ảnh hưởng lượng men bánh mì và tỉ lệ thu hoạch lên sự phát triển của quần thể luân trùng nước ngọt (brachionus angularis)

  • Số trang: 64 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 16 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN THÀNH ĐỨC ẢNH HƯỞNG LƯỢNG MEN BÁNH MÌ VÀ TỈ LỆ THU HOẠCH LÊN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA QUẦN THỂ LUÂN TRÙNG NƯỚC NGỌT (BRACHIONUS ANGULARIS) LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2009 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN THÀNH ĐỨC ẢNH HƯỞNG LƯỢNG MEN BÁNH MÌ VÀ TỈ LỆ THU HOẠCH LÊN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA QUẦN THỂ LUÂN TRÙNG NƯỚC NGỌT (BRACHIONUS ANGULARIS) LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Ths. TRẦN SƯƠNG NGỌC 2009 LỜI CẢM TẠ Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám Hiệu, Ban Chủ Nhiệm Khoa Thuỷ Sản, Quý Thầy Cô và toàn thể cán bộ Khoa Thuỷ Sản đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập. Đặc biệt tôi sinh chân thành biết ơn cô Trần Sương Ngọc, cùng các cán bộ bộ môn Thuỷ Sinh Học Ứng Dụng, các bạn lớp Nuôi Trồng Thuỷ Sản K 31 đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ để tôi hoàn thành luân văn. Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, đặc biệt là cha mẹ đã dành cho tôi những tình cảm, sự động viên cũng như hỗ trợ về vật chất để tôi vượt qua khó khăn trong suốt quá trình học. Chân thành cảm tạ Sinh viên thực hiện Nguyễn Thành Đức i TÓM TẮT Nghiên cứu được thực hiện với mục đích tìm ra lượng thức ăn (men bánh mì) và tỉ lệ thu hoạch phù hợp để ứng dụng trong nuôi sinh khối luân trùng Brachionus angularis. Nghiên cứu dựa trên 2 thí nghiệm: Thí nghiệm 1 nhằm tìm ra lượng men bánh mì thích hợp cho sự phát triển của quần thể luân trùng gồm 5 nghiệm thức NT40 (0.0168Dt 0,415 * V*40%), NT60 (0.0168Dt 0,415 * V*60%), NT80 (0.0168Dt 0,415 * V*80%), NT100 (0.0168Dt 0,415 * V*100%), NTĐC (60.000 tế bào/luân trùng/ngày). Thí nghiệm 2 được thực hiện nhằm tìm ra tỉ lệ thu hoạch thích hợp cho sự phát triển của luân trùng Brachionus angularis gồm 4 nghiệm thức với các tỉ lệ thu sinh khối là 0%, 15%, 25%, 35%. Kết quả cho thấy với điều kiện nhiệt độ từ 27,9 – 29,40C, pH dao động từ 7,43 – 7,52, mật độ bố trí ban đầu là 200 ct/ml thì lượng men bánh mì cho luân trùng ăn là 0.0168Dt 0,415 * V*80% (g/ngày) cho kết quả tốt nhất và mật độ luân trùng đạt cực đại là 693±32 ct/ml sau 4 ngày nuôi và tỉ lệ thu 25%/ngày, quần thể luân trùng phục hồi mật độ nhanh nhất và thời gian nuôi kéo dài 10 ngày ii DANH SÁCH BẢNG Bảng 4.1:Kích thước luân trùng Brachionus angularis ................................. 19 Bảng 4.2: Biến động của các yếu tố nhiệt độ và pH...................................... 20 Bảng 4.3: Hàm lượng NH3 qua các đợt thu mẫu (mg/L) ............................... 21 Bảng 4.4: Hàm lượng NO2- qua các đợt thu mẫu (mg/l)................................ 22 Bảng 4.5: Mật độ của luân trùng trong thí nghiệm 1 (cá thể/ml) ................... 23 Bảng 4.6: Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (%/ngày)........................................... 25 Bảng 4.7: Tỉ lệ luân trùng mang trứng ở các nghiệm thức (%)..................... 26 Bảng 4.8: Biến động của các yếu tố nhiệt độ và pH...................................... 27 Bảng 4.9: Biến động hàm lượng NH3 giữa các nghiệm thức (mg/L) ............. 28 Bảng 4.10: Hàm lượng NO2- qua các đợt thu mẫu (mg/l).............................. 29 Bảng 4.11: Mật độ của luân trùng trong thí nghiệm 2 (ct/ml)........................ 30 Bảng 4.12: Tỉ lệ luân trùng mang trứng ở các nghiệm thức (%).................... 33 Bảng 4.10:Biến động số lượng thu (triệu cá thể/ngày) ở các nghiệm thức..... 35 iii DANH SÁCH HÌNH Hình 2.1: Hình thái của luân trùng Brachionus angularis ............................... 3 Hinh 2.2: Vòng đời của luân trùng.................................................................. 5 Hình 3.1: Bể nuôi luân trùng ở thí nghiệm 1................................................. 16 Hình 3.2: Bể nuôi luân trùng ở thí nghiệm 2................................................. 18 Hình 4.1: Biến động mật độ giữa các nghiệm thức ....................................... 