Bai tieu luan quan ly rui ro ty gia hoi doai

  • Số trang: 40 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 9 |
  • Lượt tải: 0
thanhdoannguyen

Đã đăng 6184 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA SAU ĐẠI HỌC ---o0o--- TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG ĐỀ TÀI: QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GVHD Lớp : PGS.TS Trần Huy Hoàng : Cao học K19 – Ngân hàng đêm 4 TPHCM – NĂM 2011 DANH SÁCH NHÓM THỰC HIỆN 1. Hồ Phương Minh 2. Nguyễn Chí Văn Luân (Thành viên 1,2 thực hiện chương I) 3. Nguyễn Thị Kim Lý 4. Phạm Thị Trúc Ly 5. Nguyễn Thị Nguyệt Nga (Thành viên 3,4,5 thực hiện chương II) 6. Trần Ái Mỹ 7. Đoàn Diên Khánh 8. Bùi Thành Nam (Thành viên 6,7,8 thực hiện chương III) MỤC LỤC Chương 1: Cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái và rủi ro tỷ giá hối đoái 1.1. Đôi nét về tỷ giá hối đoái 1.1.1 Khái niệm: 1.1.2 Cách niêm yết tại các NHTM Việt Nam 1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tỷ giá hối đoái 1.2. Một số rủi ro tỷ giá hối đoái thường gặp 1.2.1 Rủi ro thị trường 1.2.2 Rủi ro chính sách 1.2.3 Rủi ro tâm lý 1.2.4 Rủi ro khác Chương 2: Thực trạng chính sách điều hành - quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái và các rủi ro tỷ giá hối đoái tại các NHTM Việt Nam 2.1. Chính sách điều hành tỷ giá hối đoái của Ngân hàng nhà nước qua các năm: 2.1.1 Quy định quản lý ngoại hối 2.1.2 Quy định niêm yết tỷ giá và biên độ tỷ giá,………… 2.1.3 Ưu khuyết điểm của chính sách và tác động đến các NHTM Việt Nam 2.2. Thực trạng các rủi ro tỷ giá hối đoái thường gặp 2.2.1 Rủi ro thị trường 2.2.2 Rủi ro đầu tư ra nước ngoài 2.2.3 Rủi ro lạm phát 2.2.4 Rủi ro tâm lý 2.3. Thực trạng chính sách điều hành – quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái tại các NHTM Việt Nam Chương 3: Một số kiến nghị về quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái ở các NHTM Việt Nam 3.1 Những khó khăn vướng mắc trong điều hành quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái tại các NHTM Việt Nam 3.2 Một số kiến nghị 3.2.1 Sử dụng phương pháp dự báo tỷ giá 3.2.2 Giải phàp về công nghệ 3.2.3 Giải pháp về tổ chức nhân sự 3.2.4 Giải pháp về kỹ thuật kinh doanh 3.2.5 Giải pháp đa dạng hóa đồng tiền thanh toán 3.2.6 Giải pháp sử dụng Hợp đồng xuất nhập khẩu song hành 3.2.7 Sử dụng quỹ dự phòng rủi ro tỷ giá Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1.1 Đôi nét về tỷ giá hối đoái: 1.1.1 Khái niệm: Rủi ro tỷ giá hối đoái trong hoạt động ngân hàng là rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay ngoại tệ hoặc quá trình kinh doanh ngoại tệ khi tỷ giá biến động theo chiều hướng bất lợi cho ngân hàng. 1.1.2 Cách niêm yết tại các NHTM Việt Nam Cách yết và công bố tỷ giá: Tỷ giá mua của ngân hàng: Bid rate Tỷ giá bán của ngân hàng: Ask rate → Bid rate/Ask rate: tỷ giá mua và bán của ngân hàng (Thông thường tỷ giá thường được niêm yết theo tỷ giá này) Tỷ giá mua của khách hàng: Bid ratec (= Ask rate) Tỷ giá bán của khách hàng: Ask ratec (= Bid rate) → Bid ratec/Ask ratec: tỷ giá mua và bán của khách hàng Trong cùng thời điểm và cùng 1 loại ngoại tệ thì tỷ giá mua của khách hàng chính là tỷ giá bán của ngân hàng và ngược lại tỷ giá bán của khách hàng chính là tỷ giá mua của ngân hàng. a/ Các cách công bố tỷ giá: - Cách công bố tỷ giá rời nhau: Vd: Bid rate: 1USD = 17,780VND Ask rate: 1USD = 17,782VND - Cách công bố tỷ giá rút gọn: Vd: USD/VND: 17,780/17,782 (phổ biến) hoặc USD/VND: 17,780/82 Nếu tỷ giá được yết như sau: USD/VND: 17,780/00 tức USD/VND: 17,780/17,800 ♦ Đồng tiền đứng trước là đồng tiền yết giá (còn gọi là đồng tiền định danh, đồng tiền cơ sở hay đồng tiền hàng hóa_commodity currency). Đồng tiền định danh có đặc điểm như sau: + Thường là 1 đơn vị + Là đồng tiền để mua bán trên thị trường (thị trường ngoại tệ) như là hàng hóa. ♦ Đồng tiền đứng sau là đồng tiền định giá (term currency), nói cho dễ hiểu thì nó còn có thể được gọi là đồng tiền thanh toán (payment currency). Đồng tiền định giá có đặc điểm như sau: + Thường không phải là 1 đơn vị + Là đồng tiền được dùng để thanh toán khi mua hoặc bán đồng tiền yết giá b/ Cách yết giá ngoại tệ: - Yết giá ngoại tệ trực tiếp: là cách yết giá mà khi nhìn vào ta có thể biết ngay là giá của 1 đồng ngoại tệ đó bằng bao nhiêu đồng nội tệ mà không cần phải thực hiện phép tính nào. Đây là cách yết giá phổ biến. - Yết giá ngoại tệ gián tiếp: là cách yết giá không thể hiện trực tiếp giá của ngoại tệ thông qua nội tệ mà thể hiện giá của nội tệ thông qua ngoại tệ. Để biết được giá của ngoại tệ thông qua nội tệ thì phải thực hiện phép chia. Vd: Ở VN giá USD được yết như sau: USD/VND: 17,780 thì ta vừa nhìn vào có thể biết ngay là 1USD = 17,780VND (đây là cách yết giá trực tiếp; giá của ngoại tệ được thể hiện thông qua nội tệ) Và giả sử khi ta sang Mỹ, ta thấy được giá VND được yết ở Mỹ cũng là USD/VND: 17,780. Như vậy khi ta nhìn vào, ta không thể biết được ngay là 1VND = ?USD