Bản sắc dân tộc miền núi trong truyện tây bắc và miền tây của tô hoài

  • Số trang: 56 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 97 |
  • Lượt tải: 1
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN PHÚ BÌNH BẢN SẮC DÂN TỘC MIỀN NÚI TRONG "TRUYỆN TÂY BẮC" VÀ "MIỀN TÂY" CỦA TÔ HOÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN - Thành phố Hồ Chí Minh 1996 - MỤC LỤC MỤC LỤC ......................................................................................................................... 3 PHẦN DẪN LUẬN ........................................................................................................... 5 I./QUAN NIỆM VỀ ĐỀ TÀI: .................................................................................................. 5 II./LỊCH SỬ VẤN ĐỀ : ........................................................................................................... 8 III./ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN: ....................................................................................... 9 IV./ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: ................................................................................. 10 1.Phương pháp phân tích - Tông hợp: ................................................................................ 10 2.Phương pháp so sánh: ...................................................................................................... 10 3.Phương pháp thống kê - hệ thống:................................................................................... 10 V./ CÂU TRÚC CỦA LUẬN VĂN: ........................................................................................ 11 CHƯƠNG 1: TÔ HOÀI VỚI ĐỀ TÀI MIỀN NÚI ..................................................... 13 1.1.Đề tài miền núi trong văn học. ........................................................................................ 13 1.2.Quá trình chiếm lĩnh đề tài miền núi của Tô Hoài và Vị trí "Truyện Tây Bắc" và "Miền Tây" trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn. ............................................................ 14 CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ BẢN SẮC DÂN TỘC ............................................................. 19 2.1.Vấn đề bản sắc dân tộc và sự thể hiện bản sắc dân tộc trong văn học: ........................ 19 2.1.1.Vấn đề bản sắc dân tộc: ............................................................................................. 19 2.1.2.Sự thể hiện bản sắc dân tộc trong tác phẩm văn học: ................................................ 20 2.2.Tây Bắc: miền núi giàu bản sắc. ..................................................................................... 24 CHƯƠNG 3: BẢN SẮC DÂN TỘC MIỀN NÚI TRONG "TRUYỆN TÂY BẮC" VÀ "MIỀN TÂY" CỦA TÔ HOÀI............................................................................... 29 3.1.Bản chất cuộc sống và con người miền núi Tây Bắc qua "Truyện Tây Bắc" và "Miền Tây" của Tô Hoài: ................................................................................................................. 29 3 3.2.Bản sắc miền núi qua những bức tranh sinh động về cảnh đời cùng những điển hình chân thực về số phận người nông dân miền núi trong “Truyện Tây Bắc" và "Miền Tây" ................................................................................................................................................. 40 3.3.Bản sắc miền núi trong cuộc đấu tranh chống các thế lực thống trị, giành quyền sống và vươn tới cuộc đời hạnh phúc, qua "Truyện Tây Bắc" và "Miền Tây" ......................... 48 4 PHẦN DẪN LUẬN I./QUAN NIỆM VỀ ĐỀ TÀI: 1. Tô Hoài là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn học việt Nam hiện đại. Hơn nửa thế kỷ cầm bút, tính đến nay, ông đã có một khối lượng tác phẩm nhiều đáng khâm phục: hơn một trăm tác phẩm thuộc nhiều đề tài và thể loại; trong đó có nhiều trang viết khá chất lượng, có giá trị hình thành phong cách nghệ thuật của ông, đồng thời góp phần không nhỏ trong sự phát triền chung của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Tô Hoài bước vào làng văn khá sớm. Lúc đầu ông làm thơ, nhưng hầu như không có thành tựu gì đáng kể. Ngoài hai bài thơ "Đan áo" và "Tiếng reo" (đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy) còn thì hầu hết là những vần thơ lãng mạn, rỗng và sáo. Con đường của Tô Hoài là con đường văn xuôi. Ông viết từ năm 16 tuổi và ngay trong giai đoạn đầu (1936-1939) đã có truyện ngắn đăng ở báo Nước Nam, Tiểu thuyết thứ bảy, Tiểu thuyết thứ năm, Hà Nội tân văn: Nước lên, Bụi ô tô, Một đêm