Báo cáo tốt nghiệp văn thư, lưu trữ khảo sát thực tiễn tình hình công tác văn thư, lưu trữ và ứng dụng công nghệ thông tin tại Trung tâm Lưu trữ tỉnh Quảng Trị

  • Số trang: 38 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 327 |
  • Lượt tải: 0
thuvientrithuc1102

Đã đăng 15337 tài liệu

Mô tả:

A.PhÇn më ®Çu Hiện nay, với xu thế xã hội ngày càng phát triển, đời sống không ngừng được nâng cao, thông tin ngày càng trở nên đa dạng và bức thiết đòi hỏi chúng ta phải đưa công tác văn thư, lưu trữ ngang tầm với các ngành khoa học khác. Bất kỳ ở cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước hay đoàn thể thì công tác văn thư, lưu trữ là công tác quan trọng không thể thiếu, muốn thể hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đều phải cần đến công văn giấy tờ. Vì vậy, lưu trữ tài liệu chính là giữ gìn những tài sản quý giá của cơ quan, những bằng chứng lịch sử nhằm phục vụ cho công trình nghiên cứu sau này. Với mong muốn đi sâu vào thực tế tìm hiểu tình hình thực tiễn công tác văn thư, lưu trữ nên em chọn viết Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại Trung tâm Lưu trữ tỉnh Quảng Trị. Khi đang ngồi trên ghế nhà trường, mỗi chúng ta đều được thầy cô truyền đạt những kiến thức chuyên môn cơ bản về lý thuyết song để trở thành một cán bộ văn thư, lưu trữ có năng lực thì ngoài nắm vững về lý thuyết còn phải đồng thời có những kỹ năng thực hành thành thạo, đạt hiệu quả thì thời gian thực tập ở cơ quan sẽ là cơ hội lớn cho chúng ta tiếp xúc với thực tế, để có điều kiện áp dụng những lý thuyết đã học vào thực tế từ đó rút ra những kinh nghiệm quý báu cho công việc sau này. Được sự giới thiệu của nhà trường và sự đồng ý tiếp nhận của Lãnh đạo Trung tâm Lưu trữ tỉnh Quảng Trị em được đến đây khảo sát tình hình thực tế và thực hành các khâu nghiệp vụ về công tác văn thư, lưu trữ và ứng dụng công nghệ thông tin. Trung tâm Lưu trữ tỉnh Quảng Trị là một cơ quan quản lý hồ sơ, tài liệu của cả tỉnh với một khối lượng lớn. Để quản lý khối tài liệu cũng như nội dung thông tin của khối tài liệu Trung tâm Lưu trữ đã quan tâm chú trọng ứng dụng Công nghệ thông tin vào công tác văn thư, lưu trữ. Với sự phát triển chung của toàn thế giới và sự phát triển ngày càng cao của xã hội đòi hỏi một công việc phải được đảm bảo theo nguyên tắc: nhanh chóng, kịp thời, gọn nhẹ và chính với xác. Vì vậy mỗi người nói chung và đội ngũ làm công tác văn thư, lưu trữ nói riêng phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và rèn luyện đạo đức phẩm chất tốt để đáp ứng cho công việc ngày càng cao. Thực hiện phương châm giáo dục của Đảng “Học đi đôi với Hành”, lý luận đi đôi với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội. Trung tâm phát triển phần mềm - Đại học Đà Nẵng đã tổ chức đợt thực tập cuối khoá cho sinh viên nghành Văn thư - Lưu trữ - Tin học nhằm giúp cho sinh viên vận dụng tốt những kiến thức lý luận được học ở trường áp dụng vào thực tế công việc, đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn giúp cho công việc sau này. Được thực tập tại Trung tâm Lưu trữ tỉnh Quảng Trị tôi đã có cơ hội tiếp xúc nhiều hơn với công việc thực tế, thực hành nghiệp vụ văn thư, lưu trữ GVHD: Báo cáo tốt nghiệp đó là tiền đề, niềm tin, là cơ sở vững chắc để tôi vững bước trên con đường của mình. Trang 2 GVHD: Báo cáo tốt nghiệp - Lập kế hoạch phương hướng công tác lưu trữ: + Hàng năm, căn cứ vào hướng dẫn của Cục Lưu trữ Nhà nước, Trung tâm Lưu trữ tỉnh tiến hành xây dựng phương hướng, kế hoạch công tác lưu trữ trong toàn tỉnh. + Trung tâm Lưu trữ tỉnh đôn đốc, hướng dẫn và theo dõi việc thực hiện kế hoạch ở các cơ quan trong tỉnh. - Tổ chức kiểm tra công tác lưu trữ: Hàng năm, Trung tâm Lưu trữ tỉnh tổ chức kiểm tra việc thực hiện công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ ở các cơ quan trong phạm vi toàn tỉnh, đồng thời báo cáo số liệu kết quả kiểm tra đến Cục Lưu trữ Nhà nước và Sở Nội vụ theo quy định. - Dự trù kinh phí cho hoạt động của Trung tâm Lưu trữ tỉnh: Kinh phí hoạt động của Trung tâm Lưu trữ tỉnh bao gồm chi cho hoạt động quản lý Nhà nước và chi cho hoạt động sự nghiệp của tài liệu lưu trữ. Hàng năm, Trung tâm Lưu trữ tỉnh lập kế hoạch kinh phí cho hoạt động của Trung tâm báo cáo Sở Nội vụ. - Lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ viên chức hàng năm Trung tâm Lưu trữ có trách nhiệm thường xuyên rà soát toàn bộ đội ngũ làm công tác lưu trữ ở các cơ quan trong toàn tỉnh và đề xuất với các cơ quan hữu quan để lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ làm công tác lưu trữ đảm bảo tiêu chuẩn nghiệp vụ do Nhà nước quy định. - Tổ chức nghiên cứu khoa học, nghiệp vụ: Trung tâm Lưu trữ có trách nhiệm lập kế hoạch và tổ chức nghiên cứu khoa học nghiệp vụ, từng bước áp dụng khoa học nghiệp vụ, kỹ thuật đối với hoạt động lưu trữ của Trung tâm và nâng cao dần trình độ khoa học lưu trữ ở các cơ quan trong tỉnh. - Thực hiện chế độ thông tin báo cáo: Trung tâm Lưu trữ tỉnh phải thực hiện chế độ báo cáo thường kỳ và đột xuất đến Sở Nội vụ và Cục Lưu trữ Nhà nước về tình hình công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ. - Tổ chức tổng kết hoạt động quản lý công tác lưu trữ: Hàng năm, Trung tâm Lưu trữ giúp Sở Nội vụ lập kế hoạch tổ chức việc tổng kết hoạt động quản lý Nhà nước về công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ để nhằm rút ra những kinh nghiệm, đánh giá đúng thực trạng lưu trữ của tỉnh. Xây dựng phương hướng kế hoạch công tác lưu trữ hàng năm. - Thu thập bổ sung tài liệu: + Lập danh sách các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong cơ quan UBND tỉnh phải giao nộp hồ sơ vào kho lưu trữ tỉnh. + Lập danh sách các cơ quan thuộc diện giao nộp tài liệu và danh mục tài liệu phải giao nộp vào Trung tâm Lưu trữ tỉnh. Trang 3 