mà ta cần phải thực hiện phép chia (1USD = 17,780VND → 1VND = 1/17,780USD) (đây là cách yết giá gián tiếp: giá của nội tệ được thể hiện thông qua ngoại tệ) Hầu hết các nước trên thế giới đều yết giá ngoại tệ trực tiếp, ngoại trừ Anh, Mỹ, Newzealand, Úc và liên minh châu Âu là thể hiện giá gián tiếp. Khi TGHĐ tăng, đồng tiền định giá bị mất giá so với đồng tiền yết giá. Còn giá ngoại tệ tăng hay giảm so với nội tệ thì còn tùy thuộc vào cách yết giá ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực (đó là yết giá trực tiếp hay gián tiếp?) - Nếu là yết giá trực tiếp thì khi TGHĐ tăng, đồng nghĩa với giá ngoại tệ cũng tăng so với nội tệ và ngược lại. - Nếu là yết giá gián tiếp thì khi TGHĐ tăng, đồng nghĩa với giá ngoại tệ giảm so với nội tệ và ngược lại. 1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tỷ giá hối đoái: Các hoạt động của ngân hàng có liên quan đến ngoại hối làm phát sinh rủi ro tỷ giá. Bao gồm: Hoạt động ngoại tệ ngoại bảng: ngân hàng kinh doanh ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Hoạt động ngoại tệ nội bảng: ngân hàng huy động vốn và đầu tư vào tài sản bằng ngoại tệ. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tỷ giá hối đoái: Nguyên nhân chủ quan: do trạng thái ngoại hối của ngân hàng không cân xứng, tức là có sự chênh lệch giá trị tài sản Có và tài sản Nợ ngoại hối hoặc chênh lệch giữa doanh số mua vào và bán ra của đồng tiền nước ngoài. Từ sự không cân xứng đó, khi ngân hàng thực hiện mua và bán ngoại tệ cho khách hàng hoặc cho chính ngân hàng nhằm mục đích đầu cơ kiếm lãi khi tỷ giá biến động thì rủi ro sẽ xuất hiện khi tỷ giá biến động theo chiều hướng bất lợi cho ngân hàng. Nguyên nhân khách quan: do sự biến động tỷ giá theo chiều hướng bất lợi đối với ngân hàng. Nguyên nhân của sự biến động này là: mất cân đối giữa cung – cầu ngoại tệ trên thị trường, cán cân thanh toán quốc tế; chính sách thuế quan, năng suất lao động, tình hình kinh tế chính trị của mỗi nước, lãi suất giữa đồng ngoại tệ và nội tệ…. 1.2 Một số rủi ro tỷ giá hối đoái thường gặp 1.2.1 Rủi ro thị trường: khi thị trường xảy ra các biến động: Hoạt động ngoại hối mà đặc biệt là tỷ giá luôn gắn liền và chịu ảnh hưởng của tình hình vĩ mô nền kinh tế, đặc biệt là tình hình biến động lãi suất, xuất nhập khẩu, nhập siêu… những nhân tố này có tác động rất lớn đến sự biến động của tỷ giá hối đoái. 1.2.2 Rủi ro chính sách: đặc biệt các chính sách tài chính và tiền tệ của quốc gia có tác động rất lớn đến thị trường hối đoái và tỷ giá hối đoái 1.2.3 Rủi ro tâm lý: tâm lý của dân chúng cũng có tác động không nhỏ đến tỷ giá hối đoái, đặc biệt là tâm lý số đông, các hoạt động cung cầu ngoại tệ trên thị trường bị chi phối bởi yếu tố tâm lý, các tin đồn cũng như các kỳ vọng vào tương lai 1.2.4 Rủi ro khác: thiên tai, lũ lụt,…ảnh hưởng đến đời sống và tác động đến lượng kiều hối, ….. tạo ra những tác động lên tỷ giá hối đoái. Chương 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ĐIỀU HÀNH – QUẢN LÝ RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 2.1 Chính sách điều hành tỷ giá hối đoái của Ngân hàng nhà nước qua các năm: 2.1.1 Các quy định về quản lý ngoại hối: Được ban hành vào ngày 13/12/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/6/2006, Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội (“Pháp lệnh 28”) được ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm lợi ích hợp pháp của các cá nhân tham gia hoạt động ngoại hối, trong đó có các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt nam. Trong bài viết này, tôi xin giới thiệu các quy định của Việt nam về quản lý ngoại hối tại Việt nam nói chung và quản lý ngoại hối đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nói riêng. Phạm vi điều chỉnh: Pháp lệnh 28 điều chỉnh hoạt động ngoại hối giữa người cư trú và người không cư trú tại Việt nam. Pháp lệnh 28 cũng phân biệt sự khác nhau giữa giao dịch “vãng lai” và giao dịch “vốn”. Theo đó, giao dịch vãng lai là giao dịch giữa người cư trú với người không cư trú (ngoại trừ việc chuyển vốn) và giao dịch vốn là các giao dịch chuyển vốn giữa người cư trú với người không cư trú trong lĩnh vựa đầu tư trực tiếp, đầu tư vào các giấy tờ có giá, vay và trả nợ nước ngoài và các hình thức khác theo quy định của Pháp luật Việt Nam Theo Pháp lệnh 28, các giao dịch thanh toán và chuyển tiền được phép trong giao dịch quốc tế đã được mở rộng và bao gồm: a. Các khoản thanh toán liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ và các giao dịch vãng lai khác; b. Các khoản thu nhập từ đầu tư trực tiếp và gián tiếp; c. Các khoản chuyển tiền khi một công ty giảm vốn (một khi được thông qua); d. Các khoản thanh toán tiền lãi và trả nợ dần nợ gốc của khoản vay nước ngoài (nếu khoản vay đã đăng ký với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (“SBV”); e. Các khoản thanh toán một chiều cho mục đích tiêu dùng (có nghĩa là các giao dịch chuyển tiền từ nước ngoài vào Việt Nam hoặc ngược lại