sáng trăng suông, Bệnh già, Trê cóc ... Cũng trong thời gian này ông đã thực hiện "Một chuyến đi" vào miền Trung và Nam Bộ, vừa đi, quan sát, vừa viết. Sau chuyến đi này, năm 1941, thiên đồng thoại "Dế mèn phiêu lưu ký" ra đời, nổi lên như một hiện tượng văn học độc đáo, bộc lộ rõ thiên hướng và tài năng văn chương ở ông, khẳng định vị trí văn học của ông trong làng văn đương thời, cũng như trong lịch sử văn học sau này. Điểm qua các tác phẩm chủ yếu của Tô Hoài trước Cách mạng tháng 8: Giăng thề (1941), Dế mèn phiêu lưu ký (1941), Quê người (1942), O chuột (1942), Nhà nghèo (1942), Xóm Giếng ngày xưa (1944), Cỏ dại (1944) V.V.... ta thấy tác giả hướng ngòi bút vào hai mảng đề tài chính: viết về vùng quê ngoại - Nghĩa Đô với những người nông dân, thợ thủ công nghèo, lam lũ và viết về loài vật những con vật hiền lành, bé nhỏ gần gũi với sinh hoạt của con người. Những trang viết này thể hiện rõ nét đặc sắc của ngồi bút Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám "Một tâm hồn gắn bó với quê nghèo, hiển hòa bình lăng, với những người áo nâu chân lấm. Ông biết tìm cái đẹp, cái giản dị trong khung cảnh đơn sơ rất đời ở Việt Nam, trong những con người bé nhỏ, chất phác, nghĩa tình và thông cảm với niềm vui, nỗi đau thường trực của họ" 1. 1 Trần Hữu Tá -Văn học Việt Nam 1945-1975 (Chương XII. Tô Hoài). Tập 2 NXB Giáo dục. 1990, trang 175 5 Cách mạng tháng Tám đánh dấu một bước chuyển rõ rệt trong tư tưởng và sáng tác của Tô Hoài. So với nhiều nhà văn cùng thời, Tô Hoài sớm vượt qua thời kỳ "nhận đường" để nhanh chóng tiếp cận các vấn đề mới của đời sống và hướng ngòi bút của mình vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trong giai đoạn này, nhịp độ sáng tạo nghệ thuật của Tô Hoài ngày càng tăng tiến cả về số lượng lẫn chất lượng nghệ thuật, ông viết nhiều, viết đều tay và thành công nhiều thể loại. Những tác phẩm của ông sau 1945 có thể kể: về truyện ngắn và tiểu thuyết có Lão đồng chí, Núi cứu quốc, Xuống làng, Truyện Tây bắc, Khác trước, Mười năm, Vô tình, Miền Tây, Người ven thành, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, Tự truyện, Những ngõ phố, Người đường phố, Họ Giàng ở Phìn-sa, Quê nhà ; về ký có : Đại đội Thăng Bình, Thành phố Lê-nin, Tôi thăm Cam-pu-chia, Nhật ký vùng cao, Lăng Bác Hồ, Trái đất tên người, Hoa hồng vàng song cửa, Mùa thu Lu-ang-pha-bang, Nhớ Mai Châu, Cát bụi Châu Ái ... và hàng loạt truyện, kịch truyện phim, kịch múa rối, hoạt họa cho thiếu nhi : Kim Đồng, Vừ A Dính, Ông Gióng, Con mèo lười, Trâu hóc, Đảo hoang, Sự tích Thăng Long, Chim chích lạc rừng, Đàn chim gáy v.v... Điểm qua quá trình sáng tác của Tô Hoài gần 60 năm qua, tôi thấy ông không chỉ là nhà văn viết nhiều về số lượng và thể loại, mà còn là một trong những nhà văn viết nhiều đề tài; trong đó thành tựu nổi bật nhất có giá trị khẳng định tài năng và phong cách nghệ thuật của ông tập trung phần lớn vào hai mảng đề tài: viết về loài vật và viết về miền núi) Nói đến phong cách Tô Hoài, ta nghĩ ngay đến Tô Hoài của truyện loài vật và Tô Hoài của vùng cao Tây Bắc. Đặc biệt đáng lưu ý ở Tô Hoài sau Cách mang tháng Tám là đề tài miền núi, một đề tài đã thu hút tâm lực, tình cảm của ông nhiều hơn cả, đồng thời cũng mang đến cho ông thành công nhiều hơn cả, một đề tài sáng tác gần hơn với tên tuổi nhà văn, hơn nửa thế kỷ qua, đã giúp nhà văn cắm những cái mốc quan trọng trong cuộc đời sống tác. Có thể khẳng định rằng: những thành tựu chủ yếu của Tô Hoài trong quá trình chuyển biến từ một nhà văn hiện thực phê phán sang nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa tập trung phần lớn vào đề tài miền núi. Tìm hiểu Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám, không thể không tìm hiểu quá trình sáng tác và những thành tựu về đề tài miền núi của ông với hai tác phẩm tiêu biểu: Truyện Tây Bắc (1953) - Giải nhất về tiểu thuyết, giải thưởng văn học 1954-1955 của Hội Văn nghệ Việt Nam và Miền Tây (1967) - Giải thưởng Hoa Sen của Hội nhà văn Á-Phi 1971 6 2. Một đặc điểm nổi bật trong phong cách sáng tác Tô Hoài đó là nghệ thuật thể hiện bản sắc dân tộc. Ông là một nhà văn có biệt tài về miêu tả phong tục với một cảm quan nghệ thuật đặc biệt nhạy bén, sâu sắc, tinh tế. Những trang viết của ông ở mọi đề tài đều thấm đượm màu sắc dân tộc, rất gần gũi với đời sống và tâm hồn dân tộc. Đúng như Hà Minh Đức nhận xét: "Đặc điểm đầu tiên dễ nhận thấy qua những sáng tác của Tô Hoài là tính dân tộc rõ nét và đậm sắc thái. Có thể nói rằng tất cả những cái ông viết ra đều thuộc về phần bản chất và tiêu biểu của đời sống dân tộc”. 