Bài tập lớn Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013

  • Số trang: 32 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 164 |
  • Lượt tải: 0
thuvientrithuc1102

Đã đăng 15337 tài liệu

Mô tả:

Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 MỤC LỤC Trang LỜI MỞ ĐẦU............................................................................................. 2 Chương 1: Giới thiệu chung...................................................................... 3 1.1. Giới thiệu về môn học............................................................................ 3 1.2. Tăng trưởng kinh tế.............................................................................. 3 1.2.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế............................................................ 4 1.2.2. Tại sao phải tăng trưởng kinh tế......................................................... 5 1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế................................. 6 1.3. Kế hoạch tăng trưởng kinh tế................................................................ 9 1.3.1. Khái niệm kế hoạch tăng trưởng kinh tế ............................................ 9 1.3.2. Ảnh hưởng của kế hoạch tăng trưởng kinh tế đến phát triển kinh tế - xã hội................................................................................................................. 9 Chương 2: Tình hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2013...................................................................................................... 11 2.1. Tình hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam qua các năm....................... 11 2.2. Nguyên nhân và các biện pháp tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam........... 24 2.2.1. Nguyên nhân của tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam............................. 24 2.2.2. Biện pháp đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế Việt Nam........................... 25 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..................................................................... 31 TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 32 LỜI MỞ ĐẦU Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 1 Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 Thành tựu kinh tế của mỗi quốc gia thường được đánh giá theo những dấu hiệu chủ yếu như: ổn định, tăng trưởng, công bằng xã hội. Trong đó tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện hàng loạt vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội.Tăng trưởng kinh tế là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi quốc gia trên con đường vượt khó để thoát khỏi cảnh đói nghèo, lac hậu. Tăng trưởng kinh tế góp phần làm cho mức thu nhập của dân cư tăng, phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của cộng đồng được cải thiện như: Kéo dài tuổi thọ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em, giúp cho giáo dục, y tế, văn hóa…phát triển Tuy nhiên hiện nay xét trên nhiều phương diện và các chỉ tiêu đánh giá. Việt Nam được nhận định là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng chất lượng không cao.Vì vậy chúng ta phải đi nghiên cứu chi tiết về tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2013, từ đó đưa ra các giải pháp để phát huy tối đa nguồn lực và thuận lợi trong, ngoài nước. Đồng thời có biện pháp khắc phục các yếu kém còn tồn đọng trong nền kinh tế nhằm đưa kinh tế nước ta phát triển lên một tầm cao mới Vì điều kiện thời gian cũng như mức độ hiểu biến của em còn hạn chế, bài tập lớn của em khó tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ cô để bài của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Chương 1: Giới thiệu chung Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 2 Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 1.1. Giới thiệu về môn học Kinh tế học là môn học nghiên cứu những lựa chọn của cá nhân và xã hội về cách thức sử dụng những tài nguyên có giới hạn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Kinh tế học có hai bộ phận là kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô. Cả hai bộ phận này đều nghiên cứu các hiện tượng kinh tế, tìm hiểu các nội dung kinh tế và đưa ra những giải pháp hợp lý ở cả hai cấp độ. Kinh tế học vi mô nghiên cứu các vấn đề kinh tế ở cấp độ đơn vị sản xuất hay người tiêu dùng. Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu những vấn đề của toàn thể nền kinh tế như: tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), chỉ số giá tiêu dùng (CPI), tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát. Trong kinh tế học vĩ mô chúng ta tìm cách giải quyết hai vấn đề là: nghiên cứu về tổng thể hoạt động của nền kinh tế và chính phủ sẽ tham gia cải thiện thành tựu chung của nền kinh tế như thế nào. Môn kinh tế học vĩ mô còn nghiên cứu hành vi của một nền kinh tế dưới bốn phạm vi cơ bản đó là: Sản lượng và tăng trưởng kinh tế; việc làm và thất nghiệp; sự biến động của mặt bằng giá cả; thu nhập ròng thông qua quan hệ với thế gới bên ngoài.Trong bốn phạm vi vừa nói ở trên thì phạm vi về sản lượng và tăng trưởng kinh tế cũng chính là mục tiêu quan trọng số một của kinh tế vĩ mô. 1. 