thông qua ngân hàng hoặc qia bưu điện mang tính chất tài trợ, viện trợ hoặc giúp đỡ thân nhân gia đình hoặc sử dụng chi tiêu cá nhân không liên quan đến việc thanh toán xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ); f. Các giao dịch tương tự khác. Người cư trú hoặc không cư trú được mua ngoại tệ tại ngân hàng được phép giao dịch vãng lai. Người cư trú và người không cư trú được phép chuyển ngoại tệ khi có đủ chứng từ hợp lệ mà không cần phải xin giấy phép. Các thủ tục cho việc xin phê duyệt trong một số giao dịch cụ thể đã được đơn giản hóa rất nhiều. Giao dịch vốn Đầu Tư Nước Ngoài Vào Việt Nam Liên quan đến giao dịch vốn, Pháp lệnh 28 quy định đầu tư gián tiếp là việc mua bán chứng khoán và các giấy tờ có giá khác và góp vốn hoặc mua cổ phần dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật Việt Nam được thực hiện bởi người không cư trú không tham gia vào quản lý công ty mà người này hoặc công ty đã đầu tư. Vốn ngoại tệ vãng lai cho đầu tư gián tiếp phải được quy đổi thành đồng Việt Nam và bất cứ lợi nhuận bằng đồng Việt Nam phải được quy đổi thành ngoại tệ trước khi chuyển ra nước ngoài. Các giao dịch này phải được thực hiện thông qua tổ chức tín dụng được phép. Vay và Trả Nợ Vay Nước Ngoài Pháp lệnh 28 quy định nguyên tắc đối với các khoản vay từ Việt Nam ra nước ngoài mặc dù các giao dịch như vậy rất ít. Người vay được tự do cung cấp các khoản vay cho người vay ở nước ngoài là các tổ chức tín dụng. Các tổ chức kinh tế khác để thực hiện các khoản vay cho tổ chức, cá nhân vay nước ngoài không được phép thực hiện các khoản vay phải được sự chấp thuận của Chính phủ. Tuy nhiên, Pháp lệnh 28 đã cho phép cá nhân Việt Nam vay nước ngoài. Các khoản vay nước ngoài với thời hạn một năm trở lên phải đăng ký với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và báo cáo tình hình thực hiện khoản vay thường xuyên. Giao Dịch Ngoại Tệ Vãng Lai Pháp lệnh 28 không bỏ các hạn chế đối với giao dịch ngoại tệ vãng lai tại Việt Nam. Các giao dịch ngoại tệ vãng lai chỉ được thực hiện thông qua ngân hàng được phép thực hiện giao dịch ngoại hối vãng lai – giao dịch ngoại tệ vãng lai trực tiếp vẫn bị cấm (trừ khi được tiến hành giữa các nhân nước ngoài tại Việt Nam với mục đích hợp pháp). Tất cả các biển hiệu về giá cả (như menu và mẫu quảng cáo) phải dùng đồng Việt nam. Về quản lý Nhà nước đối với hoạt động ngoại hối, Pháp lệnh 28 trao cho Chính phủ quyền áp dụng một số biện pháp như hạn chế việc mua, mang, chuyển, thanh toán đối với các giao dịch trên tài khoản vãng lai, tài khoản vốn; áp dụng các quy định về nghĩa vụ bán ngoại tệ của người cư trú là tổ chức; áp dụng các biện pháp kinh tế, tài chính, tiền tệ; và các biện pháp khác khi Chính phủ xét thấy là cấn thiết để bảo đảm an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia. Cá Nhân Mang Ngoại Tệ Khi Xuất Nhập Cảnh Theo quy định tại Quyết định 921/2005/QĐ-NHNN ngày 27/6/2005 của Ngân hàng Nhà nước về việc mang ngoại tệ bằng tiền mặt và đồng Việt nam bằng tiền mặt khi xuất nhập cảnh thì một cá nhân khi xuất nhập cảnh được phép mang lượng tiền mặt tối đa 7.000 USD (hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương) và 15.000.000 đồng Việt nam MỘT SỐ QUY ĐỊNH RIÊNG VỀ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM (“FIEs”) Mặc dù đã có hiệu lực kể từ ngày 1/6/2006, cho đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn nào quy định riêng về việc quản lý ngoại hối của FIEs để thay thế Thông tư 04/2001/TT-NHNN ngày 18/5/2001 của Ngân hàng Nhà nước (“Thông tư 04”). Nói cách khác, việc quản lý ngoại hối của FIEs hiện nay vẫn chịu sự điều chỉnh của Thông tư 04. Phạm Vi Điều Chỉnh Thông tư 04 điều chỉnh hoạt động ngoại hối của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh. Hoạt động ngoại hối bao gồm mở và sử dụng tài khoản tại ngân hàng trong và ngoài nước; chuyển đổi ngoại tệ; chuyển vốn vào và ra khỏi Việt nam; chuyển lợi nhuận ra nước ngoài; tỷ giá và thông tin báo cáo. Mở & Sử Dụng Tài Khoản Ngân hàng Mở và sử dụng tài khoản tiền gửi vốn chuyên dùng bằng ngoại tệ Liên quan đến việc mở và sử dụng tài khoản tiền gửi vốn chuyên dùng bằng ngoại tệ, FIEs và bên hợp doanh nước ngoài phải mở tài khoản tiền gửi vốn chuyên dùng bằng ngoại tệ tại một Ngân hàng được phép kinh doanh ngoại hối (sau đây gọi là Ngân hàng được phép) để thực hiện các giao dịch chuyển vốn của nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm: a. Vốn pháp định hoặc vốn thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh của Nhà đầu tư nước ngoài chuyển vào và ra khỏi Việt Nam; b. Tiền gốc của các khoản vay nước ngoài trung và dài hạn chuyển vào và ra khỏi Việt Nam; c. Lãi và phí của khoản vay nước ngoài trung và dài hạn chuyển ra khỏi Việt Nam để trả nợ nước ngoài; d. Lợi nhuận và các khoản thu nhập hợp pháp của Nhà đầu tư nước ngoài chuyển ra khỏi Việt Nam; e. Các khoản vốn rút ra để chuyển vào tài khoản tiền gửi ngoại tệ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc bên nước ngoài hợp doanh; f. Các khoản vốn gửi vào từ tài khoản tiền gửi ngoại tệ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc bên nước ngoài hợp doanh. Mở và sử dụng tài khoản tiền gửi ngoại tệ FIEs được mở và sử dụng tài khoản tiền gửi ngoại tệ tại các Ngân hàng được phép để phục vụ cho hoạt động của mình. Mọi khoản thu, chi bằng ngoại tệ của FIEs đều phải thực hiện thông qua các tài khoản của mình mở ở Ngân hàng được phép. Mở và sử dụng tài khoản tiền đồng Việt Nam FIEs được mở tài khoản tiền gửi bằng đồng Việt Nam tại các ngân hàng được phép hoạt động tại Việt nam theo quy định của pháp luậT hiện hành. Mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài FIEs được mở tài khoản tại các ngân hàng ở nước ngoài để thực hiện các khoản vay vốn trung và dài hạn nước ngoài với điều kiện là các khoản vay này phải được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. Các dự án đầu tư thuộc đối tượng của Luật Dầu Khí được mở tài khoản ở nước ngoài theo quy định của Luật Dầu Khí và chậm nhất, sau 15 ngày kể từ ngày mở tài khoản ở nước ngoài phải thực hiện đăng ký tài khoản với Ngân hàng Nhà nước - Vụ Quản lý ngoại hối. Chuyển Vốn Vào, Ra Khỏi Việt nam Chuyển Vốn Vào Việt nam FIEs phải góp vốn đầu tư theo đúng tiến độ được ghi trong Hợp đồng liên doanh, Điều lệ của Doanh nghiệp hoặc Hợp đồng hợp tác kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. FIEs có nguồn thu ngoại tệ từ các giao dịch vãng lai ở nước ngoài phải chuyển về nước vào tài khoản tiền gửi ngoại tệ của mình mở tại các Ngân hàng được phép. Chuyển Vốn Ra Khỏi Việt nam Nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài các khoản sau đây sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính với Nhà nước Việt Nam: a. Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh, khoản thu được chia, thu nhập do cung ứng dịch vụ và chuyển giao công nghệ, các khoản tiền và tài sản khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình b. Vốn pháp định, vốn tái đầu tư, vốn thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh và tài sản thuộc sở hữu hợp pháp khi chấm dứt hoạt động hoặc giải thể công ty; c. Ngoại tệ để trả nợ nước ngoài, bao gồm gốc, lãi, phí. Nghĩa vụ Báo cáo Hàng năm, chậm nhất vào ngày 15/1 (đối với báo cáo năm) và 15/7 (đối với báo cáo 6 tháng đầu năm), FIEs phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước (Vụ Quản lý ngoại hối) và Chi nhánh ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố trên địa bàn về tình hình thực hiện vốn đầu tư. Đối với FIEs được phép mở tài khoản ở nước ngoài thì phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước (Vụ Quản lý ngoại hối) tình hình sử dụng của các tài khoản được phép mở ở nước ngoài một năm hai lần vào thời hạn nêu trên. Chuyển Lợi Nhuận Ra Nước Ngoài Kể từ ngày 1/1/2004, ngày Luật Thuế Thu nhập Doanh nghiệp năm 2003 có hiệu lực, quy định về thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài đã bị bãi bỏ. Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài, sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế với Nhà nước Việt nam, khi chuyển lợi nhuận về nước không phải nộp thuế. * Tóm lại, quản lý ngoại hối là một nhiệm vụ quan trọng của NHNN, chính sách quản lý ngoại hối hiệu quả sẽ góp phần đáng kể trong cân bằng cán cân thanh toán, kiểm soát sức mua của đồng tiền, kiềm chế lạm phát , tận dụng nguồn vốn trong nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài ,mặc khác gíup cho các ngân hàng thương mại hạn chế được các rủi ro về tỷ giá hối đoái tạo điều kiện ổn định và phát triển nền kinh tế. - Cùng với sự biến động của nền kinh tế, chính sách quản lý ngoại hối ở nước ta được đổi mới triệt để về tư duy lẫn điều hành qua các giai đoạn lịch sử. Chính sách nới lỏng quản lý ngoại hối dần dần thay thế cho chính sách độc quyền kiểm soát và kinh doanh ngoại hối Nhà nước. Cơ chế điều hành tỷ giá cũng đượcthay đổi căn bản từ chế độ tỷ giá cố định sang chế độ tỷ giá thả nổi có kiểm soát. Các công cụ quản lý ngoại hối được sủ dụng tương đối có hiệu quả. 2.1.2 Quy định niêm yết tỷ giá và biên độ tỷ giá:  Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ xác định và công bố tỷ giá hối đoái. Ví như Việt nam áp dụng phương pháp công bố trực tiếp: lấy ngoại tệ làm đơn vị để so sánh với tiền trong nước, ngoại tệ được chọn là USD. Tỷ giá giữa VND với các ngoại tệ khác được xác định theo phương pháp tính chéo.  NHNN công bố tỷ giá USD/VND dựa trên cơ sở quan hệ cung-cầu về ngoại tệ theo mục tiêu phù hợp với chính sách tiền tệ.  NHNN công bố tỷ giá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và công bố biên độ dao động để các Ngân hàng thương mại (NHTM), các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ xác định tỷ giá mua, tỷ giá sức ngoại tệ. Tỷ giá mua(thấp nhất) = Tỷ giá bình quân*(1 – biên độ quy định) Tỷ giá bán (cao nhất) = Tỷ giá bình quân*(1 + biên độ quy định)  Biên độ do NHNN công bố từng thời kỳ.  