Áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh thực trạng và giải pháp

  • Số trang: 83 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 27 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT HOÀNG THỊ QUỲNH ANH “ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỤ VIỆC CẠNH TRANH – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP” Chuyên ngành: Luật Kinh tế Mã số: 60.38.50 LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC \ Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐẶNG VŨ HUÂN HÀ NỘI – 2015 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1 1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1 2. Tình hình nghiên cứu .................................................................................... 3 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 5 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 6 5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 6 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn ................................................... 6 7. Kết cấu của Luận văn .................................................................................... 6 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRONG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỤ VIỆC CẠNH TRANH .....7 1.1. Vai trò của pháp luật cạnh tranh trong nền kinh tế .................................... 7 1.2. Khái quát chung về áp dụng pháp luật ..................................................... 10 1.2.1. Khái niệm áp dụng pháp luật ............................................................................ 10 1.2.2. Các đặc điểm của áp dụng pháp luật................................................................ 11 1.2.3. Quy trình áp dụng pháp luật ............................................................................. 12 1.3. Khái luận về áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh ................................................................................................ 14 1.3.1. Áp dụng pháp luật cạnh tranh........................................................................... 14 1.3.2. Phạm vi và đối tượng điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh ........................... 15 1.3.3. Áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ khiếu nại hành vi cạnh tranh không lành mạnh ...................................................................................................................... 16 1.3.4. Áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ khiếu nại hành vi hạn chế cạnh tranh .................................................................................................................... 19 1.3.5. Áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ khiếu nại, khởi kiện quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh .................................................................................................... 23 Tiểu kết Chương 1 ......................................................................................... 24 Chương 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRONG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỤ VIỆC CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM ............. 25 2.1. Một số nhận xét về thực trạng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam ............ 25 2.1.1. Quy định pháp luật đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh .......................... 25 2.1.2. Quy định pháp luật đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ......... 29 2.1.3. Trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh bị khiếu nại .......................... 35 2.1.4. Xử lý vi phạm .................................................................................................... 40 2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam ............................................................................................. 41 2.2.1. Áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại các vụ việc về hạn chế cạnh tranh .................................................................................................................... 41 2.2.2. Áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại các vụ việc về chống cạnh tranh không lành mạnh ................................................................................................ 47 2.2.3. Áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về tố tụng cạnh tranh ............ 53 Tiểu kết Chương 2 ......................................................................................... 