Báo cáo tổng hợp về công ty cổ phần ô tô vận tải hà tây

  • Số trang: 14 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 10 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TIỂU LUẬN: Báo cáo tổng hợp về công ty cổ phần ô tô vận tải Hà Tây 1. Quá trình hình thành và phát triển Tiền thân của công ty cổ phần ô tô vận tải Hà Tây là công ty ô tô vận tải Hà Tây. Công ty ô tô vận tải Hà Tây được thành lập theo quyết định số 301/QĐ- UB ngày 20/9/1992 của UBND tỉnh Hà Tây và trực thuộc sở giao thông vận tải Hà Tây. Công ty ô tô vận tải Hà Tây được sát nhập từ hai xí nghiệp: - Xí nghiệp ô tô vận tải số một thành lập năm 1959 nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá. - Xí nghiệp ô tô vận tải số 3 thành lập tháng 12/1976 nhằm phục vụ cho nhân dân đi vùng kinh tế mới. Sau khi có nghị định 338 - HĐBT, sở giao thông vận tải Hà Tây gia quyết định xát nhập hai xí nghiệp trên thành công ty ô tô vận tải Hà Tây với ngành nghề kinh doanh sau: + Vận chuyển hàng hoá + Vận chuyển hành khách + Xưởng bảo dưỡng sửa chữa Ngày 24/12/1993 công ty ô tô vận tải Hà Tây chính thức đi vào hoạt động nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá và hành khách. Trong những năm trước cổ phần hoá, tình hình sản xuất kinh doanh của công ty đã đi vào ổn định và phát triển, hiệu quả sản xuất kinh doanh năm sau cao hơn so với năm trước. Tuy nhiên công ty vẫn gặp phải những khó khăn chung của ngành vận tải và khó khăn riêng của công ty như vốn kinh doanh ít, cơ sở vất chất kĩ thuật lạc hậu...Trước tình hình đó, nhằm nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống cho người lao động. Căn cứ vào luật doanh nhà nước ngày 20/4/1995. Xét đề nghị của sở KH- ĐT tại tờ trình số 347 TT/ BĐM ngày 11/5/1999, quyết định chuyển doanh nghiệp nhà nước công ty cổ phần ô tô vận tải Hà Tây thành công ty cổ phần ô tô vận tải Hà Tây, đi vào hoạt động từ ngày 1/7/1999 có trụ sở đóng tại 112 dường Trần Phú- phường Văn Mỗ- Thị xã Hà Đông- Hà Tây. 2. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty. Từ khi đi vào hoạt động, 1/7/1999, công ty cổ phần ô tô vận tải Hà Tây với chủ trương đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh nhằm mở rộng và khẳng định chỗ đứng trên thị trường. Là một doanh nghiệp hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh vận tải đường bộ, xong bên cạnh lĩnh vực chủ yếu đó. Với mục đích không ngừng phát triển sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận, tạo công ăn việc làm cho số lao động dư thừa công ty đã phát triển thêm xưởng sửa chữa và dịch vụ xăng dầu. Hiện nay, ngành nghề kinh doanh của công ty gồm các lĩnh vực: + Vận chuyển hàng hoá + Vận chuyển hành khách + Xưởng bảo dưỡng sửa chữa + Dịch vụ xăng dầu * Vận chuyển hành khách: Đây là lĩnh vực hoạt động chính của công ty, với địa bàn hoạt động rộng gồm hầu hết các tỉnh phía Bắc và một số tỉnh phía Nam như: Lâm Đồng, Sông Bé, một số tỉnh miền Đông...Hiện nay với chủ trương không ngừng mở rộng và phát triển hoạt động vận chuyển hành khách, cùng với việc duy trì địa bàn hoạt động đã có công ty còn tiến hành mở rộng phạm vi hoạt động của mình nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình trong lĩnh vực kinh doanh vận tải hành khách. *Về các tuyến vận tải hành khách: Nằm trên địa bàn tỉnh Hà Tây, nơi giao lưu, cửa ngõ của nhiều tỉnh thành phố: với nhiều tuyến đường nội tỉnh và liên tỉnh. Nhằm phục vụ tốt nhu cầu đi lại của nhân dân không những của trong mà còn cả ngoài tỉnh công ty đã tiến hành mở rộng rất nhiều luồng tuyến nội tỉnh và liên tỉnh. Hiện nay nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân công ty đã tiến hành đổi mới phương tiện, nâng cao hình thức và chất lượng phục vụ trên một số tuyến. Đặc biệt năm 2000 vừa qua công ty đã mở một số tuyến chất lượng cao như: Hà Đông- Hoà Bình, Hà Đông - Sơn Tây và nâng cao chất lượng phục vụ một số tuyến chính khác. *Vận chuyển hàng hoá: Bên cạnh lĩnh vựa vận tải hành khách công ty còn tham gia lĩnh vực vận tải hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu chuyên chở hàng hoá của các cá nhân các tổ chức góp phần vào sự phát triển chung của đất nước. Tuy nhiên trong những năm gần đây vận chuyển hàng hoá gặp những khó khăn nhất định, đặc biệt là chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các cá nhân, các doanh nghiệp tham gia lĩnh vực vận tải hàng hoá. Đây là một khó khăn lớn đối với công ty nhất là hạn chế trong phương tiện vận tải lạc hậu hơn so với các đối thủ. *Dịch vụ sửa chữa: Với xưởng sửa chữa tương đối lớn, trang thiết bị kĩ thuật khá hiện đại đáp ứng được nhu cầu sửa chữa phương tiện vận tải trong và ngoài doanh nghiệp như trung đại tu, đóng mới vỏ xe, bảo dưỡng sửa chữa phương tiện, trung đại tu máy, gầm xe. Với phương châm đáp ứng nhu cầu bảo dưỡng sửa chữa nội bộ là chính, không ngừng nâng cao chất lượng bảo dưỡng sửa chữa nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kết hợp với tiếp cận và mở rộng phạm vi phục vụ đáp ứng nhu cầu của thị trường. Trong những năm qua công ty đã nhận bảo dưỡng sửa chữa cho nhiều phương tiện vận tải đường bộ bên ngoài với chất lượng ngày một nâng cao, giá cả hợp lý được khách hàng tín nhiệm. *Dịch vụ xăng dầu: Trong điều kiện hiện nay, sản xuất- kinh doanh chịu sự cạnh tranh quyết liệt thì việc mở rộng lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh là yêu cầu tất yếu mang tính sống còn đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp kinh doanh vận tải nói riêng. Việc mở rộng này vừa nhằm đáp ứng nhu cầu việc làm cho người lao động, vừa nhằm mở rộng hoạt động sản xuất- kinh doanh . Trên cơ sở đó tháng 6 năm 2000 công ty đã mở dịch vụ xăng dầu nhằm giải quyết công ăn việc làm cho số lao động dư thừa với mục đích trước mắt là phục vụ nhu cầu nội bộ là chính, đồng thời đáp ứng nhu cầu của thị trường. Sau hơn một năm đi vào hoạt động dịch vụ xăng dầu đã không ngừng lớn mạnh và phát triển với doanh số năm sau cao hơn năm trước. Với ngành nghề kinh doanh khá đa dạng, như trên đã trình bày. Hiện nay công ty với nhiều lĩnh vực, không những trong phạm vi vận tải hành khách mà cả lĩnh vực sửa chữa, xăng dầu. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định tổng quĩ tiền lương, đến phân bổ và sử dụng quĩ tiền lương. Chẳng hạn, khi xác định quĩ lương năm kế hoạch, công ty phải áp dụng 3 loại đơn giá cho 3 lĩnh vực: Vận tải, sửa chữa, xăng dầu. 3. Cơ cấu tổ chức. a. