giới quan trọng về vấn đề môi trường và phát triển, từ những sự kiện đầu tiên – Hội nghị Stockholm năm 1972 đến sự kiện gần đây nhất - Hộị nghị Thượng đỉnh Trái Đất về phát triển bền vững năm 2012. Qua đó, thấy được sự thay đổi trong nhận thức về môi trường và các vấn đề phát triển của nhận loại, sự khác biệt về sự đoàn kết toàn cầu trong những vấn đề chung qua thời gian. 1. HỘI NGHỊ STOCKHOLM 1972 [ 7,12,13,26 ] 1.1 Bối cảnh Hàng loạt các sự kiện môi trường mang tính cấp thiết đã đã dân tới sự ra đời của Hội nghị Stockholm 1972: - Đêm 30 ngày 31/10/1948, tại Donora, 20 người chết và hơn 600 người phải nhập viện sau khi lượng khí SO2 thải ra từ nhà máy dưới dạng sương mù, chất độc sulfuric bị mắc kẹt trong thung lũng của thị trấn do nghịch nhiệt. Sự kiện này đã dẫn đến hội nghị đầu tiên của Mỹ về ô nhiễm không khí trong năm 1950, được tài trợ bởi các dịch vụ y tế công cộng. - 22/10/1951, tổ chức Bảo tồn thiên nhiên được thành lập tại Washington, đây là một tổ chức phi lợi nhuận với nhiệm vụ bảo vệ vùng đất sinh thái quan trọng và các vùng nước xung quanh thế giới. Trong nhiều thập kỷ tiếp theo, tổ chức bảo tồn thiên nhiên sẽ bảo vệ hơn 119 triệu mẫu đất và 5.000 dặm sông trên toàn thế giới; nó sẽ tăng lên hơn 1 triệu thành viên, và hoạt động với hơn 100 dự án bảo tồn biển. - Năm 1960, người dân ở các quốc gia phát triển đã yêu cầu chính phủ đề ra các giải pháp để giải quyết các vấn đề môi trường. Các tổ chức quốc tế trong quá trình hoạt động của mình đã gặp rất nhiều khó khăn do nguyên nhân môi trường suy giảm. - Năm 1963, cuốn sách “Mùa xuân câm lặng” (Silent Spring) của nữ văn sĩ Rachel Carson được phát hành nói về những hiểm họa của thuốc trừ sâu DDT, đã hoài nghi một cách biện chứng niềm tin của nhân loại vào tiến bộ khoa học kĩ thuật này và giúp tạo ra một sân khấu cho các phong trào bảo vệ môi trường. "Mùa xuân câm lặng" đã làm thay đổi nhận thức của người dân Mỹ về môi trường, góp phần thúc đẩy các chính sách về môi trường của đất nước này. - Tháng 4 năm 1968, câu lạc bộ Rome được thành lập: Đây là một tổ chức phi chính phủ, hỗ trợ cho việc nghiên cứu “Những vấn đề của thế giới” – một cụm từ được đặt ra nhằm diễn tả những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường và công nghệ trên toàn cầu với tầm nhìn lâu dài. Tổ chức này đã tập hợp những nhà khoa học, nhà nhiên cứu, nhà kinh doanh cũng như các nhà lãnh đạo của các quốc gia trên thế giới (bao gồm cả Tổng thống Liên xô Mikhail Sergeyevich Gorbachyov và Rigoberta Menchus Tum). Trong nhiều năm, Câu lạc bộ Rome đã công bố một số lượng lớn các báo cáo, bao gồm cả bản 3 báo cáo Giới hạn của sự tăng trưởng – được xuất bản năm 1972 – đề cập tới hậu quả của việc tăng dân số quá nhanh, sự hữu hạn của các nguồn tài nguyên... - 24/12/1968, phi hành đoàn của tàu Apollo 8 có bức ảnh đầu tiên của Trái đất từ không gian. Bức ảnh được đặt tên "Earthrise," đã trở thành hình ảnh mang tính biểu tượng của phong trào môi trường. - 28/01/1969, ở Santa Barbara xảy ra vụ nổ tràn hơn 200.000 lít dầu vào đại dương trong 11 ngày liên tiếp; sự tàn phá và ô nhiễm môi trường khắc nghiệt của bờ biển California dẫn đến những cải cách trong ngành công nghiệp năng lượng. - 22/04/1970, trên khắp nước Mỹ diễn ra một cuộc biểu tình toàn quốc chống lại sự thiếu hiểu biết về môi trường; ước tính có khoảng 20 triệu người tham gia. - 02/10/1970, cục Quản lý Hải dương và Khí quyển Quốc gia Mỹ được xây dựng để giám sát và cải thiện các điều kiện của các đại dương; thi hành việc sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên của các hệ sinh thái biển và ven biển và cung cấp thông tin về môi trường cho công chúng. - Tháng 6/1972, “Hội nghị Liên hợp Quốc về Môi trường con người” được tổ chức tại Stockholm - Thụy Điển. Hội nghị đã thừa nhận sự xuống cấp của môi trường toàn cầu và nhận thấy cần phải có ngay biện pháp bảo vệ và cải thiện vì đó là “một vấn đề lớn có ảnh hưởng tới phúc lợi của mọi dân tộc và phát triển kinh tế toàn thế giới…” 1.2 Nội dung - Hội nghị diễn ra từ ngày 5 đến 16 /6/1972 . - Tham gia hội nghị gồm có 113 quốc gia, hội nghị đã thông qua Tuyên bố nhấn mạnh những nguy cơ của các vấn đề tài nguyên, dân số, môi trường. - Định hướng cho hành động nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên bao gồm không khí, nước, động vật, thực vật và các hệ sinh thái thiên nhiên, hoặc nhằm “cải thiện năng lực của trái đất”, ngăn ngừa các chất ô nhiễm độc hại. - Đưa ra Tuyên bố Stockholm gồm 7 điểm và 26 nguyên tắc quan trọng đặt cơ sở cho chính sách toàn cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường, thể hiện rõ nhận thức bảo vệ và cải thiện môi trường là một vấn đề có ảnh hưởng tới phúc lợi của mọi dân tộc và phát triển kinh tế toàn thế giới, là nhiệm vụ của mọi chính phủ. - Hội nghị nhấn mạnh trách nhiệm quan trọng của con người trong sự nghiệp bảo vệ môi trường, vì: con người trong thời đại hôm nay đang có trong tay một sức mạnh biến đổi môi trường rất lớn, nếu biết sử dụng một cách thông minh thì nó có thể mang lại cho mọi dân tộc những lợi ích phát triển và cơ hội làm cho chất lượng cuộc sống tốt đẹp hơn. Nếu sử dụng sai và vô ý, cũng sức mạnh ấy có thể gây hại cho con người và môi trường một cách không lường được. - Hội nghị cũng đòi hỏi từng công dân, mọi cộng đồng, mọi xí nghiệp và mọi thể chế, mọi chính phủ thuộc các cấp cần phải “ nhận trách nhiệm cùng nhau chia sẻ bình đẳng mọi nỗ lực chung…” 1.2.1 Tuyên bố Stockholm 7 điểm: 1. Con người vừa là sinh vật vừa là người tạo ra môi trường sống của mình. Môi trường tạo cho con người phương tiện sinh sống về mặt thể chất và cho con người cơ hội phát triển 4 trí tuệ, đạo đức, xã hội và tinh thần.Trong quá trình tiến hóa của nhân loại, việc tăng tốc nhanh chóng của khoa học và công nghệ đã làm biến đổi môi trường bằng những cách thức và quy mô chưa từng có. Môi trường tự nhiên và nhân tạo đều mang lại phúc lợi cho cuộc sống, cho quyền được hưởng môi trường sống trong lành của con người 2. Việc bảo vệ và cải thiện môi trường của con người là một vấn đề lớn có ảnh hưởng đến phúc lợi của dân tộc và phát triển kinh tế trên toàn thế giới, nó là mong muốn của các dân tộc của toàn thế giới và nhiệm vụ của mọi Chính phủ. 3. Con người luôn tích lũy kinh nghiệm và thường xuyên khám phá, phát minh, sáng tạo. Trong thời đại của chúng ta, năng lực biến đổi môi trường xung quanh của con người, nếu được sử dụng một cách thông minh, có thể mang lại cho mọi dân tộc những lợi ích phát triển và cơ hội để nâng cao chất lượng cuộc sống. Nếu sử dụng sai và vô ý, cùng một tác động có thể gây hại cho con người và môi trường. Xung quanh chúng ta ngày càng nhìn thấy nhiều bằng chứng về những thiệt hại do con người gây ra ở nhiều khu vực của trái đất và gây thiệt hại cho sức khỏe thể chất, tinh thần và xã hội của con người trong môi trường nhân tạo, đặc biệt là trong môi trường sống và làm việc. 4. Các nước đang phát triển, kém phát triển đã gây ra các vấn đề tồn tại về môi trường. Hàng triệu người tiếp tục sống dưới xa mức tối thiểu cần thiết cho sự tồn tại của con người. Do đó, các