GVHD: Báo cáo tốt nghiệp + Hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra, đôn đốc, việc phân loại, lập hồ sơ, lựa chọn tài liệu và chuẩn bị tài liệu để giao nộp vào Trung tâm Lưu trữ. + Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện việc thu tài liệu của các cơ quan. + Tổ chức thu nhận tài liệu của các cơ quan, cá nhân giao nộp vào Trung tâm Lưu trữ theo quy định của Nhà nước. + Tiến hành chỉnh lý hoàn chỉnh hồ sơ tài liệu vào Trung tâm Lưu trữ. + Tiến hành xác định giá trị tài liệu những phông lưu trữ đang bảo quản ở Trung tâm Lưu trữ, loại ra những tài liệu hết giá trị để làm thủ tục tiêu huỷ theo quy định, từng bước tiến hành việc tối ưu hoá thành phần thông tin tài liệu trong các phông lưu trữ theo hướng dẫn của Cục Lưu trữ Nhà nước. + Tiến hành sưu tầm tài liệu lưu trữ thuộc phạm vi quản lý của Trung tâm Lưu trữ tỉnh thực hiện của các cơ quan tổ chức, cá nhân đang lưu giữ. - Bảo quản tài liệu: + Thực hiện việc mua sắm các trang thiết bị phục vụ bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ. + Thực hiện đầy đủ các quy trình kỹ thuật bảo quản, chế độ phòng hoả, cứu hoả, phòng gian bảo mật đối với kho tàng tài liệu lưu trữ. + Tiến hành các nghiệp vụ thống kê, kiểm tra định kỳ và đột xuất đối với tài liệu bảo quản tại Trung tâm. + Thực hiện việc tu bổ, phục chế đối với những tài liệu hư hỏng. - Tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ: + Xây dựng các loại công cụ tra tìm tài liệu để phục vụ việc khai thác sử dụng tài liệu. + Tổ chức đầy đủ các hình thức sử dụng tài liệu gồm: * Phục vụ sử dụng tài liệu tại phòng đọc của Trung tâm Lưu trữ tỉnh (đây là hình thức chủ yếu). * Tổ chức trưng bày, giới thiệu tài liệu lưu trữ nhân dịp những sự kiện quan trọng của Nhà nước, của địa phương hoặc của các ngành. * Giới thiệu cho các cơ quan, tổ chức trong tỉnh về các nguồn tài liệu được phục vụ sử dụng rộng rãi đang bảo quản tại Trung tâm. * Chủ động giới thiệu tài liệu phục vụ cho các nhiệm vụ chính trị, các đề án, chương trình nghiên cứu của các cơ quan. * Lập danh mục các loại tài liệu để phục vụ sử dụng (tài liệu mật, tài liệu hạn chế sử dụng, tài liệu được sử dụng rộng rãi). + Xây dựng quy chế sử dụng tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ tỉnh. 4.2 Quyền hạn Trung tâm Lưu trữ được Sở Nội vụ ủy quyền trực tiếp quan hệ với UBND các huyện, thị xã, thành phố, các Sở, Ban ngành, đoàn thể để nắm tình hình về Trang 4 Báo cáo tốt nghiệp GVHD: công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ; hướng dẫn nghiệp vụ và kiến nghị về công tác lưu trữ với lãnh đạo các cơ quan đơn vị cấp trên. Trung tâm Lưu trữ tỉnh được yêu cầu thủ trưởng và cán bộ, viên chức của các cơ quan đơn vị thuộc tỉnh thi hành đúng pháp luật và quy định, các chế độ, nguyên tắc của Đảng và Nhà nước về quản lý công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ. Trong trường hợp cần thiết, được kiến nghị về hình thức xử lý đối với các vụ vi phạm Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia. Trung tâm Lưu trữ tỉnh được tổ chức sinh hoạt và tham gia sinh hoạt khoa học nghiệp vụ lưu trữ, tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm, phổ biến kinh nghiệm cho công chức, viên chức làm công tác lưu trữ trong phạm vi toàn tỉnh. Trung tâm Lưu trữ được cấp chứng thực, giấy chứng nhận, cấp bản sao hoặc trích sao tài liệu lưu trữ cho người đến nghiên cứu khai thác tài liệu thuộc kho lưu trữ tỉnh do Trung tâm Lưu trữ quản lý theo quy định của Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia. Trung tâm Lưu trữ tỉnh được thu một khoản lệ phí khi cung cấp các bản sao tài liệu lưu trữ theo quy định của Nhà nước. Trung tâm Lưu trữ tỉnh được ban hành văn bản hướng dẫn quy trình hoạt động nghiệp vụ của lưu trữ huyện, thị xã, và những văn bản nghiệp vụ khác được Sở ủy nhiệm ban hành. Trung tâm Lưu trữ được tham gia đề xuất việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chế độ chính sách đối với công chức, viên chức làm công tác lưu trữ thuộc tỉnh. Từ năm 1998 đến ngày 30/6/2008 Trung tâm Lưu trữ thực hiện hai chức năng: Quản lý Nhà nước về công tác văn thư, lưu trữ; Lưu trữ lịch sử. Ngày 01/7/2008 đến nay thực hiện một chức năng lưu trữ lịch sử. 5. Tổ chức bộ máy và biên chế: 5.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy của Trung tâm Lưu trữ tỉnh Quảng Trị GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC BỘ PHẬN THU THẬP CHỈNH LÝ PHÓ GIÁM ĐỐC BỘ PHẬN HÀNH CHÍNH QUẢN TRỊ BỘ PHẬN QUẢN LÝ KHO, PHỤC VỤ KHAI THÁC SỬ DỤNG Trang 5 GVHD: Báo cáo tốt nghiệp 5.2. Tổ chức bộ máy và biên chế: - Trung tâm Lưu trữ tỉnh hiện có: 01 Giám đốc, 02 Phó giám đốc và một số cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ giúp việc của các Bộ phận Hành chính - Quản trị, Bộ phận thu thập, chỉnh lý tài liệu và Bộ phận quản lý, khai thác, sử dụng tài liệu. - Giám đốc Trung tâm Lưu trữ tỉnh do Chủ tịch UBND tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm. - Phó Giám đốc Trung tâm Lưu trữ tỉnh do Giám đốc Sở Nội vụ bổ nhiệm, miễn nhiệm. - Biên chế của Trung tâm năm trong biên chế được giao hàng năm của Sở Nội vụ tỉnh Quảng Trị. * Bộ phận Hành chính - Quản trị Trung tâm Lưu trữ tỉnh làm việc theo chế độ thủ trưởng, Giám đốc Trung tâm là người chịu trách nhiệm cao nhất trước Sở Nội vụ về việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của Trung tâm; đồng thời chịu trách nhiệm trước Cục trưởng Cục Lưu trữ Nhà nước về mặt công tác nghiệp vụ. - Phó Giám đốc là người giúp việc cho Giám đốc, chịu trách nhiệm trước Giám đốc về những công việc được phân công, thay mặt Giám đốc khi Giám đốc đi vắng. - Cán bộ, viên chức Trung tâm chấp hành sự phân công và kiểm tra của Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm. Mối quan hệ giữa Trung tâm Lưu trữ với các Sở, Ban ngành và