23 Hình 4.2: Biến động mật độ trước và sau thu hoạch của các nghiệm thức..... 31 Hình 4.3: Biến động số lượng thu ở các nghiệm thức ................................... 35 iv MỤC LỤC Trang Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ................................................................................. 1 Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................ 3 2.1 Đặc Điểm Sinh Học Của Luân Trùng Brachionus angularis............... 3 2.1.1 Đặc Điểm Phân Loại – Hình Thái ................................................. 3 2.1.2 Vòng Đời...................................................................................... 4 2.1.3 Môi Trường Sống ........................................................................ 5 2.1.3.1 Nhiệt độ .................................................................................. 5 2.1.3.2 Độ mặn ................................................................................... 6 2.1.3.3 pH........................................................................................... 6 2.1.3.4 Oxy......................................................................................... 6 2.1.3.5. NH3 ........................................................................................ 7 2.1.3.6 NO2 ......................................................................................... 7 2.2 Một Số Nghiên Cứu Liên Quan Đến Luân Trùng................................ 7 2.2.1 Các Hình Thức Nuôi Luân Trùng.................................................. 7 2.2.1.1. Nuôi sang, chuyển hằng ngày ................................................ 7 2.2.1.2 Nuôi bán liên tục.................................................................... 8 2.2.1.3 Nuôi liên tục .......................................................................... 8 2.2.1.4 Nuôi luân trùng với mật độ cao.............................................. 9 2.2.2 Sự thu hoạch luân trùng ............................................................... 10 2.2.3 Các Loại Thức Ăn Sử Dụng Cho Luân Trùng ............................... 11 2.2.3.1 Tảo ......................................................................................... 11 2.2.3.2 Men Bánh Mì.......................................................................... 12 2.2.4 Đánh giá khả năng phát triển của luân trùng................................ 12 2.2.5 Một số ảnh hưởng bất lợi trong nuôi luân trùng.......................... 13 2.2.5.1 Vi khuẩn ................................................................................. 13 2.2.5.2 Ciliates.................................................................................... 14 Phần 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......................... 15 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu...................................................... 15 3.2 Vật liệu nghiên cứu............................................................................. 15 3.3 Phương Pháp nghiên cứu .................................................................... 15 Phần 4: KẾT QỦA VÀ THẢO LUẬN ....................................................... 19 4.1 Kích thước của luân trùng Brachionus angularis ................................ 19 4.2 Thí nghiệm 1 (TN1): Ảnh hưởng của lượng men bánh mì lên sự phát triển của quần thể luân trùng nước ngọt Brachionus angularis .................... 19 v 4.2.1 Các yếu tố môi trường.................................................................. 19 4.2.1.1 Nhiệt độ ................................................................................. 19 4.2.1.2 pH.......................................................................................... 20 4.2.1.3 NH3 ........................................................................................ 21 4.2.1.4 NO2- ....................................................................................... 22 4.2.2 Sự phát triển của luân trùng ......................................................... 22 4.3 Thí Nghiệm 2: Ảnh hưởng của tỉ lệ thu hoạch lên sự phát triển của quần thể luân trùng nước ngọt Brachionus angularis ............................................ 27 4.3.1 Các yếu tố môi trường.................................................................. 