nước đang phát triển phải hướng các nỗ lực của họ để phát triển, phải đề ra những ưu tiên và sự cần thiết để bảo vệ và cải thiện môi trường. Cùng chung mục đích này, các nước công nghiệp hóa cần nỗ lực để giảm khoảng cách giữa họ và các nước đang phát triển. Ở các nước công nghiệp hóa, vấn đề môi trường liên quan chủ yếu đến công nghiệp hóa và phát triển công nghệ. 5. Tăng dân số tự nhiên luôn là vấn đề cho việc bảo vệ môi trường, do đó cần phải áp dụng đầy đủ các chính sách và biện pháp một cách thích hợp để đối đầu với những vấn đề này. Trong mọi thứ trên thế gian này, con người là quý giá nhất, thúc đẩy tiến bộ xã hội, tạo ra của cải xã hội, phát triển khoa học và công nghệ và thông qua sự lao động cần cù đã liên tục biến đổi môi trường con người. Cùng với tiến bộ xã hội và tiến bộ của khoa học, sản xuất và công nghệ, mỗi ngày trôi qua khả năng của con người cải thiện môi trường ngày càng tăng lên. 6. Mốc đạt được trong lịch sử khi chúng ta phải định hình được hành động của chúng ta trên khắp thế giới với sự thận trọng khôn ngoan hơn về hậu quả môi trường. Vì mục đích đạt được tự do trong thế giới tự nhiên, con người phải sử dụng kiến thức, phối hợp với thiên nhiên, để xây dựng môi trường tốt hơn. Bảo vệ và cải thiện môi trường của con người cho các thế hệ hiện tại và tương lai đã trở thành một mục tiêu cấp bách của nhân loại. Mục tiêu mà chúng ta mưu cầu phải phù hợp và hài hòa với mục tiêu đã thành lập và những mục tiêu cơ bản của hòa bình và phát triển kinh tế và xã hội trên toàn thế giới. 7. Để đạt được mục tiêu môi trường này đòi hỏi từng công dân và cộng đồng, các doanh nghiệp và các tổ chức ở mọi cấp độ, tất cả chia sẻ một cách công bằng trong nỗ lực chung. Hợp tác quốc tế cũng là yếu tố cần thiết để nâng cao nguồn lực hỗ trợ các nước đang phát triển trong việc thực hiện trách nhiệm của mình trong lĩnh vực này. Hội nghị kêu gọi các chính phủ và các dân tộc ráng sức dành những nỗ lực chung để giữ gìn và cải thiện môi trường con người, vì lợi ích mọi người và con cháu chúng ta. 26 nguyên tắc: 1. Con người có quyền căn bản bình đẳng, tự do và đầy đủ điều kiện của cuộc sống, trong một môi trường chất lượng cho phép một cuộc sống có phẩm giá và hạnh phúc mà con người mang một trách nhiệm trọng đại là bảo vệ và cải thiện môi trường cho các thế hệ hiện tại và tương lai.Trong khía cạnh này, chính sách thúc đẩy hoặc việc duy trì chủ nghĩa phân 5 biệt chủng tộc, phân biệt đối xử, thực dân và các hình thức áp bức và sự thống trị nước ngoài đáng lên án và phải được loại bỏ. 2. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên của trái đất, bao gồm cả không khí, nước, đất đai, thực vật và động vật, thực vật và đặc biệt là đại diện của các hệ sinh thái tự nhiên, phải được bảo vệ cho lợi ích của các thế hệ hiện tại và tương lai thông qua quy hoạch, quản lý thích hợp. 3. Năng lực của trái đất để sản xuất các nguồn tài nguyên tái tạo quan trọng phải được duy trì, phục hồi hoặc cải thiện. 4. Con người có một trách nhiệm đặc biệt để bảo vệ an toàn và quản lý một cách khôn ngoan di sản động vật hoang dã và môi trường sống của nó, mà hiện nay bởi sự kết hợp của yếu tố bất lợi đã lâm vào tình trạng hiểm nguy. Do đó bảo tồn thiên nhiên, bao gồm cả động vật hoang dã, phải nhận được tầm quan trọng trong việc lập kế hoạch phát triển kinh tế. 5. Các nguồn tài nguyên không tái tạo của trái đất phải được sử dụng làm sao để có thể bảo vệ chống lại các nguy cơ cạn kiệt trong tương lai của họ và để đảm bảo rằng lợi ích trong sử dụng được chia sẻ bởi tất cả nhân loại. 6. Việc thải các chất độc hại hoặc các chất khác và phát tán nhiệt với số lượng, nồng độ vượt quá khả năng đồng hóa của môi trường phải được dừng lại để đảm bảo không gây thiệt hại các hệ sinh thái . Các cuộc đấu tranh chống lại ô nhiễm của các dân tộc, các nước cần được hỗ trợ. 7. Các quốc gia phải tiến hành tất cả các bước có thể để ngăn chặn ô nhiễm biển do chất thải nguy hiểm đối với sức khỏe con người, gây tổn hại cho nguồn lợi sinh vật biển cũng như thiệt hại hoặc can thiệp vào hoạt động khác của biển. 8. Phát triển kinh tế và xã hội là điều cần thiết để đảm bảo cuộc sống và môi trường làm việc cho con người và tạo điều kiện trên trái đất cần thiết cho việc cải thiện chất lượng cuộc sống. 9. Thiếu hụt về môi trường tạo ra bởi các điều kiện không phát triển và thiên tai gây ra vấn đề nghiêm trọng và chỉ có thể được khắc phục bằng cách tăng tốc phát triển thông qua việc chuyển giao số lượng đáng kể các hỗ trợ tài chính và công nghệ như là một bổ sung cho các nỗ lực của các nước đang phát triển và cần thiết phải có hỗ trợ kịp thời như vậy 10. Đối với các nước đang phát triển, ổn định giá cả và thu nhập đủ cho các hàng hóa cơ bản và nguyên liệu là rất cần thiết để quản lý môi trường, bởi vì phải xem xét các yếu tố kinh tế cũng như quá trình sinh thái. 11. Các chính sách môi trường của tất cả các quốc gia cần tăng cường và không ảnh hưởng xấu đến tiềm năng phát triển hiện tại và tương lai của các nước đang phát triển, cũng không nên cản trở việc đạt được điều kiện sống tốt hơn cho tất cả mọi người, và bước đi thích hợp nên được thực hiện bởi các nước và tổ chức quốc tế với một thỏa thuận đạt trên đáp ứng các quốc gia có thể và kinh tế quốc tế hậu quả do việc áp dụng các biện pháp môi trường. 12. Nguồn lực nên được thực hiện để bảo tồn và cải thiện môi trường, có tính đến hoàn cảnh và yêu cầu cụ thể của các nước đang phát triển và bất kỳ chi phí có thể phát ra - từ kết hợp các biện pháp bảo vệ môi trường vào quy hoạch phát triển của họ và sự cần thiết để làm cho có sẵn cho họ, khi họ yêu cầu, hỗ trợ thêm kỹ thuật và tài chính quốc tế cho mục đích này. 13. Để đạt được việc quản lý hợp lý tài nguyên và tiến đến cải thiện môi trường, các quốc gia phải áp dụng một phương pháp tiếp cận tích hợp và phối hợp để quy hoạch phát triển để đảm bảo phát triển tương thích với sự cần thiết để bảo vệ và cải thiện môi trường vì lợi ích của nhân dân các nước. 6 14. Quy hoạch hợp lý tạo thành một công cụ cần thiết cho hòa giải bất kỳ cuộc xung đột giữa nhu cầu phát triển và sự cần thiết để bảo vệ và cải thiện môi trường. 15. Quy hoạch phải được áp dụng cho các khu định cư và đô thị hóa của con người nhằm tránh tác động xấu đến môi trường và thu được lợi ích tối đa cho xã hội, kinh tế và môi trường. 16. Áp dụng Chính sách dân số mà không gây tổn thương đến quyền cơ bản của con người. 