1 Đặc điểm này có thể thấy bàng bạc trong hàng loạt tác phẩm của ông ở nhiều đề tài: đề tài làng quê Việt Nam (Quê người, Quê nhà, Mười năm), trong các tiểu thuyết dựa vào các truyền thuyết cổ (Đất hoang, Nhà Chử), tiểu thuyết viết về người thật, việc thật (Hoàng Văn Thụ, Vừ A Dính), hoặc trong các tác phẩm ký viết về nước ngoài (Thành phố Lênin, Tôi thăm Campuchia, Trái đất tên Người, Hoa hồng vàng, Song cửa, Mùa thu Lu-ang-phabang, Kỷ niệm Ấn Độ v.v...). Đặc biệt trong những sáng tác về đề tài miền núi, bản sắc dân tộc miền núi Tây Bắc đã được Tô Hoài thể hiện đậm nét. Tất nhiên, không phải ngay từ đầu ông đã có được những thành công đó. Trong tập truyện ngắn đầu tay "Núi cứu quốc" khi đi vào miêu tả con người và cảnh vật vùng cao, Tô Hoài đã rơi vào xu hướng tản mạn, tham lam nhiều chỉ tiết lạ. Chỉ đến "Truyện Tây Bắc" và "Miền Tây" nhược điểm này mới được khắc phục, bản sắc dân tộc miền núi được thể hiện rõ nét, bằng một nghệ thuật thể hiện độc đáo, khẳng định phong cách cùng những cống hiến to lớn của ông trong đề tài này. Từ trước đến nay, tìm hiểu Tô Hoài với tư cách là một nhà văn hiện thực XHCN, phần căn bản nhất là tìm hiểu đề tài miền núi. Tìm hiểu đề tài miền núi trong sáng tác của Tô Hoài căn bản là tìm hiểu giá trị "Truyện Tây Bắc” và "Miền Tây” trong đó vấn để bản sắc dân tộc là một giá trị lớn cẩn được đi sâu nghiên cứu và thẩm định đúng mức. 1 Hà Minh Đức -Lời giới thiệu "Tuyển tập Tô Hoài", Tập I, NXB Văn học, 1987, trang 31 7 II./LỊCH SỬ VẤN ĐỀ : Việc tìm hiểu, nghiên cứu những thành tựu và đóng góp của Tô Hoài về đề tài miền núi không phải là công việc mới xưa nay. Riêng với "Truyện Tây Bắc" và "Miền Tây" đến nay đã có khá nhiều chuyên luận, bài phê bình, khảo cứu đề cập, khai thác ở nhiều phương diện phong phú. Có thể kể trong các giáo trình đại học, tiêu biểu là các chương viết của các giáo sư Huỳnh Lý (giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam, Tập 6, Đại học Sư Phạm), giáo sư Hoàng Như Mai (giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại 1945-1975, Đại học Tông Hợp), giáo sư Trần Hữu Tá (giáo trình Văn học Việt Nam 1045-1975, tập 2) và trong một số bài phê bình tiêu biểu như của Hà Minh Đức (“Tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài”)(1), của Phan Cự Đệ ("Tô Hoài với Miền Tây”)(2). Trong các chương viết, các bài phê bình này các tác giả tập trung phân tích, nhận định, đánh giá những giá trị Tông quát về nội dung tư tưởng và nghệ thuật thể hiện của tác phẩm và ở mức độ đậm, nhạt đều có nhấn mạnh đến đặc điểm phong cách nghệ thuật của Tô Hoài trong việc thể hiện bản sắc dân tộc miền núi. Đơn cử một vài nhận xét: - "Viết về đề tài miền núi, Tô Hoài đã thể hiện khá đậm nét tính chất dân tộc trong nội dung cũng như trong hình thức miêu tả” (Hà Minh Đức)(3) - "Tô Hoài muốn giữ cho mình một phong cách đậm đà màu sắc dân tộc, có khi rất gần với lối kể chuyện dân gian... Lối kể chuyện đó của Tô Hoài được bổ sung bằng những trang miêu tả trang phục, sinh hoạt đầy những chi tiết sinh động của một cây bút có óc quan sát thông minh tinh tế” (Phan Cự Đệ).(4) - "Tô Hoài có một nhãn quan phong tục đặc biệt nhạy bén, sắc sảo. Trước Cách Mạng tháng Tám, viết về nông thôn, ông đã giúp độc giả biết thế nào là tục tảo hôn, nạn nặc nô đòi nợ, tục lệ giỗ, tế ma chay ... của một vùng ngoại thành Hà Nội Sau Cách Mạng tháng Tám, Tô Hoài đặc hiệt chú ý đến những phong tục độc đáo của các dân tộc miền núi Tây Bắc, đặc biệt là dân tộc Mèo..." (Trần Hữu Tá).(5) Hà Minh Đức – “Tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài" - Tạp chí Văn học, 2/1969 Phan Cự Đệ - “Tác phẩm và chân dung" - NXB Văn học, H, 1981, trang 98-108 3 Hà Minh Đức – “Tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài" - Tạp chí Văn học, 2/1969 4 Phan Cự Đệ - "Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại" - NXB ĐH-CN, H, tr.78 5 Trần Hữu Tá - Tlđd. trang 1 2 8 Ở mức độ sâu hơn khi nghiên cứu, tìm hiểu đề tài miền núi trong sáng tác của Tô Hoài, đáng lưu ý các chuyên luận của Phan Cư Đệ trong "Nhà văn Việt Nam hiện đại. Tập 1”(1), của Hà Minh Đức trong lời giới thiệu "Tuyển tập Tô Hoài''(2), của Vân Thang trong bài viết "Tô Hoài với đề tài miền núi"(3). Ở các chuyên luận này, các tác giả đã dành một dung lượng nhất định cho việc đi sâu tìm hiểu nghệ thuật thể hiện bản sắc dân tộc trong các sáng tác về miền núi của Tô Hoài, nhất là qua hai tác phẩm "Truyện Tây Bắc" và "Miền Tây". Tuy nhiên việc tìm hiểu cũng chỉ nằm trong khuôn khổ nghiên cứu những giá trị chung của tác phẩm, những thành tựu chung của tác giả chứ chưa đưa thành vấn đề nghiên cứu có hệ thống, chuyên sâu. Chúng tôi nghĩ rằng, đi sâu nghiên cứu bản sắc dân tộc miền núi trong các sáng