56 Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRONG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỤ VIỆC CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM ....................................................................................... 58 3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay ......................................... 58 3.2. Một số kiến nghị về hoàn thiện các quy định pháp luật cạnh tranh ....... 59 3.2.1. Sửa đổi các quy định để làm rõ hơn các hành vi hạn chế cạnh tranh ........... 59 3.2.2. Sửa đổi quy định về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ..................... 61 3.2.3. Sửa đổi quy định về thời hạn điều tra, trình tự, thủ tục xử lý vụ việc cạnh tranh cho phù hợp với tình hình thực tế ..................................................................... 62 3.2.4. Sửa đổi các quy định về hình thức xử lý vi phạm, biện pháp xử phạt bổ sung và khắc phục hậu quả ................................................................................................... 64 3.3. Kiến nghị nâng cao hiệu quả các cơ quan nhà nước trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh ..................................................................................... 65 3.3.1. Tăng cường năng lực của cơ quan điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh .......... 65 3.3.2. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh .................................................................................................. 70 3.3.3. Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật cạnh tranh đối với doanh nghiệp .......................................................................................................... 70 Tiểu kết Chương 3 ......................................................................................... 73 KẾT LUẬN ........................................................................................................................... 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................. 76 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Pháp luật cạnh tranh (hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh, kiểm soát độc quyền) từ lâu đã trở thành bộ phận pháp luật không thể thiếu ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển. Bởi lẽ, nó chính là công cụ trực tiếp để bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh; là công cụ để duy trì động lực phát triển nền kinh tế. Ngày nay, khi mà cơ chế thị trường đang được coi là cơ chế lý tưởng cho sự vận hành nền kinh tế ở mỗi quốc gia và kinh tế thế giới, thì vấn đề bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh là vấn đề được quan tâm, đặc biệt là việc bảo đảm quyền cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh, bảo đảm cơ cấu thị trường, bảo đảm sự hợp lý trong tương quan lợi ích của các chủ thể kinh doanh trên thị trường. Pháp luật về cạnh tranh được coi là công cụ hiệu quả nhất để bảo đảm quyền được cạnh tranh lành mạnh bằng việc hạn chế các đặc quyền kinh tế trong kinh doanh, các xu thế, hành động tiêu cực có hại cho quá trình cạnh tranh. Các học giả, các nhà nghiên cứu quốc tế đều thống nhất nhận định rằng, một môi trường cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh không thể có sự tôn vinh của hiện tượng độc quyền và sự tồn tại của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Pháp luật về cạnh tranh được xem như là "Tuyên ngôn về quyền tự do kinh doanh" hoặc "Hiến pháp kinh tế"... Cho đến nay, có khoảng trên 60 quốc gia đã nghiên cứu, ban hành Luật về cạnh tranh với tên gọi khác nhau. Điều này càng chứng tỏ thêm ý nghĩa, tầm quan trọng của pháp luật cạnh tranh trong hệ thống pháp luật kinh tế nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung. Ở Việt Nam, mặc dù Hiến pháp thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế và khẳng định quyền bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trước 1 pháp luật, nhưng trên thực tế, tình trạng phân biệt đối xử với các thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp khu vực tư nhân khá phổ biến. Bên cạnh đó, do quyền lợi cục bộ, một số cơ quan nhà nước, bằng các mệnh lệnh hành chính của mình, gián tiếp can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tạo lợi thế cho một hay một số doanh nghiệp vẫn đang diễn ra. Tình trạng đó làm xuất hiện những rào cản thương mại ngay trên chính thị trường nội địa, làm mất cơ hội cạnh tranh bình đẳng của các doanh nghiệp khác, gây thiệt hại cho người tiêu dùng và cho nền kinh tế. Vì vậy, Luật Cạnh tranh Việt