Ngoài việc công bố tỷ giá và biên độ dao động thì NHNN còn quy định ‘giới hạn trạng thái ngoại hối’ và bắt buộc các NHTM, các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ phải báo cáo định kỳ trạng thái ngoại hối của mình. Trạng thái ngoại hối = Tài sản có ngoại tệ - Tài sản nợ ngoại tệ Trong đó: Tài sản có ngoại tệ: tiền mặt ngoại tệ, tiền gửi ngoại tệ tại NHNN, cho vay ngoại tệ, tài sản có ngoại tệ khác.. Tài sản nợ ngoại tệ: vốn huy động bằng ngoại tệ, vốn vay bằng ngoại tệ, tài sản nợ ngoại tệ khác..  Nếu A>B gọi là trạng thái ngoại hối dương, nếu A Tỷ lệ quy định  Hiện nay ở Việt nam là giới hạn không quá 30% đối với tổng trạng thái dương hoặc âm cao nhất với tất cả các loại ngoại tệ và không quá 15% đối với trạng thái là USD.  Trạng thái ngoại hối được NHNN quy định nhằm tránh trường hợp các NHTM hoặc các tổ chức tín dụng đầu cơ hoặc bán tháo ngoại tệ. Tuy nhiên trạng thái ngoại hối không được quy định cho các tổ chức tài chính phi ngân hàng (bảo hiểm, công ty tài chính..) nên tình trạng đầu cơ hoặc bán tháo trên thị trường vẫn xảy ra. 2.1.3 Ưu điểm và khuyết điểm của chính sách tỷ giá hối đoái và tác động đến các NHTM Việt Nam từng thời kỳ: a. Giai đoạn trước 1996:  Lạm phát xuất hiện từ nhiều năm nhưng năm 1986 là năm có tỷ lệ lạm phát cao nhất (775%), nền kinh tế bước vào thời kỳ lạm phát dữ dội với tỉ lệ tăng 3 chữ số kéo dài trong 2 năm tiếp theo. Tuy nhiên đến cuối năm 1988 nhiều biện pháp về tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát mới được đưa ra. Lần đầu tiên NHNN mạnh tay nới lỏng tỷ giá VND/USD vào cuối 1988 và tiếp tục cơ chế linh hoạt đến năm 1991, trước khi bước vào giai đoạn đóng băng tỷ giá từ năm 1992.  Từ năm 1989-1992: NHNN đã bắt đầu thả nổi tỷ giá, mối quan hệ cung cầu được quan tâm hơn. Tuy nhiên việc thả nổi tỷ giá đã tác động đến nền kinh tế như sau:  Kích thích tâm lý nắm giữ USD để đầu cơ ăn chênh lệch gía;  Tỷ giá thường xuyên thay đổi và tình trạng thiếu ngoại tệ đã gây mất ổn định nền kinh tế;  Nhà nước không kiểm soát được việc lưu thông tiền tệ.  Từ năm 1992-1993: chính sách đã có những điều chỉnh cải cách như: Quy định biên độ dao động của tỷ giá so với tỷ giá chính thức được công bố hàng ngày bởi Ngân hàng nhà nước, buộc các đơn vị kinh tế có ngoại tệ phải bán cho ngân hàng theo tỷ giá ấn định, bãi bỏ hoàn toàn hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán ngoại thương giữa ngân sách với các đơn vị kinh tế tham gia vào hoạt động ngoại thương.  Chính sự thay đổi này mà nạn đầu cơ ngoại tệ về cơ bản đã được giải tỏa, tình hình cung-cầu ngoại tệ đã được cải thiện. NHTW còn khuyến khích tích lũy giá trị dưới dạng nội tệ hơn là ngoại tệ, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút lượng ngoại tệ lớn từ kiều hối, ổn định giá trị đồng Việt nam và tỷ lệ lạm phát duy trì ở mức chấp nhận được.  Từ năm 1993 trở đi: giá USD trên thị trường thế giới biến động mạnh, tình trạng nhập siêu ở Việt Nam tăng, thâm hụt trong ngoại thương, nợ nước ngoài tăng, dự trữ ngoại tệ tăng chậm, nguy cơ khủng hoảng nợ nước ngoài…cơ chế tỷ giá cố định trong 1 thời gian dài không kích thích được xuất khẩu làm thương mại kém phát triển dẫn đến không thể thực hiện được mục tiêu cân bằng ngoại tệ.  Năm 1994: NHNN cho phép thị trường liên ngân hàng ra đời, có quy mô lớn hơn và mang tính thị trường khách quan, linh hoạt hơn, tỷ giá hối đoái và cơ chế điều hành của NHNN càng sát thực tế hơn, NHNN có thể nắm bắt được diễn biến của nền kinh tế và kịp thời điều tiết tỷ giá hối đoái. NHNN bắt đầu công bố tỷ giá chính thức với ngoại tệ với VND với tỷ giá mua bán trên thị trường chỉ dao động vói biên độ cho phép là +_5% so với tỷ gía chính thức (Quyết định số 245/QĐ-NH7 ngày 1/10/1994). Đồng thời khuyến khích các ngân hàng tham gia tích cực hơn trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, cho phép các ngân hàng được điều chỉnh tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn. Năm 1996 thì mức biên độ giao động được nâng lên +_1%. Nhờ chế độ tỷ giá cố định có điều chỉnh đã phát huy nhiều mặt tích cực góp phần ổn định nền kinh tế. b. Giai đoạn 1997-2006:  Năm 1997 là năm khủng hoảng tài chính ở các nước khu vực Đông Nam Á bùng nổ và tăng nhanh, các nước trong khu vực hầu như phá giá đồng nội tệ của mình, dẫn đến khan hiếm ngoại tệ. Nhu cầu ngoại tệ để thanh toán LC trả chậm và trả nợ vay nước ngoài của các ngân hàng càng làm thị truờng ngoại tệ căng thẳng hơn trong khi cán cân vãng lai đã bội chi đến mức báo động. Chính vì vậy, để giảm tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng đến nền kinh tế Việt Nam, cân bằng cung-cầu trên thị trường và giảm áp lực căng thẳng ngoại tệ, NHNN đã điều chỉnh chính sách tỷ giá và cho phá giá đồng VND, mở rộng biên độ giao dịch từ +_1% lên +_5% và sau đó là +_10% làm cho tỷ giá thị trường tăng mạnh, tuy nhiên giá cả trên thị trường không có biến động đáng kể. Tuy nhiên điều này buộc các NHTM phải giao dịch ở mức tối đa (sát trần) mà vẫn thấp hơn 10% so với thực tế. Điều này sẽ rất nguy hiểm và nhận thấy kinh nghiệm từ Thái Lan và việc cần thiết phải phá giá đồng VND.  