27 4.3.1.1 pH và Nhiệt độ....................................................................... 27 4.3.1.2 NH3 ........................................................................................ 28 4.3.1.3 NO2- ....................................................................................... 29 4.3.2 Sự phát triển của luân trùng ......................................................... 29 4.3.3 Số lượng luân trùng ..................................................................... 34 Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT........................................................... 37 5.1 Kết luận ............................................................................................. 37 5.2 Đề xuất .............................................................................................. 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 38 PHỤ LỤC................................................................................................... 41 vi Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, theo xu hướng phát triển của thế giới thì hầu hết các ngành nghề đều được cải thiện và phát triển. Từ y học, công nghiệp cho đến nông nghiệp. Trong đó không thể bỏ qua sự phát triển mạnh mẽ của thuỷ sản. Chính sự phát triển của ngành nuôi trong thuỷ sản nó đã góp phần khá quan trọng vào nền kinh tế của nước ta. Với xu hướng phát triển như hiện nay thì nhu cầu con giống là vấn đề cấp bách và nan giải, khâu quan trọng trong quá trình sản xuất giống để đạt tỉ lệ sống và chất lượng con giống cao là việc cung cấp thức ăn tươi sống phù hợp với tập tính và kích cỡ miệng của ấu trùng giáp xác và cá con. Bên cạnh tảo, giáp xác râu ngành, Artemia, thì luân trùng cũng được xem là thức ăn tự nhiên quan trọng. Luân trùng có đặc điểm như kích thước nhỏ, bơi lội chậm chạp, và thường lơ lửng trong môi trường nước nhờ vậy mà ấu trùng tôm cá dễ bắt mồi, bên cạnh đó ta có thể giàu hoá như protein, acid béo cao phân tử không no (HUFA), vitamin…Cùng với các loài luân trùng được nuôi ở nước lợ, ở nước ngọt cũng có nhiều loài đang được nghiên cứu để nuôi, trong đó có loài Brachionus angularis Brachionus angularis là loài ăn lọc thụ động có thể sử dụng nhiều loại thức ăn để nuôi như: tảo, men bánh mì, bột đậu nành…trong đó men bánh mì được xem là thức ăn phổ biến, giá rẽ có thể chủ động trong nuôi sinh khối luân trùng. Tuy nhiên nuôi luân trùng bằng men bánh mì có khuynh hướng làm giảm chất lượng nước nhanh do thức ăn dư gây ra sự bất ổn định trong bể nuôi, do đó phải có sự cân bằng giữa mật độ luân trùng và tỉ lệ thức ăn tránh để vật chất hữu cơ tích luỹ vượt quá giới hạn trong bể nuôi. Bên cạnh đó việc duy trì ổn định sự phát triển của luân trùng khi thu hoạch để cho cá bột ăn vừa có hiệu quả kinh tế vừa hạn chế được những rũi ro cho người nuôi cũng hết sức cần thiết. Cho đến nay chưa tìm thấy tài liệu nào cho biết tỉ lệ men bánh mì và sự thu hoạch thích hợp cho luân trùng Brachionus angularis này mà chủ yếu dựa trên luân trùng Brachionus plicatilis. Từ thực tế trên, đề tài: “ Ảnh hưởng lượng men bánh mì và tỉ lệ thu hoạch lên sự phát triển của quần thể luân trùng nước ngọt Brachionus angularis” được thực hiện Mục tiêu của đề tài: Nhằm xác định tỉ lệ men bánh mì thích hợp cho sự phát triển của luân trùng nước ngọt Brachionus angularis để giúp quá trình nuôi đạt hiệu quả, có sản lượng luân trùng lớn làm thức ăn cho các loài cá bột. Mặt khác, xác định tỉ lệ thu hoạch thích hợp nhằm duy trì thời gian nuôi luân trùng với sức sản xuất cao. 1 Nội dung của đề tài: Ảnh hưởng của lượng men bánh mì lên sự phát triển của quần thể luân trùng nước ngọt Brachionus angularis Ảnh hưởng của tỉ lệ thu hoạch lên sự phát triển của quần thể luân trùng nước ngọt Brachionus angularis 2 Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc Điểm Sinh Học Của Luân Trùng Brachionus angularis 2.1.1 Đặc Điểm Phân Loại – Hình Thái Brachionus angularis là loài phiêu sinh động vật theo Pechenik,J.,A. 2005 có vị trí phân loại như sau: Giới Animalia Ngành Rotifera Lớp Monogononta Bộ Ploima Họ Brachionidae Giống Loài Brachionus Brachionus angularis (Gosse, 1851) Brachionus angularis có dạng hình trứng, phía sau hơi