2. Tăng trưởng kinh tế Mục tiêu của tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu số một trong chính sách vĩ mô của mỗi quốc gia. Tăng trưởng cao, tăng năng suất lao động, nâng cao mức sống, khả năng phát triển ở nước ngoài, sự ổn định chi phí và giá cả là các mục tiêu kinh tế của các chính phủ các nước. Sự tăng trưởng tạo điều kiện để nâng cao mức sống và đảm bảo an ninh quốc gia. Nó kích thích các doanh nghiệp táo bạo trong việc đầu tư, kích thích sự đổi mới về mặt kỹ thuật và quản lý. Hơn nữa một nền kinh tế đang tăng trưởng tạo thuận lợi cho tính năng động về mặt kinh tế, xã hội. 1.2.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 3 Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng. Đó là sự gia tăng quy mô sản lượng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc. Quy mô và tốc độ tăng trưởng là hai thuật ngữ luôn đi kèm với nhau trong nội dung khái niệm tăng trưởng kinh tế. Hiện nay, trên thế giới người ta thường tính mức gia tăng về tổng sản phẩm quốc dân hoặc tổng sản phẩm quốc nội: Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là tổng giá trị bằằng tềằn của các hàng hóa dịch v ụ cuốối cùng mà một quốốc gia sản xuấốt ra trong một th ời kỳ nhấốt đ ịnh bằằng các yềốu tốố s ản xuấốt c ủa mình ( nhấốn mạnh tnh sở hữu) GNP = GDP + Thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài Trong đó: + GDP là tổng giá trị hàng hóa dịch vụ cuối cùng sản xuất trong nước + Thu nhập ròng từ tài sản nước ngoài là thu nhập chuyển về nước của công dân nước đó làm việc ở nước ngoài trừ đi thu nhập chuyển ra khỏi nước của người nước ngoài làm việc tại nước đó Tổng sản phẩm quốc nội ( GDP) là tổng giá trị bằng tiền của hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà một quốc gia sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định trong phạm vi lãnh thổ quốc gia ( Nhấn mạnh vị trí địa lý) GDP = GNP - Thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài Trong đó: + GNP là tổng giá trị hàng hóa dịch vụ cuối cùng sản xuất bằng yếu tố sản xuất của một quốc gia. + Thu nhập ròng từ tài sản nước ngoài là thu nhập chuyển về nước của công dân nước đó làm việc ở nước ngoài trừ đi thu nhập chuyển ra khỏi nước của người nước ngoài làm việc tại nước đó 1.2.2. Tại sao phải tăng trưởng kinh tế Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 4 Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 Thành tựu kinh tế vĩ mô của một quốc gia thường được đánh giá theo những dấu hiệu chủ yếu như: ổn định, tăng trưởng, công bằng xã hội. Trong đó tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện hàng loạt vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội. - Trước hết tăng trưởng kinh tế thể hiện bằng sự tăng lên về số lượng hàng hóa dịch vụ và các yếu tố sản xuất ra nó, do đó tăng trưởng kinh tế là tiền đề vật chất để giảm bớt tình trạng đói nghèo. Tăng trưởng kinh tế là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi quốc gia trên con đường vượt lên khắc phục sự lạc hậu, hướng tới giàu có, thịnh vượng. - Tăng trưởng kinh tế làm cho mức thu nhập của dân cư tăng, phúc lợi xã hội và cuộc sống của cộng đồng được cải thiện như: kéo dài tuổi thọ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em, giúp cho giáo dục, y tế, văn hóa…phát triển. - Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, giảm thất nghiệp. Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên nhân quan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động. Vì vậy tăng trưởng kinh tế nhanh thì thất nghiệp có xu hướng giảm. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế thực tế và tỷ lệ thất nghiệp ở nước phát triển đã được lượng hóa dưới tên gọi quy luật Okum (hay quy luật 2,5% -1). Quy luật này xác đinh, nếu GNP thực tế tăng 2,5% trong vòng một năm so với GNP tiềm năng của năm đó thì tỷ lệ thất nghiệp giảm đi 1%. - Tăng trưởng kinh tế tạo tiền đề để củng cố an ninh quốc phòng, củng cố chế độ chính trị, tăng uy tín và vai trò quản lý của nhà nước đối với xã hội. - Đối với các nước chậm phát triển như nước ta, tăng trưởng kinh tế còn là điều kiện tiên quyết để khắc phục sự tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước đang phát triển. Như vậy tăng trưởng kinh tế nhanh là mục tiêu thường xuyên của các quốc gia, nhưng sẽ là không đúng nếu theo đuổi tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá. Thực tế cho thấy không phải tăng trưởng nào cũng mang hiệu quả kinh tế Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 5 Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 xã hội như mong muốn, đôi khi quá trình tăng trưởng kinh tế mang tính hai mặt. Chẳng hạn tăng trưởng kinh tế quá mức có thể dẫn tình trạng nền kinh tế “quá nóng”, gây ra lạm phát hoặc tăng trưởng kinh tế cao làm cho dân cư giàu lên nhưng đồng thời cũng có thể làm cho sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội tăng lên. Vì vậy đòi hỏi mỗi quốc gia trong từng thời kỳ phải tìm ra những biện pháp tích cực để đạt được sự tăng trưởng hợp lý, bền vững. Tăng trưởng kinh tế bền vững là tăng trưởng kinh tế đạt mức tương đối cao, ổn định trong thời gian tương đối dài (ít nhất từ 20-30 năm) và giải quyết tốt vấn đề tiến bộ xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái. 1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Việc