Năm 1998: NHNN giảm biên độ giao dịch còn +_7%, tỷ giá chính thức điều chỉnh từ 11.815 lên 12.298, tức VND giảm giá 4.1%, dù biên độ được điều chỉnh giảm nhưng tỷ giá chính thức tăng nên thực chất VND bị phá giá. Tỷ giá chính thức này được ấn định trên cơ sở tỷ giá mua bán trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng nên tỷ giá này sẽ phản ánh tốt hơn quan hệ cung cầu trên thị trường, các giao dịch sôi động hơn, nhiều doanh nghiệp, ngân hàng chủ động hơn, cân đối cung cầu ngoại tệ, bước đầu giải toả tâm lý đầu cơ ngoại tệ. Ngày 12/09/1998 với quyết định 173/QĐ-TTg của chính phủ đã giúp cho doanh số mua bán ngoại tệ tăng, cung cầu ngoại tệ được cải thiện, tỷ giá giao dịch củ thị trường ngoại tệ liên ngân hàng được duy trì trong biên độ quy định, khoảng cách chênh lệch về tỷ giá giữa thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị trường tự do được giảm thiểu khá thấp. Tuy nhiên việc điều chỉnh tỷ giá cũng co tác động tiêu cực đến nền kinh tế bởi vì VND giảm giá làm tăng thêm gánh nặng nợ nước ngoài của cả chính phủ và doanh nghiệp có vốn vay nước ngoài, giảm đầu tư trực tiếp nước ngoài.  Thực tế, việc thay đổi tỷ giá có tác động nhất định đối với nền kinh tế, nếu không cân nhắc kỹ sẽ dẫn đến những biến động bất thường trên thị trường. Do đó việc thay đổi các xác định tỷ giá là rất cần thiết.  Năm 1999-2006: Đông Nam Á đã bước ra cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ, chính sách tỷ giá Việt nam đã có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình kinh tế giai đoạn sau khủng hoảng trên cơ sỏ học hỏi kinh nghiệm của các nước trong khu vực:  Bỏ hình thức công bố tỷ giá trước đây, tỷ giá công bố hàng ngày là tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng, NHTM được phép giao dịch trong biên độ giao dịch của NHNN (đầu tiên là +_0.1% sau đó là +_0.25%). Tỷ giá này được NHNN lấy bình quân giữa các ngân hàng và cho công bố là tỷ giá chính thức của ngày hôm sau. Đây là việc chuyển từ cơ chế tỷ giá cố định sang tỷ giá thả nổi có đìeu tiết. Ưu điểm:  Tạo quyền chủ động cho các NHTM trong vệc tự quy định tỷ giá của VND so với các ngọai tệ khác.  Gỉai quyết tâm lý hoang mang dao động khi đìeu chỉnh tỷ giá, lòng tin vào đồng tiền ít bị lung lay, giảm tình trạng đầu cơ ngoại tệ.  Các DN chủ động hơn trong kinh doanh mà vẫn đảm bảo sự kiểm soát của nhà nước, giải quyết vần đề thíêu ngoại tệ của các DN.  Khơi thông thị trường ngọai tê.  Tỷ giá mềm dẻo, linh hoạt hơn và phù hợp với thông lệ quốc tế giúp nước ta dễ hòa nhập với nền kinh tế quốc tế hơn. Nhược điểm:  Việc lấy tỷ giá của ngày hôm trước cho dao động trong biên độ cho phép để làm tỷ giá giao dịch của ngày hôm sau không mang ý nghĩa kinh tế. Vì tỷ giá của ngày hôm trước không có ý nghĩa trong ngày hôm nay.  Tỷ giá được công bố sẽ có giá trị trong một ngày sẽ bất lực khi thị trường có bíên động mạnh về quan hệ cung cầu.  Nền kinh tế yếu, tâm lý chờ phá giá VND luôn thường trực, khiến tỷ giá thực tế ở thị trường liên ngân hàng luôn ở xu hướng tăng thêm với mức độ cho phép là 0,1%. Để tránh xu hướng này NHNN luôn phải thường xuyên dùng ngoại tệ can thiệp vào thị trường mà dự trữ ngoại tệ thì rất hạn chế. Tuy nhiên việc thay đổi cách xác định tỷ giá như trên tuy là sự thay đổi về cơ chế quản lý, điều hành tỷ giá cho phù hợp nhưng vẫn chưa đủ giải quyết bất hợp lý của cơ chế điều hành tỷ giá đã có từ trước. c. Giai đoạn 2007-nay:  Năm 2007: Việt Nam gia nhập trở thành thành viên chính thức của WTO, mang tới những cơ hội và thách thức mới cho Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế: thị trường xuất khẩu mở rộng, các rào cản thương mại được dỡ bỏ hoặc hạn chế, lượng vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp gia tăng, vốn ODA, kiều hối cũng tăng cao. Tuy nhiên năm 2007 cũng là ảm đạm của nền kinh tế Mỹ khi đồng USD xuống giá nghiêm trọng, sự suy thoái của nền kinh tế lớn nhất thế giới này đã ảnh hưởng tới nhiều nền kinh tế khác, trong đó có Viêt nam, đặc biệt là thực trạng tỷ giá đã có nhiều diễn biến phức tạp hơn so với thời gian trước. Đối mặt với sự thay đổi của nền kinh tế, NHTW đã có những biện phán can thiệp vào chính sách tỷ giá: như thực hiện chính sách tỷ giá linh hoạt, nới rộng biên độ tỷ giá từ +-0.25% lên +-1.75%, tỷ giá tháng 1 là 1USD=16.080VND và cuối năm ở mức 1 USD=16.164VND. Việc nới rộng biên độ tỷ giá cũng làm cho các ngân hàng và nhà đầu tư có sự chủ động và linh hoạt hơn trong tính toán hiệu quả đầu tư, làm cho tỷ giá sát với điều kiện thị trường hơn, hổ trợ cho các DN xuất khẩu và hạn chế các DN nhập khẩu. Tuy nhiên, do nền kinh tế toàn cầu chịu nhiều ảnh hưởng bởi những biến động về tỷ giá hàng hoá, dấu hiệu suy thoái kinh tế Hoa Kỳ, đồng USD mất giá nhanh so với các ngoại tệ khác đã tác động không tốt và lan tỏa tới nhiều nền kinh tế.  