tròn hay hơi bóp lại. Mặt vỏ nhẵn hay những mấu lồi dạng hạt và hình vỏ chia mặt vỏ thành nhiều mãnh. Bờ bụng trước lượn song, đuôi có mấu lồi nhỏ. Bờ lưng trước có hai gai ngắn, giữa hai gai có vết xẻ hình chữ U. Lỗ chân hình thận, nằm dịch về phía bụng, mép có gai nhỏ, thẳng và song song với nhau hay hơi cong (Đặng Ngọc Thanh và ctv, 1980). Hình 2.1: Hình thái của luân trùng Brachionus angularis 3 Luân trùng Brachionus angularis là phiêu sinh động vật có kích thước nhỏ 88 - 120 µm (Nguyễn Văn Hải, 2008), bơi lội chậm chạp, có tính lơ lửng, thiếu cơ quan tự vệ nên là thức ăn rất tốt cho ấu trùng tôm cá, sau khi cá hết noãn hoàn nhưng chưa có thể bắt được con mồi có kích thước lớn. Cấu tạo của luân trùng có ba phần: đầu, thân và chân. Đầu: có vòng tiêm mao dùng để bơi lội và gom thức ăn. Phần thân chứa nhiều dịch cơ thể và có các cơ quan. Theo Nogady, 1993 (trích bởi Trần Sương Ngọc, 2003) thì các hệ cơ quan của luân trùng như sau: + Hệ tiêu hóa: Luân trùng thu gom thức ăn nhờ vòng tiêm mao sau đó vào trong miệng và đến hàm nghiền. Hàm nghiền sẽ nghiền các hạt thức ăn bằng nhiều con đường khác nhau (cắt, nghiền…) rồi đi vào thực quản, dạ dày, ruột và hậu môn. + Hệ bài tiết: bài tiết chủ yếu là chất thải có nguồn gốc đạm (phần lớn là ammonia) Sự chuyển động của vòng tiêm mao ở các tế bào ngọn lửa (flame cell) tạo nên dòng chảy đưa chất lỏng vào trong các túi và chảy vào bàng quang sau đó được tiết ra ngoài thường xuyên và điều đặn. + Hệ sinh dục: Cơ quan sinh dục của con cái bao gồm ba phần: buồn trứng, chất noãn hoàng và lớp nang. Ngay từ khi mới sinh ra, số lượng trứng đã có sẵn trong buồng trứng. Chân: có cấu tạo hình nhẫn không có sự phân đốt, có thể co rút và cuối cùng là 1 hoặc 4 ngón chân 2.1.2 Vòng Đời Vòng đời của luân trùng khoảng từ 3.4 đến 4.4 ngày ở nhiệt độ 250C, nói chung sau 0.5 đến 1.5 ngày ấu trùng bắt đầu trở thành cá thể trưởng thành. Sau đó con cái cứ khoảng 4 giờ lại đẻ trứng một lần, các con cái có thể sinh sản 10 thế hệ trước khi chết. Hoạt động sinh sản của Brachionus phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường (Patrick Lavens & Patrick Sorgeloos, 1996) Vòng đời của luân trùng có thể được khép lại bằng 2 phương thức sinh sản: Sinh sản đơn tính (chủ yếu): con cái đơn tính sinh ra trứng lưỡng bội (2n NST) và phát triển thành con cái đơn tính, chúng có tốc độ sinh sản nhanh trong điều kiện thuận lợi. Đây là hình thức sinh sản nhanh nhất để tăng quần thể luân trùng và là hình thức quan trọng trong hệ thống nuôi sinh khối luân trùng. 4 Sinh sản hữu tính: khi gặp điều kiện bất lợi như biến động nhiệt độ, thiếu thức ăn… luân trùng sẽ sinh sản hữu tính. Khi đó, trong quần thể luân trùng sẽ xuất hiện cả con cái vô tính và hữu tính, có hình thái giống nhau khó phân biệt. Tuy nhiên con cái hữu tính sẽ sinh ra trứng đơn bội và phát triển theo hai hình thức: + Trứng đơn bội không thụ tinh sẽ phát triển thành con đực, có kích thước bằng 1/3 con cái. Chúng không có hệ tiêu hóa và bàng quang, chỉ có tinh hoàn chứa tinh trùng. Hinh 2.2: Vòng đời của luân trùng + Trứng nghỉ (Cyst): là trứng đơn bội kết hợp với tinh trùng tạo thành. Trứng nghỉ có vách tế bào dày, có khả năng chống chịu tốt với môi trường, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ phát triển thành con cái. 2.1.3 Môi Trường Sống 2.1.3.1 Nhiệt độ Luân trùng là loài khá rộng nhiệt, khoảng nhiệt độ thích hợp từ 15 – 35 C. Nhiệt độ dưới 10 0C luân trùng sẽ hình thành trứng nghỉ và quần thể sẽ tàn lụi. Nhiệt độ cao 30 – 350C tốt nhất cho sinh sản của chúng, tuy nhiên trong môi trường nuôi nhiệt độ khuyến cáo nên duy trì từ 20 – 30 0C (Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2000). Khi nuôi luân trùng ở khoảng nhiệt độ 20 – 25 0C sẽ hạn chế được Ciliates (Reguera, 1984). 