17. Cần phải giao nhiệm vụ quy hoạch, quản lý hoặc kiểm soát tài nguyên môi trường của các nước cho các cơ quan quốc gia thích hợp nhằm đảm bảo chất lượng môi trường tốt đẹp hơn. 18. Khoa học và công nghệ đóng góp một phần của họ vào phát triển kinh tế và xã hội, phải được áp dụng để tránh, xác định và kiểm soát rủi ro môi trường và giải quyếtbvấn đề môi trường vì lợi ích chung của nhân loại. 19. Giáo dục môi trường cho thế hệ trẻ cũng như người lớn. Các phương tiện thông tin đại chúng cũng có ý nghĩa quan trọng góp phần vào sự tránh suy thoái của môi trường, mặt khác cần phổ biến thông tin có tính chất giáo dục về nhu cầu bảo vệ và cải thiện môi trường để giúp con người phát triển ở mọi lĩnh vực. 20. Nghiên cứu và triển khai khoa học ở tất cả các nước trong phạm vi các vấn đề môi trường tồn tại cả quy mô quốc gia và đa quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển. 21. Thể theo Hiến chương của Liên Hiệp Quốc và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, các nước có chủ quyền khai thác tài nguyên của họ theo chính sách môi trường riêng của họ, và phải có trách nhiệm đảm bảo rằng các hoạt động trong phạm vi thẩm quyền kiểm soát của họ không gây ra thiệt hại môi trường của các quốc gia khác hoặc các khu vực vượt ra ngoài giới hạn của quyền tài phán quốc gia. 22. Các quốc gia sẽ hợp tác để phát triển hơn nữa luật pháp quốc tế về trách nhiệm và bồi thường cho các nạn nhân của ô nhiễm và thiệt hại môi trường gây ra bởi các hoạt động trong phạm vi thẩm quyền hoặc kiểm soát được của các quốc gia đó đến các khu vực vượt quá thẩm quyền của họ. 23. Không gây ảnh hưởng cho những tiêu chuẩn đã được cộng đồng quốc tế thoả thuận, hoặc gây thiệt hại cho các tiêu chuẩn sẽ được xác định ở quy mô quốc gia. 24. Vấn đề quốc tế liên quan đến việc bảo vệ và cải thiện môi trường cần được xử lý trong một tinh thần hợp tác của tất cả các nước lớn và nhỏ, trên cơ sở bình đẳng.Hợp tác thông qua các thỏa thuận đa phương hoặc song phương hoặc các phương tiện thích hợp khác là điều cần thiết để có hiệu quả kiểm soát, ngăn chặn, làm giảm và loại bỏ ảnh hưởng xấu đến môi trường do hoạt động trong mọi lĩnh vực. 25. Các quốc gia phải đảm bảo rằng các tổ chức quốc tế đóng một vai trò phối hợp, hiệu quả và năng động cho việc bảo vệ và cải thiện môi trường. 26. Phải tránh cho con người và môi trường không bị ảnh hưởng, tác động của vũ khí hạt nhân và tất cả các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt khác.Các quốc gia phải phấn đấu để đạt được thỏa thuận nhanh chóng loại bỏ và tiêu hủy hoàn toàn các loại vũ khí như vậy. Tuyên bố Stockholm đã nêu lên những nguyên tắc thể hiện cho sự nhìn nhận về vấn đề môi trường đầu tiên của thế giới loài người. Loài người đã ý thức được rằng họ có quyền được sống trong một môi trường trong lành và đảm bảo về chất lượng, đồng thời họ cũng là người có trách nhiệm bảo vệ môi trường đó bởi lẽ con người bảo vệ chính môi trường mà họ đang sinh sống, hơn nữa, môi trường là nơi tồn tại của các loài sinh vật, chúng có quyền sống và được bảo vệ để sinh tồn. Sự gia tăng của các vấn đề môi trường trong thời gian qua đã đưa tới những nhận thức mới về các vấn đề như xả thải, sức mang của hệ sinh thái hay 7 sức chịu đựng của môi trường trước sự tác động ngày càng mạnh mẽ do hoạt động phát triển kinh tế của con người. Tuyên bố nêu rõ lượng xả thải phải nằm trong các giới hạn quy chuẩn về môi trường để đảm bảo sự bền lâu của hệ sinh thái tiếp nhận. Nhận thức được sự cạn kiệt của nguồn năng lượng hóa thạch, con người đã tiến tới sử dụng một cách có hiệu quả và hợp lý các tài nguyên tái tạo, tuyên bố cũng đã nêu lên điều này. Một điều quan trọng hơn cả, hội nghị đã nhấn mạnh tính toàn cầu của các vấn đề môi trường, do đó cần xúc tiến hợp tác giữa các quốc gia trong giải quyết các vấn đề đó, điều mà lâu nay, các quốc gia vẫn thực hiện riêng rẽ do nhận thức còn hạn chế, hay chưa có sự đồng thuận giữa các nước. Như vậy, tuy những nguyên tắc trên thể hiện cho những nhận định chung ban đầu nhưng lại đóng một vai trò to lớn cho việc định hướng cho chính sách, chiến lược phát triển và giải quyết các vấn đề môi trường thế giới nói chung và các quốc gia nói riêng. 1.2.2 Công ước Stockholm về chất hữu cơ khó phân hủy POP [ 2,5 ] Công uớc Stockholm ra đời với mục đích bảo vệ sức khoẻ con người và môi trường trước nguy cơ gây ra do các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POPs). Các chất POP là các hoá chất độc hại, tồn tại bền vững trong môi trường, có khả năng phát tán rộng, tích lũy sinh học trong các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước ở gần và cả những nơi rất xa nguồn phát thải chúng, gây tác hại nghiêm trọng cho sức khỏe con người và môi trường. Hiện nay, Công ước hướng tới việc quản lý an toàn, giảm thiểu và cuối cùng là loại bỏ 22 nhóm hoá chất, trong đó: Ban đầu Công ước Stockholm quy định việc quản lý an toàn, giảm phát thải và tiến tới tiêu huỷ hoàn toàn 12 nhóm chất POP bao gồm Aldrin, Chlordane, Dieldrin, Endrin, Heptachlor, Hexachlorobenzene, Mirex, Toxaphene và Polychlorinated Biphenyls (PCB); DDT [1,l,l-trichloro-2,2-bis (4-chlorophenyl) ethane]; Dioxins (polychlorinated dibenzo-pdioxins), Furans (Polychlorinated dibenzofurans), Polychlorinated Biphenyls (PCB), và Hexachlorobenzene (HCB). Năm 2009, Hội nghị các Bên lần thứ tư của Công ước Stockholm đã Quyết định bổ sung chín (09) nhóm chất POP mới vào các Phụ lục A, B, C Công ước, bao gồm: Các hóa chất trong Phụ lục A Nhóm hóa chất bảo vệ thực vật: Lindane, Alpha-HCH, Beta-HCH, Chlordecone; Nhóm hóa chất công nghiệp: Hexabromobiphenyl, Pentachlorobenzene, TetraBDE, PentaBDE, Hepta và OctaBDE; Các hóa chất trong Phụ lục B: Hóa chất công nghiệp PFOS, các muối và PFOS-F; Các hóa chất trong Phụ lục C: Pentachlorobenzene. Năm 2011, tại hội nghị các Bên lần thứ năm (COP 05) Công ước Stockholm đã bổ sung thêm Endosulfan và các đồng phân. Nội dung chính của công ước - Công nhận các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy có tính chất độc hại, khó phân hủy, tích lũy sinh học và được phát tán qua môi trường nước, không khí, bởi các loài động vật di cư, xuyên biên giới giữa các nước, rồi lắng đọng và tích lũy trong các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước ở những nơi xa nguồn phát thải chúng; - Nhận thức được các nguy cơ về sức khỏe, nhất là ở các nước đang phát triển, do việc tiếp xúc với các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy, đặc biệt là tác động đến phụ nữ và từ đó ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai; - Nhận định các hệ sinh thái Bắc cực và các cộng đồng bản địa đang đặc biệt đối mặt với nguy cơ do quá trình khuếch đại sinh học các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy, cũng như sự nhiễm độc thức ăn truyền thống là một vấn đề y tế cộng đồng; 8 - Ý thức được sự cần thiết phải có hành động toàn cầu đối với các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy; - Nhắc lại các điều khoản thích hợp của những công ước quốc tế về môi trường có liên quan, đặc biệt là Công ước Rotterdam về thủ tục thỏa thuận có thông báo trước đối với một số hóa chất nguy hại và thuốc bảo vệ thực vật trong buôn bán quốc tế và Công ước Basel về kiểm soát việc vận chuyển xuyên biên giới và tiêu hủy các chất thải nguy hại, kể cả các hiệp định khu vực, được xây dựng theo khuôn khổ Điều 11 của Công ước Basel; - Nhận định công tác phòng ngừa là tinh thần của Công ước này cũng như là nền tảng quan tâm của tất cả các bên tham gia; - Thừa nhận rằng Công ước này và các hiệp định quốc tế khác về thương mại và môi trường sẽ hỗ trợ cho nhau; - Tái khẳng định rằng các quốc gia, căn cứ vào Hiến chương Liên hợp Quốc và các nguyên tắc luật pháp quốc tế, đều có chủ quyền khai