UBND các huyện, thị xã là mối quan hệ phối hợp, hợp tác cùng chịu trách nhiệm thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo về công tác lưu trữ của Sở Nội vụ và Cục trưởng Cục lưu trữ Nhà nước. * Bộ phận thu thập, chỉnh lý tài liệu Thực hiện những nhiệm vụ theo quy định do Giám đốc Trung tâm Lưu trữ trực tiếp phụ trách và một số cán bộ có trình độ trung cấp lưu trữ trở lên có khả năng nghiên cứu, dự thảo các văn bản chỉ đạo các tỉnh không trái với quy định, nguyên tắc, chế độ của Nhà nước - Tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện ở các cơ quan đơn vị trong toàn tỉnh. - Lập kế hạch và tổ chức thu tài liệu đến hạn nộp lưu vào kho lưu trữ tỉnh - Tiếp nhận tài liệu của các cơ quan đến nộp lưu. - Phân loại, chỉnh lý, xác định giá trị tài liệu. - Thực hiện các thủ tục tiêu hủy tài liệu hết giá trị... * Bộ phận quản lý, khai thác, sử dụng tài liệu Thực hiện những nhiệm vụ theo quy định do Phó Giám đốc Trung tâm Lưu trữ phụ trách và một số cán bộ có trình độ trung cấp trở lên, có khả năng thực hiện các khâu khoa học nghiệp vụ trong kho lưu trữ. Trang 6 GVHD: Báo cáo tốt nghiệp - Xuất, nhập tài liệu - xây dựng và quản lý hệ thống công cụ tra cứu (CSDL, mục lục hồ sơ) - Quản lý và phục vụ cán bộ và nhân dân đến khai thác, sử dụng tài liệu. - Thực hiện kỷ thuật bảo quản tài liệu. - Tổ chức xắp xếp tài liệu trong kho. - Khử trùng tài liệu. - Kiểm kê, tu bổ, phục chế tài liệu. - Lập bản sao bảo hiểm tài liệu... * Nội quy làm việc của Trung tâm Lưu trữ : Sáng từ 7h - 11h30 Chiều từ 13h30 - 17h * Cách bố trí các phòng làm việc của Trung tâm Lưu trữ: - Tầng 1: các phòng làm việc của Ban Lãnh đạo, cán bộ Trung tâm. - Tầng 2: 01 phòng chỉnh lý và 03 phòng bảo quản tài liệu - Tầng 3: 03 phòng bảo quản tài liệu và 01 phòng để trang thiết bị - Tầng 4: 04 phòng bảo quản tài liệu * Trang thiết bị văn phòng gồm: - Máy vi tính, máy in, máy photocopy, điện thoại, quạt, bàn ghế, tủ, giá, cặp, hộp đựng tài liệu,… - Các trang thiết bị trong văn phòng được bố trí hợp lý để thuận lợi cho giải quyết công việc của Trung tâm. * Trang thiết bị bảo quản tài liệu: Trung tâm Lưu trữ được trang bị tương đối đầy đủ các trang thiết bị bảo quản tài liệu như: Máy điều hoà, máy hút ẩm, máy đo độ ẩm, quạt thông gió, thiết bị phòng cháy chữa cháy… II/ Nội dung công tác văn thư, lưu trữ 1. Công tác văn thư. Công tác văn thư có vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý của các cơ quan, đơn vị tổ chức. Quan niệm đúng đắn về công tác văn thư là một điều kiện đảm bảo cho công tác này phát triển. Nếu quan niệm không đúng đắn sẽ dẫn tới phương pháp chỉ đạo, quản lý đối với công tác văn thư cũng không đúng và kìm hãm sự phát triển của nó. Điều này sẽ ảnh hưởng đến năng suất của lao động quản lý trong các cơ quan Nhà nước. Ở Trung tâm Lưu trữ công tác văn thư là việc soạn thảo ban hành văn bản, tổ chức quản lý văn bản, quản lý và sử dụng con dấu trong cơ quan. Bộ phận văn thư là bộ phận không thể thiếu trong mỗi cơ quan, đơn vị, là đầu mối tiếp nhận, thu thập thông tin và cung cấp truyền đạt thông tin, lưu giữ thông tin. Trang 7 GVHD: Báo cáo tốt nghiệp Để chỉ đạo hướng dẫn về nghiệp vụ công tác văn thư, lưu trữ, tổ chức bồi dưỡng, tập huấn, huấn luyện cán bộ làm công tác Văn thư-Lưu trữ, nhằm thực hiện nội dung cải cách hành chính của Chính phủ và đáp ứng yêu cầu chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh, Sở Nội vụ, Trung tâm Lưu trữ đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn về nghiệp vụ như: Văn bản hướng dẫn quản lý công tác bảo mật, quy định về việc sử dụng con dấu, Quy định về tiếp nhận xử lý văn bản trên máy vi tính... cho các đơn vị, cá nhân liên quan đảm bảo sự thống nhất về công tác Văn thư trong cơ quan. Hàng năm, cán bộ văn thư được cử đi tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác Văn thư ở Cục Văn thư, lưu trữ Nhà nước và tỉnh tổ chức nên công việc hàng ngày được thực hiện một cách thành thạo, thông tin chuyển tải nhanh chóng và chính xác. Việc sử dụng và quản lý con dấu được thực hiện theo đúng quy định của Nhà nước và quy chế sử dụng con dấu của cơ quan. Việc quản lý công văn đi đến... ngày càng đi vào nề nếp, tránh sai sót. Hàng tháng, báo cáo tình hình cho Thủ trưởng cơ quan. Cuối năm bộ phận văn thư gửi báo cáo công tác, hoạt động của mình cho Thủ trưởng biết để có chủ trương chỉ đạo kịp thời và có kế hoạch tiếp theo. Công tác Văn thư có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của cơ quan. Làm tốt công tác Văn thư sẽ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng công tác của cơ quan, đơn vị, bởi vì công tác Văn thư liên quan đến nhiều công việc khác nhau từ việc soạn thảo văn bản, ban hành văn bản tác động rất lớn đến công việc cơ quan. Văn bản là căn cứ để giải quyết công việc của cơ quan, vì vậy nếu văn bản được soạn thảo có chất lượng, nội dung thông tin cô đọng, rõ ràng, dễ hiểu thì sẽ giúp cho cán bộ giải quyết văn bản tiết kiệm thời gian đọc và xử lý văn bản. Việc đăng ký quản lý văn bản chặt chẽ tốt sẽ giúp cho việc xác định trách nhiệm được dễ dàng, góp phần giảm bớt tệ quan liêu giấy tờ, làm tốt công tác Văn thư sẽ góp phần giữ gìn bí mật quốc gia và bí mật cơ quan nhằm tạo thuận lợi cho công tác lưu trữ... đánh giá được tầm quan trọng đó, các cấp Lãnh đạo của cơ quan ngày càng được quan tâm. Việc bố trí nơi làm việc và mua sắm trang thiết bị cho văn thư rất được chú trọng. Phòng làm việc được bố trí ngay đại sảnh gần lối ra vào và đi lên xuống cầu thang, nên dễ tìm kiếm và thuận lợi cho khách đến liên hệ công tác. Những trang thiết bị phục vụ công tác văn thư như giá, tủ, kệ, bàn ghế, điện thoại, máy in... được mua sắm tương đối đầy đủ và sắp xếp khá hợp lý. Như vậy, được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp Lãnh đạo, bộ phận văn