0 5 Nhiệt độ thích hợp còn tuỳ thuộc loài. Luân trùng dòng S thích nhiệt độ cao, trong khi dòng L lại thích nhiệt độ thấp hơn. Tốc độ tăng trưởng hằng ngày của dòng S là 250%/ngày ở 340C, dòng L đạt tăng trưởng tốt nhất là 170%/ngày ở 250C (Oogani và Maeda, 1977; Oogani, 1977 trích bởi Nguyễn Đông Truyền, 2008). Theo Patrick Lavens & Patrick Sorgeloos (1996), thì Brachionus calyciflorus và Brachionus rubens chịu được nhiệt độ trong khoảng 15 – 310C, còn theo Nguyễn Văn Hải (2008) thì với thể tích 0,5L, mật độ đầu 200 con/ml, nhiệt độ phù hợp cho luân trùng Brachionus angularis là 280C. 2.1.3.2 Độ mặn Luân trùng là loài rộng muối, chúng có thể chịu đựng độ mặn trong khoảng 1 – 67%0. Độ mặn thích hợp nhất khoảng 10 – 35%0. khả năng chịu đựng độ mặn cũng khác nhau tuỳ loài chẳng hạn như đối với luân trùng dòng S độ mặn tốt nhất là 20%0 và đối với luân trùng dòng L độ mặn tốt nhất là 30%0 (Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2000) Theo Trần Bình Nguyên (2008) thì luân trùng nước ngọt Brachionus angularis phân bố (theo thuỷ vực sông) nhiều ở độ mặn 0%0, ở độ mặn 1%0 vẫn có xuất hiện nhưng với mật độ không đáng kể và ở độ mặn 5%0 thì không có xuất hiện Brachionus angularis. Mặt khác theo Byeong Ho Kim, ctv. 2006 (trích dẫn bởi Nguyễn Văn Hải, 2008) thì luân trùng Brachionus angularis sẽ tăng trưởng trong 2- 3 ngày đầu khi tăng độ mặn 1-2%0/ngày và nó không tăng trưởng khi tăng độ mặn hơn 4%0/ngày. Khi tăng độ mặn lên 10%0 trong vòng 5 – 30 phút thì không còn cá thể nào phát triển cũng như sống sót 2.1.3.3 pH Theo Trương Quốc Phú (2006), thì pH là một trong những nhân tố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đối với đời sống thuỷ sinh vật như: sinh trưởng, tỉ lệ sống, sinh sản và dinh dưỡng. pH thích hợp cho thuỷ sinh vật là 6,5 – 9. Luân trùng có thể sống ở khoảng pH rộng từ 5 – 10. Tuy nhiên thích hợp nhất là từ 7,5 – 8,5 (Hoff và Snell, 2004). Giới hạn gây chết của pH đối với luân trùng nước ngọt là trên 10,5 và dưới 3,5 (Mitchell and Joubert, 1986). Theo Nguyễn Văn Hải (2008) thì với thể tích 0,5L, mật độ đầu 200 con/ml, cho ăn bằng tảo, thì pH phù hợp cho luân trùng B. angularis là từ 7 – 8. 2.1.3.4 Oxy Theo Patrick Lavens & Patrick Sorgeloos (1996), các luân trùng có thể sống sót trong nước chứa oxy hoà tan ở mức thấp tới 2 mg/l, theo Trần Sương Ngọc (2003), oxy hoà tan thích hợp cho sự phát triển của luân trùng trong 6 khoảng từ 2 – 7 ppm. Mức oxy hoà tan trong nước nuôi phụ thuộc vào nhiệt độ, độ mặn, mật độ luân trùng và kiểu thức ăn. Tuy nhiên trong điều kiện nuôi, thức ăn và mật độ gia tăng liên tục chất lượng nước sẽ suy giảm nhanh chóng, dẫn đến giảm oxy hoà tan, trong trường hợp này cần điều chỉnh sục khí cho phù hợp. Không nên sục khí quá mạnh để tránh làm tổn hại đến cơ thể sinh vật trong quần thể. 2.1.3.5 NH 3 Theo Trương Quốc Phú (2006), NH3 trong các thuỷ vực được cung cấp từ quá trình phân huỷ các protein, xác bã động thực vật phù du, sản phẩm bài tiết của động vật...NH3 là yếu tố ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sống, sinh trưởng đối với thuỷ sinh vật Theo Patrick Lavens & Patrick Sorgeloos (1996), thì nồng độ NH3 an toàn cho luân trùng là 1 mg/l. Tuy nhiên theo M. Schliiter & J. Groeneweg (1984) nghiên cứu ảnh hưởng của NH3 trên luân trùng Brachionus rubens thấy rằng loài luân trùng này có thể chịu được hàm lượng NH3 đến 3mg/l, dưới nồng độ 3 mg/l thì tăng trưởng của luân trùng không bị ảnh hưởng và trong khoảng 3 – 5 mg/l tốc độ tăng trưởng của luân trùng bị giảm. Nếu nồng độ NH3 vượt quá 5 mg/l thì luân trùng sẽ chết sau 2 ngày và hai ông khuyến cáo rằng trong nuôi sinh khối luân trùng nồng độ NH3 không được vượt quá 3 mg/l. 2.1.3.6 NO 2 Hàm lượng N-NO2- 20ppm trong bể luân trùng B. rubens thấp hơn 50% so với bể nuôi đối chứng. Theo Schluter và Groeneweg (1981) (trích dẫn bởi Nguyễn Đông Truyền, 2008) với hàm lượng N-NO2- từ 10 – 20 ppm không gây độc cho luân trùng Brachionus rubens. Lubzens (1987) cho rằng ở nồng độ 90 – 140 ppm N-NO2- gây độc đối với luân trùng. 2.2 Một Số Nghiên Cứu Liên Quan Đến Luân Trùng 2.2.1 Các Hình Thức Nuôi Luân Trùng 2.2.1.1 Nuôi sang, chuyển hằng ngày: Luân trùng được nuôi trong bể tảo Chlorella, sau khi tảo bị luân trùng ăn hết, nước trở nên trong và chuyển luân trùng sang bể khác. Thể tích nuôi thường 1 – 5 m 3 , đôi khi đến 150 m3 (Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2000). Đây là phương pháp nuôi quảng canh, cần nhiều thể tích bể nhưng không sử dụng hết, mất nhiều ngày để thu hoạch một bể, nước nuôi được loại bỏ, dụng cụ nuôi được tiệt trùng và sau đó luân trùng được thả lặp lại và sinh trưởng trong một thời gian ngắn trước khi thu hoạch toàn bộ. So với phương pháp khác thì 