Nam được ban hành năm 2004 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2005) kỳ vọng được coi là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, đồng thời tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Sau gần 10 năm đi vào cuộc sống, việc áp dụng các quy định của Luật Cạnh tranh đang gặp phải những vướng mắc và rào cản kể cả từ phía các cơ quan thực thi pháp luật và từ phía các đối tượng chịu sự tác động của pháp luật cạnh tranh. Năm 2009, Cục Quản lý cạnh tranh đã tiến hành 8 vụ điều tra tiền tố tụng liên quan đến các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh/độc quyền. Tuy nhiên, đến nay chỉ chuyển được 1 vụ việc thành điều tra chính thức theo quy định của pháp luật cạnh tranh... Cũng sau gần 10 năm, Cục Quản lý cạnh tranh mới xử lý được 83 vụ cạnh tranh không lành mạnh, trong đó, 28 vụ liên quan đến hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, còn lại là các vụ liên quan đến hành vi bán hàng đa cấp bất chính, hành vi dèm pha, nói xấu doanh nghiệp khác, hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn và hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác... Thực trạng này đang đặt ra đòi hỏi các quy định của pháp luật cạnh tranh cần phải điều chỉnh và hoàn thiện theo hướng duy trì sự 2 cân bằng giữa phương pháp liệt kê và áp dụng linh hoạt tùy thuộc vào từng vụ việc cụ thể trong các nội dung về xác định thị trường liên quan, xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, xác định hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh và các quy định cấm/miễn trừ; bổ sung quy định về chương trình khoan hồng, ngưỡng thông báo tập trung kinh tế; sửa đổi quy định về thời hạn điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh cho phù hợp với tình hình thực tế; sửa đổi các quy định về hình thức xử lý vi phạm, biện pháp xử phạt bổ sung và khắc phục hậu quả... mới có thể đáp ứng được yêu cầu của thực tế đời sống kinh tế. Bên cạnh đó, Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng cũng đã chỉ ra rằng: “Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế là một trong những nội dung quan trọng nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa...”. Với những lập luận và phân tích trên đây, việc hoàn thiện pháp luật cạnh tranh cũng như hoàn thiện trình tự, thủ tục để đưa các quy định của pháp luật cạnh tranh đi vào cuộc sống đang trở nên cấp thiết. Và đó cũng là lý do mà tác giả lựa chọn đề tài “Áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh – Thực trạng và giải pháp” để làm Luận văn Thạc sĩ luật học. 2. Tình hình nghiên cứu Ở Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo để nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường phát triển, đã có một số công trình nghiên cứu bước đầu về pháp luật cạnh tranh, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, vấn đề độc quyền và kiểm soát độc quyền, như: “Chuyên đề về cạnh tranh, chống cạnh tranh bất hợp pháp và kiểm soát độc quyền” của tác giả Đặng Vũ Huân đăng tải trên Thông tin Khoa học pháp lý, tháng 11 năm 1996 của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp; “Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh trong điều 3 kiện chuyển sang kinh tế thị trường ở Việt Nam” của PGS.TS. Nguyễn Như Phát – ThS. Bùi Nguyên Khánh, Nxb. Công an nhân dân năm 2001; “Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay” sách tham khảo do PGS.TS. Nguyễn Như Phát và PGS.TS. Trần Đình Hảo làm chủ biên, Nxb. Công an nhân dân năm 2001; “Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh” của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) năm 2002; “Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam” sách tham khảo của TS. Đặng Vũ Huân, Nxb. Chính trị Quốc gia năm 2004... Ngoài ra, còn có một số bài báo khoa học được đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: “Cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh hiện nay” của GS.TS. Đào Trí Úc, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11 năm 2000; “Đối tượng điều chỉnh của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh” của PGS.TS. Nguyễn Như Phát, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 9 năm 2000; “Pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam: Nhu cầu, khả năng và một vài kiến nghị” của TS. Phạm Duy Nghĩa, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11 năm 2000... Sau khi Luật Cạnh tranh năm 2004 được ban hành, một số công trình nghiên cứu đã tiếp tục đi sâu nghiên cứu và luận giải các quy định của pháp luật cạnh tranh như: “Tìm hiểu về Luật Cạnh tranh” của tác giả Trần Minh Sơn, Nxb. Tư pháp năm 2005; “Bình luận khoa học Luật Cạnh tranh” của TS. Lê Hoàng Oanh, Nxb. Chính trị Quốc gia năm 2005; “Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh” của PGS.TS. Nguyễn Như Phát và ThS. Nguyễn Ngọc Sơn, Nxb. Tư pháp năm 2006; “Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam” của các tác giả TS. Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, ThS. Nguyễn Ngọc Sơn, Nxb. Tư pháp năm 2006; “Chính sách và thực tiễn pháp luật cạnh tranh của Cộng hoà Pháp của Nxb. Chính trị Quốc gia năm 2007; “Tiêu chí đánh giá tính cạnh tranh bất hợp pháp của một số nước và một số bình luận về Luật Cạnh tranh của Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn 4 Cương, năm 2006; “Hành vi hạn chế cạnh tranh – Một số vụ việc điển hình của Châu Âu” - tài liệu tham khảo thuộc Dự án hỗ trợ thương mại đa biên (MULTRAP) và Bộ Công Thương Việt Nam phối hợp thực hiện năm 2009; “Chính sách cạnh tranh từ góc độ quốc gia đang phát triển” của tác giả Bùi Nguyễn Anh Tuấn, năm 2010; “Điều chỉnh pháp luật đối với các thoả thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay” - Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Thị Nhung, năm 2011... Nhìn chung, các công trình khoa học này đều đã tiếp cận nghiên cứu pháp luật cạnh tranh ở những phạm vi, mức độ và các khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về áp dụng pháp luật cạnh tranh để giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài này là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý của việc áp dụng các quy định pháp luật cạnh tranh để giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh. Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề thực tiễn có liên quan, Luận văn đưa ra các nhận xét, đánh giá và kiến nghị để có thể hoàn thiện pháp luật, cơ chế áp dụng pháp luật cạnh tranh để giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam hiệu quả hơn. Để thực hiện mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn gồm: - Nghiên cứu các vấn đề lý luận của pháp luật cạnh tranh và áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh. - Khái quát phân tích thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam thời gian qua. - Từ các nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Luận văn đưa ra nhận xét , kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam. 5 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Pháp luật cạnh tranh nói chung có phạm vi rất rộng và liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật, đặc biệt là hệ thống pháp luật kinh tế. Bởi vậy, trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp cao học, với đề tài đã lựa chọn, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu về áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh nhằm kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam. 5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình nghiên cứu, Luận văn cũng sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, diễn giải, quy nạp, đánh giá, thống kê, v.v... để thực hiện những nội dung nghiên cứu đã đặt ra. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn Kết quả nghiên cứu và các đề xuất, kiến nghị của luận văn có ý nghĩa góp phần hoàn thiện pháp luật và cơ chế áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam. Luận văn cũng có thể sử dụng làm tư liệu nghiên cứu, giảng dạy về chuyên ngành Luật Cạnh tranh. 7. Kết cấu của Luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam 6 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRONG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỤ VIỆC CẠNH TRANH 1.1. Vai trò của pháp luật cạnh tranh trong nền kinh tế Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản, là nền tảng và động lực phát triển của kinh tế thị trường. Có thể nói rằng, không có cạnh tranh thì cũng không thể có nền kinh tế thị trường. Cùng với quy luật cung cầu và quy luật giá trị, cạnh tranh trở thành một quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên nếu chỉ với những tiền đề kinh tế như trên, cạnh tranh vẫn chưa thể có cơ hội nảy sinh và tồn tại trong đời sống kinh tế. Cạnh tranh chỉ có thể xuất hiện với tư cách là một sản phẩm của kinh tế thị trường trong những điều kiện của những tiền đề pháp lý cụ thể, nghĩa là các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế phải được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ quyền tự do, tự chủ trong kinh doanh, quyền sở hữu và tính đa dạng của các loại hình sở hữu cũng như địa vị bình đẳng trước pháp luật. Do đó, xây dựng chính sách duy trì một môi trường cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát sự độc quyền trong kinh doanh là việc làm cần thiết[18]. Pháp luật cạnh tranh đảm bảo duy trì tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế. Cạnh tranh còn giúp cho các doanh nghiệp phát huy hết khả năng của mình bằng cách khuyến khích họ liên tục phấn đấu đạt tiêu chuẩn cao về chất lượng, dịch vụ và giá cả. Sức ép cạnh tranh sinh ra những sản phẩm mới vì các công ty áp dụng công nghệ mới và những biện pháp quản lý tiên tiến. Pháp luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường có những vai trò và chức năng cơ bản như sau: Thứ nhất, pháp luật cạnh tranh tạo nền tảng cơ bản cho quá trình cạnh tranh, duy trì và thúc đẩ y quá triǹ h ca ̣nh tranh tự do hay bảo vê ̣ hoă ̣c thúc đẩ y cạnh tranh hiệu quả. Pháp luật cạnh tranh bảo vệ và khuyến khích các doanh 7 nghiệp cạnh tranh, hợp tác bình đẳng trong một khuôn khổ pháp luật chung, điều tiết mặt trái của cạnh tranh bằng cách kiểm soát quá trình dẫn đến vị trí thống lĩnh thị trường, độc quyền của doanh nghiệp, chống các hành vi gây cản trở cạnh tranh, cũng như thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh trên thương trường. Thứ hai, pháp luật cạnh tranh điề u tiế t quá triǹ h ca ̣nh tranh , hướng quá trình này phục vụ cho những mục tiêu đã được định sẵn , ví dụ như đạt hiệu quả kinh tế cao , bảo vệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ , duy trì hệ thống doanh nghiê ̣p tự do, duy trì sự công bằ ng, trung thực trong kinh doanh, bảo vệ quyền lơ ̣i người tiêu dùng. Thị trường hình thành từ mối quan hệ qua lại giữa người mua và người bán, hay rộng hơn là người sản xuất và người tiêu dùng dưới quy luật cung cầu và quy luật giá trị. Trong mối quan hệ này người tiêu dùng luôn ở vị trí trung tâm. Người tiêu dùng và sức tiêu thụ của họ chính là thước đo giá trị chất lượng sản phẩm, là nguồn lợi nhuận cho người sản xuất. Họ có quyền lựa chọn hàng hoá cũng như người cung ứng hàng hoá và trả tiền cho sự lựa chọn đó. Tuy nhiên, quyền lựa chọn của họ bị giới hạn trong phạm vi khả năng cung ứng của người sản xuất. Về phía người sản xuất, lợi nhuận không chỉ là mục tiêu, động lực mà còn là phương thức tồn tại của họ. Lợi nhuận đến từ khách hàng, do đó việc ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng là tôn chỉ của mọi doanh nghiệp. Mặt khác người sản xuất không thể vượt quá khả năng của mình để chạy theo người tiêu dùng. Việc tối đa hoá lợi nhuận nhiều khi phụ thuộc vào việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, giảm chi phí, nâng cao năng lực sản xuất hơn là số lượng khách hàng. Ngoài ra, việc nâng cao năng lực sản xuất cũng sẽ mở rộng khả năng đáp ứng các như cầu luôn thay đổi và ngày một tăng của người tiêu dùng. Do có sự hữu hạn của các yếu tố sản xuất, người tiêu dùng và nguồn lợi nhuận - sự hữu hạn của thị trường nói chung, các nhà sản xuất luôn có sự cạnh tranh theo hai hướng: mở rộng đầu ra và thu hẹp đầu vào. Quá trình này diễn ra liên tục, đòi hỏi mỗi 8 người phải luôn cố gắng phát triển, vượt lên các đối thủ, không ngừng tự hoàn thiện nếu không muốn bị loại bỏ. Kết quả còn lại là những nhà sản xuất có năng lực nhất, có khả năng phục vụ tốt nhất người tiêu dùng. Như vậy cạnh tranh tham gia vào mọi phương diện của nền kinh tế: nó sàng lọc và lành mạnh hoá thị trường, thúc đẩy sản xuất và điều tiết tiêu dùng [27]. Thứ ba, pháp luật cạnh tranh hạn chế các tác động tiêu cực nảy sinh do sự điề u hành quá mức của nhà nước vào thi ̣trường như kéo dài thời gian ra quyế t đinh ̣ của doanh nghiê ̣p và chi phí giao dich ̣ cao. Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi về căn bản vai trò của Nhà nước trong thị trường. Có những điều được coi là hiển nhiên trong nền kinh tế kế hoạch hoá trở nên không còn phù hợp với kinh tế thị trường và ngược lại , có những điều không được chấp nhận trong kinh tế tập trung lại thích hợp trong kinh tế thị trường trường, viê ̣c Nhà nước chỉ huy mô ̣t cách tâ ̣p trung . Trong kinh tế thi ̣ - thể hiê ̣n bằ ng các quy đinh, ̣ chỉ thị , mê ̣nh lê ̣nh hành chiń h đố i với hoa ̣t đô ̣ng kinh doanh của các thành phần kinh tế, kể cả quố c doanh, ngoài quốc doanh, đầ u tư nước ngoài – cho tới nay không còn phù hợp nữa . Thực tế đã cho thấy vẫn còn có không ít hiê ̣n tươ ̣ng chia cắ t thi ̣trường trong nước , chỉ định đối tác giao dịch xuất phát từ các cơ quan quản lý nhà nước . Đây có thể nói là mô ̣t nét đă ̣c thù của các nề n kinh tế chuyể n đổ i. Rõ ràng là pháp luật cạnh tranh giữ một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế thị trường. Dưới sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh, các doanh nghiệp sẽ có một sân chơi bình đẳng, lành mạnh để có thể cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường trong đó người tiêu dùng sẽ mua hàng hóa/dịch vụ với chất lượng tốt nhất và giá cả rẻ nhất có thể. Điều này có nghĩa là thông qua quá trình cạnh tranh, trình độ công nghệ của họ sẽ được nâng cao qua các hoạt động nghiên cứu, phát triển, cải tiến kiểu dáng và hiệu quả sẽ được nâng cao nhờ cải tiến kỹ thuật cũng như cải tiến phương pháp quản lý, 9 hoạt động, nhờ đó cũng mang lại lợi ích cho người tiêu dùng. Do có cạnh tranh, sẽ có hàng loạt sản phẩm với các mức giá thấp hơn vì vậy, lựa chọn của người tiêu dùng được nới rộng hơn và làm tăng phạm vi tiêu dùng . Bên cạnh đó, chúng ta cũng đang chuyể n đổ i sang mô ̣t nề n kinh tế mở cửa hơn , hô ̣i nhâ ̣p hơn với mức đô ̣ lớn hơn với kinh tế thế giới . Điề u này có nghiã là mở rô ̣ng ca ̣nh tranh nhằ m đảm bảo cho tự do thương ma ̣i và ổ n đinh ̣ để phát triể n . Tự do thương ma ̣i phải đươ ̣c hiể u là tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luâ ̣t. Vì vậy, pháp luật cạnh tranh góp phần duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế của Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng [25]. 1.2. Khái quát chung về áp dụng pháp luật 1.2.1. Khái niệm áp dụng pháp luật Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật ra các quyết định áp dụng pháp luật vào trong những trường hợp cụ thể của đời sống xã hội [15]. Áp dụng pháp luật là hoạt động có tổ chức mang tính quyền lực nhà nước của các cơ quan, người có thẩm quyền, nhằm thực hiện trong thực tế các quy phạm pháp luật trong mọi tình huống cụ thể của cuộc sống. Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành trong các trường hợp sau: - Khi những quan hệ pháp luật với những quyền và nghĩa vụ cụ thể không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước. - Khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia vào quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được. - Khi cần áp dụng các biện pháp chế tài được nhà nước quy định trong các quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh. 10 - Trong một số quan hệ pháp luật mà nhà nước thấy cần thiết phải tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia quan hệ đó, hoặc nhà nước xác nhận tồn tại hay không tồn tại một số vụ việc, sự kiện thực tế. Áp dụng pháp luật là hoạt động thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước. Nó vừa là một hình thức thực hiện pháp luật, vừa là cách thức mà Nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện pháp luật. 1.2.2. Các đặc điểm của áp dụng pháp luật Thứ nhất, áp dụng pháp luật mang tính tổ chức, quyền lực nhà nước, cụ thể, hoạt động này chỉ do những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền tiến hành. Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không bị phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng pháp luật. Văn bản áp dụng pháp luật mang tính bắt buộc phải thực hiện đối với những cá nhân, tổ chức có liên quan. Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động được thực hiện theo thủ tục do pháp luật quy định chặt chẽ. Trong quá trình áp dụng pháp luật các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các bên có liên quan phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định có tính thủ tục. Thứ ba, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội. Đối tượng của áp dụng pháp luật là những quan hệ xã hội cần đến sự điều chỉnh cá biệt, bổ sung trên những mệnh lệnh chung trong quy phạm pháp luật. Bằng hoạt động áp dụng pháp luật, những quy phạm pháp luật nhất định được cá biệt hoá, cụ thể hoá đối với những trường hợp cụ thể. Thứ tư, áp dụng pháp luật là hoạt động có tính sáng tạo. Khi áp dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách phải nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc, làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó để từ đó lựa chọn quy phạm, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành [14]. 