tác của Tô Hoài, đặc biệt là ở “Truyện Tây Bắc" và “Miền Tây" là một công việc có ý nghĩa. Bởi lẽ, tính chất dân tộc, nghệ thuật thể hiện bản sắc dân tộc là một đặc điểm lớn trong sáng tác của Tô Hoài nói chung, đặc biệt là trong các sáng tác về đề tài miền núi. Tìm hiểu vấn đề này, sẽ thấy hết quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật của ông, có thêm cơ sở để khẳng định những cống hiến cùng phong cách nghệ thuật đích thực của ông trong quá trình chiếm lĩnh đề tài này. III./ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN: Thật khó có thể đòi hỏi ở luận văn này những phát hiện, khám phá mới. Bản thân đề tài cũng đã nói lên điều ấy. Cái mới ở luận văn này là công phu của người viết trong việc tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của người đi trước, Tông hợp, hệ thống lại thành vấn đề chuyên sâu. Trên phương hướng đó, từ hai tác phẩm "Truyện Tây Bắc" và "Miền Tây", người viết sẽ đi sâu khắc họa bức tranh toàn diện về bản sắc của cuộc sống và con người miền núi Tây Bắc: từ trong bản chất truyền thống, trong cuộc đời cũ và trong cuộc đấu tranh giành quyền sống, vươn tới tự do hạnh phúc; đồng thời tìm hiểu những nét độc đáo trong nghệ thuật thể hiện bản sắc miền núi của Tô Hoài, đặc biệt đi sâu khám phá, phân tích những biểu tượng cụ thể của bút pháp trữ tình và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của nhà văn. Phan Cự Đệ - "Nhà văn Việt Nam biện đại, Tập I”, NXB ĐH-CN, H. 1979. trang Tuyển tập Tô Hoài. T 1, NXB văn học. H, 1978, trang 31 3 Vân Thanh – “Tô Hoài với đề tài miền núi", TCVH, số 1/1972 trang 32 - 46 1 2 9 Thực hiện được những yêu cầu trên, bản luận văn sẽ có những đóng góp: 1.Góp phần khẳng định những cống hiến xuất sắc của Tô Hoài cho để tài miền núi nó! riêng và cho nến văn xuôi Việt Nam hiện đại hơn nữa thế kỷ qua. Đặc biệt, góp phần làm sáng tỏ một đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Tô Hoài là giàu tính dân tộc, đậm sắc thái dân tộc. 2.Sự thành công của luận văn sẽ góp phần khẳng định: có một phong cách Tô Hoài ở đề tài miền núi, cũng như trong văn xuôi hiện đại Việt Nam. IV./ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Để thực hiện luận văn này, người viết sử dụng hệ thống các phương pháp chung và phương pháp chuyên ngành sau : 1.Phương pháp phân tích - Tông hợp: Chủ yếu sử dụng kỹ năng - phương pháp phân tích tác phẩm văn học để đi sâu phân tích sự kiện, chỉ tiết, tính cách nhân vật trong hai tác phẩm "Truyện Tây Bắc" và "Miền Tây" và các tác phẩm Hồn quan, trốn cơ sở đó Tông hợp, khái quát, kiến giải vấn để. 2.Phương pháp so sánh: Cùng với phương pháp phân tích - Tông hợp, người viết kết hợp sử dụng phương pháp so sánh loại hình - lịch sử nhằm đối chiếu, so sánh tác phẩm "Truyện Tây Bắc" và “Miền Tây" với các tác phẩm khác của Tô Hoài, cũng như các tác phẩm của các tác giả khác viết về miền núi, nhằm khái quát nét chung, phát hiện những nét riêng, độc đáo của Tô Hoài trong quá trình chiếm lĩnh đề tài miền núi, làm rõ những nét đặc trưng trong phong cách nghệ thuật Tô Hoài. 3.Phương pháp thống kê - hệ thống: Tìm hiểu vấn đề bản sắc dân tộc là tìm hiểu những nét đặc thù, độc đáo của dân tộc, nên sẽ có phần phải gia công khai thác những yếu tố lặp đi lặp lại của các phương tiện biểu hiện trong nghệ thuật chiếm lĩnh thực tại của nhà văn. Do vậy cần thiết sử dụng phương pháp thống kê -hệ thống. Với phương pháp này, người viết đặc biệt sử dụng để đi sâu khảo sát nghệ thuật sử dụng từ, sáng tạo từ mới của nhà văn. 10 4.Cùng với hệ thống phương pháp cơ bản trên, để thực hiện luận văn này, người viết sẽ khảo sát, vận dụng thêm phần lớn kiến thức về lịch sử, địa lý, dân tộc học để bổ trợ làm nền soi sáng những vấn đề kiến giải. 5.Một vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận được đặc biệt lưu ý trong thực hiện luận văn này là việc quán triệt và vận dụng một cách thấu đáo đường lối, quan điểm và các chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc. Lịch sử phát triền của các dân tộc miền núi hơn 60 năm qua luôn gắn liền với các chính sách dân tộc của Đảng. Vì vậy đây chính là điểm tựa quan trọng để xem xét vấn đề dân tộc, bản sắc dân tộc trong văn học. V./ CÂU TRÚC CỦA LUẬN VĂN: PHẦN DẪN LUẬN. I./Quan niệm về đề tài II./Lịch sử vấn đề III./Những đóng góp của luận văn IV./Phương pháp nghiên cứu V./Cấu trúc của luận văn PHẨN NỘI DUNG. Chương I: Tô Hoài với đề tài miền núi I./Đề tài miền núi trong văn học. II./Quá trình chiếm lĩnh đề tài miền núi của Tô Hoài và vị trí "Truyện Tây Bắc" và "Miền Tây". Chương II: Vấn đề bản sắc dân tộc. I./Vấn đề bản sắc dân tộc. II./Tây Bắc : miền núi giàu bản sắc. Chương