7 đây là phương pháp ít rủi ro, kỹ thuật nuôi đơn giản, nhưng không có hiệu quả cao, hao phí nhân công, thời gian, dụng cụ và phương tiện lao động (Trotta, 1980; Fushimi, 1989 trích dẫn bởi Dương Thị Hoàng Oanh, 2005) 2.2.1.2 Nuôi bán liên tục Bể nuôi luân trùng khi đạt mật độ cao thì được thu hoạch một phần, sau đó thêm tảo và thức ăn vào để nuôi tiếp. Khi mật độ luân trùng cao lại thu hoạch, và cứ như thế tiếp tục. Phương pháp này có thể có trở ngại là sau một vài đợt nuôi, bể sẽ bị ô nhiễm. Thể tích nuôi thường từ 200 – 2000 lít, đôi khi 200 m3. (Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2000) Ở kỹ thuật nuôi này luân trùng được giữ trong bể 5 ngày. Trong suốt 2 ngày đầu, thể tích nước được bổ sung gấp đôi cho mỗi ngày để pha loãng mật độ luân trùng ra phân nữa. Trong suốt những ngày tiếp theo, thu hoạch phân nữa bể và tiếp tục đổ đầy nước lần nữa để giảm mật độ luân trùng xuống phân nữa. Ở ngày thứ 5 thì thu hoạch toàn bộ. Theo Lubzens (1987), nuôi liên tục là nuôi luân trùng với mật độ cao trong hệ thống bể có thể tích nhỏ từ vài chục lít tới 200 m 3. Vì vậy trong hệ thống nuôi, các sản phẩm thải, thức ăn dư thừa tích tụ làm chất lượng môi trường nước nuôi kém. Đây là nguyên nhân gây ra tính rủi ro cao hơn so với phương pháp nuôi mẻ. Trong nuôi luân trùng mật độ cao, một số lớn vật chất hữu cơ lắng tụ dễ làm nước mau xấu đi, thu luân trùng 1 phần để giảm ô nhiễm. Theo Girin và Devauchele (1974) đã lấy 25% thể tích nước mỗi ngày và thay bằng nước mới. Mật độ cấy luân trùng từ 50 – 200 luân trùng/ml thì mật độ thu hoạch có thể đạt từ 300 đến trên 1000 luân trùng/ml trong 3 đến 7 ngày nuôi, nguồn thức ăn sử dụng là vi tảo và men bánh mì. 2.2.1.3 Nuôi liên tục Dụng cụ nuôi có dạng bình Chemostat, thể tích 200 – 1000 lít. tảo được cho vào bể liên tục và luân trùng được thu liên tục. Năng suất luân trùng trung bình 180 – 300 triệu con/m 3/ngày (Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2000). Nuôi sinh khối luân trùng theo phương pháp liên tục có quy mô nhỏ hơn nuôi theo mẻ nhưng quản lý thâm canh hơn. Đây là phương pháp hiệu quả nhất để sản xuất ra luân trùng có chất lượng cao. Vì vậy máy móc trong mô hình nuôi được duy trì ở những điều kiện được xác định hết sức nghiêm ngặt. Mô hình này luôn khép kín và thực hiện trong phòng, nên quy mô nhỏ và chi phí cao. Thuận lợi cơ bản của phương pháp này là kiểm soát chặt chẽ chất vẩn và chất lượng nước, kiểm soát sức sản xuất của luân trùng hằng ngày, tốn ít nước, ít tảo và tiết kiệm nhân công. Trong phương pháp này luân trùng được 8 cho ăn bằng tảo và men bánh mì, chúng được cung cấp liên tục và theo một tỉ lệ xác định trước. Bể nuôi được pha loãng mỗi ngày bằng một thể tích nước nhất định, đồng thời thu hoạch luân trùng theo thể tích nước này mỗi ngày 2.2.1.4 Nuôi luân trùng với mật độ cao Tuỳ theo loài luân trùng, điều kiện nuôi mà mật độ khác nhau, mật độ nuôi được chia thành: nuôi mật độ thấp (10 – 300 cá thể/ml), nuôi mật độ cao (700 – 2000 cá thể/ml), nuôi mật độ siêu cao (2.000 – 15.000 cá thể/ml). Theo trang www.reed-mariculture.com/rotifer/recipe.aspaticeco.com/1-800-4223939 (03/04/2009). Mặt dầu nuôi luân trùng với mật độ cao làm tăng nguy cơ môi trường nuôi xấu hơn và làm giảm tốc độ sinh trưởng do bắt đầu sinh sản hữu tính, nhưng đã thu được kêt quả hứa hẹn trong điều kiện nuôi có kiểm soát. Hệ thống nuôi luân trùng mật độ cao gồm một bể 1m3 nuôi theo chế độ bán liên tục, thu hoạch 2 ngày/lần. Luân trùng Brachionus rotundiformis được thả với mật độ 10000 – 25000ct/ml trong hai ngày ở nhiệt độ 250C và độ mặn 2530‰. Việc nuôi ở mật độ quá cao này có thể thực hiện được vì tảo Chlorella cô đặc có thể cung cấp đầy đủ thức ăn cho luân trùng nhưng ít suy giảm chất lượng nước nuôi. Tảo Chlorella được cô đặc với mật độ khoảng 15 tỉ tb/ml và được bơm liên tục để cung cấp thức ăn cho luân trùng. Kỹ thuật nuôi luân trùng nước mặn ở mật độ cao cũng được áp dụng cho nuôi luân trùng nước ngọt Brachionus calyciforus. Sử dụng mẻ nuôi 5L ở 280C cung cấp oxy và cho ăn bằng tảo Chlorella cô đặc, với mật độ luân trùng là 17.000 – 19.000 luân trùng/ml ở pH = 7, luân trùng thu hoạch là 33.500 con/ml (theo Park et al. 2001) (trích dẫn bởi Dương Thị Hoàng Oanh, 2005). Theo Patrick