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý. Công ty cổ phần ô tô vận tải Hà Tây với lĩnh vực hoạt động chính là vận tải hành khách, bên cạnh đó công ty còn tham gia các hoạt động như vận tải hàng hoá, sửa chữa, dịch vụ. Do đó hiện nay công ty bao gồm các bộ phận, phòng ban sau: - Hội đồng quản trị - Ban kiểm soát. - Ban giám đốc. - Phòng kế toán- tài vụ. - Phòng tổ chức- hành chính. - Phòng kinh doanh. - Xưởng sửa chữa. - Bộ phận dịch vụ. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty được biểu hiện theo sơ đồ sau: SƠ Đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty cổ phần ô tô vận tải Hà Tây. Hội đồng quản trị Ban kiểm soát Ban giám đốc Giúp việc GĐ: Các phó GĐ Kế toán trưởng Phòng kinh doanh Phòng kế toán Phòng tổ chức Bộ phận dịch Xưởng sửa chữa b. Cơ chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban. * Hội đồng quản trị: Gồm năm người trong đó có một chủ tịch và bốn thành viên. Hội đồng quản trị có toàn quyền nhân danh công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm trước đại hội đồng cổ đông về những sai phạm trong quản lý, vi phạm điều lệ, vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến tài sản của công ty. Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc công ty, thành viên của hội đồng quản trị được hưởng lương theo quyết định của đại hội đồng. * Ban kiểm soát: Gồm hai người có nhiệm vụ và quyền hạn sau: Kiểm tra sổ sách kế toán, tài sản, các bảng tổng kết năm tài chính của công ty và triệu tập đại hội đồng cổ đông nếu xét thấy cần thiết, trình đại hội đồng báo cáo thẩm tra các bảng tổng kết năm tài chính, báo cáo về những sự kiện tài chính bất thường xảy ra, những ưu khuyết điểm trong quản lý tài chính của hội đồng quản trị. Kiểm sát viên được hưởng thù lao do đại hội đồng quyết định và có trách nhiệm trước đại hội đồng về những sai phạm của mình trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao và gây thiệt hại cho công ty. * Ban giám đốc: Hiện nay công ty thực hiện chế độ một thủ trưởng, giám đốc là người điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước đại hội đồng về việc thực hiện các nhiệm vụ được giao, giúp việc giám đốc gồm có các phó giám đốc, kế toán trưởng. * Phó giám đốc: Có hai phó giám đốc có nhiệm vụ giúp đỡ và bàn bạc với giám đốc về công tác tổ chức sản xuất- kinh doanh tạo điều kiện cho giám đốc nắm bắt và điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh doanh, triển khai các công việc đã thống nhất xuống các bộ phận chức năng. * Phòng kinh doanh: gồm bốn người trong đó có một trưởng phòng một phó phòng và hai nhân viên có chức năng tham gia cho giám đốc trong việc xây dựng các chiến lược kinh doanh của công ty , đôn đốc giám sát việc thực hiện kế hoạch đã được duyệt từ đó giút ra những thuận lợi khó khăn nhằm tham mưu cho giám đốc có kế hoạch và định hướng đúng cho việc kinh doanh có lãi, ngoài ra còn có chức năng điều phối và kiểm soát hoạt động của các xe, nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên trong công ty, đưa công ty ngày càng phát triển. * Phòng tổ chức- hành chính: Gồm 5 người trong đó có 1 trưởng phòng, 1 phó phòng,1 lao động tiền lương, 2 nhân viên, có chức năng nhiệm vụ là giúp giám đốc và ban lãnh đạo công ty thực hiện tốt công tác quản lý về số lượng và chất lượng lao động, sắp xếp đời sống, nơi ăn chốn ở, vị trí làm việc, quan hệ đối ngoại, đảm bảo công tác văn thư đánh máy và giữ bí mật tài liệu, quản lý lao động tiền lương, định mức sản phẩm, an toàn vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội theo chế độ chính sách của nhà nước. * Phòng kế toán: Gồm 5 người trong đó có 1 trưởng phòng, 1 kế toán tổng hợp, 3 nhân viên là bộ phận giúp việc cho giám đốc về mặt tài chính hàng năm trên cơ sở sản xuất kinh doanh, quản lý chắc nguồn vốn, hạch toán thu chi tài chính theo đúng chế độ của nhà nước, phân tích hoạt động kinh doanh, quản lý và hạch toán giá thành sản phẩm, tham mưu cho giám đốc chủ động sử dụng nguồn vốn để phát triển sản xuất kinh doanh đồng thời kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh. Mở sổ theo dõi tài chính tài sản vật tư, lập kế hoạch chứng từ ghi chép và hạch toán, thanh quyết toán gọn nhẹ việc thu chi, quản lý chặt chẽ chế độ thu chi quĩ tiền mặt. * Xưởng sửa chữa: Gồm 18 người trong đó có 1 trưởng xưởng và 17 công nhân là bộ phận trực thuộc trực tiếp của công ty có nhiệm vụ đảm bảo toàn bộ việc bảo dưỡng sửa chữa phương tiện từ cấp 2 đến đại tu máy, vỏ thùng, vỏ xe nhằm thu hút lao động có tay nghề, nâng cao chất lượng sửa chữa, quản lý tốt kinh phí sửa chữa lớn của công ty nhằm phục vụ tốt kế hoạch sản xuất của công ty. * Bộ phận dịch vụ: Đang từng bước đi vào ổn định và phát triển với chức năng phục vụ cho sản xuất nội bộ là chính, đồng thời mở rộng sản xuất phục vụ cho khách hàng bên ngoài nhằm tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động. Trên đây là toàn bộ các phòng ban chức năng của công ty, mỗi phòng ban có chức- nhiệm vụ riêng. Song có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ xung cho nhau nhằm tìm ra phương án kinh doanh tốt nhất dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của các ban nghành liên quan. Song với cơ cấu phòng ban tương đối phức tạp sẽ là khó khăn cho công tác tiền lương của công ty như với mỗi bộ phận phòng ban khác nhau, với chức năng, nhiệm vụ khác nhau thì cần có các cách quản lý và sử dụng cũng như việc đánh giá hiệu quả sử dụng quĩ tiền lương khác nhau. Mặt khác, nhiều phòng ban chức năng khác nhau sẽ dẫn đến qui mô và cơ cấu quĩ lương phức tạp hơn, gây khó khăn cho công tác quản lý và sử dụng. 4. Đặc điểm nguồn nhân lực. Bảng 1: Báo cáo tình hình sử dụng và cơ cấu lao động 6 tháng cuối năm 2001. Chỉ tiêu TS có Tỷ lệ Chia ra Bình đến kì % quân kì BC Nữ (người) Số Nam Tỷ BC Số Tỷ người lệ người lệ kk 1.Tổng số 197 100 27 13,7 170 86,3 173 2. Lao động quản lý 23 11,7 12 6,1 11 5,6 23 6,1 137 69,5 137 13 3. Lao động sản xuất 137 69,5 (vận tải &sửa chữa) 4. Lao động dịch vụ 13 6,6 9 4,6 4 2 5. Lao động nghỉ việc 24 12,2 6 3 18 9,2 Do đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty là hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực vận tải nên số lao động nữ chiếm tỉ lệ nhỏ khoảng 13,7% trong đó tập trung chủ yếu ở bộ phận lao động quản lý và dịch vụ xăng dầu. Trong khi đó ở bộ phận vận tải và sửa chữa thì hầu như không có lao động nữ, đây là nét nổi bật của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải nói chung và công ty cổ phần ô tô vận tải Hà Tây nói riêng. Một đặc điểm nữa về nguồn nhân lực của công ty là có số lao động dôi dư chiếm tỉ lệ khá cao(12% tổng số lao động). Sở dĩ có lao động dôi dư là do công ty mới thực hiện cổ phần hoá, xắp xếp lại cơ cấu lao động dẫn đến dư thừa. Đây cũng là bài toán khó đối với doanh nghiệp mới cổ phần trong giải quyết vấn đề lao động dôi dư. Bảng 2: So sánh mức độ biến động số lao động của công ty 6 tháng cuối năm 1999 và 6 tháng cuối năm 2000 Chỉ tiêu Đơn vị 1. Số lao động tăng Người 6 tháng cuối năm 6 tháng cuối năm 1999 2001 14 13 48 6 31 24 trong kì 2. Số lao động giảm trong kì 3. Số lao động không có nhu cầu sử dụng đến kì BC Từ bảng trên ta nhận thấy 6 tháng cuối năm 1999 tình hình lao động của công ty có nhiều biến động đặc biệt có số lao động giảm trong kì lớn ( 48 người) và số lao động không có nhu cầu sử dụng lớn hơn so với cuối năm 2001(31 người 6 tháng cuối năm 1999 so với 24 người 6 tháng cuối năm 2001). Có sự khác nhau này là do giữa năm 1999 công ty chính thức chuyển đổi thành công ty cổ phần, sau khi chuyển đổi do xắp xếp lại cơ cấu tổ chức, giải quyết lao động dôi dư dưới nhiều hình thức như chuyển công tác, đào tạo lại, nghỉ chế độ, nghỉ hưu... Dẫn đến có sự biến động về số lao động lớn hơn so với cuối năm 2001 Với đặc điểm nguồn lao động như đã trình bày ở trên, đa số lao động của công ty là nam, lại tập trung chủ yếu ở bộ phận vận tải. Mà tính chất của ngành vận tải có những nét riêng biệt như phạm vi hoạt động, nơi làm việc, đối tượng phục vụ…Dẫn đến khó quản lý lao động, vì vậy công tác quản lý tiền lương của công ty có nét đặc thù của doanh nghiệp kinh doanh vận tải. 5. Đối thủ cạnh tranh, các tuyến vận tải chính. a. Đối thủ cạnh tranh. Hà Tây là tỉnh có diện tích khá rộng nơi giáp danh nhiều tỉnh thành phố trong cả nước, là tỉnh có mạng lưới giao thông khá dày đặc đặc biệt là tiếp giáp với thủ đô Hà Nội. Vì vậy trên địa bàn tỉnh có rất nhiền các cá nhân các doanh nghiệp tham gia dịch vụ vận tải. Đây là những đối thủ cạnh tranh chính của công ty đặc biệt là công ty xe khách Hà Tây có trụ sở gần cạnh công ty . Đứng trước sự cạnh tranh đó ban giám đốc công ty đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm tăng lợi thế cạnh tranh như đổi mới phương tiện vận tải, nâng cao chất lượng phục vụ tạo vị thế của mình trên thị trường. Một lợi thế của công ty là hoạt động lâu năm và có chỗ đứng nhất định trên lĩnh vực vận tải so với các cá nhân và doanh nghiệp khác. Đây là một lợi thế mà công ty cần khai thác nhằm không ngừng mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. b. Các tuyến vận tải hành khách chính. Với địa bàn hoạt động rộng gồm các tỉnh phía bắc và một số tỉnh phía Nam với nhiều luồng tuyến liên tỉnh và nội tỉnh. Hiện nay công ty