thác các nguồn tài nguyên trong nước sao cho phù hợp với các chính sách môi trường và phát triển của mình, và có trách nhiệm đảm bảo các hoạt động đó thuộc quyền hạn hoặc phạm vi kiểm soát của mình, không gây hủy hoại đến môi trường của các nước khác hay các vùng nằm ngoài giới hạn tài phán quốc gia; - Xem xét hoàn cảnh và yêu cầu cụ thể của các nước đang phát triển, nhất là các nước kém phát triển nhất và các nước có nền kinh tế chuyển đổi, đặc biệt là nhu cầu nâng cao năng lực quốc gia về quản lý hóa chất, bao gồm việc chuyển giao công nghệ, cung cấp hỗ trợ tài chính và kỹ thuật, cũng như tăng cường hợp tác giữa các bên; - Thừa nhận sự đóng góp quan trọng của khu vực tư nhân và các tổ chức phi chính phủ, trong việc giảm thiểu và/hoặc loại trừ sự phát thải các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy; - Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc các nhà sản xuất các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy phải chịu trách nhiệm giảm thiểu các tác động nguy hại do các sản phẩm của họ gây ra, cũng như cung cấp thông tin cho người sử dụng, cho chính quyền và dân chúng về các tính chất nguy hại của các hóa chất đó; - Nhận thức về yêu cầu áp dụng các biện pháp phòng ngừa các tác động nguy hại do các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy gây ra, ở mọi giai đoạn trong vòng đời của chúng; - Khuyến khích các bên chưa có các kế hoạch pháp chế và đánh giá đối với thuốc bảo vệ thực vật và các hóa chất công nghiệp để xây dựng các kế hoạch đó; - Thừa nhận tầm quan trọng của việc phát triển và sử dụng các quá trình và hóa chất thay thế hợp lý về mặt môi trường; - Kiên quyết bảo vệ sức khỏe con người và môi trường trước những tác động có hại của các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy; 1.3 Ý nghĩa - Hội nghị thể hiện sự mở đầu trong nhận thức của con người đối với các vấn đề môi trường. Hội nghị được đánh giá là hành động đầu tiên đánh dấu sự nỗ lực chung của toàn thể nhân loại nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường. - Phạm vi quan tâm mở rộng dần: từ chỗ chỉ xử lí ô nhiễm qua biên giới đến chỗ xử lí ô nhiễm toàn cầu, từ chỗ chỉ bảo tồn loài cụ thể đến bảo tồn toàn hệ sinh thái, từ chỗ chỉ quy 9 định về kiểm soát nguồn thải trực tiếp đến quy chế quản lí toàn diện cả hệ thống tự nhiên, môi trường. - Hội nghị là cơ sở cho sự ra đời của nhiều tổ chức và chương trình môi trường thế giới như: ­ Năm 1983, Uỷ ban thế giới về môi trường của Liên Hợp Quốc được thành lập ( chủ tịch là Gro Harlem Brundland). ­ Năm1987, Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển công bố báo cáo “tương lai chung của chúng ta” đưa ra định nghĩa rõ ràng và chính xác về PTBV - Hội nghị ghi nhận sự hình thành của một số nguyên tắc pháp lý quan trọng và dẫn đến việc thành lập Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), một cơ quan đóng vai trò chủ chốt trong việc hình thành sự phối hợp, hợp tác quốc tế để đương đầu với cách thức về môi trường trên phạm vi toàn cầu. - Liên hợp quốc đã lấy ngày khai mạc hội nghị Stockholm 5/6/1972 là ngày Môi trường thế giới. 1.4 Việt Nam với hội nghị Stockholm 1972 Việt Nam không có đại diện tham gia hội nghị Stockholm năm 1972 tuy nhiên Việt Nam đã phê chuẩn Công uớc Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy vào ngày 22 tháng 7 năm 2002, trở thành thành viên thứ 14 của Công uớc. Kế hoạch quốc gia thực hiện Công ước Stockholm tại Việt Nam bao gồm các nội dung sau: - Những vấn đề chung - Thực trạng về POP và vấn đề quản lý POP ở Việt Nam - Kế hoạch quốc gia thực hiện Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ đến năm 2020 - Phụ lục: Danh mục 15 đề án ưu tiên quốc gia về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ. Bản Kế hoạch này là kết quả của Dự án GEF/UNDP VIE01G31: “Xây dựng Kế hoạch quốc gia cho Việt Nam trong quá trình tham gia, thực hiện và 5 hiệu lực hoá Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ”. Dự án được thực hiện theo phương thức quốc gia điều hành (NEX) của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) với sự hỗ trợ tài chính của Quỹ Môi trường Toàn Cầu (GEF). Trong quá trình xây dựng Kế hoạch, Bộ Tài nguyên và Môi trường được phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương, các chuyên gia trong nước và quốc tế và tham khảo ý kiến đóng góp của các Bên liên quan từ Trung ương đến địa phương trên phạm vi toàn quốc. 2. HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH TRÁI ĐẤT RIO 1992 2.1 Bối cảnh [16, 24] Mặc dù hội nghị Stockholm 1972 đã đạt được nhiều thành tựu nhưng những thỏa thuận này chỉ mang tính khuyến nghị, không ràng buộc về mặt pháp lí. Do vậy không có cơ chế bắt buộc phải thực hiện, những thỏa thuận được kí trong hội nghị không được thực hiện trên thực tế nên không có giá trị. Sau 20 năm, tình trạng môi trường vẫn diễn biến theo chiều hướng xấu đi nên cần tổ chức một hội nghị môi trường mang tầm cỡ quốc tế để giải quyết các vấn đề môi trường hiện tại. 10 - Năm 1976, Vụ nổ hoá chất gây phát tán chất độc màu da cam ở Seveso, ngoại ô Milan. - Năm 1978, Tàu Amoco Cadiz bị đắm trong vùng duyên hải của Pháp, làm thất thoát 68 triệu galon dầu, phủ kín 110 dặm dọc bờ biển. - Năm 1979, Nhà máy năng lượng hạt nhân đảo Three Mile dò rỉ hoá chất lỏng, gây thẩm thấu cục bộ. - Năm 1986, Thảm hoạ nổ nhà máy điện nguyên tử Chernobyl tại Ukraina. 31 người thiệt mạng ngay lập tức, Vụ tràn hoá chất Sandoz trên sông Rhine, Thuỵ Sỹ. - Năm 1989, Vụ chìm tàu chở dầu Exxon Valdez tại eo biển Hoàng tử William, Alaska, làm tràn 11 triệu galon dầu. - Năm 1991, Chiến tranh vùng vịnh Ba tư gây ra thảm hoạ môi trường do làm tràn và cháy hàng triệu lít dầu thô. Cùng với các vấn đề môi trường diễn ra trong nhiều năm sau sự kiện Stockholm thì hàng loạt các sự kiện, tổ chức về môi trường và phát triển trên thế giới được thành lập, chúng là nguyên nhân ra đời của Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc 1992: - Năm 1980, tiếp theo Hội nghị Stockholm, các tổ chức bảo tồn như Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN), Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) và Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới (WWF) đã đưa ra “Chiến lược bảo tồn thế giới”. Chiến lược này thúc giục các nước soạn thảo các chiến lược bảo tồn quốc gia của mình. Ba mục tiêu chính về bảo tồn tài nguyên sinh vật được nhấn mạnh trong Chiến lược như sau: (i) Duy trì những hệ sinh thái cơ bản và những hệ hỗ trợ sự sống (như cải tạo đất, tái sinh các nguồn dinh dưỡng, bảo về an toàn nguồn nước); (ii) Bảo tồn tính đa dạng di truyền; và (iii) Bảo đảm sử dụng một cách bền vững các loài và các hệ sinh thái. Từ khi Chiến lược bảo tồn thế giới được công bố tới nay, đã có trên 60 chiến lược bảo tồn quốc gia được phê duyệt. Trong chiến lược này, thuật ngữ Phát triển bền vững lần đầu tiên được nhắc tới, tuy nhiên mới chỉ nhấn mạnh ở góc độ bền vững sinh thái. - Tiếp theo chiến lược này, một công trình khoa học có tiêu đề “Cứu lấy Trái đất – Chiến lược cho cuộc sống bền vững” đã được IUCN, UNEP và WWF soạn thảo và