xác định yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế có nhiều quan điểm và cách phân loại khác nhau. Các nhà kinh tế cổ điển cho rằng, các yêu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động, tư bản và cách thức kết hợp các yếu tố với nhau. Theo quan điểm hiện đại, muốn có tăng trưởng kinh tế cao phải sử dụng có hiệu quả các yếu tố cơ bản sau: - Vốn: hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ của cải vật chất do con người tạo ra, tích lũy lại những yếu tố tự nhiên… được sử dụng vào quá trình sản xuất. Nói một cách khái quát, vốn là toàn bộ tài sản được sử dụng để sản xuất, kinh doanh. Vốn tồn tại dưới hai hình thức: Vốn tài chính và vốn hiện vật. Vốn tài chính là vốn tồn tại dưới hình thức tiền tệ hay các loại chứng khoán, còn vốn hin vật tồn tại dưới hình thức vật chất của quá trình sản xuất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu… Các nhà kinh tế học đã mở ra mối liên hệ giữa tăng GDP với tăng vốn đầu tư, Harod Doma đã nêu công thức tính hiệu xuất sử dụng vốn sản phẩm gia tăng viết tắt là ICOR. Đó là tỷ lệ tăng đầu tư chia tỷ lệ tăng của GDP. Những nền kinh tế với các chỉ số ICOR, thường không quá 3%, có nghĩa là phải đầu tư 3% để tăng 1% GDP. Một nền kinh tế tăng trưởng cao không chỉ dừng lại ở việc tăng khối lượng vốn đầu tư, mà còn phải đặc biệt chú ý đến hiệu quả sử dụng vốn, quản lý vốn chặt chẽ, đầu tư vốn hợp lý vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 6 Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 - Con người: trong các yếu tố hợp thành quá trình lao động sản xuất, sức lao động là yếu tố quyết định, mang tính sáng tạo, là nguồn lực không cạn kiệt. Có thể nói: “nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực” là “tài nguyên của mọi tài nguyên”. Vì vậy con người có sức khỏe, trí tuệ, tay nghề cao, có động lực và nhiệt tình, được tổ chức chặt chẽ là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền vững. Để phát huy nhân tố con người, cần phải xác định: đầu tư cho con người thực chất là đầu tư cho sự phát triển. Nhà nước cần phải có chiến lược phát triển con người, mà trước hết phải nâng cao về số lượng và chất lượng hệ thống giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội, bồi dưỡng nhân tài … cùng với việc quản lý và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực. Nhân tố con người là sự biểu hiện và khẳng định vai trò của con người trên cả hai phương tiện: tính cá thể và tính xã hội (cộng đồng). Vì vậy nhà nước cần phải có cơ chế, chính sách thích hợp nhằm kết hợp sự nỗ lực của mỗi người với sự hỗ trợ của công đồng xã hội để tạo ra động lực, lợi thế cho sự tăng trưởng kinh tế. - Khoa học và công nghệ: khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng để tăng trưởng và phát triển kinh tế. Khoa học và công nghệ được coi là “chiếc đũa thần nhiệm màu” để tăng năng suất lao động, phát triển lực lượng sản xuất. Nhờ ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ đã làm cho chi phí về lao động, vốn, tài nguyên trên một đơn vị sản phẩm giảm xuống, hay nói cách khác hiệu quả sử dụng các yếu tố này tăng lên. Sự phát triển của khoa học công nghệ cho phép tăng trưởng và tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu, làm xuất hiện những ngành kinh tế có hàm lượng khoa học cao như: Công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học…đang là cơ hội và thách thức đối với các quốc gia hướng tới nền kinh tế tri thức. Như vậy khoa học và công nghệ cũng là một trong những yếu tố đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tăng trưởng nhanh và bền vững. Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 7 Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 - Cơ cấu kinh tế: mọi nền kinh tế đều tồn tại và vận động trong một cơ cấu nhất định. Cơ cấu kinh tế là mối quan hệ hữu cơ, phụ thuộc và quy định lẫn nhau về quy mô và trình độ giữa các ngành, các thành phần, các vùng, các lĩnh vực của nền kinh tế. Cũng giống như một cơ thể sống, nền kinh tế chỉ có thể tăng trưởng và phát triển khi giữa các mặt, các bộ phận, các yếu tố cấu thành nó có sự phù hợp với nhau cả về số lượng và chất lượng, cũng có nghĩa là phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại và phát huy mọi tiềm năng, nội lực, lợi thế so sánh của toàn bộ nền kinh tế. Cũng giống như một cơ thể sống, nền kinh tế chỉ có thể tăng trưởng và phát triển khi giữa các mặt các bộ phận, các yếu tố cấu thành nó có sự phù hợp với nhau cả về số lượng và chất lượng, cũng có nghĩa là phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại để phát huy mọi tiềm năng, nội lực, lợi thế so sánh của toàn bộ nền kinh tế, phù hợp với sự phát triển của khoa học và công nghệ tiên tiến, gắn với phân công lao động và hợp tác quốc tế là yếu tố tạo tiền đề, cơ sở cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. - Thể chế chính trị và vai trò của nhà nước: ổn định về chính trị xã hội là điều kiện cho sự tăng trưởng, phát triển nhanh và bền vững. Thể chế chính trị tiến bộ có khả năng định hướng sự tăng trưởng kinh tế vào những mục tiêu mong muốn, khắc phục được những nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu nghèo sâu sắc…, Bởi vì, trên thực tế đã từng có sự tăng trưởng kinh tế không phát triển cùng chiều với tiến bộ xã