11 Từ sự phân tích trên cho thấy, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, được thực hiện thông quan những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách, hoặc các tổ chức xã hội khi được nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hoá những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể. 1.2.3. Quy trình áp dụng pháp luật Theo phân tích tại Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội [14] và Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội [15], để áp dụng pháp luật chính xác, đạt hiệu quả cao cần phải tiến hành những bước sau: (i) Phân tích, đánh giá đúng, chính xác những tình tiết, hoàn cảnh, điều kiện của vụ việc thực tế đã xảy ra Để giải quyết đúng đắn sự việc cụ thể có tính chất pháp lý, nhất thiết phải hiểu đúng bản chất của sự việc và cần tìm hiểu tất cả các tình huống, chứng cứ của sự việc đúng như thực tế của nó. Khi cần điều tra xem xét cần bảo đảm tính khách quan, công bằng đối với các tổ chức và cá nhân liên quan đến vụ việc. Việc xem xét các tình tiết thực tế của vụ việc cũng đòi hỏi phải nghiên cứu xác định vụ việc đó thực sự có ý nghiã pháp lý hay không? Không thể áp dụng pháp luật đối với những vụ việc không có đặc trưng pháp lý. Do đó, giai đoạn này yêu cầu: - Nghiên cứu khách quan, toàn diện và đầy đủ những tình tiết của vụ việc. - Xác định đặc trưng pháp lý của vụ việc. - Tuân thủ tất cả các quy định mang tính thủ tục gắn với mỗi loại vụ việc. Sau khi xem xét tất cả những tình tiết của vụ việc, nếu xác địng vụ việc có đặc trưng pháp lý cần áp dụng pháp luật thì chuyển sang giai đoạn thứ hai. (ii) Lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp và phân tích làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩa của quy phạm pháp luật đối với trường hợp cần áp dụng 12 Trước tiên, phải xác định ngành luật nào điều chỉnh vụ việc này, sau đến lựa chọn quy phạm pháp luật cụ thể thích ứng với vụ việc. Tiếp theo, phải làm sáng tỏ nội dung và ý nghĩa của quy phạm pháp luật được lựa chọn. Điều này có mục đích bảo đảm áp dụng đúng đắn pháp luật. Tóm lại, giai đoạn thứ hai của quá trình áp dụng pháp luật yêu cầu: a, lựa chon đúng quy phạm pháp luật được trù tính cho trường hợp đó; b, xác định quy phạm pháp luật đang có hiệu lực và không mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác; c, nhận thức đúng đắn nội dung, tư tưởng của quy phạm pháp luật. (iii) Ra văn bản áp dụng pháp luật Đây là giai đoạn quan trọng của quá trình áp dụng pháp luật. Ở giai đoạn này, những quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các chủ thể pháp luật hoặc những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm được ấn định. Khi ra văn bản áp dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền không thể xuất phát từ động cơ cá nhân hoặc quan hệ riêng tư. Văn bản áp dụng pháp luật phù hợp với lợi ích của nhà nước, tập thể, cá nhân được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật. Văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, tên gọi, có cơ sở thực tế và cơ sở pháp lý, theo đúng mẫu đã quy định. Nội dung của văn bản phải rõ ràng, chính xác, nêu rõ trường hợp cụ thể, chủ thể cụ thể và chỉ được thực hiện một lần. (iv) Tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình áp dụng pháp luật. Giai đoạn này gồm những hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo về mặt vật chất, kỹ thuật cho việc thực hiện đúng văn bản áp dụng pháp luật hiện hành. Ví dụ: Tổ chức thi hành bản án đã tuyên, dẫn người bị kết án tới trại cải tạo...Đồng thời cũng cần tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát việc thi hành quyết định áp dụng pháp luật. Đó là một trong những bảo đảm quan trọng để quyết định đó được thực hiện nghiêm chỉnh trong đời sống. 13 1.3. Khái luận về áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh 1.3.1. Áp dụng pháp luật cạnh tranh Áp dụng pháp luật cạnh tranh là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, được thực hiện thông quan những cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý cạnh tranh, nhằm cá biệt hoá những quy phạm pháp luật cạnh tranh vào các trường hợp giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh cụ thể. Áp dụng pháp luật cạnh tranh có các đặc điểm sau: Thứ nhất, áp dụng pháp luật cạnh tranh mang tính tổ chức, quyền lực nhà nước, cụ thể, hoạt động này chỉ do những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền tiến hành, bao gồm: Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thuơng, Hội đồng cạnh tranh và Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn phương của các cơ quan có thẩm quyền nêu trên mà không bị phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng pháp luật cạnh tranh. Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng cạnh tranh hoặc bản án của Tòa án mang tính bắt buộc phải thực hiện đối với những cá nhân, tổ chức có liên quan. Thứ hai, áp dụng pháp luật cạnh tranh là hoạt động được thực hiện theo thủ tục tố tụng cạnh tranh do pháp luật canh tranh quy định chặt chẽ. Quy trình tố tụng cạnh tranh bao gồm: Điều tra vụ việc cạnh tranh; Xử lý vụ việc cạnh tranh; Khiếu nại, khởi kiện Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh. Trong quá trình áp dụng pháp luật cạnh tranh, các cơ quan quản lý cạnh tranh và các bên có liên quan phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định có tính thủ tục này. Thứ ba, áp dụng pháp luật cạnh tranh là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội. Đối tượng của áp dụng pháp luật cạnh tranh là những quan hệ xã hội của các doanh nghiệp, Hiệp hội ngành nghề hoạt động ở Việt Nam cần đến sự điều chỉnh cá biệt, bổ sung trên những mệnh lệnh chung trong quy phạm pháp luật cạnh tranh. Bằng hoạt động áp dụng pháp luật cạnh tranh, những quy phạm pháp luật cạnh tranh nhất định được cá biệt hoá, cụ thể hoá đối với những trường hợp cụ thể. 14 Thứ tư, áp dụng pháp luật cạnh tranh là hoạt động có tính sáng tạo. Khi áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh, các cơ quan quản lý cạnh tranh phải nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc, làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó để từ đó lựa chọn quy phạm, ra văn bản áp dụng pháp luật cạnh tranh và tổ chức thi hành. 1.3.2. Phạm vi và đối tượng điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh Phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnh tranh của Việt Nam năm 2004 được quy định là các hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh. Luật này được áp dụng với các đối tượng là “tổ chức, cá nhân kinh doanh (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam; hiệp hội ngành nghề hoạt động ở Việt Nam” [4]. Có thể thấy, việc quy định về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng pháp luật của Luật Cạnh tranh là hợp lý, bởi trên thực tế, hiệp hội ngành nghề là các tổ chức xã hội nghề nghiệp do các doanh nghiệp hoặc các cá nhân thành lập nên và hoạt động phục vụ lợi ích cho các thành viên tham gia thông qua việc trao đổi thông tin, hợp tác hỗ trợ lẫn nhau. Trong nhiều trường hợp, sự hợp tác hỗ trợ giữa các thành viên của hiệp hội có thể đi quá xa, dẫn tới vi phạm các quy định của Luật Cạnh tranh. Bên cạnh đó, việc quy định các tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước là phù hợp với thực tế. Mặc dù vậy, qua thực tiễn áp dụng các quy định về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh đã phát sinh một số vấn đề về mặt câu chữ, từ ngữ cũng như chưa có sự tương thích giữa quy định trong phần chung và những quy định riêng về hành vi trong phần quy định cụ thể. Những vấn đề này dẫn đến một số khó khăn trong quá trình áp dụng nên cần được xem xét điều chỉnh cho phù hợp và dễ dàng áp dụng pháp luật trên thực tế. 15 1.3.3. Áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ khiếu nại hành vi cạnh tranh không lành mạnh (i) Việc khiếu nại và các hành vi bị khiếu nại Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị khiếu nại bao gồm: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn; Xâm phạm bí mật kinh doanh; Ép buộc trong kinh doanh; Gièm pha doanh nghiệp khác; Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Phân biệt đối xử của hiệp hội; Bán hàng đa cấp bất chính; Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác do Chính phủ quy định... Tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại do các hành vi nói trên có quyền khiếu nại đến cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh yêu cầu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm tự nguyện khai báo về hành vi vi phạm trước khi cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh phát hiện sẽ được các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật. Trường hợp nhận được khai báo của doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm, cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh sẽ tự tiến hành điều tra. (ii) Hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh không lành mạnh Tổ chức, cá nhân khiếu nại vụ việc cạnh tranh không lành mạnh phải có đơn khiếu nại làm theo mẫu thống nhất do cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh hướng dẫn. Cùng với đơn là chứng cứ về hành vi vi phạm. Trong trường hợp khiếu nại nhiều hành vi vi phạm, thì từng hành vi phải có chứng cứ riêng. Chứng cứ kèm theo phải thể hiện kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi hạn chế cạnh tranh được thực hiện đến ngày khiếu nại phải đang trong thời hạn 02 năm. Bên cạnh đó, phải có các tài liệu chứng minh tư cách của bên khiếu nại, như: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp khiếu nại (hoặc giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đầu tư,...), và giấy chứng nhận thay đổi 16
- Xem thêm -