III: Bản sắc dân tộc miền núi trong "Truyện Tây Bắc" và "Miền Tây" của Tô Hoài. 11 I./Bản chất cuộc sống và con người Tây Bắc qua "Truyện Tây Bắc" và "Miền Tây". II./Bức tranh sinh động về cảnh đời cùng những điển hình về số phận người nông dân miên núi Tây Bắc trong "Truyện Tây Bắc" và "Miền Tây". III./Bản sắc dân tộc miền núi trong cuộc đấu tranh chống các thế lực thống trị giành quyền sống và vươn tới cuộc đời hạnh phúc qua "Truyện Tây Bắc" và "Miền Tây". Chương IV: Nghệ thuật thể hiện bản sắc dân tộc miền núi của Tô Hoài trong "Truyện Tây Bắc" và "Miền Tây". I./Bút pháp trữ tình. II./Nghệ thuật tả phong tục. III./Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ. KẾT LUẬN THƯ MỰC 12 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TÔ HOÀI VỚI ĐỀ TÀI MIỀN NÚI 1.1.Đề tài miền núi trong văn học. Miền núi là một bộ phận của đất nước. Đồng bào miền núi là thành viên của cộng đồng dân tộc. Vấn đề dân tộc miền núi từ hàng nghìn năm nay là vấn đề hiện thực của lịch sử, lẽ ra phải được phản ánh và trở thành một đề tài có vị trí xứng đáng trong nền văn học trong các thời đại. Thế nhưng, không phải trong bất kỳ nền văn học nào, vấn đề miền núi cũng được phản ánh và phản ánh đúng đắn. Với chính sách áp bức, khinh miệt các dân tộc nhỏ, từ xưa đến nay, trong nền văn học của bọn thống trị: phong kiến và đế quốc, đề tài miền núi hoàn toàn không có chỗ đứng. Lý do đơn giản: chúng không muốn đồng bào các dân tộc thiểu số - những người mà chúng coi là lạc hậu, đần độc, man rợ -được quyền bình đẳng về văn hóa. Trước Cách mạng tháng Tám, văn học của bản thân các dân tộc thiểu số hoàn toàn không phát triền, nhất là về lĩnh vực văn xuôi, trừ các sáng tác dân gian như: Khan, Mo, Hơmon, truyện cổ, truyện thơ ... Trong văn học công khai, đề tài miền núi cũng không được quan tâm, ngoài một hiện tượng viết về rừng núi cần lưu ý, đó là loại "Truyện đường rừng” tưởng tượng của một số cây viết lãng mạn. Tiêu biểu có thể kể : Lan Khai với "Truyện đường rừng" (1940), "Tiếng gọi rừng thẳm" (1939), Thế Lữ-với "Vàng và máu" (1934). Qua các truyện này, ta thấy hiện thực miền núi bị dựng lên một cách sai lạc: Khung cảnh núi rừng lúc hiện lên một cách thơ mộng kỳ ảo giả tạo với các cô gái Thổ đẹp mê ly, bí ẩn, lúc là những cảnh ma thiêng, nước độc với những con người man rợ cuồng nhiệt, quái dị ... Một kiểu "Truyện đường rừng” nhằm kích thích óc tưởng tượng viễn vỏng của tầng lớp tiểu tư sản thành thị hồi đó. Phải đến sau Cách mạng tháng Tám, với chính sách dân tộc, chính sách phát triền văn hóa dân tộc đúng đắn của Đảng, đề tài miền núi mới được khôi phục đúng với vị trí của nó trong văn học. Văn học của bản thần các dán tộc anh em được quan tâm phát triền : về thơ và truyện thơ có các tác giả : Vương Anh (Mường), Cầm Biêu, Lò Văn Cậy, Lương Qui Nhân, Vương Trung (Thái), Nùa A Sấu, Mã A Lềnh (H'Mông), Nô Lô Y Cla Vi (Ê Đê), Klay-lăng (Ba Na), Lò 13 Ngân Sủn (Giáy), Nông Văn Bút (Nùng), Nông Quốc Chấn (Tày) v.v... Đặc biệt văn xuôi miền núi được hình thành và ngày càng xuất hiện nhiều cây viết: Nông Minh Châu, Vi Thị Kim Bình, Vi Hồng, Hoàng Triều Ân, Hoàng Trung Thu, Hoàng Đình Đạt, Bế Dôn, Nông Viết Toại, Vương Hùng, Triệu Báo, Hoàng Hạc, Chu Thanh Hùng (Tày), Lò Văn Sỹ (Thái), Nông Trung (Giáy), Y Điêng (Ê Đê), Tu Tếch (Padí), Mã A Lềnh (H'Mông) v.v... Bên cạnh sự phát triền văn học của bản thân các dân tộc miền núi, thành tựu đáng chú ý trong văn học sau cách mạng là sự khôi phục và phát triền đội ngũ nhà văn miền xuôi viết về miền núi. Hiện thực miền núi ngày càng được các nhà văn nhận thức và thể hiện đa dạng trong các tác phẩm. Con người miền núi đã có nhưng đại biểu xứng đáng - trong nhiều tác phẩm tiêu biểu sau cách mạng: Tập thơ việt Bắc của Tố Hữu, Nhật ký ở rừng của Nam Cao, Ký sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng, Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Nhật Ký lên Mèo, Sông Đà của Nguyễn Tuân, Rừng Đông của Mạc Phi, Kan Lịch của Hồ Phương, Đồng Bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải, Gió rừng, Xa phủ, Vệ sĩ của quan châu của Ma Văn Kháng, Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành v.v... và nhiều tác phẩm khác của nhà văn Đỗ Quang Tiến, Bàng Thúc Long, Xuân Cang, Phùng Lê... Trong những thành tựu chung đó, phải đăc biệt kể đến Tô Hoài, nhà văn có công đầu trong việc triền khai và chiếm lĩnh đề tài miền núi, với hai tác phẩm nổi tiếng: "Truyện Tây Bắc" giải nhất về tiểu thuyết trong giải thưởng văn học 1945-1955 của Hội Văn nghệ Việt Nam và tiểu thuyết "Miền Tây" : giải thưởng Hoa Sen của Hội nhà văn Á - Phi, 1971. 