thư của Trung tâm Lưu trữ đã và đang đáp ứng tốt yêu cầu công việc đặt ra, góp phần đáng kể cho công việc cơ quan nâng cao năng suất, hiệu quả làm việc. 1.1. Soạn thảo và ban hành văn bản Soạn thảo văn bản là công việc của cán bộ quản lý trong việc thảo về nội dung và hình thức của văn bản để làm căn cứ cho các cấp có thẩm quyền phê duyệt và ban hành. Trang 8 GVHD: Báo cáo tốt nghiệp Những yêu cầu về soạn thảo, ban hành văn bản quản lý Nhà nước là phải đúng thẩm quyền và đúng công dụng, kỹ thuật trình bày đúng theo thể thức, đảm bảo yêu cầu về nội dung, được thể hiện bằng văn phong hành chính, và được soạn thảo, ban hành đúng quy trình. Thực tế hiện nay cán bộ làm công tác Văn thư chưa thực hiện soạn thảo văn bản, chủ yếu rà soát thể thức văn bản trước khi ban hành. Việc soạn thảo văn bản đã tuân thủ thực hiện đúng quy trình và trải qua các bước sau: 1.2. Giai đoạn chuẩn bị: Trước tiên, chuyên viên hoặc cán bộ xác định phạm vi thời gian và cả không gian, đối tượng điều chỉnh gửi tới cấp trên, cấp dưới và những cơ quan liên quan nào, mục đích và tính chất của văn bản ban hành sẽ giải quyết vấn đề gì, có thuộc chức năng nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình hay không ?. Vì vậy, đòi hỏi những người soạn thảo văn bản phải có sự định hình khái quát về văn bản, những nội dung chủ yếu của vấn đề định thể hiện. Bước xác định này nếu được làm tốt sẽ đem lại ý nghĩa và hiệu quả thực tiễn cho văn bản ban hành, để dựa vào đó xác định thể loại văn bản cho phù hợp, định hướng được việc thu thập những thông tin cần thiết cho việc soạn thảo. Khi chọn loại văn bản để ban hành thì phải xác định thẩm quyền ban hành, hình thức và nội dung văn bản. Phải xác định Trung tâm được ban hành những văn bản nào. Ban hành văn bản dùng để giải quyết, đề đạt, yêu cầu hoặc để giải quyết vấn đề gì có thuộc thẩm quyền của người đó hay không? 1.1.2. Bước thu thập thông tin cần thiết cho văn bản: Đây là một bước quan trọng đòi hỏi người soạn thảo phải lựa chọn những thông tin cần thiết và chính xác. Đối với những văn bản quan trọng, việc thu thập khảo sát thông tin là điều không thể thiếu vì nó liên quan và quyết định đến chất lượng văn bản (thông tin pháp lý, thông tin quá khứ và thông tin thực tiễn) các thông tin trên là cơ sở, quy định của pháp luật mà cơ quan, đơn vị dựa vào lấy đó để ban hành văn bản. Có một số văn bản trước khi soạn thảo phải có thông tin thực tế đồng thời loại trừ những thông tin trùng lặp, thông tin có độ tin cậy thấp nhằm đảm bảo cho văn bản có cơ sở pháp lý vững chắc, không chồng chéo mâu thuẫn với những văn bản khác có liên quan và đề ra những chủ trương chính sách, biện pháp phù hợp với thực tiễn đảm bảo cho văn bản có khả năng thực thi trong thực tế. 1.1.3. Bước xây dựng đề cương và viết bản thảo: Sau khi thông tin đã được thu thập và xử lý, người soạn thảo sẽ xây dựng đề cương, viết bản thảo làm thể hiện rõ bố cục (phần, mục, tiểu mục) của văn bản và khái quát những ý tưởng hoặc quy phạm sẽ đưa vào nội dung văn bản, chú ý tính logic và hợp lý, các ý liên quan với nhau, không mâu thuẫn nhằm đạt mục đích đề ra, phù hợp với thể loại văn bản, ngữ pháp, chính tả, văn phong như thế nào. Trang 9 GVHD: Báo cáo tốt nghiệp 1.1.4. Thu thập ý kiến đóng góp và sửa chữa bản thảo: Bước này nhân viên văn thư xác định văn bản soạn thảo xin ý kiến đóng góp. Khi văn bản đã thảo xong sẽ trình lên thủ trưởng phê duyệt. Sau khi thảo xong, cần đọc lại bản thảo để kiểm tra những vấn đề sau: - Nội dung bản thảo đã thể hiện được đầy đủ mục đích, yêu cầu đặt ra hay chưa? - Cách trình bày và lập luận đã rõ ràng, chặt chẽ, mạch lạc và phù hợp với thể loại văn bản hay chưa? - Các từ ngữ đưa vào sử dụng trong văn bản có chuẩn xác, rõ ràng, dễ hiểu và phù hợp với thể loại văn bản không? Có từ ngữ nào cần giải thích để hiểu thống nhất mà chưa được giải thích? - Có lỗi chính tả và lỗi ngữ pháp không? Nếu phát hiện những sai sót về những về các vấn đề nêu trên, cần bổ sung, sửa chữa cho hoàn chỉnh. Người duyệt văn bản có thể tự mình sửa chữa vào bản thảo nếu xét thấy cần thiết, hoặc góp ý với người soạn thảo để họ sửa chữa. Nếu bản thảo phải sửa chữa nhiều, thì người soạn thảo phải viết lại hoặc đánh máy lại cho rõ ràng, sạch sẽ. 1.1.5. Trình duyệt và làm thủ tục ban hành: Sau khi văn bản đã thảo xong, theo nguyên tắc phải trình cấp có thẩm quyền duyệt. Thông thường người duyệt văn bản cuối cùng sẽ là người ký văn bản. Để lãnh đạo cơ quan có căn cứ phê duyệt văn bản một cách chính xác, khi trình duyệt văn bản phải kèm theo hồ sơ về soạn thảo văn bản. Hồ sơ này gồm những văn bản, tài liệu đã được sử dụng làm cơ sở pháp lý và cơ sở thực tế cho việc soạn thảo văn bản đó. Qua thực tế tìm hiểu thì những năm gần đây quy trình soạn thảo và ban hành văn bản của cơ quan thực hiện tốt. Việc ban hành văn bản sai về thẩm quyền hầu như ít xảy ra và thủ tục ký duyệt đúng trình tự theo quy chế làm việc, ít khi xảy ra chồng chéo. Đối với loại văn bản quy phạm pháp luật và quyết định cá biệt ít nhất có ba chữ ký trước khi ban hành (Thủ trưởng cơ quan, Lãnh đạo Văn phòng và người soạn thảo), còn văn bản hành chính thông thường thì hai chữ ký (chữ ký của người có thẩm quyền và chữ ký của người soạn văn bản). Sau khi văn bản đã được nhân bản, người soạn có trách nhiệm đọc lại văn bản. Nếu phát hiện những sai sót do in ấn hoặc đánh máy, cần kịp thời sửa chữa. Tiếp đó, làm các thủ tục để hoàn thiện văn bản về mặt thể thức, như trình ký văn bản, đóng dấu cơ quan, ghi số ký hiệu, ngày tháng của văn bản… Nhìn chung việc ban hành văn bản của những năm gần đây tương đối ổn định. Việc ban hành văn bản phục vụ quản lý của cơ quan không bị lạm dụng, chặt chẽ hơn và đúng yêu cầu mục đích. Trang 10 GVHD: Báo cáo tốt nghiệp 1.2. Quản lý văn bản đi và đến Quản lý văn bản là