Năm 2008: là năm tăng trưởng kinh tế toàn cầu sụt giảm đáng kể, nền kinh tế phát triển đều rơi vào suy thoái. Tình hình tỷ giá Việt Nam có những biến động nóng-lạnh với cường độ mạnh mẽ qua các giai đoạn:  Giai đoạn 1(1/1/2008-25/3/2008): Tỷ giá VND/USD giảm chỉ còn 15.400VND/USD, lạm phát tăng 12.63%. NHTW đã gấp rút thực hiện một loạt các biện pháp như: điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu tăng, phát hành tín phiếu bằng VND, thực hiện dưới hình thức bắt buộc đối với các NHTM, đồng thời không thực hiện mua USD vô nhằm hạn chế bơm tiền vào lưu thông.  Giai đoạn 2(26/3/2008-16/7/2008): Tỷ giá tăng tốc độ chóng mặt tạo cơn sốt USD trên cả thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự do gây nhiều tiêu cực: lạm phát cao, người dân muốn giũ tiền hơn là gửi tiết kiệm, nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi Việt Nam khi lo ngại tình hình kinh tếViệt Nam và tình hình thanh khoản yếu trên thi trường thế giới đẩy nhu cầu đẩy USD về nước lên cao dẫn đến việc điều chỉnh tỷ giá của NHNN trở nên phức tạp hơn, và sau đó NHHN đã nới rộng biên độ dao động lên 2%.  Giai đoạn 3(17/7/2008-15/10/2008): Tỷ giá giảm mạnh và đi vào bình ổn. Giai đoạn này, NHNN thực hiện kiểm soát chặt chẽ các đại lý thu đổi ngoại tệ (cấm mua bán ngoại tệ trên thị trường tự do không đăng ký với các NHTM), cấm mua bán USD thông qua ngoại tệ khác để lách biên độ…  Giai đoạn 4(16/10/2008-30/12/2008): Tỷ giá USD tăng trở lại do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu làm xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng, ảnh hưởng tới việc tiêu thụ sản phẩm trong nước làm nền kinh tế suy giảm. Và cuối năm, NHNN đã bán hơn 1 tỷ USD cho các NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu nhập khẩu một số mặt hàng thiết yếu.  Nhìn chung chính sách tỷ giá của Việt Nam trong năm 2008 khá hợp lý và kịp thời. Trong năm 2008 có nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam sẽ phá giá nội tệ và kịch bản khủng hoảng kinh tế 1997-1998 Thái Lan sẽ gặp lại ở Việt Nam. Tuy nhiên kết thúc năm 2008 Việt Nam vẫn kiểm soát được tỷ giá không quá cao và không biến động nhiều NHNN đã điều chỉnh tỷ giá bình quân trên thị trường ngạoi tệ liên ngân hàng ngày 25/12/2008 là 16.989 VND/USD, không cao như dự báo trước đó. Tuy nhiên chính sách giảm giá VND cũng không tránh khỏi một số rủi ro nhất định:  Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã vay USD từ các ngân hàng trong và ngoài nước, gánh nặng tỷ giá lên khoản nợ tăng lên, rủi ro không trả được nợ và ngân hàng phải chịu thêm các khoản nợ xấu.  Gía nội tệ giảm làm hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn, mà trong khi có nhiều sản phẩm trong nước không thể sản xuất do đó phải nhập khẩu, kết quả là nền kinh tế nhập khẩu lạm phát từ bên ngoài khi VND giảm giá.  Khi tỷ giá tăng quá mức, người dân trong nước và các nhà đầu tư mất niềm tin vào khả năng quản lý cung tiền của cơ quan điều hành chính sách tiền tệ. Khi đó người dân và doanh nghiệp sẽ đua nhau mua ngoại tệ khi đồng nội tệ bị mất giá và họ có thể chấp nhận mua vói bất kỳ giá nào miễn là mua được ngoại tệ.  Năm 2009: Nền kinh tế thế giới vẫn trong thời kỳ suy thoái mạnh đã tác động đến cung cầu ngoại tệ ở Việt Nam. Tỷ giá tăng mạnh, số lượng kiều hối, vốn FDI, FPI vào Việt Nam giảm mạnh, điều này làm giảm cung ngoại tệ trên thị trường. Chính sách kích cầu của Chính phủ cùng với đi kèm nới lỏng chính sách tiền tệ, cùng với việc nới rộng biên độ tỷ giá lên +- 5% đã làm tăng tỷ giá suốt năm 2009, yếu tố tâm lý kỳ vọng bắt đầu xuất hiện: lo sợ lạm phát tăng cao từ việc kích thích kinh tế tăng trưởng và sự mất giá VND trong thời gian tới dẫn đến tình trạng găm giữ USD làm căng thẳng thêm cung cầu ngoại tệ.  Tháng 11/2009: cùng với quyết định tăng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8% của NHNN, tỷ giá liên ngân hàng được nới rộng lên 5,5%, đồng thời thu hẹp biên độ tỷ giá mới cho ngiao dịch mua bán giao ngay còn +_3%. Chính sự điều chỉnh này đã kéo tỷ giá thị trường chính thức gần hơn với thị trường tự do làm giảm các giao dịch ngoài luồng, giải tỏa bớt các yếu tố kỳ vọng , giảm bớt tình trạng đô la hoá trong nền kinh tế, đưa tỷ giá USD/VND bám sát động thái của tỷ giá chung trên thế giới.  Nhìn chung thực trạng điều hành chính sách tỷ giá năm 2009 khá ổn định, đảm bảo sự ổn định củ thị trường ngoại hối, tuy nhiên vẫn còn một số bất cập nhất định:  Điều chỉnh tỷ giá cũng làm xói mòn niềm tin vào chính sách vì trước đó NHNN tuyên bố rằng không nhất thiết phải phá giá đồng tiền,trong khi thực chất tỷ giá USD/VND tăng 9,08% so với cùng kỳ năm 2008.  Sự bất nhất trong điều chỉnh chính sách, sự thiếu minh bạch thông tin tạo ra kỳ vọng méo mó, tạo cơ hội cho đầu cơ nắm giữ ngoại tệ làm cho tình hình thêm căng thẳng.  Bên cạnh, vẫn thiếu những công cụ phòng ngừa rủi ro dẫn đến quản lý thị trường ngoại hối có những hạn chế nhất định trong việc chuyển đổ tiền tệ.  