1.2.Quá trình chiếm lĩnh đề tài miền núi của Tô Hoài và Vị trí "Truyện Tây Bắc" và "Miền Tây" trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn. Tô Hoài là một trong những nhà văn viết nhiều và viết thành công sớm nhất về đề tài miền núi. Mấy chục năm qua, ông đã để lại cho nền văn học hiện đại nhiều tác phẩm viết về các dân tộc thiểu số anh em, đặc biệt là các dân tộc vùng rừng núi Tây Bắc. Phải chăng nhà văn vốn có duyên nợ với đề tài này ? Tô Hoài có tâm sự rằng hồi còn hoạt động bí mật ở Hội Văn hóa cứu quốc, khi nghe đồng chí Bé trong đơn vị ca ngợi tinh thần dũng cảm của đội nữ du kích ở Ba Bể, ông có ý định viết về sự kiện này, nhưng chỉ bằng tưởng tượng nền không thành công. Sau này trong hồi ký "Một quãng đường", ông đã nhắc lại kỷ nhiệm đó: "Đội du kích Ba Bể tưởng tượng của tôi đã thành một kỷ niệm - trong đời viết. Biết đâu nó không phải là ngọn 14 nguồn cho tư tưởng và tình cảm của tôi sau này, khi tôi đi vào cuộc sống miền núi - quê hương thứ hai cho sáng tác của tôi” Cũng như vậy, trong dịp trả lời phòng vấn của Tạp chí văn học nhân kỷ niệm hai mươi năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Tô Hoài nói về quá trình viết về miền núi của mình: "Trước Cách mạng, rừng núi hoàn toàn xa lạ với tôi. Lần đầu trong thời kỳ chuẩn bị Tông khởi nghĩa, tiếng vang của chiến khu Việt Bắc dội xuống đồng bằng, qua sách báo bí mật của Đảng và những câu chuyện kể của cán bộ cách mạng, hình ảnh và thực tế cách mạng ấy hấp dẫn tôi, gợi tôi suy nghĩ”(1). Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài làm phóng viên báo Cứu quốc, được cử đi vào mặt trận phía Nam, vào Nha Trang, lên chiến trường Tây Nguyên, rồi xuống mặt trân An Khê. Hai năm 1947-1948 ông lên công tác ở những vùng người Dao như: Cốc Phương, Vàng Kheo, Pích-Cáy, Khuổi-Buồn trên triền núi Phia-boóc. Suốt thời gian ở đây ông đi sâu vào vùng căn cứ địa Việt Bắc: Làm công tác báo chí, tuyên truyền, rồi làm cán bộ địa phương, cùng ăn, cùng ở với đồng bào. Từ những chuyến thâm nhập thực tế đầu tiên ấy, Tô Hoài đã viết nhiều tác phẩm nhằm ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của đồng bào miền núi trong những năm tháng đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, có thể kể đến: Lão đồng chí, Lên Củng Sơn (1946), Ngược sông Thao (1949), Đại đội Thăng Bình (1950), Xuống làng (1951)... Đáng chú ý nhất trong giai đoạn này là tập truyện ngắn "Núi Cứu quốc" (1948) gồm bốn truyện : Đồng chí Hùng Vương, Nà-Lộc, Tào Lường. Công tác xa và hai bút ký "Đường bí mật xuống làng" và "Qua Ba Bể", tập trung phác họa những hình ảnh đầu tiên về cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở những triền núi cứu quốc, căn cứ địa của cuộc kháng chiến. Tuy chỉ mới là phác họa, tập truyện đã ghi nhận được những hình ảnh khá chân thực về hiện thực cuộc sống và con người miền núi, hoàn toàn khác hẳn loại "Truyện đường rừng" tưởng tượng của các cây viết lãng mạn trước đây. Tác phẩm đã cho ta hiểu con người miền núi đúng với bản chất của họ là những con người thật thà, chất phác, thủy chung và có lòng tin tưởng mãnh liệt ở cách mạng. Những nhân vật Hùng Vương, Bảo, Sìn đã để lại ấn tượng sâu sắc khó quên về người cán bộ miền núi nhiệt tình, tận tụy trong công tác cách mạng. 1 Tô Hoài trả lời phỏng vấn TCHV số 10/1965, trang 60 15 Tuy có những thành công nhất định, ở "Núi Cứu quốc" cũng chỉ mới đánh dấu quá trình chuyển biến bước đầu của Tô Hoài - một quá trình chuyển biến hãy còn dang dở. Trong Núi Cứu quốc và những tác phẩm ngày đầu cách mạng của ông, từ nội dung phản ảnh cho đến ngôn ngữ biểu hiện còn mang khá nhiểu dấu vết của chủ nghĩa tự nhiên. Phản ánh hiện thực miền núi, ông thiên về khai thác, miêu tả cái đẹp tự nhiên. Nhìn người miền núi ông còn nhìn với con mắt của một kẻ xa lạ say ngắm như để tìm kiếm trong đó một sự kỳ thú. Sau này trong "Những kinh nghiệm viết văn của tôi" Tô Hoài đã thú nhận nhược điểm của mình hồi đó là "quả chuông lạ, thích lạ và khoe chữ”(1). Tất nhiên đó là một hạn chế không thể tránh khỏi. Tô Hoài chưa thể nào có được sự hiểu biết sâu sắc về các dân tộc miền núi khi chỉ mới tiếp xúc lần đầu tiên. Phải đến 1953, tập "Truyện Tây Bắc" ra đời mới thật sự đánh dấu bước ngoặt quyết định của Tô Hoài trong quá trình chiếm lĩnh đề tài miền núi và chuyển biến từ một nhà văn hiện thực phổ phán sang một nhà văn hiên thực xã hội chủ nghĩa. "Truyện Tây Bắc" là tác phẩm đầu tiên viết về miền núi thành công nhất của Tô Hoài nói riêng và của văn học sau 1945 nói chung. Đó là kết quả của quá trình chuyến biến đến mức độ chín muồi về tư tưởng tình cảm của nhà văn trong thực tiễn cuộc sống kháng chiến ở miền núi. Đó công là kết quả của một quá trình