sử dụng các biện pháp nghiệp vụ nhằm giúp cho cơ quan và Thủ trưởng cơ quan nắm được thành phần nội dung hoặc tình hình chuyển giao tiếp nhận văn bản, giải quyết văn bản, bảo quản văn bản trong hoạt động hàng ngày của cơ quan. Ở Trung tâm Lưu trữ hiện nay là hình thức văn thư tập trung, mọi công văn đi đến hàng ngày đều được quản lý tập trung ở văn thư để đăng ký vào sổ công văn đi và đến. Yêu cầu về quản lý văn bản ở đây phải thống nhất, chính xác, an toàn và bí mật tức là khi tiếp nhận chuyển giao văn bản phải kịp thời, đặc biệt đối với những văn bản có dấu chỉ mức độ khẩn, hỏa tốc. Tuân thủ các quy định về nghiệp vụ công tác văn thư, chế độ công tác văn thư được thống nhất trong phạm vi toàn quốc, đối với hệ thống sổ sách, công cụ quản lý văn bản, chương trình quản lý văn bản được thống nhất từ Trung ương xuống địa phương, đặc biệt là chế độ quản lý đối với văn bản mật, các đơn thư tố cáo phải có sổ sách riêng để quản lý, theo dõi. Văn bản cần chuyển đúng người đúng địa chỉ có trách nhiệm giải quyết văn bản. Khi vào sổ văn bản được ghi chép đầy đủ các thông tin cần thiết. Trong khâu chuyển giao, tiếp nhận văn bản ở các cơ quan, đơn vị và trong nội bộ cơ quan không được thất lạc, đặc biệt là trên đường chuyển giao văn bản và thể hiện trong khâu lưu giữ bảo quản văn bản không được làm thất lạc, mất mát và hư hỏng do môi trường và con người. Trong khâu quản lý văn bản đặc biệt chú trọng đối với văn bản mật (nhất là đối tượng tiếp cận văn bản mật). 1.2.1. Quy trình quản lý văn bản đi Tất cả các loại văn bản trước khi gửi đi đều phải tuân thủ nguyên tắc là tập trung vào một đầu mối là bộ phận văn thư để làm thủ tục đăng ký. Văn bản đi là toàn bộ các văn bản do Trung tâm ban hành gửi đi các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh. Hàng năm, số lượng văn bản đi của Trung tâm cũng không nhiều chỉ có khoảng 150 - 200 văn bản. Các bước như sau: 1- Kiểm tra thể thức, hình thức, kỹ thuật trình bày văn bản 2- Đăng ký văn bản vào sổ, ghi số ngày tháng, đóng dấu 3- Lưu văn bản 4- Làm thủ tục để gửi văn bản đi. Lượng văn bản đi hàng ngày được bộ phận văn thư đăng ký vào sổ văn bản đi theo từng mục dành riêng cho từng thể loại như quyết định, công văn, báo cáo, thông báo... những nội dung cần thiết được cán bộ văn thư vào sổ để quản lý thống nhất như: Số, ký hiệu, ngày tháng văn bản, trích yếu nội dung, loại văn bản, cấp ban hành, cơ quan ban hành, người ký, chức vụ, đơn vị soạn thảo (lĩnh vực), mức độ khẩn, mật... Mẫu sổ đăng ký văn bản đi như sau: Trang 11 Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Ngày tháng của VB 1 Tên loại và Số và ký Người Nơi trích yếu nội hiệu ký nhận dung 2 3 4 5 Đơn vị hoặc người nhận bản lưu 6 Số lượng Ghi chú bản 7 8 Sau khi in ấn xong văn thư đóng dấu vào chữ ký của người có thẩm quyền theo đúng quy định của Nhà nước. Cán bộ văn thư không đóng dấu phát hành các loại văn bản sau: văn bản không đúng thể thức, văn bản khống chỉ, văn bản chưa có nội dung cụ thể, văn bản ký không đúng thẩm quyền. Khi trả lại, cán bộ văn thư nêu rõ lý do để cán bộ chuyên môn hiểu và trình ký lại, khi cần thiết thì báo cáo thủ trưởng biết, xử lý. Văn bản phát hành sẽ lưu bản gốc (có chữ ký trực tiếp) tại phòng văn thư và gửi văn bản theo nơi gửi, nơi nhận. Cuối tháng được cán bộ văn thư sắp xếp theo số thứ tự và thời gian của văn bản để kiểm tra sự sai sót thất lạc để xử lý kịp thời, đồng thời tạo điều kiện cho công tác lưu trữ dễ dàng tìm kiếm khi có yêu cầu. Đối với văn bản có dấu chỉ mức độ mật thì được lưu riêng theo chế độ bảo mật của cơ quan, Nhà nước. Cán bộ văn thư phát hành bỏ văn bản vào bì, viết bì và kiểm tra lần cuối số ghi ngoài bì với số văn bản, nơi nhận... để tránh sai sót và dán bì. Tất cả văn bản đi được gửi ngay trong ngày đến nơi nhận, hoặc chậm nhất là sang ngày hôm sau. Tất cả văn bản gửi đi bằng đường bưu điện hoặc trực tiếp cũng phải ký vào sổ chuyển giao của văn thư. Công văn gửi đi chỉ dấu mức độ mật, khẩn thì phải đóng dấu lên văn bản và lên bì công văn (đối với văn bản mật phải làm hai bì, bì trong thì đóng dấu chỉ mức độ mật, bì ngoài để thường). Việc quản lý văn bản đi tương đối đảm bảo yêu cầu theo quy định của Nhà nước. 1.2.2 Quy trình quản lý văn bản đến Ở Trung tâm, số lượng công văn đến hàng ngày tương đối ít. Hàng năm, chỉ có khoảng 88 văn bản. Việc quản lý công văn đi đến được giao cho bộ phận văn thư quản lý tập trung thống nhất từ mọi nguồn khác nhau: Từ Chính phủ, Bộ ngành Trung ương, các tổ chức trong và ngoài nước, các Sở, Ban ngành trong tỉnh, các đoàn thể, doanh nghiệp, cá nhân... được gửi đến Trung tâm bằng nhiều hình thức khác nhau như trực tiếp đưa đến bộ phận văn thư, gửi bằng đường bưu điện, hoặc đi họp...cũng đều chuyển đến bộ phận văn thư để tiếp nhận, đăng ký vào sổ. Trang 12 Báo cáo tốt nghiệp GVHD: *Quy trình xử lý văn bản đến như sau: 1. Tiếp nhận văn bản 2. Phân loại sơ bộ 3. Bóc bì văn bản 4. Đóng dấu đến, ghi số đến và ngày đến của văn bản 5. Đăng ký văn bản vào sổ 6. Trình lãnh đạo 7. Chuyển giao văn bản 8. Theo dõi, đôn đốc giải quyết văn bản đến. Khi tiếp nhập văn bản đến, văn thư cơ quan phải xem xét công văn gửi có đúng địa chỉ không, phong bì còn nguyên vẹn hay đã bị bóc mà kịp thời trả lại hoặc lập biên bản trước nhân viên bưu điện hoặc người liên lạc. Những công văn đến được nhận sẽ phân loại sơ bộ, thư riêng gửi bình thường, sách báo không phải đăng ký vào sổ. Đối với những công văn ngoài bì ghi rõ đích danh thì chuyển trực tiếp cho người nhận. Đối với công văn đóng dấu chỉ các mức độ mật thì được đăng ký sổ riêng. Đối với những công văn gửi Trung tâm thì văn thư tiến hành bóc bì công văn, trước khi bóc phải chú ý công văn khẩn, hỏa tốc thì xem trước, tiến hành đối chiếu với số ghi ngoài bì có khớp với công văn ghi trong bì hay không, sau đó bộ phận văn thư tiến hành đóng dấu đến để xác định công văn đã được đăng ký vào sổ công văn đến ngày tháng năm nào, số thứ tự đến bao nhiêu, nhằm mục đích khi theo dõi văn bản bị thất lạc hoặc đến chậm để tìm ra nguyên nhận dễ dàng. Vị trí đóng dấu công văn đến theo như quy định là ở lề bên trái, phía trên trang đầu của công văn. Đối với công văn chỉ mức độ mật sẽ đóng dấu đến ở ngoài phong bì. Mẫu dấu công văn đến như sau: TRUNG TÂM LƯU TRỮ TỈNH QUẢNG TRỊ Số:...... ............ ............ ............ ............ .. Ngày:. ............ ............ ............ ............ Chuyể n:........ ............ Trang 13 Báo cáo tốt nghiệp GVHD: ............ ........... ĐẾN Số đến của công văn được đăng ký liên tục từ đầu năm đến cuối năm theo từng loại sổ, sổ được quản lý tại phòng văn thư cho đến hết năm thì chuyển vào lưu trữ cơ quan. Mẫu sổ đăng ký văn bản đến như sau: Ngày đến Số đến Tác giả 1 2 3 Tên loại và Số và ký Ngày Đơn vị hoặc Ký trích yếu nội hiệu tháng VB người nhận nhận dung 4 5 6 7 8 9 Ghi chú Những năm gần đây công tác quản lý văn bản đến ở Trung tâm có rất nhiều tiến bộ và dần dần đi vào nề nếp, Trung tâm đã quan tâm trang bị các phương tiện máy vi tính và các phần mềm ứng dụng giúp cho những người làm công tác văn thư không phải làm các công việc thủ công như trước. Công việc không ứ đọng nhưng đòi hỏi cán bộ làm công tác văn thư phải thành thạo chuyên môn nghiệp vụ phải nắm vững mới đảm bảo hoàn thành các công việc được giao hàng ngày tránh sai sót và chậm trễ. Tuy nhiên, vẫn còn một số văn bản chưa cập nhật đầy đủ thông tin khi đăng ký vào sổ. 1.1.3 Quản lý và sử dụng con dấu Tổ chức quản lý và sử dụng con dấu là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác văn thư, vì con dấu thể hiện vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý đối với các văn bản, giấy tờ của các cơ quan tổ chức, cá nhân. *Quy định về quản lý con dấu: Việc quản lý và sử dụng con dấu tại Trung tâm Lưu trữ tỉnh Quảng Trị hiện nay được thực hiện đúng theo quy định của Nhà nước tại Nghị định số 58/2001/NĐ - CP ngày 24/8/2001 của Chính phủ về việc quản lý và sử dụng con dấu tại các cơ quan Nhà nước. Cán bộ văn thư phải có nhiệm vụ, xem xét kỹ văn bản trước khi đóng dấu, văn bản phải có đầy đủ thể thức, chữ ký của các cấp có thẩm quyền, tránh đóng nhầm giữa các con dấu. Các văn bản có ý kiến ngoài lề hoặc ký tắt không đóng dấu. *Bảo quản và giữ gìn con dấu: Việc bảo quản và giữ gìn con dấu của ở Trung tâm Lưu trữ đúng quy định, dấu sau khi đã đóng xong, văn thư cất ngay vào tủ có khóa để tránh trường hợp quên khi ra khỏi phòng, điều này được thực hiện nghiêm túc, không đóng dấu khống chỉ vào giấy trắng tránh tình trạng lợi dụng con dấu vào những mục đích không hợp pháp, dấu đóng trùm lên 1/3 chữ ký về bên trái. Cán bộ Trang 14 GVHD: Báo cáo tốt nghiệp văn thư nắm vững các nguyên tắc về đóng dấu, bảo quản dấu và bàn giao dấu, không bàn giao cho người khác khi chưa có ý kiến của thủ trưởng. Con dấu được bảo quản an toàn, trong cũng như ngoài giờ làm việc nghiêm cấm mang con dấu ra khỏi phòng, trừ trường hợp đột xuất phải có ý kiến của thủ trưởng, khi thay đổi con dấu phải giao nộp dấu cũ cho cơ quan Công an quản lý. 1.4 Công tác lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ Lập hồ sơ là một trong những nội dung cơ bản của công tác văn thư, là trách nhiệm của các cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn được quy định trong Điều 11 - Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia năm 2001, Điều 23 - Nghị định 110 ngày 8/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư. Lập hồ sơ là tập hợp các văn bản hình thành trong quá trình giải quyết công việc thành từng vấn đề sự việc hoặc theo những đặc trưng chung, đồng thời sắp xếp biên mục theo một phương pháp khoa học. Lập hồ sơ tốt sẽ nâng cao năng suất chất lượng công tác của cán bộ trong cơ quan, giúp cơ quan quản lý văn bản được chặt chẽ, góp phần bảo mật thông tin và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lưu trữ. Công tác lập hồ sơ hiện hành chỉ dùng cho công tác văn thư và mang tính bắt buộc. Công tác giao nộp hồ sơ vào lưu trữ cơ quan là đúng thời hạn và đầy đủ. Hiện nay ở Trung tâm vẫn đang tiến hành chỉnh lý tài liệu mà các năm trước lưu trữ cơ quan đã nộp lưu nhưng do chưa lập hồ sơ hoàn chỉnh, đây là một khó khăn cho công tác lưu trữ. Tình trạng tài liệu bị thất lạc vẫn còn xảy ra, nhưng những năm gần đây được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo nên công tác lập hồ sơ hiện hành và nộp lưu hồ sơ có nhiều tiến bộ rõ rệt, các bộ phận, chuyên viên, đơn vị đã lập được hồ sơ mà mình trực tiếp theo dõi phụ trách. 2. Công tác lưu trữ Công tác lưu trữ là nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhằm lựa chọn, lưu giữ và tổ chức khoa học những văn bản, tài liệu có giá trị được hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp để phục vụ nhu cầu tra cứu thông tin quá khứ và làm bằng chứng xác minh, đối chiếu khi cần thiết. 