có nhiều tuyến vận tải hành khách, được thống kê ở bảng dưới đây: Bảng 3: Các tuyến đường vận tải hành khách chính của công ty. Số thứ tự Tên tuyến Chiều dài (km) 1 Tân Hà- Lâm Đồng 1532 2 Đà Tẻ- Lâm Đồng 1585 3 Sơn Tây- Thanh hoá 205 4 Sơn Tây- Hà Giang 250 5 Sơn Tây- Lào Cai 262 6 Sơn Tây- Ninh Bình 145 7 Hà Đông -Thanh Hoá 150 8 Phú Xuyên- Yên Bái 210 9 Phú Xuyên- Lạng Sơn 180 10 Cổ Đô- Hoà Bình 80 11 Hà Đông- Chi Nê 85 12 Hà Đông- Mai Châu 200 13 Hà Đông- Tân Lạc 94 14 Hà Đông- Tu Lý 85 15 Hà Đông- Hoà Bình 65 16 Hà Đông- Đông Phú 25 17 Hà Đông- Hoà Lạc 35 18 Hà Đông- Sơn Tây 41 Hiện nay, công ty đang chịu sự cạnh tranh quyết liệt của các đơn vị cùng ngành. Dẫn đến hiệu quả sản xuất – kinh doanh nhiều khi không được đảm bảo, ảnh hưởng đến tình hình thực hiện kế hoạch tiền lương. Mặt khác, với rất nhiều tuyến vận tải như hiện nay sẽ là một khó khăn lớn cho công tác lao đọng tiền lương. 6. Những thuận lợi và khó khăn trong lập, quản lý và sử dụng quĩ tiền lương của công ty. a. Những thuận lợi. - Là doanh nghiệp nhà nước mới cổ phần hoá sẽ là điều kiện để huy động tốt nguồn vốn, tăng khả năng tự chủ trong kinh doanh . Người lao động cũng có vốn góp trong doanh nghiệp nên họ trở thành người chủ thực sự ,họ có ý thức trách nhiệm đối với mỗi sự phát triển của doanh nghiệp, trong đó có vấn đề sử dụng quĩ tiền lương. - Đội ngũ công nhân đồng lòng xây dựng công ty ngày càng phát triển. Họ luôn có ý thức vượt mọi khó khăn, nêu cao tinh thần trách nhiệm cùng Đảng uỷ và ban lãnh đạo công ty giữ vững công ty đi vào ổn định và phát triển, quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ của năm kế hoạch nói chung và kế hoạch quĩ tiền lương nói riêng. Công ty luôn nhận được sự giúp đỡ quan tâm , chỉ đạo của sở GTVT, của các ngành, các cấp các đơn vị trong Tỉnh và đây là nhân tố quyết định đến thắng lợi của công ty trên các mặt hoạt động. b. Những khó khăn. - Là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực vận tải là chủ yếu. Song với chủ trương mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động. Ngoài lĩnh vực chủ yếu trên công ty còn mở thêm xưởng sửa chữa và dịch vụ xăng dầu. Do đó trong lập kế hoạch quĩ tiền lương công ty luân phải tính ba đơn giá cho ba bộ phận dẫn đến một số khó khăn trong vấn đề quản lý và sử dụng. - Các lĩnh vực hoạt động của công ty luân chịu sự cạnh tranh của các đơn vị cung ngành, nên thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch quĩ tiền lương gặp những khó khăn. - Lĩnh vực vận tải chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khách quan như điều kiện địa hình, thời tiết khí hậu... Dẫn đến có thể phải giảm, cắt một số luồng tuyến, công nhân có thể phải nghỉ nhiều ngày gây hiện tượng giảm doanh thu giảm tiền lương. Trên đây là phần giới thiệu khái quát về công ty cổ phần ô tô vận tải Hà Tây trên các mặt: Sự hình thành và phát triển, sản xuất kinh doanh doanh nghiệp , cơ cấu tổ chức, nguồn lao động. Nhằm để tìm hiểu những đặc điểm riêng có của công ty và đặc điểm chung của ngành vận tải, giúp cho việc phân tích và nghiên cứu hiệu quả sử dụng quĩ tiền lương của công ty.
- Xem thêm -