nhận thức sâu sắc, thông qua hành động thực tiễn đường lối giai cấp và chính sách dân tộc của Đảng. Tô Hoài đã kể về thực tế sáng tác "Truyện Tây Bắc" : "...Năm 1952 tôi theo bộ đội chủ lực tiến quân vào miền Tây, tham dự chiến dịch giải phóng Tây Bắc các đơn vị quân ta qua sông Thao, đánh tan nhiều đạo quân và đồn bốt địch, cho đến lúc vượt sông Đà, thì đã giải phóng được một giải đất rộng lớn phía hữu ngạn, trong đó bao gồm nhiều khu du kích của các dân tộc anh em đã chiến đấu ròng rã nhiều năm giữa lòng địch (...) Cái kết quả lớn nhất và trước nhất của chuyến đi tám tháng ấy là đất nước và người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều quá, tôi không thể bao giờ quên được lúc vợ chồng Ả Phủ tiễn tôi ra khỏi dốc núi làng Tà Sua, cùng vẫy tay gọi "chéo lù!chéo lù" (trở lại!trở lại)... hai tiếng "trở lại !trở lại" chẳng những nhắc tôi có ngày trở lại mà còn phải đem "trở lại" cho những người thương ấy một kỷ niệm tấm lòng mình, một cái gì làm hiển hiện lại cả cuộc đời người Mèo trung thực, chí tình, dù gian nan thế nào bao giờ cũng đợi cán bộ, đợi bộ đội, bao giờ cũng mong anh em trở lại. Hình ảnh Tây Bắc đau thương và dũng cảm lúc nào cũng thành nét, thành người, thành việc 1 Tô Hoài - "Những kinh nghiệm viết văn của tôi", NXB VH, H. 1979 16 trong tâm trí tôi...Ngay cho tới hôm nay tôi vẫn bổi hồi nhớ như in. Đó là một ám ảnh mạnh mẽ thúc đẩy tôi sáng tác. Ý thức tha thiết với đề tài là một lẽ quyết định, vì thế tôi viết Truyện Tây Bắc” 1. Sau "Truyện Tây Bắc”, Tô Hoài vẫn tiếp tục thâm nhập thực tế miền núi trong những chuyến đi công tác và sáng tác. Tuy nhiên trong những năm đầu sau ngày hòa bình lập lại ông không viết được tác phẩm nào đáng kể. Nhất là trong giai đoạn miền Bắc đi vào cải tạo Xã hội chủ nghĩa. Cuộc sống mới và những yêu cầu mới của cách mạng có làm ông bỡ ngỡ ? ông bị phê phán là mơ hồ trước cuộc đấu tranh giai cấp. Trong bài "Tổ chức phát triển lực lượng sáng tác trước nhất" (báo Văn số 13, 02/08/1957) và trong bài "Góp phần ý kiến về con người thời đại" (báo Văn số 22, 04/10/1957), Tô Hoài đã nhấn mạnh việc thúc đẩy tổ chức, phát triển sáng tác, không chú trọng đấu tranh tư tưởng trong văn nghệ, "không nên dán thuốc cao khi chưa có nhọt đấu tranh". Chính trong giai đoạn này tiểu thuyết "Mười năm" ra đời, chịu những đòn mổ xè, phê bình quất mạnh. Sau này trong hồi ký "Cát bụi chân ai"(2) ông đã lạnh lùng nhắc lại sư kiện này như một kỷ niệm đau xót khó quèn. Sau cuộc đấu tranh "Nhân văn giai phẩm", tư tưởng Tô Hoài chuyển biến mạnh. Tuy nhiên việc nhận thức cái mới trong sáng tác của ông có phần sút hẳn so với thời kỳ đầu cách mạng và trong kháng chiến chống Pháp. Trong tình trạng đó, những sáng tác về miền núi của ông thời kỳ này cũng không có gì nổi bật, ngoài một số bút ký được tập hợp chung trong tác phẩm "Vỡ tỉnh" (1962). Lại phải đến năm 1967, tiểu thuyết "Miền Tây" ra đời cắm cái mốc thứ hai, đánh dấu một bước tiến mới của nhà văn trong quá trình chiếm lĩnh đề tài miền núi. So với những tác phẩm trước đó, "Miền Tây" đã thể hiện một cách toàn diện và quy mô hơn chủ đề này. Viết "Miền Tây", một lần nữa Tô Hoài thể hiện rõ tấm lòng yêu mến, thủy chung đối với đồng bào ruột thịt ở vùng cao. Từ khi hòa bình lập lại, trở về thành thị miền xuôi, nhưng trong lòng ông luôn nhớ về Tây Bắc. Năm 1959 Tô Hoài lại về Châu Mộc, Châu Thuận, Châu Tuần Giáo. Từ năm 1964-1966 ông lại nhiều lần trở lên Tuần Giáo, Hà Giang, lên cao nguyên Đồng Văn, Mèo Vạc, Phó Bảng, Văn Chải thăm lại tất cả những người anh em vùng cao. Trong hồi ký "Cát bụt chân ai" Tô Hoài đã dành trọn chương bốn, để ghi lại những ngày trở lại vùng cao yêu dấu của 1 2 Một số kinh nghiệm viết văn của tôi - Sđd, trang 70-71 Tô Hoài "Cát bụi chân ai", hồi ký, NXB Hội Nhà văn H. 1992 17 mình. "Miền Tây" chính là kết quả được ấp ủ, thai nghén trong suốt thời gian dài của những chuyến hồi hương tình nghĩa ấy. Sau "Miền Tây" Tô Hoài vẫn tiếp tục viết về miền núi. Nhưng những thành công chủ yếu của ông trong giai đoạn sau này là những tác phẩm viết về người thật, việc thật, về những người anh hùng miền núi, tiêu biểu là "Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ". "Vừ A Dính" v.v... Điểm qua quá trình sáng tác vể miền núi của Tô Hoài, có thể rút ra một nhận xét cơ bản: Gần năm mươi năm qua, những thành tựu chủ yếu của Tô Hoài trong sáng tác, có một phần lớn tập trung ở đề tài miền núi, trong đó “Truyện Tây Bắc" và "Miền Tây" là những tác phẩm xuất sắc nhất, có giá trị như những cột mốc đánh dấu những bước phát triền quan trọng về tư tưởng và nghệ thuật của ông trong quá trình chiếm lĩnh phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Từ trước đến nay, tìm hiểu nhà văn Tô Hoài với tư cách là một nhà văn cách mạng, phần căn bản nhất là tìm hiểu đề tài miền núi. Tìm hiểu đề tài miền núi trong sáng tác của Tô Hoài căn bản là tìm hiểu giá trị "Truyện Tây Bắc" và "Miền Tây". 