2.1 Tổ chức và chỉ đạo công tác lưu trữ của cơ quan Trước hết Thủ trưởng cơ quan, Cán bộ, Chuyên viên và những người làm công tác lưu trữ phải xác định tính chất, đặc điểm của tài liệu lưu trữ là những tài liệu có giá trị lịch sử, khoa học và thực tiễn, có ý nghĩa chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng. Làm tốt công tác lưu trữ nhằm cung cấp những tài liệu, tư liệu, số liệu đáng tin cậy phục vụ các mục đích chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Tài liệu lưu trữ góp phần cung cấp những thông tin quá khứ, những căn cứ, bằng chứng phục vụ cho hoạt động quản lý của cơ quan và các nhu cầu chính đáng của công dân. Góp phần bảo vệ bí mật những thông tin có liên quan đến cơ quan tổ chức và các bí mật quốc gia. Giúp cơ quan trong việc Trang 15 GVHD: Báo cáo tốt nghiệp tổng kết lịch sử, giáo dục truyền thống, rút ra những kinh nghiệm trong hoạt động quản lý. Trung tâm Lưu trữ tỉnh tổ chức sinh hoạt và tham gia sinh hoạt khoa học nghiệp vụ lưu trữ, tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm, phổ biến kinh nghiệm cho công chức, viên chức làm công tác lưu trữ trong phạm vi toàn tỉnh. Trung tâm Lưu trữ cấp chứng thực, giấy chứng nhận, cấp bản sao hoặc trích sao tài liệu lưu trữ cho người đến nghiên cứu khai thác tài liệu thuộc kho lưu trữ tỉnh do Trung tâm quản lý theo quy định của Pháp lệnh bảo vệ tài liệu Lưu trữ Quốc gia. Trung tâm Lưu trữ tỉnh ban hành văn bản hướng dẫn quy trình hoạt động nghiệp vụ của lưu trữ huyện, thị xã và những văn bản nghiệp vụ khác. Trung tâm Lưu trữ tham gia đề xuất việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chế độ chính sách đối với công chức, viên chức làm công tác lưu trữ thuộc tỉnh. Từ khi thành lập đi vào hoạt động đến nay, Trung tâm Lưu trữ tỉnh đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy công tác lưu trữ địa phương phát triển. Công tác lưu trữ mang tính chất kế hoạch, chủ động hơn hẳn mấy năm trước đây phục vụ đắc lực cho hoạt động của UBND tỉnh, Sở Nội vụ tỉnh, đồng thời đã sắp xếp chỉnh lý, bảo quản khoa học một lượng tài liệu lớn đáp ứng nhu cầu khai thác nghiên cứu thông tin cho các cơ quan, đơn vị tổ chức và cá nhân trong và ngoài tỉnh. Nhìn chung trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ Trung tâm lưu trữ vững vàng, có lòng nhiệt tình yêu nghề, trách nhiệm cao. Những năm gần đây, Trung tâm đã tham mưu cho UBND tỉnh phối hợp với Cục Văn thư, lưu trữ Nhà nước mở các lớp tập huấn về nghiệp vụ về công tác văn thư lưu trữ; cùng với các huyện thị xã mở các lớp tập huấn cho cán bộ làm công tác văn thư lưu trữ ở các phòng, ban, xã phường của huyện, thị xã. Trung tâm đã xây dựng kho lưu trữ nằm một khuôn viên riêng 4 tầng với diện tích gần 800m2, có trang bị hệ thống cứu hỏa, hầu hết các phòng đều trang bị máy điều hòa, quạt thông gió, máy hút bụi và các trang thiết bị khác như giá, tủ, cặp, hộp... để phục vụ bảo quản tài liệu lưu trữ. 2.2 Thành phần, nội dung và khối lượng tài liệu được bảo quản ở Trung tâm Lưu trữ Trung tâm Lưu trữ tỉnh trực thuộc Sở Nội vụ với chức năng quản lý Nhà nước về công tác lưu trữ và và quản lý tài liệu lưu trữ. Đây là lưu trữ cố định, nguồn nộp lưu là các cơ quan ban ngành trong tỉnh, trừ một số cơ quan chuyên ngành. Toàn bộ tài liệu được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ tỉnh là tài liệu hành chính và một khối tài liệu khoa học kỹ thuật. Ở kho lưu trữ tỉnh hiện nay bảo quản các Phông lưu trữ sau: 01. Phông Lưu trữ Ủy ban Hành chính khu vực Vĩnh Linh 02. Phông lưu trữ Ủy ban Cách mạng tỉnh Quảng Trị (1954 - 1976) 03. Phông Lưu trữ UBND tỉnh Quảng Trị Trang 16 Báo cáo tốt nghiệp GVHD: 04. Phông Lưu trữ Ban Kinh tế đối ngoại (đã giải thể) 05. Phông Lưu trữ Thi đua Khen thưởng 06. Phông Lưu trữ HĐND tỉnh Quảng Trị 07. Phông Lưu trữ Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh 08. Phông Lưu trữ Sở Xây dựng 10. Phông Lưu trữ Sở Y tế 11. Phông Lưu trữ Sở Tài chính 12. Phông Lưu trữ Sở Nội vụ 13. Phông Lưu trữ Sở Giao thông – Vận tải 14. phông Lưu trữ BQL chương trình PTNT Quảng Trị 15. Phông Lưu trữ Sở Kế hoạch & Đầu tư 16. phông Lưu trữ BQL DA xoá đói giảm nghèo 17. phông Lưu trữ Đài Phát thanh & Truyền hình 2.3 Tình hình tổ chức khoa học tài liệu Các bước tiến hành như sau: Thu thập, bổ sung tài liệu lưu trữ Phân loại tài liệu lưu trữ Công tác chỉnh lý và xác định giá trị tài liệu lưu trữ Thống kê tài liệu lưu trữ Tổ chức bảo quản tài liệu lưu trữ Tổ chức phục vụ khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ 2.3.1 Thu thập tài liệu lưu trữ Thu thập bổ sung tài liệu là hệ thống các biện pháp có liên quan tới việc xác định nguồn tài liệu và thành phần tài liệu thuộc phông lưu trữ cơ quan, phông lưu trữ quốc gia lựa chọn tài liệu vào các kho lưu trữ theo quyền hạn và phạm vi đã được Nhà nước quy định. Thu thập bổ sung tài liệu là một trong những phần việc quan trọng của công tác lưu trữ. Thông qua việc thu thập bổ sung tài liệu làm cho số liệu, nội dung, thành phần tài liệu của Trung tâm ngày càng đầy đủ, phong phú hơn. Đồng thời phục vụ tốt mọi nhu cầu khai thác, sử dụng tài liệu của xã hội. Nhận thức được vai trò quan trọng của việc thu thập, bổ sung tài liệu nên trong những năm qua Trung tâm đã đặc biệt quan tâm đến công tác này. Mẫu sổ nhập tài liệu: Ngày Số tháng TT nhập Họ Tên Năm và cơ Tên Số của tên quan phông phông tài nhập nộp liệu Số lượng Giới thiệu VB căn tóm tắt Ghi Cặp cứ để tình hình chú Hồ sơ bó nhập TL mép Trang 17 Báo cáo tốt nghiệp GVHD: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Thu thập, bổ sung tài liệu vào lưu trữ lịch sử: Căn cứ vào Quyết định số 2247/QĐ - UB ngày 13/10/2003 về việc ban hành Danh mục số 01 các cơ quan thuộc diện nộp lưu tài liệu vào Trung tâm Lưu trữ tỉnh của UBND tỉnh Quảng Trị. Hàng năm, Trung tâm Lưu trữ tỉnh phối hợp với các cơ quan, đơn vị chuẩn bị giao nộp tài liệu qua việc lập hồ sơ, lập danh mục các tài liệu cần giao nộp. Khi giao nộp cán bộ lưu trữ ở Trung tâm tiến hành kiểm tra, đối chiếu giữa danh mục nộp lưu và thực tế tài liệu thấy đầy đủ thì lập biên bản giao nhận tài liệu. Như vậy, nguồn bổ sung tài liệu chủ yếu vào lưu trữ lịch sử của tỉnh là tài liệu của các Sở, Ban ngành. Thời hạn các cơ quan, đơn vị nộp lưu là 05 năm kể từ khi tài liệu được nộp lưu vào lưu trữ hiện hành của cơ quan. Trong trường hợp tài liệu giao nộp chưa lập hồ sơ hoặc lập chưa đạt yêu cầu thì bộ phận lưu trữ chuyên trách sau khi thu thập tiến hành chỉnh lý và lập hồ sơ đúng theo quy định Nhà nước. Khi lập biên bản giao nhận tài liệu để thu thập, bổ sung vào lưu trữ cơ quan cũng như