công bố (1991). Trong cuốn sách, nhiều khuyến nghị về cải cách luật pháp, thể chế và quản trị đã được đề xuất. - Năm 1984, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã ủy nhiệm cho bà Gro Harlem Brundtland, khi đó là Thủ tướng Na Uy, quyền thành lập và làm Chủ tịch Ủy ban Quốc tế về Môi trường và Phát triển (WCED), nay còn được biết đến với tên Ủy ban Brundtland. Tới nay, Ủy ban này đã được ghi nhận có những cống hiến rất giá trị cho việc đẩy mạnh sự phát triển bền vững. - Năm 1987, hoạt động của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới trở nên nóng bỏng khi xuất bản báo cáo có tựa đề “Tương lai của chúng ta”. Bản báo cáo này lần đầu tiên công bố chính thức thuật ngữ “phát triển bền vững”, sự định nghĩa cũng như một cái nhìn mới về cách hoạch định các chiến lược phát triển lâu dài. - Năm 1989, sự phát hành và tầm quan trọng của bản báo cáo “Tương lai của chúng ta” đã được đưa ra bàn bạc tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc và đã dẫn đến sự ra đời 11 41 của Nghị quyết 44/228 – tiền đề cho việc tổ chức Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc. 2.2 Nội dung hội nghị [6, 13, 14] Từ ngày 03 đến 14/06/1992, tại Rio de Janeiro, Brasil đã diễn ra Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc (UNCED). Tại đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tên Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21). Với sự tham gia của đại diện hơn 200 nước trên thế giới cùng một số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ, hội nghị đã thông qua các văn bản quan trọng: ­ Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển. 27 nguyên tắc của bản tuyên bố đã xác định những quyền và trách nhiệm của các quốc gia bởi lẽ mọi quốc gia đều theo đuổi sự nghiệp phát triển và hạnh phúc của loài người. ­ Chương trình nghị sự 21. Ðó là một sơ đồ được thiết kế nhằm làm cho sự phát triển được bền vững về các mặt xã hội, kinh tế và môi trường. ­ Bản tuyên bố các nguyên tắc chỉ nam cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển được bền vững tất cả các loại rừng có tầm quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và duy trì cuộc sống . Hai công ước quốc tế được thoả thuận riêng biệt nhưng cùng song song với quá trình chuẩn bị cho Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất và đã được hầu hết các chính phủ gặp gỡ tại Rio ký kết là: ­ Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu. Mục đích là nhằm làm ổn định các khí gây hiệu ứng nhà kính trong khí quyển ở mức độ không gây đảo lộn đảo lộn nguy hiểm cho hệ thống khí hậu toàn cầu. Ðiều đó đòi hỏi sẽ phải giảm thải các loại khí như khí cacbonic – một loại sản phẩm phụ được sinh ra khi sử dụng nhiên liệu để đốt làm năng lượng. ­ Công ước về Ða dạng sinh học đòi hỏi các nước áp dụng các phương pháp và phương tiện nhằm bảo vệ sự đa dạng của các loài sinh vật, và đảm bảo cho những lợi ích có được do sử dụng tính đa dạng sinh học phải được chia xẻ công bằng. 2.2.1 Tuyên bố Rio về “môi trường và phát triển” [8] Tuyên bố chủ yếu: ­ Khẳng định lại tuyên bố của hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường con người, thông qua tại Stockholm ngày 16-6-1972 và tìm cách phát huy tuyên bố ấy. ­ Thiết lập một sự chung sức toàn cầu mới và hình dáng thông qua việc tạo dựng những cấp độ hợp tác giữa các quốc gia, những thành phần chính trong các xã hội và nhân dân ­ Hoạt động đề đạt những hiệp định quốc tế tôn trọng quyền lợi của mọi người và bảo vệ sự toàn vẹn của hệ thống môi trường và phát triển toàn cầu. ­ Công nhận bản chất toàn bộ và phụ thuộc lẫn nhau của trái đất, ngôi nhà chúng ta. Tuyên bố về môi trường và phát triển (thông qua 27 nguyên tắc): 1. Con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài. Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích và lành mạnh mạnh hài hoà với thiện nhiện. 12 2. Phù hợp với hiến chương Liên Hợp Quốc và những nguyên tắc của luật pháp quốc tế, các quốc gia có chủ quyền khai thác những tài nguyên của mình theo những chính sách về môi trường và phát triển của mình, và có trách nhiệm bảo đảm rằng những hoạt động trong phạm vi quyền hạn và kiểm soát của mình không gây tác hại gì đến môi trường của các quốc gia khác hoặc của những khu vực ngoài phạm vi quyền hạn quốc gia. 3. Cần được thực hiện quyền được phát triển để đáp ứng một cách bình đẳng những nhu cầu về phát triển và môi trường của của các thế hệ hiện nay và tương lai. 4. Để thực hiện được sự phát triển lâu bền, sự bảo vệ môi trường nhất thiết sẽ là một bộ phận cấu thành của quá trình phát triển và không thể xem xét tách rời quá trình đó. 5. Tất cả các quốc gia và tất cả các dân tộc cần hợp tác trong nhiệm vụ chủ yếu là xoá bỏ nghèo nàn như một yêu cầu không thể thiếu được cho sự phát triển lâu bền để giảm những sự chênh lệch về mắc sống và để đáp ứng tốt hơn những nhu cầu của đại đa số nhân dân trên thế giới. 6. Chúng ta cần dành sự ưu tiên đặc biệt cho tình hình và những nhu cầu đặc biệt của các nước đang phát triển, nhất là những nước kém phát triển nhất và những nước dễ bị tổn hại về môi trường, những động quốc tế trong lĩnh vực môi trường và phát triển cũng nên chú ý đến những quyền lợi và nhu cầu của tất cả các nước. 7. Các quốc gia cần hợp tác trong tinh thần chung lưng đấu cật toàn cầu để gìn giữ, bảo vệ và phục hồi sự lành mạnh và tính toàn bộ của hệ sinh thái của trái đất. Vì sự đóng góp khác nhau vào việc làm thoái hoá môi trường toàn cầu, các quốc gia có những trách nhiệm chung nhưng khác biệt nhau. Các nước phát triển công nhận trách nhiệm của họ trong sự mưu cầu quốc tế về sự phát triển lâu bền do những áp lực mà xã hội của họ gây cho môi trường toàn cầu và do những công nghệ và những nguồn tài chính họ chi phối, điều khiển. 8. Để đạt được sự phát triển lâu bền và một chất lượng cuộc sống cao hơn cho mọi người, các quốc gia nên giảm dần và loại trừ những phương thức sản xuất và tiêu dùng không lâu bền và đẩy mạnh những chính sách dân số thích hợp. 9. Các quốc gia nên hợp tác để củng cố xây dựng năng lực nội sinh cho sự phát triển lâu bền bằng cách nâng cao sự hiểu biết khoa học thông qua trao đổi kiến thức khoa học và công nghệ, và bằng cách đẩy mạnh sự phát triển, thích nghi truyền bá và chuyển giao công nghệ, kể cả những công nghệ mới và canh tân. 10. Những vấn đề môi trường được giải quyết tốt nhất với sự tham gia của các công dân quan tâm, ở cấp độ thích hợp, ở cấp độ quốc gia, mỗi cá nhân sẽ có quyền thông tin thích hợp liên quan đến môi trường do các nhà chức trách nắm giữ, bao gồm thông tin về những nguyên liệu và hoạt động nguy hiểm trong cộng đồng, và cơ hội tham gia vào những quá trình quyết định. Các quốc gia cần làm cho thuận tiện và khuyến khích tuyên truyền và sự tham gia của nhân dân bằng cách phổ biến thông tin rộng rãi. Nhân dân cần được tạo điều kiện tiếp cận có hiệu quả những văn bản luật pháp và hành chính, kể cả uốn nắn và sửa chữa. 11. Các quốc gia cần ban hành luật pháp hữu hiệu về môi trường, những tiêu chuẩn môi trường, những mục tiêu quản lý và những ưu tiên phải phản ánh nội dung môi trường và phát triển mà chúng gắn với những tiêu chuẩn một vài nước áp dụng có thể không phù hợp và gây tổn phí về kinh tế và xã hội không biện minh được cho các nước khác, nhất là các nước đang phát triển. 