18 CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ BẢN SẮC DÂN TỘC 2.1.Vấn đề bản sắc dân tộc và sự thể hiện bản sắc dân tộc trong văn học: Nước ta cũng như nhiều nước trẽn thế giới bao gồm nhiều dân tộc anh em. Để nhận diện, phân biệt một cách tổng quát người ta gọi chung là dân tộc thiểu số và dân tộc đa số. Giữa các đồng tộc người này có địa bàn cư trú, cùng những điều kiện sinh hoạt, làm ăn khác nhau. Do vậy, trải qua quá trình lịch sử lâu dài đã dần dần hình thành nên ở mỗi dân tộc những nét bản lĩnh, bản sắc riêng. 2.1.1.Vấn đề bản sắc dân tộc: Xưa nay có khá nhiều quan niệm xung quanh vấn đề bản sắc dân tộc nói chung và tính dân tộc trong văn học nói riêng ; tựu trung có mấy quan niệm lớn: - Quan niệm thứ nhất cho rằng bản sắc dân tộc thể hiện chủ yếu ở những hình thức đặc thù, ở những phương tiện miêu tả, diễn dạt. Nó là những cái thật độc đáo, khác biệt mà chỉ dân tộc đó mới có, ví dụ như: trang phục - cách ăn mặc ; nhạc cụ dân tộc, nghệ thuật dân gian, đặc biệt là ngôn ngữ: "Tính dân tộc thể hiện trước hết là ở ngôn ngữ, ngôn ngữ là đặc trưng chủ yếu của một dân tộc” "Khái niệm về tính dân tộc ở đây gần giống như khái niệm về ngôn ngữ”(1) - Quan niệm thứ hai, đối lập với quan niệm thứ nhất, cho rằng bản sắc dân tộc thể hiện chủ yếu ở các đặc thù bên trong và cũng chỉ dân tộc mình mới có: phong tục, tập quán, nếp sống, nếp nghĩ v.v... "Dân tộc là kết quả của sự gom góp tất cả các nết hay mà dân tộc ấy sẵn có"(2) - Quan niệm thứ ba, phổ biến và phức tạp nhất, đi tìm bản sắc dân tộc ở tám lý dân tộc, tức là những giá trị tinh thần của một dân tộc. "Nhưng yếu tố chính quyết định bản sắc dân tộc, tính dân tộc nói chung cũng như tính dân tộc trong văn nghệ là tâm lý dân tộc” hoặc "Tính 1 2 Mai Thức Luân - Thử bàn về tính chất dân tộc trong văn nghệ, Tạp chí Văn nghệ số 53, 10/62 Lan Khai -Tính cách Việt Nam trong văn chương, Tạp chí Tao đàn, số 4, NXB Tân dân, 1939 19 chất dân tộc biểu hiện cấu tạo tâm lý dân tộc là tổng hợp các đặc điểm tinh thần của dân tộc, hình thành dần trong quá trình phát triển của dân tộc” (1) Điểm qua các quan niệm trên, ta thấy mỗi quan niệm đều có phần "hạt nhân hợp lý” của nó. Đúc rút, tổng hợp phẩn "hạt nhân hợp lý" trong các quan niệm ấy ta có một cách hiểu hoàn chỉnh về vấn đề bàn sắc dân tộc. Nói đến bán sắc dán tộc là nói đến "những nét đặc sắc, những nét truyền thống, những giá trị vật chất, tinh thần và văn hóa mà mỗi dân tộc tự xây đắp nên trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử dân tộc, trong công cuộc đấu tranh bền bĩ để giành quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do, chống sức thù địch của thiên nhiên và xã hội - những đức tính đúc nên cá tính và danh dự của dân tộc”(2) Bản sắc dân tộc bao gồm nhiều nhân tố. Có nhân tố thể hiện ra ở thế giới bên ngoài như: cách ăn mặc, cử chỉ, dáng điệu, lời nói, phong tục, tập quán và có những nhân tố thể hiện qua tâm lý, tính cách, qua sắc thái tình cảm: tin yêu, căm ghét, giận dữ, buồn vui ở mỗi con người. Nói chung, bản sắc dân tộc - nói như Đồng chí Phạm Văn Đồng là: "những nét riêng biệt, độc đáo cửa một dân tộc thể hiện trong nền văn hóa, nghệ thuật, trong phong tục, tập quán, trong đời sống muôn màu của dân tộc đó"(3) 2.1.2.Sự thể hiện bản sắc dân tộc trong tác phẩm văn học: Ta biết rằng trong tác phẩm văn học, tính chất dân tộc, bản sắc dân tộc luôn thể hiện xuyên thấm trong tất cả các yếu tố từ hình thức đến nội dung. "Có thể nói có bao nhiêu yếu tố trong tác phẩm là có bấy nhiêu chỗ để tính dân tộc thể hiện"(4) ; trong đó nổi rõ ở những yếu tố sau: Thứ nhất ở đề tài tác phẩm: Nhà văn vĩ đại Nga Pu-skin cho rằng "mỗi dân tộc có vô vàn phong tục, tập quán riêng... và khí hậu, chế độ xã hội, tín ngưỡng tạo cho mỗi dân tộc một diện mạo đặc biệt diện mạo ấy ít hay nhiều được phản ảnh trong tấm gương thơ ca"(5). Cho nên ngay ở phạm vi đề tài nhà văn hướng tới, các yếu tố: lịch sử, địa lý, văn hóa của dân tộc ... và 1 Nguyễn Hồng Phong -Tìm hiểu tính cách dân tộc, NXB Khoa học, H, 1963, trang 20. Nguyễn Khánh Toàn -Lời tựa "Về tính cách dân tộc trong văn học" của Thành Duy, NXB KHXH, H, 1982 3 Phạm Văn Đồng -Bài nói tại hội nghị kỷ niệm lần thứ 100 ngày thành lập Viện Dân tộc học. 4 Cơ sở lý luận Văn học. Tập 1, NXB ĐH & THCN, H, 1980, trang 246 5 Pu-Skin toàn tập, NXB Viện hàn lâm Liên Xô, M, 1949, trang 40 2 20
- Xem thêm -