vào lưu trữ lịch sử Trung tâm lập thành 02 bản: 01 bản bên giao giữ, 01 bản bên nhận giữ. * Số liệu thu thập tài liệu của Trung tâm Lưu trữ tỉnh qua các năm: Năm 2002 - 2006 2007 - 2008 2009 Tổng cộng Hồ sơ 97.430 3298 7670 108.398 Mét giá 234,5 74,1 132,5 441,1 Thu thập, bổ sung tài liệu là một trong những phần việc quan trọng của công tác lưu trữ. Việc thu thập tài liệu nhằm phục vụ tốt nhu cầu nghiên cứu, sử dụng của lãnh đạo, cán bộ công chức và nhân dân. Do đó, trong những năm qua Trung tâm đặc biệt quan tâm đến công tác này. Công tác thu thập, bổ sung tài liệu ở Trung tâm Lưu trữ tiến hành đúng với quy định của Nhà nước. Trên thực tế việc lên kế hoạch thu thập tài liệu của Trung tâm Lưu trữ đã thực hiện nhưng các cơ quan, đơn vị thuộc nguồn nộp lưu vào lưu trữ lịch sử chưa tiến hành việc giao nộp tài liệu theo đúng quy định Nhà nước. 2.3.2 Phân loại tài liệu lưu trữ Trang 18 GVHD: Báo cáo tốt nghiệp Phân loại tài liệu là vận dụng các đặc trưng cơ bản của tài liệu để phân chia tài liệu thành các nhóm cơ bản. Trong mỗi nhóm cơ bản tiếp tục phân chia tài liệu thành các nhóm lớn đến nhóm nhỏ cho tới nhóm nhỏ hơn và tới nhóm cuối cùng là đơn vị bảo quản. Sắp xếp các hồ sơ hoặc đơn vị bảo quản theo một phương án khoa học sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và tra tìm tài liệu. Phương án phân loại tài liệu là cơ sở quan trọng để tiến hành phân loại tài liệu, nó ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động nghiệp vụ khác như sắp xếp hồ sơ tài liệu trong kho, thống kê, xây dựng công cụ tra cứu. Mục đích cuối cùng của việc phân loại tài liệu là mỗi hồ sơ, đơn vị bảo quản được xác định một địa chỉ cố định phục vụ tốt cho yêu cầu khai thác và sử dụng một cách kịp thời, chính xác. Để đạt được mục đích đó thì việc phân loại tài liệu cần đảm bảo một số yêu cầu sau: - Khi phân loại tài liệu không được xé lẻ tài liệu phông lưu trữ - Tài liệu sau khi phân loại phải phản ánh một cách có hệ thống về quá trình hình thành và hoạt động đơn vị hình thành Phông. - Việc phân loại tài liệu phải đảm bảo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý bảo quản an toàn tài liệu để đáp ứng đầy đủ và kịp thời cho việc khai thác nghiên cứu của độc giả. Hiện nay, trong công tác lưu trữ ở Việt nam thường sử dụng 4 phương án phân loại như sau: + Cơ cấu tổ chức - Thời gian + Thời gian - Cơ cấu tổ chức + Mặt hoạt động - Thời gian + Thời gian - Mặt hoạt động Khi lựa chọn phương án phân loại cho một phông lưu trữ cần phải căn cứ vào lịch sử đơn vị hình thành phông. - Đối với phương án Cơ cấu tổ chức - Thời gian: phương án này được áp dụng cho loại hình cơ quan có cơ cấu tổ chức rõ ràng ổn định, ít thay đổi hoặc có thay đổi nhưng theo dõi được và cơ quan đã ngừng hoạt động. - Đối với phương án Thời gian - Cơ cấu tổ chức: phương án này được áp dụng cho loại hình cơ quan có cơ cấu tổ chức rõ ràng, ổn định, ít thay đổi hoặc thay đổi nhưng theo dõi được và là cơ quan đang hoạt động. - Đối với phương án Mặt hoạt động - Thời gian: phương án này được áp dụng cho loại hình cơ quan không có cơ cấu tổ chức hoặc cơ cấu tổ chức không rõ ràng có nhiều thay đổi phức tạp và là cơ quan đã ngừng hoạt động. - Đối với phương án Thời gian - Mặt hoạt động : phương án này chỉ áp dụng với loại hình cơ quan không có cơ cấu tổ chức hoặc cơ cấu tổ chức Trang 19 GVHD: Báo cáo tốt nghiệp không rõ ràng, có nhiều thay đổi phức tạp, chồng chéo lẫn nhau và là cơ quan đang hoạt động. Căn cứ vào tình hình hoạt động và cơ cấu tổ chức của từng cơ quan để có phương án phân loại cho phù hợp. 2.3.3 Công tác chỉnh lý và xác định giá trị tài liệu * Công tác chỉnh lý Chỉnh lý tài liệu là việc thực hiện nhiều khâu nghiệp vụ cơ bản cùng một lúc để tổ chức lại tài liệu trong phông lưu trữ theo một phương án phân loại một cách khoa học, trong đó phục hồi hoặc lập mới các hồ sơ, các đơn vị bảo quản, xác định giá trị tài liệu, xây dựng các công cụ tra cứu, phục chế lại những tài liệu hư hỏng nhằm tạo điều kiện tối ưu cho công tác bảo quản và phục vụ khai thác tài liệu. Trung tâm Lưu trữ tỉnh hiện đang bảo quản 16 phông tài liệu như sau: - Phông tài liệu HĐND tỉnh Quảng Trị (phông mở) phương án phân loại trong công tác chỉnh lý tài liệu của phông là Thời gian - Mặt hoạt động. - Phông tài liệu UB Hành chính khu vực Vĩnh Linh (phông đóng) phông này áp dụng phương án phân loại là Cơ cấu tổ chức - Thời gian. - Phông tài liệu Ban Kinh tế Đối ngoại (đã giải thể) phông này áp dụng phương án phân loại là Cơ cấu tổ chức - Thời gian. - Phông tài liệu Hội đồng Thi đua - Khen thưởng tỉnh (phông mở) phương án phân loại tài liệu là Thời gian - Cơ cấu tổ chức. - Phông tài liệu UBND tỉnh Quảng Trị (phông mở) phương án phân loại của phông là Thời gian - Mặt hoạt động. - Phông tài liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư (phông mở) phương án phân loại tài liệu là Thời gian - Cơ cấu tổ chức. Nhìn chung công tác chỉnh lý tài liệu ở Trung tâm Lưu trữ được thực hiện tương đối tốt. Tổng số tài liệu của 16 phông là 239.9m, trong đó số tài liệu đã chỉnh lý hoàn thiện là 231.5m còn lại là 84m mới chỉnh lý sơ bộ. Trung tâm đã lựa chọn phương án phân loại phù hợp và tối ưu cho từng phông tài liệu, do đó tài liệu trong các phông phản ánh một cách có hệ thống về quá trình hình thành, phát triển đơn vị hình thành phông. Công tác chỉnh lý ở Trung tâm Lưu trữ thực hiện đúng theo quy định của Nhà nước, nhưng chưa thực hiện khâu biên mục phiếu tin. * Công tác xác định giá trị tài liệu: Xác định giá trị tài liệu là dựa trên những nguyên tắc, tiêu chuẩn nhất định để lựa chọn những tài liệu có giá trị bổ sung vào phông lưu trữ quốc gia Việt Nam. Đồng thời nghiên cứu và quy định thời hạn bảo quản cho từng loại tài liệu nhằm phục vụ cho việc bảo quản và sử dụng tài liệu. Trang 20
- Xem thêm -