Lavens & Patrick Sorgeloos (1996), nuôi luân trùng với mật độ thả cao có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ trứng, tỷ lệ trứng giảm từ mức trung bình 30% ở mật độ 150 luân trùng/ml xuống còn 10% ở mật độ 2000 luân trùng/ml và dưới 5% ở mật độ 5000 luân trùng/ml Lubzens (1987) khi nuôi luân trùng mật độ cao ở hình thức nuôi bán liên tục ở các bể có thể tích nhỏ từ vài chục lít đến 200 m3 thì các sản phẩm thải, thức ăn dư thừa và các chất bẩn làm chất lượng nước nuôi kém nó làm cho hệ thống nuôi này không an toàn. Khi mật độ luân trùng vượt quá 1000 ct/ml, chất thải của luân trùng ngày càng nhiều tích tụ ở bể nuôi, gây ra nhiều chất vẩn hữu cơ lơ lủng trong nước. Để khắc phục nhược điểm này Yoshimura et al, (1997) sử dụng vải lót bằng nilon treo vào bể nuôi luân trùng để nhận những chất lơ lững này hằng ngày rửa sạch vải nilon để loại bỏ chất vẩn, ngăn 9 protozoa kí sinh nhằm ổn định quần thể luân trùng (trích từ Dương Thị Hoàng Oanh, 2005) Khi mật độ luân trùng cao thì cần nhiều oxy cho quá trình hô hấp của chúng, do đó ta cần cung cấp oxy cho luân trùng. Theo Hoàng Hiệp Nhất (2007) khi nuôi luân trùng Brachionus rotundiformis dòng ss với các mật độ nuôi là 200, 300, 400 và 500 cá thể/ml thì kết quả cho thấy nghiệm thức nuôi với mật độ 200 và 300 cá thể/ml cho tốc độ tăng trưởng đạt cao nhất sau 6 ngày nuôi. 2.2.2 Sự Thu Hoạch Luân Trùng Theo Trần Sương Ngọc (2003) nghiên cứu nuôi luân trùng trong hệ thống nước xanh, hệ thống có thể tự hoạt động với nguồn thức ăn là tảo từ bể các rô phi mà không cần cho luân trùng ăn thêm thức ăn khác. Mật độ luân trùng duy trì ở mức 700 cá thể/ml, lượng tảo cung cấp liên tục với mật độ 100.000 tế bào/luân trùng/ngày. Năng suất luân trùng thu hoạch 45.360 luân trùng/100L/ngày năng suất đạt 64,8% so với mật độ luân trùng duy trì, nghiên cứu kéo dài trong một tuần. Ở hướng nghiên cứu khác, nghiên cứu trên hệ thống nước xanh nhưng có sử dụng thức ăn chế biến là men bánh mì, năng suất luân trùng thu hoạch đạt 445 cá thể/ml chiếm 21,2% quần thể luân trùng duy trì, thời gian nuôi kéo dài 30 ngày. Mật độ luân trùng duy trì là 2000 cá thể/ml, tỉ lệ bổ sung tảo 5% nhu cầu sử dụng tảo và men bánh mì chiếm 90% Từ 2 nghiên cứu trên cho thấy năng suất thu hoạch luân trùng đạt cao nhất ở nghiên cứu chỉ sử dụng thức ăn từ tảo chiếm 64,8%, nhưng thời gian nuôi ngắn không thể đáp ứng nhu cầu sản xuất. Nghiên cứu sử dụng thức ăn chế biến từ men bánh mì với tỉ lệ giữa tảo và men bánh mì là 50% tảo – 90% men bánh mì cho năng suất thu hoạch thấp hơn nhưng thời gian nuôi kéo dài hơn. Từ đó cho thấy việc cung cấp thêm thức ăn chế biến góp phần kéo dài thời gian duy trì trong hệ thống tuần hoàn kết hợp. Trích dẫn bởi Trần Sương Ngọc (2003) thì trong hệ thống nuôi luân trùng Brachionus rotundiformis (bể 100L) của Fu (1997) với mật độ luân trùng ban đầu là 3.800 con/ml và với tỉ lệ thu hoạch 60 – 70%/ngày có thể duy trì mật độ 5.000 con/ml trong suốt thời gian nuôi là 38 ngày với mật độ Chlorella cho ăn trong bể nuôi là 8.105 tb/ml .Năng suất thu hoạch hằng ngày là 0,28 tỉ luân trùng/10lít/ngày. Ở một nghiên cứu khác, thể tích nuôi là 25 lít, mật độ ban đầu là 500 cá thể/ml, thức ăn là men bánh mì 0,4g/1 triệu luân trùng/ngày thì tỉ lệ thu hoạch hằng ngày là 20% quần thể luân trùng phục hồi nhanh nhất, thời gian nuôi duy trì được 17 ngày, khi nuôi ứng dụng ở các bể 500 lít với mật độ, thức ăn và tỉ lệ thu hoạch như trên thì mật độ luân trùng thu 10 được hằng ngày là 67,9 triệu luân trùng, thời gian nuôi kéo dài được 15 ngày (Nguyễn Đông Truyền, 2008) 2.2.3 Các Loại Thức Ăn Sử Dụng Cho Luân Trùng Thức ăn của luân trùng gồm nhiều loại khác nhau như tảo, vi khuẩn, nấm men và những hạt mãnh nhỏ. Trong các loại thức ăn đó thì tảo Chlorella và men bánh mì được xem là thức ăn tốt nhất 2.2.3.1 Tảo Theo trích dẫn của Trần Sương Ngọc (2003), Chlorella là một trong những loài được phân lập đầu tiên từ năm 1890. Chlorella phân bố tự nhiên trong cả nước ngọt và nước lợ. Chúng có thể phát triển trong những điều kiện môi trường khác nhau ngay cả trên đất hoặc trên tường ẩm ướt. Chlorella là giống tảo có giá trị dinh dưỡng cao thường sử dụng làm thực phẩm cho con người và trong nghề nuôi thuỷ sản lẫn trong chăn nuôi Tảo