Hạ giá đồng nội tệ cũng làm chi phí vốn của các doanh nghiệp vay vốn tăng cao, về tổng thể nợ nước ngoài cũng sẽ bị ảnh hưởng.  Năm 2010: Tỷ giá giảm nhẹ nguyên nhân do nguồn cung ngoai tệ USD, các vốn đầu tư nước ngoài tăng do đầu tư vào thị trường chứng khoán, kiều hối và nguồn thu từ khách quốc tế đến Việt Nam gia tăng trở lại, kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng dương. NHNN đã có 2 đợt điều chỉnh tỷ giá, USD đã tăng 5,46% so với VND trong khi ngưỡng an toàn là 6%(là mức chênh lệch lãi suất USD và VND), biên độ tỷ giá là +-3%, tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ 17.941VND/USD lên 18.932 VND/USD. Điều chỉnh tỷ giá lần này mang lại một số kết quả như sau:  Tác động của điều chỉnh tỷ giá làm sự gia tăng lạm phát được giảm thiểu.  Thu hẹp chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do, giúp cải thiện dự trữ ngoại hối của Việt Nam  Gíup các DN hạch toán kinh doanh, tránh phải hợp lý hoá các khoản mua USD trên thị trường tự do cao hơn giá chính thức.  Ngoài ra cũng giúp các ngân hàng cải thiện nguồn vốn ngoại tê, hạn chế xu hướng chênh lệch cao giữa mức tăng huy động và cho vay tín dụng bằng ngoại tệ và từ đó cải thiện tính thanh khoản ngoại tệ khi mà lãi suất huy động USD của các ngân hàng đua nhau tăng nhẹ.  Tuy nhiên , điều chỉnh tỷ giá lần này cũng đem lại những thách thức mới khi các khoản nợ USD hiện nay đã đến hạn, áp lực nảy sinh và rủi ro không chỉ đối với các doanh nghiệp không có nguồn thu ngoại tệ mà còn gây trở ngại đối với cả mục tiêu ổn định vĩ mô của chính phủ. Tóm lại: Tỷ giá liên ngân hàng và quy định về biên độ giao động hiện nay theo lý thuyết là một công cụ để ngân hàng nhà nước kiểm soát tỷ giá mua vào bán ra của các ngân hàng. Nhưng trên thực tế thì không phải điều này luôn luôn chính xác. Sự tác động của thị trường, tình hình thế giới, tâm lý của người mua bán ngoại tệ đã gây ra nhiều rủi ro, phần nào tác động đến doanh nghiệp và các ngân hàng thương mại. 2.2. Thực trạng các rủi ro tỷ giá hối đoái thường gặp: 2.2.1 Rủi ro về tình hình thị trường xuất nhập khẩu: Một nền kinh tế khi xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ sẽ thu được ngoại tệ. Để tiếp tục công việc kinh doanh, các nhà xuất khẩu phải bán ngoại tệ lấy nội tệ, mua hàng hoá dịch vụ trong nước xuất khẩu ra nước ngoài. Trên thị trường cung ngoại tệ sẽ tăng, làm tỷ giá hối đoái giảm. Ngược lại, khi nhập khẩu hàng hoá dịch vụ, các nhà nhập khẩu cần ngoại tệ để thanh toán cho đối tác và đi mua ngoại tệ trên thị trường. Hành động này làm cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng. Tác động của hai hiện tượng trên là ngược chiều trong việc hình thành tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái cuối cùng sẽ tăng hay giảm phụ thuộc vào mức độ tác động mạnh yếu của các nhân tố, đó chính là cán cân thương mại. Nếu một nước có thặng dư thương mại, cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, tỷ giá hối đoái sẽ giảm, đồng nội tệ lên giá. Khi thâm hụt thương mại, tỷ giá hối đoái sẽ tăng, đồng nội tệ giảm giá. Việt Nam là nước " tới que tăm cũng phải nhập ", Năm 2009, cán cân tổng thể thâm hụt tới 8,8 tỷ USD. Năm 2010, có cải thiện nhưng vẫn thâm hụt hơn 4 tỷ USD. Mức nhập siêu của Việt Nam trong hai tháng đầu năm nay lên đến 1 tỉ 830 triệu đôla. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ước tính kim ngạch nhập khẩu trong cả nước từ đầu năm đến nay là trên 14 tỉ đôla, tăng hơn 28% so với cùng thời gian này năm ngoái.Các ngân hàng đang chờ các doanh nghiệp xuất khẩu thu được ngoại tệ sẽ bán lại cho ngân hàng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp lại không bán. Hiện nay nguồn ngoại tệ ngân hàng có thể đáp ứng cho doanh nghiệp và các nhu cầu chính đáng khác về ngoại tệ là không đủ. Năm 2010, chúng ta còn 16 tỷ USD dự trữ ngoại tệ, tính đến thời điểm hiện nay, chỉ còn khoảng 10 tỷ USD. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), ngưỡng an toàn nhất là có đủ khả năng nhập khẩu khoảng 4 tuần, tuy nhiên, dự trữ của chúng ta chỉ có thể đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu trong 2 tuần. Nhập siêu lớn, bội chi ngân sách lớn, lạm phát còn tiếp diễn… chắc chắn tình hình tỷ giá sẽ tiếp tục diễn biến như hiện nay. Ngày 1/1/1994, Trung Quốc tuyên bố phá giá đồng Nhân dân tệ tới 50%. Thế giới xáo động nhưng Trung Quốc đứng vững. Những năm sau đó, cán cân thương mại của nước này cải thiện và xuất siêu. Trung Quốc làm được điều đó vì họ có sự chuẩn bị chu đáo cả một quá trình trước đó. Còn Việt Nam, hiện nay cần phải xây dựng một chiến lược từ gốc. 2.2.2 Nhu cầu đầu tư ra nước ngoài: cư dân trong nước dùng tiền mua tài sản ở nước ngoài, có thể là đầu tư trực tiếp (xây dựng nhà máy, thành lập các doang nghiệp...) hay đầu tư gián tiếp (mua cổ phiếu, trái phiếu...). Những nhà đầu tư này muốn thực hiện hoạt động kinh doanh trên cần phải có ngoại tệ. Họ mua ngoại tệ trên thị trường, luồng vốn ngoại tệ chảy ra nước ngoài, tỷ
- Xem thêm -