hội. Chẳng hạn, quá trình tăng trưởng kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã làm xuất hiện những vấn đề xã hội mà bản thân nền kinh tế dù có tiếp tục tăng trưởng hơn nữa cũng không thể giải quyết những vấn đề xã hội cơ bản. Hệ thống chính trị mà đại diện là nhà nước có vai trò hoạch định đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cùng hệ thống chính sách đúng đắn sẽ hạn chế tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, khuyến khích tích lũy, tiết kiệm, kích cầu…làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh đúng hướng. Như đã nói ở trên tăng trưởng kinh tế là một trong những yếu tố cần thiết và quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội.Vì vậy đây là mục tiêu mà Đảng và Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 8 Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 nhà nước ta đang rất quan tâm. Vậy để tăng trưởng kinh tế một cách hiệu quả và đúng đắn Đảng và Nhà nước ta phải lập kế hoạch cho việc tăng trưởng kinh tế. 1.3. Kế hoạch tăng trưởng kinh tế 1.3.1. Khái niệm kế hoạch tăng trưởng kinh tế Kế hoạch tăng trưởng kinh tế là một bộ phận của hệ thống kế hoạch hóa phát triển, nó xác định các mục tiêu gia tăng về quy mô sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế trong kỳ kế hoạch và các chính sách cần thiết để đảm bảo tăng trưởng trong mối quan hệ trực tiếp với các yếu tố nguồn lực và các chỉ tiêu việc làm, ổn định giá cả. Kế hoạch tăng trưởng phù hợp là kế hoạch tăng trưởng mà các chỉ tiêu lập ra dựa trên các giới hạn tối đa về khả năng nguồn lực. Kế hoạch tăng trưởng tối ưu là kế hoạch tăng trưởng trong đó các chỉ tiêu, mục tiêu tăng trưởng đã được thỏa mãn đồng thời hai điều kiện là đảm bảo mức cao nhất nhu cầu xã hội trong khuôn khổ sử dụng tối đa các giới hạn về nguồn lực. 1.3.2. Ảnh hưởng kế hoạch tăng trưởng kinh tế đến phát triển kinh tế - xã hội Trong hệ thống kế hoạch phát triển kinh tế, kế hoạch tăng trưởng là bộ phận kế hoạch quan trọng nhất. Nó xác định các mục tiêu có liên quan quyết định sự phát triển đất nước. Các chỉ tiêu kế hoạch về mức và tốc độ tăng trưởng GDP, GNP là các con số phản ánh điều kiện vật chất, kinh tế cần thiết cho sự phát triển. Chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người là dấu hiệu đánh giá về trình độ phát triển của đất nước. Các chỉ tiêu của kế hoạch tăng trưởng là cơ sở để xác định các kế hoạch mục tiêu khác như mục tiêu cải thiện đời sống, tăng thu nhập dân cư trong kế hoạch các ngành kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu ngành, vùng kinh tế trong kế hoạch cơ cấu ngành. Các chỉ tiêu của kế hoạch tăng trưởng còn được sử dụng là cơ sở cho việc xây dựng các kế hoạch biện pháp cũng như xây dựng các cân đối chủ yếu cho phát triển kinh tế của thời kỳ kế hoạch. Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 9 Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 Kế hoạch tăng trưởng kinh tế nằm trong mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với chương trình giải quyết việc làm và mục tiêu chống lạm phát. Về mặt lý luận nếu nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh thì sẽ giải quyết tốt việc làm cho người lao động, nhưng xu thế gia tăng lạm phát sẽ xảy ra và trên thực tế nếu nền kinh tế tăng trưởng quá nhanh thì sẽ tạo nên một sự không bình thường trong các mắt xích khác của nền kinh tế, nhất là vấn đề lạm phát gia tăng. Vì vậy thông thường việc đặt kế hoạch mục tiêu tăng trưởng kinh tế đất nước thường phải gắn liền với thực trạng của nền kinh tế. Trên cơ sở đặt mục tiêu tăng trưởng, phải xác định các mục tiêu về việc làm và lạm phát, tìm ra các giải pháp, chính sách khống chế. Kế hoạch tăng trưởng kinh tế có liên quan trực tiếp tới chương trình xóa đói giảm nghèo và công bằng xã hội. Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, vấn đề tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội gần như là hai đại lượng mang tính đánh đổi. Để giải quyết bài toán xóa đói giảm nghèo, phải đặt mục tiêu tăng trưởng nhanh, nhưng điều đó có thể làm cho sự phân hóa xã hội trở nên gay gắt hơn. Vấn đề là trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, đặt mục tiêu nào lên trước: Hiệu quả hay công bằng xã hội. Khi lập kế hoạch tăng trưởng kinh tế, điều cơ bản phải căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội để xây dựng chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo đảm sự dung hòa giữa hai đại lượng công bằng và tăng trưởng nhanh. Mặt khác, đi đôi với kế hoạch mục tiêu tăng trưởng kinh tế phải có các kế hoạch khác đi kèm như kế hoạch phát triển xã hội,phân phối thu nhập nhằm giải quyết các hậu quả xã hội đặt ra trong kế hoạch tăng trưởng. Chương 2: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2013 Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 10 Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 2.1. Tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam qua các năm từ 2005-2013 Tình hình tăng trưởng kinh tế năm 2005 Tổng sản phẩm trong nước năm 2005 tăng 8,4% so với năm 2004, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,6% và khu vực dịch vụ tăng 8,5%. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm nay đạt mức tăng thấp hơn so với con số ước tính từ tháng 9, chủ yếu do sản lượng lúa mùa ở các tỉnh miền Bắc giảm (ảnh hưởng trực tiếp của bão số 7, bão số 8) và thiệt hại do dịch cúm gia cầm. Thuỷ sản tăng mạnh, do cầu trong nước tăng (bù vào thịt gia cầm và sản phẩm chế biến từ gia cầm) và xuất khẩu tăng so với năm trước. Lâm nghiệp tăng nhẹ, chủ yếu do tăng sản lượng gỗ khai thác. Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng trưởng 10,6%, trong đó giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp chế biến tăng 13,1% (9 tháng tăng 12,5%, cao hơn mức tăng 11% đã ước tính vào cuối tháng 9 và công nghiệp chế biến quí IV tăng 14,7%); giá trị tăng thêm của công nghiệp khai thác năm nay chỉ tăng 0,9%, chủ yếu do dầu thô khai thác trong suốt cả 4 quí đều thấp hơn sản lượng cùng quí tương ứng của năm 2004 và sản lượng dầu thô khai thác cả năm cũng chỉ đạt mức 92,3% sản lượng năm 2004. Công nghiệp điện, ga, nước tăng 12,2%; xây dựng tăng 10,8%. Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng 8,5%, cao hơn hẳn mức tăng trưởng 7,3% của năm 2004. Trong khu vực này, các ngành có tỷ trọng lớn và thuộc lĩnh vực dịch vụ kinh doanh như thương nghiệp; khách sạn, nhà hàng; vận tải, bưu điện, du lịch; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm đều có mức tăng cao hơn so với mức tăng của từng ngành trong năm trước: Thương nghiệp năm nay tăng 8,3% (năm 2004 tăng 7,8%); Khách sạn nhà hàng tăng 17% (2004 tăng 8,1%); Vận tải, bưu điện, du lịch tăng 9,6% (2004 tăng 8,1%)... Tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2005 ước tính tăng 16,6% so với năm 2004 và đạt 115% dự toán cả năm. Trong tổng số, các khoản thu nội địa đạt 109,2% dự toán; thu từ dầu thô đạt 146,1% (chủ yếu do giá dầu tăng cao so với Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 11 Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 khi lập dự toán); thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu bằng dự toán năm. Các khoản thu chủ yếu trong thu nội địa nhìn chung vượt dự toán cả năm. Tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2005 ước tính đạt 112,5% dự toán cả năm và tăng 19,5% so với năm 2004, đã đảm bảo nhu cầu chi từ ngân sách Nhà nước. Trong tổng số, chi cho đầu tư phát triển đạt 106,1% dự toán (chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 105,5%); chi thường xuyên đạt 107,8%; chi trả nợ và viện trợ đạt mức dự toán năm. Bội chi ngân sáchbằng mức dự toán cả năm và bằng 4,9% GDP. Tình hình tăng trưởng kinh tế năm 2006 Tổng sản phẩm trong nước năm 2006 theo giá so sánh ước tính tăng 8,17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,37%; khu vực dịch vụ tăng 8,29%. Trong 8,17% tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,67 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 4,16 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ đóng góp 3,34 điểm phần trăm. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,4%, thấp hơn mức tăng 4% của năm 2005, chủ yếu do tốc độ tăng của ngành nông nghiệp và thuỷ sản chậm lại vì ảnh hưởng của thời tiết bất thường và dịch bệnh. Khu vực công nghiệp, xây dựng tăng trưởng thấp hơn mức tăng của năm ngoái do sản xuất công nghiệp giảm (dầu thô khai thác đạt 17 triệu tấn, thấp hơn mức 18,5 triệu tấn của năm 2005; công nghiệp chế biến và điện, nước, ga cũng giảm so với mức tăng trưởng năm trước. Khu vực dịch vụ tăng cao hơn mức tăng trưởng chung của nền kinh tế, trong đó một số ngành có tỷ trọng lớn duy trì được mức độ tăng cao như thương nghiệp; vận tải, bưu chính viễn thông, du lịch; khách sạn, nhà hàng; tài chính ngân hàng, bảo hiểm. Tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2006 ước tính bằng 110,2% dự toán cả năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 103%; thu từ dầu thô bằng 126%; thu Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 12 Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 106,3%; thu viện trợ bằng 148%. Chi ngân sách Nhà nước năm 2006 bằng 108,4% dự toán cả năm, bảo đảm được các kế hoạch chi cho đầu tư phát triển và chi thường xuyên. Bội chi ngân sách Nhà nước cả năm bằng mức dự toán cả năm, trong đó 74,2% được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và 25,8% từ nguồn vay nước ngoài. Tình hình tăng trưởng kinh tế năm 2007 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2007 đạt 8,48%, gồm có khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,41% (kế hoạch 3,5-3,8%); khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,6% đạt kế hoạch đề ra (10,5-10,7%); khu vực dịch vụ tăng 8,68% vượt kế hoạch đề ra (8,0-8,5%). Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2007 theo giá so sánh 1994 ước tính đạt gần 200 nghìn tỷ đồng, tăng 4,6% so với năm 2006, trong đó nông nghiệp tăng 2,9%; lâm nghiệp tăng 1% và thuỷ sản tăng 11%. Do ảnh hưởng của mưa bão, lũ ở nhiều địa phương và dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi; chi phí đầu vào tăng, nhất là chi phí cho chăn nuôi nên giá trị tăng thêm của khu vực này chỉ tăng 3,41% so với năm trước, gồm có nông nghiệp tăng 2,34%; lâm nghiệp tăng 1,1% và thủy sản tăng 10,38%. Mức tăng của giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản và mức tăng giá trị sản xuất công nghiệp đều đạt chỉ tiêu Quốc hội đề ra; kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tăng 21,5% cao hơn mức Quốc hội đề ra; nguồn vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp tăng nhanh; tỷ lệ hộ nghèo của cả nước giảm từ 15,47% năm 2006 xuống còn 14,75% năm 2007. Các lĩnh vực xã hội khác như giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá thông tin, thể dục thể thao cũng có những tiến bộ lớn, quan trọng. Khu vực công nghiệp năm 2007 tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, nhất là khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 17,1% so với năm 2006, bao gồm khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 10,3% (Trung ương quản lý tăng 13,3%, địa phương quản lý tăng 3%); khu vực ngoài Nhà Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 13 Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 nước, tăng 20,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,2%. Nguyên nhân khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng thấp là do chúng ta đang tiếp tục thực hiện chủ trương sắp xếp và cổ phần hoá nên số doanh nghiệp khu vực này giảm. Khu vực ngoài Nhà nước vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong ba khu vực, chủ yếu do Luật doanh nghiệp mới đã tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển Khu vực dịch vụ năm 2007 đạt 726,1 nghìn tỷ đồng, tăng 23,3% so với năm 2006, trong đó kinh tế cá thể chiếm 56,2% và tăng 25,9%; kinh tế tư nhân chiếm 28,8% và tăng 30,3%; riêng khu vực kinh tế nhà nước chiếm 10,9%, giảm 1,3%. Trong các ngành kinh doanh, thương nghiệp chiếm 80,7% và tăng 22,6% so với năm trước; khách sạn, nhà hàng chiếm 11,9% và tăng 23,5%; dịch vụ chiếm 6,3% và tăng 30,5% và du lịch lữ hành chiếm 1,1% và tăng 34,5%. Tổng thu ngân sách Nhà nước năm nay ước tính tăng 16,4% so với năm 2006 và bằng 106,5% dự toán cả năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 107%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 108,1%; thu viện trợ bằng 156,7%. Riêng thu từ dầu thô ước tính chỉ bằng 102,1% so với dự toán năm và thấp hơn năm trước, do sản lượng khai thác dầu thô giảm. Tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2007 ước tính tăng 17,9% so với năm trước và bằng 106,5% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 19,2% và bằng 103,2; chi thường xuyên tăng 15,1% và bằng 107,2%; chi trả nợ và viện trợ tăng 20,5% và đạt kế hoạch năm. Bội chi ngân sách Nhà nước năm 2007 ước tính bằng 14,8% tổng số chi và bằng mức bội chi dự toán năm đã được Quốc hội thông qua đầu năm, trong đó 76,1% được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và 23,9% từ nguồn vay nước ngoài. Tình hình tăng trưởng kinh tế năm 2008 Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 6,23% so với năm 2007, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,79%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,33%; khu vực dịch vụ tăng 7,2%. Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 14 Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 212,0 nghìn tỷ đồng, tăng 5,6% so với năm 2007, bao gồm giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 155,2 nghìn tỷ đồng, tăng 5,4%; giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 6,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,2% ; giá trị sản xuất thuỷ sản đạt 50,1 nghìn tỷ đồng, tăng 6,7%. Khu vực công nghiệp năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 14,6% so với năm 2007, bao gồm khu vực kinh tế Nhà nước tăng 4%; khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng 18,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,6%, trong đó dầu khí giảm 4,3%. Trong các ngành công nghiệp, giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến năm 2008 ước tính đạt 580,2 nghìn tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2007, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng giá trị sản xuất toàn ngành với 88,9%; ngành công nghiệp điện, ga và nước đạt 37 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4%, chiếm 5,7%; giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp khai thác đạt 35,6 nghìn tỷ đồng, giảm 3,5% do lượng dầu thô khai thác giảm, chiếm tỷ trọng 5,4%. Khu vực thương mại và dịch vụ năm 2008 kém sôi động so với năm 2007 do giá cả hàng hoá và dịch vụ tăng cao, dẫn đến sức mua trong dân giảm đáng kể, sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ chậm. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế năm 2008 ước tính đạt 968,1 nghìn tỷ đồng, tăng 31% so với năm 2007 (nếu loại trừ yếu tố tăng giá, mức tăng chỉ đạt 6,5%), trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 112,9 nghìn tỷ đồng, tăng 20,4%; kinh tế cá thể đạt 538,1 nghìn tỷ đồng, tăng 32,2%; kinh tế tư nhân đạt 284,5 nghìn tỷ đồng, tăng 34,3%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 22,7 nghìn tỷ đồng, tăng 20,9%. Tổng thu ngân sách nhà nước tăng 26,3% so với năm 2007 và bằng 123,8% dự toán năm, trong đó thu nội địa bằng 110,9%; thu từ dầu thô bằng 143,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 141,1%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 101,5%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 102,1%; thu Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 15 Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước bằng 105,9%; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao bằng 122,4%; thu phí xăng dầu bằng 99,3%; thu phí, lệ phí bằng 116,5%. Tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2008 ước tính tăng 22,3% so với năm 2007 và bằng 118,9% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 118,3% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản bằng 114,7%); chi sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể bằng 113,3%; chi trả nợ và viện trợ bằng 100%. Các khoản chi thường xuyên đều đạt hoặc vượt dự toán năm, trong đó chi sự nghiệp kinh tế bằng 145,3% dự toán năm; chi thể dục thể thao bằng 123%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội bằng 120,7%; chi giáo dục, đào tạo, dạy nghề bằng 104,6%; chi y tế bằng 104,1%... Bội chi ngân sách Nhà nước năm 2008 ước tính bằng 13,7% tổng số chi và bằng 97,5% mức bội chi dự toán năm đã được Quốc hội thông qua đầu năm, trong đó 77,3% được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và 22,7% được bù đắp từ nguồn vay nước ngoài. Tình hình tăng trưởng kinh tế năm 2009 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2009 đạt 5,32%. Trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,83%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,52%; khu vực dịch vụ tăng 6,63%. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm 2009 theo giá so sánh 1994 đạt 97,1 nghìn tỷ đồng, tăng 2,76% so với cùng kỳ năm trước; đến 6 tháng cuối năm đã đạt 122,8 nghìn tỷ đồng, tăng 3,16% so với 6 tháng cuối năm 2008. Do vậy, tính chung cả năm 2009 đạt 219,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3% so với năm 2008, bao gồm nông nghiệp đạt 160,1 nghìn tỷ đồng, tăng 2,2%; lâm nghiệp đạt 7 nghìn tỷ đồng, tăng 3,8%; thuỷ sản đạt 52,8 nghìn tỷ đồng, tăng 5,4%. Khu vực công nghiệp thoát khỏi tình trạng trì trệ những tháng đầu năm và cả năm đã tăng 7,6%. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục được mùa với sản lượng lúa cả năm đạt 38,9 triệu tấn, tăng 165,7 nghìn tấn so với năm 2008. Cân đối kinh tế Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 16 Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 vĩ mô tiếp tục ổn định. Mặc dù nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài giảm 70%, nhưng đầu tư trong nước đã được khơi thông nên tính chung vốn đầu tư phát triển cả năm đạt 704,2 nghìn tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm 2008. Thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/12/2009 ước tính đạt xấp xỉ dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 102,5%; thu từ dầu thô bằng 86,7%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu bằng 101,6%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 106,2%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 88,8%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước bằng 95,6%; thuế thu nhập cá nhân bằng 87%; thu phí xăng dầu đạt 157,5%; thu phí, lệ phí bằng 90,8%. Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/12/2009 ước tính đạt 96,2% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 95,2% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 93,4%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể đạt 99,6%; chi trả nợ và viện trợ đạt 102,7%. Bội chi ngân sách Nhà nước năm 2009 ước tính bằng 7% GDP, thực hiện được mức bội chi Quốc hội đề ra, trong đó 81,2% mức bội chi được bù đắp bằng nguồn vay trong nước; 18,8% bù đắp bằng nguồn vay nước ngoài. Tình hình tăng trưởng kinh tế năm 2010 Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 ước tính tăng 6,78% so với năm 2009, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,78%, đóng góp 0,47 điểm phần trăm; công nghiệp, xây dựng tăng 7,7%, đóng góp 3,20 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ tăng 7,52%, đóng góp 3,11 điểm phần trăm Khu vực nông, lâm, thủy sản năm 2010 tuy gặp một số khó khăn do hạn hán, sâu bệnh và mưa lũ xảy ra tại một số địa phương nhưng nhờ công tác chỉ đạo phòng, chống khắc phục kịp thời, hiệu quả và khu vực bị ảnh hưởng lũ không phải vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp và thủy sản nên kết quả vẫn đạt mức khá. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2010 theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 232,7 nghìn tỷ đồng, tăng 4,7% so với năm 2009, bao Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 17 Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 gồm nông nghiệp đạt 168,4 nghìn tỷ đồng, tăng 4,2%; lâm nghiệp đạt 7,4 nghìn tỷ đồng, tăng 4,6%; thuỷ sản đạt 56,9 nghìn tỷ đồng, tăng 6,1%. Khu vực sản xuất công nghiệp tháng Mười Hai theo giá so sánh 1994 tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng cao nhất so với mức tăng các tháng trong năm. Tính chung cả năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 794,2 nghìn tỷ đồng, tăng 14% so với năm 2009, bao gồm khu vực kinh tế Nhà nước tăng 7,4% (Trung ương quản lý tăng 8,9%, địa phương quản lý tăng 1,2%); khu vực ngoài Nhà nước tăng 14,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,2% (dầu mỏ và khí đốt giảm 0,7%, các ngành khác tăng 19,5%). Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/12/2010 ước tính bằng 109,3% dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 107%; thu từ dầu thô bằng 99,7%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 123,1%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 103,1%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 100,6%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài nhà nước bằng 101%; thuế thu nhập cá nhân bằng 121,2%; thu phí xăng dầu bằng 101%; thu phí, lệ phí bằng 100,7%. Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/12/2010 ước tính bằng 98,4% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 98,4% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản bằng 97,9%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, Đảng, đoàn thể bằng 99,6%; chi trả nợ và viện trợ bằng 114,1%. Tình hình tăng trưởng kinh tế năm 2011 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2011 đạt 5,89%. Trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,53%, khu vực dịch vụ tăng 6,99%. Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 18 Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2011 là 4%, cao hơn nhiều mức 2,78% của năm 2010 và xấp xỉ mức tăng trưởng trước của thời kì trước khủng hoảng. Tốc độ tăng trưởng của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản được sự đóng góp của cả ba ngành, cụ thể là nông nghiệp tăng trưởng 3,7% (so với mức 2,4% năm 2010), lâm nghiệp tăng trưởng 5,0% (so với mức 3,9% năm 2010) và thủy sản tăng trưởng 5,5% (so với mức 4,4% năm 2010). Nguyên nhân là nông nghiệp gặp điều kiện thuận lợi về thời tiết và giá hàng hóa thế giới. Theo dự tính của IMF, giá hàng hóa thế giới không kể dầu năm 2011 tăng 11%. Khu vực sản xuất công nghiệp và xây dựng năm 2011 là 5,53%, thấp hơn mức 7,7% của năm 2010 và thấp hơn nhiều mức tăng trưởng trên 10% trung bình giai đoạn 200-2007. Như vậy, kể từ năm 2008, tốc độ tăng trưởng của khu vực công nghiệp và xây dựng luôn thấp hơn khu vực dịch vụ. Khi ngành công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng 7,43%, cao hơn mức 7,03% của năm 2010, sự giảm sút của công nghiệp và xây dựng trong năm 2011 hoàn toàn do giảm sút của ngành xây dựng khi ngành này chỉ đạt tốc độ tăng trưởng âm 0,97% (năm 2010 khu vực này tăng trưởng đến 10,06%). Trong điều kiện công nghiệp khai thác tiếp tục có mức tăng trưởng âm, công nghiệp duy trì được tốc độ tăng trưởng trong năm 2011 là do công nghiệp chế biến khi ngành này (chiếm 57,3% toàn ngành công nghiệp) duy trì được độ tăng trưởng xấp xỉ năm 2010. Một trong những lý do công nghiệp chế biến duy trì được tốc độ tăng trưởng là do xuất khẩu của ngành này tăng mạnh trong năm 2011, ở mức 23,7%. Xét về cơ cấu, khu vực công nghiệp và xây dựng được đặc trưng bởi xu hướng giảm tỷ trọng của ngành công nghiệp khai thác và tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến. Nếu như năm 1995 tỷ trọng của ngành khai thác là 18% thì tỷ trọng này chỉ còn 9% vào năm 2011. Trong khi đó, cũng trong giai đoạn trên, tỷ trọng của ngành chế biến đã tăng từ 52% lên 62%. Ngoài ra, riêng trong năm 2011, đã có sự sụt giảm nhẹ của ngành xây dựng khi ngành này chiếm tỷ trọng 21%, so với mức 23% của năm 2010. Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 19 Bài tập lớn: Tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2013 Khu vực dịch vụ năm 2011 là 6,99%, thấp hơn mức 7,52% của năm 2010. Dịch vụ giảm sút tăng trưởng là do giảm sút của hầu hết các ngành dịch vụ, nhất là ngành kinh doanh bất động sản. Tốc độ tăng trưởng của ngành kinh doanh bất động sản trong năm 2011 chỉ ở mức 1,8%, so với mức thấp 2,6% của năm 2010, do tín dụng cho khu vực bất động sản bị thắt chặt. Ngành khách sạn và nhà hàng cũng giảm tốc độ tăng trưởng từ 8,7 (2010) xuống 7,1% (2011) do tình hình kinh tế thế giới đình trệ đã khiến số khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2011 chỉ tăng 19,1%, thấp hơn nhiều mức tăng 34,8% của năm 2010 Tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2011 ước tính đạt 674,5 nghìn tỷ đồng, bằng 113,4% dự toán năm và tăng 20,6% so với năm 2010 (Mục tiêu đề ra trong Nghị quyết số 11 của Chính phủ là tăng 7-8%). Tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2011 ước tính 796 nghìn tỷ đồng. Bội chi ngân sách Nhà nước bằng 4,9% GDP (Kế hoạch đề ra là 5,3%). Tổng phương tiện thanh toán năm 2011 ước tính tăng 10% so với tháng 12/2010 (Kế hoạch là 15-16%); tổng dư nợ tín dụng tăng 12% (Kế hoạch là dưới 20%). Tình hình tăng trưởng kinh tế năm 2012 Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2012 tăng 5,03% so với năm 2011, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,72%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,52%, đóng góp 1,89 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,42%, đóng góp 2,7 điểm phần trăm. Khu vự nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2012 theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 255,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với năm 2011, bao gồm: Nông nghiệp đạt 183,6 nghìn tỷ đồng, tăng 2,8%; lâm nghiệp đạt 8,3 nghìn tỷ đồng, tăng 6,4%; thuỷ sản đạt 63,3 nghìn tỷ đồng, tăng 4,5%. Khu vực công nghiệp toàn ngành tháng 12/2012 ước tính tăng 5% so với tháng trước và tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2012, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 4,8% so với năm 2011, trong đó công nghiệp Phạm Thị Thanh Mai – Nhóm 1 lớp QLKT Page 20
- Xem thêm -