Chlorella là thức ăn rất tốt cho luân trùng do chúng có hàm lượng dinh dưỡng cao chứa 20 – 30 % glucid với rất ít lượng gian bào không tiêu hoá được. Lượng lipid của tảo thay đổi từ 10 – 20% với đa số các acid béo không no. Chlorella có chứa hầu hết các vitamin A, B1, B2, B6, B12, C, D, K, acid nicotinic, acid pantotenic…Hàm lượng đạm khoảng 50% và chứa hầu hết các acid amin thiết yếu như Lysine, Methionine, Tryptophan, Arginine, Histidine…( Trần Văn Vỹ, 1982 ). Hơn nữa Chlorella còn sản sinh ra chất kháng sinh Chlorellin chống lại một số vi khuẩn do đó giúp hạn chế được một số mầm bệnh. Với các đặc tính nêu trên nên Chlorella là thức ăn lý tưởng cho luân trùng Theo Trương Sĩ Kỳ (2004), ưu điểm của việc sử dụng tảo làm thức ăn cho luân trùng là năng suất cao, dễ quản lý môi trường trong khi sử dụng các loại thức ăn nhân tạo mặc dầu dễ dàng chủ động được nguồn thức ăn nhưng năng suất không cao, khó quản lý môi trường, dễ nhiễm tạp Thức ăn cho luân trùng bao gồm các loại tảo, quan trọng nhất là Chlorella, Tetraselmis, Chlamidomonas, Dunadiela, Nanochloropsis, Phaeodactilum, Nitszchia…Những loài tảo chứa nhiều HUFA như Chlorella, Nannochloropsis là rất quan trọng để làm thức ăn cho luân trùng mà điều đó sẽ tác dụng tốt cho tôm cá nuôi. Có thể dùng tảo thuần hay tảo hỗn hợp. Mật độ tảo cho luân trùng ăn đảm bảo 0.5 – 1.5 triệu tb/ml. Mỗi luân trùng có thể ăn 100000 – 150000 tế bào tảo mỗi ngày ( Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2000) Tảo cho luân trùng ăn cần có chất lượng dinh dưỡng tốt, khả năng sinh trưởng và tự phục hồi cao, không gây ô nhiễm cho môi trường nuôi.Lượng tảo 11 cho vào càng nhiều thì càng tốt bởi vì nó không chỉ làm thức ăn cho luân trùng mà còn có tác dụng cải thiện chất lượng môi trường nước nuôi và nhân tố vi khuẩn gây bệnh (Dhert, 1996). Theo Nagata (1992) khi nghiên cứu về ảnh của men và các loài tảo khác nhau đến sự phát triển của luân trùng thì ông thấy tốc độ tăng trưởng và sức sinh sản trung bình của luân trùng cao nhất khi cho ăn Chlorella kế đó là tảo Isochrysis, Tetraselmis, Suecica, men bánh mì (Saccharomices cereviciae) và cuối cùng là Thalassiosira pseudonana 2.2.3.2 Men Bánh Mì Men bành mì là những tế bào nấm men có kích thước 5 – 7 µm có hàm lượng protein cao (45 – 52 %) và rẻ tìên là thức ăn chấp nhận được đối với Brachionus. Tuy nhiên nếu chỉ cho ăn hoàn toàn bằng men bánh mì thì năng suất không ổn định, có những thành công rất khác nhau và quần thể luân trùng mau tàn ( Hirayama, 1987; Komis, 1992 trích bởi Nguyễn Văn Hạnh, 2005). Nguyên nhân chủ yếu là do khó quản lý chất lượng nước nuôi, hơn nữa luân trùng sản xuất được lại có chất lượng kém, vì bản thân men bánh mì có dinh dưỡng kém. Đối với men bánh mì sống cho luân trùng ăn với hàm lượng từ 1 – 3g/10 triệu luân trùng, còn đối với men khô 0,3 – 0,9g/10 triệu luân trùng. Đối với luân trùng Brachionus plicatilis là 1g/1triệu luân trùng/ngày, tuy nhiên lượng thức ăn này còn tuỳ thuộc vào kích thước của luân trùng và nhiệt độ nước (Fulks. W và Main, L.K,1991). Cho ăn bằng men tươi thì tốt hơn men khô nhưng khó quản lý chất lượng nước và sự phát triển của vi khuẩn trong các hệ thống nuôi liên tục. Khi cho ăn bằng men bánh mì rất khó giải quyết vấn đề cho ăn dư thừa, điều này dể nhận biết do thành bể nuôi có độ nhớt cao, nước có mùi hôi và thức ăn dư đóng thành cục trôi nổi trong nước (Trích từ Dương Thị Hoàng Oanh, 2005) Ngoài ra, men bánh mì là loại thức ăn rất tiện lợi cho nuôi sinh khối luân trùng, nhất là khi tảo nuôi gặp nhiều khó khăn. Men bánh mì có hàm lượng đạm cao nhưng không có nhiều HUFA cần thiết cho ấu trùng tôm cá. Vì thế luân trùng được nuôi bằng men bánh mì, sau khi thu hoạch và trước khi sử dụng làm thức ăn cho ấu trùng tôm cá cần được giàu hoá dinh dưỡng, đặc biệt là HUFA. Luân trùng có thể được giàu hoá bằng tảo sống hoặc giàu hoá bằng nhũ tương với acid béo omega-3 trước khi cho ấu trùng tôm cá ăn (Dương Thị Hoàng Oanh, 2005). Tuy nhiên khi nuôi luân trùng bằng men bánh mì, luân trùng có kích thước lớn hơn khi nuôi bằng tảo (Dhert, 1996). 2.2.4 Đánh giá khả năng phát triển của luân trùng Snell et al, (1987) đưa ra 2 phương pháp quan trọng để đánh giá tình trạng sinh lí của luân trùng nuôi sinh khối. 12
- Xem thêm -