12. Các nước nên hợp tác để phát huy một hệ thống kinh tế thế giới thoáng và giúp đỡ lẫn nhau dẫn đến sự phát triển kinh tế và phát triển lâu bền ở tất cả các nước để nhằm đúng hơn 13 vào những vấn đề thoái hoá môi trường. Những biện pháp chính sách về thương mại và những mục đích môi trường không nên trở thành phương tiện phân biệt đối xử độc đoán hay vô lý hoặc một sự ngăn cản trá hình đối với thương mại quốc tế. Cần tránh những hoạt động đơn phương để giải quyết những vấn đề thách thức của môi trường ngoài phạm vi quyền hạn của nước nhập cảng. Những biện pháp môi trường nhằm giải quyết những vấn đề môi trường ngoài ngoài biên giới hay toàn cầu cần dựa trên sự nhất trí quốc tế cao nhất có thể đạt được. 13. Các nước cần soạn thảo luật quốc gia về trách nhiệm pháp lý và bồi thường cho những nạn nhân của sự ô nhiễm và tác hại môi trường khác. Các quốc gia cũng cần hợp tác một cách khẩn trương và kiên quyết hơn để phát triển hơn nữa luật quốc gia về trách nhiệm pháp lý và bồi thường về những tác hại môi trường do những hoạt động trong phạm vi quyền hạn hay kiểm soát của họ gây ra cho những vùng ngoài phạm vi quyền hạn của họ 14. Các quốc gia nên hợp tác một cách có hiệu quả để ngăn cản sự đặt lại và chuyển giao cho các quốc gia khác bất cứ một hoạt động nào và một chất nào gây sự thoái hoá môi trường nghiêm trọng hoặc xét thấy có hại cho sức khoẻ con người. 15. Để bảo vệ môi trường, các quốc gia cần áp dụng rộng rãi phương pháp tiếp cận ngăn ngừa tuỳ theo khả năng từng quốc gia, ở chỗ nào có nguy cơ tác hại nghiêm trọng hay không thể sửa được, thì không thể nêu lý do là thiếu sự chắc chắn khoa học hoàn toàn để trì hoãn áp dụng các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn sự thoái hoá môi trường. 16. Các nhà chức trách quốc gia nên cố gắng đẩy mạnh sự quốc tế hoá những chi phí môi trường và sự sử dụng các biện pháp kinh tế, căn cứ vào quan điểm cho rằng về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chịu phí tổn ô nhiễm, với sự quan tâm đúng mức đối với quyền lợi chung và không ảnh hưởng xấu đến nền thương mại và đầu tư quốc tế. 17. Căn cứ sự đánh giá như một công cụ quốc gia về tác động đối với môi trường của những hoạt động có thể gây tác động xấu đối với môi trường và tuân theo quyết định của một cơ quan quốc gia có thẩm quyền. 18. Các quốc gia cần thông báo ngay cho các quốc gia khác về bất cứ một thiên tai nào hay tình hình khẩn cấp nào có thể gây những tác hại đột ngột đối với môi trường của các nước đó. Cộng đồng quốc phải ra sức giúp các quốc gia bị tai hoạ này. 19. Các quốc gia cần thông báo trước và kịp thời cung cấp thông tin có liên quan cho các quốc gia có khả năng bị ảnh hưởng về những hoạt động có thể gây ảnh hưởng xấu đáng kể đến môi trường vượt ra ngoài biên giới và cần tham khảo ý kiến của các quốc gia này sớm và có thiện ý. 20. Phụ nữ có một vai trò quan trọng trong quản lý và phát triển môi trường. Do đó việc họ tham gia đầy đủ là cần thiết để đạt được sự phát triển lâu bền. 21. Cần phát huy tính sáng tạo, những lý tưởng và sự can đảm của thanh niên thế giới để tạo nên một sự chung lưng đấu cật để đạt được sự phát triển lâu bền và bảo đảm mọi tương lai tốt hơn cho tất cả mọi người. 22. Nhân dân bản xứ và những cộng đồng của họ và các cộng đồng khác ở địa phương có vai trò quan trọng trong quản lý và phát triển môi trường vì sự hiểu biết và tập tục truyền thống của họ. Các quốc gia nên công nhận và ủng hộ thích đáng bản sắc văn hoá và những mối quan tâm của họ, khiến họ tham gia có hiệu quả vào việc thực hiện một sự phát triển lâu bền. 14 23. Môi trường trường và tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc bị áp bức, bị thống trị và bị chiếm đóng cần phải được bảo vệ. 24. Chiến tranh vốn dĩ là phá hoại sự phát triển lâu bền. Do đó, các quốc gia cần phải tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo vệ môi trường trong thời gian có xung đột vũ trang và hợp tác để phát triển môi trường hơn nữa, như các quốc gia cảm thấy cần thiết. 25. Hoà bình, phát triển và sự bảo vệ môi trường phụ thuộc nhau và không thể chia cắt được. 26. Các quốc gia cần giải quyết mọi bất hoà về môi trường một cách hoà bình và bằng những biện pháp thích hợp theo Hiến chương Liên Hợp Quốc. 27. Các quốc gia và dân tộc cần hợp tác có thiện ý và với tình thần chung lưng đấu cật trong việc thực hiện các nguyên tắc để thể hiện trong bản tuyên bố này và trong sự phát triển hơn nữa luật pháp quốc tế trong lĩnh phát triển lâu bền. Tuyên bố về Môi trường và phát triển nêu ra 27 nguyên tắc không ràng buộc pháp lý, nhằm hướng tới một tuyên bố về Quyền Môi trường để đảm bảo trách nhiệm bảo vệ môi trường của mọi người trong các hoạt động phát triển. Tuyên bố đưa ra nguyên tắc tiếp cận (1)“phòng ngừa là chính” yêu cầu các dự án phải làm đánh giá tác động môi trường; (2)“trách nhiệm chung có phân biệt” các nước phát triển, tùy nước sẽ có trách nhiệm liên quan đặc biệt về việc gây áp lực lên môi trường, tài nguyên toàn cầu; (3)“người gây ô nhiễm phải trả tiền” cá nhân doanh nghiệp sử dụng tài nguyên, môi trường và gây ô nhiễm phải có trách nhiệm tài chính để giảm thiểu khả năng gây sự cố môi trường. Tuyên bố RIO về môi trường và phát triển ra đời sau tuyên bố đầu tiên tại hội nghị Stockholm 20 năm, vậy sau 20 năm đó, nhận thức của nhân loại đối với các vấn đề khoogn còn là mới có gì thay đổi và tiến bộ hơn không? Sau 20 năm các vấn đề môi trường được thế giới nhìn nhận với nhiều điểm khác biệt và tiến bộ. Lần đầu tiên khái niệm phát triển bền vững được khẳng định tại một hội nghị cấp quốc tế, sự nhìn nhận của con người đã hoàn toàn khác, sự công bằng không chỉ ở thế hệ hiện tại như ở Stockholm năm 1972 mà đã vươn tới tương lại. Vấn đề toàn cầu đã được nhìn nhận ở Stockholm 1972 tuy nhiên, sự khác biệt về đóng góp và sự suy thoái môi trường toàn cầu giữa các nhóm nước phát triển và đang phát triển mới được nhìn nhận củ thể và đưa vào nguyên tắc, thể hiện rõ hơn trong Công ước khung về biến đổi khí hậu tại RIO 92. Trong tuyên bố RIO còn đề cập tới vai trò của nhiều thành phần khác nhau đối với các vấn đề môi trường và phát triển như phụ nữ, các nhà khoa học, các cư dân bản địa, điều mà chưa thấy ở tuyên bố Stockholm 20 về trước. 2.2.2 Tuyên bố các nguyên tắc về rừng Khi đưa ra các nguyên tắc về rừng hội nghị đã không nhận được sự thống nhất giữa các quốc gia nên các nguyên tắc chỉ được xem như là một tuyên bố chứ không được kí kết dưới hình thức công ước như các vấn đề khác. Các nước công nghiệp hóa muốn có công ước nhằm ngăn cấm sự triệt phá các khu rừng nhiệt đới, nơi hàng năm có 17 triệu ha rừng bị mất đi,kéo theo sự tổn thất đa dạng sinh học rất lớn trên thế giới.Trong khi đó Malaisia và Ấn Độ lại cho rằng cần phải đề cập tới tất cả các loại rừng chứ không chỉ rừng nhiệt đới như: rừng ôn đới ở Liên Xô, Mỹ, Canada, Châu Âu. Những nước Châu mỹ La tinh cho rằng: việc khai thác rừng nhiệt đới Amazon là chủ quyền và trách nhiêm riêng của những nước trong khu vực, không thể có sự áp đặt của các nước khác. Hơn nữa.vấn đề khai thác rừng nhiệt đới không chỉ đơn thuần là vấn dề sinh thái mà còn là vấn đề chính trị, kinh tế của các nước đang phát triển. Trong số các nguyên tắc về rừng, có những nguyên tắc sau: 15 ­ Tất cả các nước phải tham gia vào việc “phủ xanh thế giới” thông qua việc trồng rừng và bảo vệ rừng. ­ Các nước có quyền sử dụng rừng vì những nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội của mình. Việc sử dụng ấy phải dựa trên các chính sách quốc gia phù hợp với sự phát triển bền vững. ­ Việc sử dụng bền vững rừng sẽ đòi hỏi đến những hình bền vững trong sản xuất và tiêu thụ ở mức độ toàn cầu. ­ Rừng phải được quản lý để đáp ứng các nhu cầu về xã hội, kinh tế, sinh thái, văn hoá và tinh thần của các thế hệ hiện đại và tương lai. ­ Những lợi ích mang lại do các sản phẩm công nghệ sinh học và vật chất gen thu được từ rừng phải được chia xẻ, trên cơ sở thoả thuận lẫn nhau, với các nước mà ở đó có rừng. ­ Rừng trồng là những nguồn mà về mặt môi trường rất đúng đắn để cung cấp năng lượng tái sinh và các vật liệu thô cho xây dựng. Việc sử dụng gỗ làm nhiên liệu là đặc biệt quan trọng ở các nước đang phát triển. Những nhu cầu đó phải được đáp ứng thông qua việc sử dụng bền vững rừng và tái trồng rừng. Các khu rừng trồng sẽ là nơi đáp ứng công ăn việc làm và làm giảm sức ép đe doạ chặt phá các khu rừng già. Các kế hoạch quốc gia phải nhằm vào việc bảo vệ những mẫu độc đáo của rừng, bao gồm cả những khu rừng già, rừng có giá trị về văn hoá, tinh thần, lịch sử, tôn giáo hoặc các giá trị khác. ­ Trợ giúp tài chính quốc tế, kể cả một số trợ giúp từ khu vực tư nhân phải được đáp ứng cho các quốc gia đang phát triển để giúp họ bảo vệ rừng của mình. ­ Các nước cần có các kế hoạch lâm nghiệp bền vững dựa trên các nguyên tắc chỉ đạo đúng đắn về môi trường. Cái đó bao gồm việc quản lý các khu vực xung quanh rừng theo những phương cách đúng đắn về mặt sinh thái. ­ Kế hoạch lâm nghiệp phải tính đến cả giá trị kinh tế và giá trị phi kinh tế của rừng, và những chi phí về môi trường và những lợi ích thu được do khai thác hoặc bảo vệ rừng. Những chính sách làm suy thái rừng thì phải tránh. ­ Việc lập quy hoạch và thực hiện các chính sách rừng quốc gia phải lôi cuốn được sự tham gia rộng rãi của nhiều tầng lớp nhân dân, bao gồm cả phụ nữ, những người sinh sống trong rừng, nhân dân bản xứ, các ngành công nghiệp, những công nhân và các tổ chức phi chính phủ. ­ Các chính sách về rừng phải nhằm trợ giúp cho tính đồng nhất, nền văn hoá và những quyền của nhân dân bản xứ và những người sinh sống trong rừng. Những kiến thức của họ về bảo vệ và sử dụng lâu bền rừng phải được tôn trọng và sử dụng trong việc phát triển các chương trình lâm nghiệp. Họ phải được đáp ứng những hình thức về hoạt động kinh tế và sở hữu đất đai để làm sao khuyến khích được sự sử dụng bền vững rừng và cung cấp cho họ đủ điều kiện để sinh sống và tồn tại. ­ Việc buôn bán các sản phẩm rừng phải dựa trên các nguyên tắc không phân biệt được các quốc gia thoả thuận. Các biện pháp đơn phương sẽ không được sử dụng để hạn chế hoặc cấm buôn bán quốc tế về gỗ và các lâm sản khác. ­ Các biện pháp buôn bán phải nhằm khuyến khích được việc chế biến tại địa phương và tạo giá cao hơn đối với những sản phẩm đã được chế biến. Các khoản thuế và các hàng rào thị trường khác đối với loại sản phẩm này phải được giảm hoặc loại bỏ. 16 ­ Phải có sự kiểm soát về các chất gây ô nhiễm, như là chất tạo lắng đọng axit có hại cho rừng chẳng hạn. Tuy rằng các tuyên bố về quản lý và phát triển rừng bền vững nêu ra các lợi ích vốn có của rừng, đồng thời trình bày nhiều biện pháp nhằm quản lý, phát triển rừng một cách tổng thể, ưu tiên bảo vệ rừng và phát triển kinh tế rừng một cách hợp lý cho các nước đang phát triển nhưng các tuyên bố vẫn mang tính chất chung chung, tính ràng buộc gần như không có do đây chỉ là “tuyên bố”, các nội dung có tính khái quát cao nhưng lại nhẹ về biện pháp định hướng củ thể. 2.2.3 Công ước khung về biến đổi khí hậu [3] Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) được kí kết nhằm mục đích ngăn chặn sự can thiệp nguy hiểm của các hoạt động phát triển đối với hệ thống khí hậu bằng cách đưa ra các nguyên tắc và cam kết cho các bên kí kết. Công ước phân chia các quốc gia thành hai nhóm: những nước đã công nghiệp hóa và nhóm nước còn lại. Các nước công nghiệp đã góp phần lớn thay đổi khí hậu. Theo UNFCCC các nước công nghiệp có trách nhiệm hàng đầu trong việc hạn chế sự nóng lên toàn cầu và trách nhiệm trợ giúp các nước đang phát triển ứng phó các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. UNFCCC kêu gọi các nước công nghiệp đưa mức phát thải khí nhà kính của họ ở mức năm 1990 vào năm 2000. Công ước đưa ra một số cam kết nổi trội sau: ­ Cung cấp thông tin về chất lượng của các loại khí nhà kính mà mình phát ra, và số lượng có thể được hấp thụ bởi các bể chứa của mình. ­ Công bố những số lượng cập nhật định kỳ về các chương trình nhằm kiểm soát khí thải, và thích ứng với sự biến đổi khí hậu. ­ Ðẩy mạnh việc quản lý đúng đắn và bảo vệ những nơi hấp thụ khí nhà kính như cây cối, rừng và biển. ­ Hợp tác trong việc lập quy hoạch về các tác động của sự biến đổi khí hậu đến các vùng ven biển, đến tài nguyên nước và nền nông nghiệp. ­ Hợp tác trong việc bảo vệ những khu vực dễ bị lụt hoặc hạn hán, đặc biệt là ở Châu Phi. ­ Thông tin cho công chúng biết về sự biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của nó, và đẩy mạnh và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia vào việc triển khai ứng phó. Nhằm tăng cường cơ sở pháp lý về trách nhiệm thực hiện Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCC), tháng 12/1997 tại Kyoto của Nhật Bản, Hội nghị các Bên lần thứ 3 của (UNFCC) đã thông qua Nghị định thư Kyoto với “Mục tiêu là hỗ trợ các nước đang phát triển thực hiện phát triển bền vững và các nước phát triển thực hiện cam kết giảm phát khí thải cacbon dioxit (CO2) và các chất khí gây hiệu ứng nhà kính”. Nghị định thư Kyoto đã được 159 quốc gia ký kết và đã được Nga ký kết vào 3/1999. Nghị định thư qui định, trong giai đoạn đầu có hiệu lực, từ năm 2008 đến năm 2012, Nga cũng như các nước công nghiệp phát triển phải cắt giảm lượng khí thải CO2 xuống mức 5,2% như năm 1990 bằng việc giảm sử dụng than, khí đốt, dầu mỏ chuyển sang sử dụng năng lượng sạch như năng lượng mặt trời, sức gió. 2.2.4 Công ước đa dạng sinh học [4] Văn bản về công ước đa dạng sinh học của Hội nghị đã được nhóm chuyên gia và Ủy ban thương lượng chính phủ, do UNEP thành lập và biên soạn. Tại hội nghị, một số nội dùng về bảo tồn và quản lý tài nguyên sinh học đã được hầu hết các nước thống nhất như: 17 thành lập các khu bảo tồn đa dạng sinh học, kiểm soát và loại trừ các loài ngoại lai có thể đe dọa các hệ sinh thái, các loài và nơi cư trú của chúng. Khôi phục các loài bị đe dọa và tái nhập chung về nơi cư trú tự nhiên của chúng. Tuy nhiều còn nhiều bất đồng giữa các quốc gia, chủ yếu là các vấn đề tài chính giúp đỡ các nước đang phát triển thực hiện Công ước. Ngoài ra còn các vấn đề khác như: Điều kiện để các nước phát triển tiếp cận với các nguồn gen và tài nguyên sinh học hiện có nhiều ở các khu rừng nhiệt đới của các nước đang phát triển, điều kiện để các nước đang phát triển tiếp cận với công nghệ hợp lý về mặt sinh thái và những công nghệ mới nhằm sử dụng các chất và tài nguyên phát hiện ở các khu rừng nhiệt đới của họ, vấn đề quyền sử hữu trí tuệ với công nghệ sinh học sản sinh ra từ các nguồn tài nguyên nói trên. Các nước đang phát triển đòi hỏi tài trợ về vốn, công nghệ và sự hợp tác công bằng hợp lý. Còn các nước phát triển nhất là Mỹ chỉ nhấn mạnh quyền sở hữu trí tuệ à không cam kết thực thi các chính sách ưu đãi về tài chính về chuyển giao công nghệ cần thiết cho các nước đang phát triển. Tuy còn nhiều vấn đề chưa được sự nhất trí cao nhưng công ước cũng thể hiện một sự thành công đáng kể. Công ước đặc biệt nêu lên các biện pháo nhằm bảo tồn và phát triển giá trị đa dạng sinh học trên toàn cầu trên cả lĩnh vực kĩ thuật và quản lý nói chung. Công ước đa dạng sinh học đã được 153 quốc gia kí kết tại Rio. 2.2.5 Chương trình nghị sự 21 Chương trình hành động 21 (Agenda 21) là chỉ nam cho sự nghiệp và các chính sách của mỗi cá nhân bước tiếp vào thế kỷ sau. Chương trình hành động 21 luận giải rằng các vấn đề dân số, tiêu thụ và công nghệ là những động lực trước tiên dẫn đến sự biến đổi môi trường. Nó phân tách ra những nhu cầu nào cần phải được giải quyết nhằm làm giảm các mẫu hình tiêu thụ lãng phí và không hiệu quả ở một số nơi trên thế giới, đồng thời khích lệ sự phát triển gia tăng nhưng bền vững ở những nơi khác. Nó đã đưa ra các chính sách và các chương trình nhằm đạt được sự cân bằng bền vững giữa tiêu thụ, dân số và khả năng duy trì cuộc sống của trái đất. Nó lý giải về một số công nghệ và kỹ thuật cần được phát triển nhằm đáp ứng các nhu cầu của con người trong khi vẫn quản lý được một cách thận trọng các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Chương trình hành động 21 đã đưa ra những lựa chọn nhằm chống lại sự suy thoái về đất, không khí và nước, bảo vệ rừng và tính đa dạng của các loài động vật. Chương trình nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói và tiêu thụ quá mức, vấn đề y tế và giáo dục, vấn đề thành phố và nông dân. Tất cả mọi người đều có vai trò giáo dục, vấn đề thành phố và nông dân. Tất cả mọi người đều có vai trò ở đây: các chính phủ, các nhà kinh doanh, các hiệp hội thương mại, các nhà khoa học, các nhà giáo, các người dân bản xứ, phụ nữ, thanh niên và trẻ em. Chương trình hành động 21 không xa lánh việc kinh doanh. Nó chỉ ra rằng, phát triển bền vững là con đường đi đến khắc phục sự nghèo đói và suy thoái môi trường. Chúng ta hiện đang đánh giá sự thành công trong phát triển kinh tế chủ yếu bằng số lượng tiền bạc mà nó mang lại. Các hệ thống tính toán đo đếm giá trị của các nguồn tài nguyên thiên nhiên và chi phí phải trả do sự suy thoái môi trường. Về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải gánh chịu mọi chi phí do ô nhiễm gây ra. Ðể giảm được những rủi ro do sự phá huỷ gây ra, việc đánh giá về mặt môi trường phải được tiến hành trước khi khởi đầu các dự án có khả năng gây ra các tác động xấu. Các chính phủ cần phải giảm hoặc loại bỏ những trợ cấp không phù hợp với sự phát triển bền vững. 18 Một đề tài lớn của Chương trình hành động 21 là vấn đề cần thiết phải loại trừ tận gốc sự nghèo đói bằng cách tạo ra cho những người nghèo có nhiều cơ hội hơn trong việc sử dụng những nguồn tài nguyên mà họ cần để sinh sống trên một cơ sở bền vững. Bằng cách chấp nhận thực hiện chương trình hành động 21, các nước công nghiệp hoá đã nhận thức được rằng họ có một vai trò lớn hơn trong việc làm sạch môi trường so với các quốc gia nghèo gây ra ô nhiễm tương đối ít hơn. Các Quốc gia giàu có hơn cũng đã hứa hẹn dành chi phí nhiều hơn trong việc giúp đỡ các quốc gia khác để phát triển theo các cách ít gây ra các tác động môi trường. Ngoài vấn đề kinh phí, các quốc gia cần sự giúp đỡ trong việc tạo lập các kiến thức chuyên môn, năng lực để xây dựng kế hoạch và thực hiện các quyết định về phát triển bền vững. Cái đó đòi hỏi phải có sự chuyển giao thông tin và các kỹ năng. Chương trình hành động 21 yêu cầu các chính phủ phải thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển bền vững. Chiến lược ấy phải được xây dựng với sự tham gia rộng rãi của nhiều thành phần, kể cả các tổ chức phi chính phủ và công chúng. Chương trình hành động 21 đặt phần lớn trách nhiệm (cho các chính phủ quốc gia) nhằm tạo ra những thay đổi đồng thời cũng chỉ ra rằng các Chính phủ cần phải cộng tác trên tinh thần bằng hữu rộng rãi với các tổ chức Quốc tế, với các tổ chức kinh doanh, với các chính quyền từ cấp khu vực quốc gia, tỉnh đến cấp địa phương, với các nhóm phi chính phủ và các nhóm công dân khác. Như Chương trình hành động 21 đã chỉ ra, chỉ có sự cộng tác mang tính toàn cầu mới đảm bảo được rằng mọi quốc gia sẽ có được một tương lai an toàn hơn và phồn vinh hơn. Nêu lên những thách thức trong thế kỷ XXI; khẳng định nguyện vọng của nhân loại phát triển theo cách thức bảo đảm kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo, công bằng xã hội, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Chương trình nghị sự 21 toàn cầu bao gồm 4 phần chính và 40 chương 19 Tóm tắt văn kiện “Chương trình nghị sự 21” 1. Lời nói đầu của Chương trình hành động 21 Phần 1: Những khía cạnh kinh tế xã hội ` 2. Hợp tác quốc tế 3. Ðấu tranh với nghèo khó 4. Thay đổi các mẫu hình tiêu thụ 5. Dân số và tính bền vững 6. Bảo vệ và nâng cao sức khoẻ của con người 7. Ðịnh cư một cách bền vững 8. Ra quyết định về sự phát triển bền vững Phần 2: Bảo tồn và quản lý nguồn tài nguyên 9. Bảo vệ khí quyển 10. Quản lý lâu bền đất 11. Ðấu tranh với việc phá rừng 12. Ðấu tranh đối với hoang mạc hoá và hạn hán 13. Phát triển bền vững miền núi 14. Phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn 15. Bảo vệ sự đa dạng sinh học 16. Quản lý công nghệ sinh học 17. Bảo vệ và quản lý đại dương 18. Bảo vệ và quản lý nước ngọt 19. Sử dụng an toàn các hoá chất độc 20. Quản lý các chất thải nguy hại 21. Quản lý chất thải rắn và nước cống rãnh 22. Quản lý các chất thải phóng xạ Phần 3: Tăng cường vai trò của nhóm xã hội chính 23. Mở đầu 24. Phụ nữ trong sự nghiệp phát triển bền vững 25. Trẻ em và thanh niên trong sự nghiệp phát triển bền vững 26. Ðẩy mạnh vai trò của nhân dân bản xứ 27. Quan hệ đồng tác với các tổ chức phi chính phủ 28. Chính quyền địa phương 29. Công nhân và các nghiệp đoàn 30. Thương mại và Công nghiệp 31. Các nhà khoa học và công nghệ 32. Tăng cường vai trò của nông dân Phần 4: Phương tiện để thực hiện: 33. Cung cấp tài chính cho phát triển bền vững 34. Chuyển giao công nghệ 35. Khoa học vì phát triển bền vững 36. Giáo dục, đào tạo và sự nhận thức của công chúng 37. Tạo lập năng lực cho phát triển bền vững 38. Tổ chức về phát triển bền vững 39. Luật quốc tế 40. Thông tin phục vụ việc ra quyết định 20
- Xem thêm -