An ninh năng lượng trên thế giới

  • Số trang: 20 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 32 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Tiểu luận An ninh năng lượng trên thế giới Thuyết trình ANNL Nếu coi thế giới là một con người thì năng lượng chính là nguồn máu của thế giới. Năng lượng với tất cả các dạng thức của mình, tham dự mọi hoạt động sống của thế giới từ sinh hoạt đến sản xuất và hơn thế. Năng lượng cùng tầm quan trọng thiết yếu của mình còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới các chính sách kinh tế, chính trị của mọi quốc gia trên thế giới. Không có năng lượng, sẽ không có sự phát triển. Không có năng lượng, thế giới sẽ chìm vào bóng đêm. A. Giới thiệu chung: 1. Các khái niệm chính : a. Các khái niệm chung về năng lượng, nhiên liệu: Năng lượng là khả năng làm thay đổi trạng thái hoặc thực hiện công năng lên một hệ vật chất. Nhiên liệu là vật chất được sử dụng để giải phóng năng lượng khi cấu trúc vật lý hoặc hóa học bị thay đổi. Nhiên liệu giải phóng năng lượng thông qua quá trình hóa học như cháy hoặc quá trình vật lý, ví dụ phản ứng nhiệt hạch, phản ứng phân hạch. Tính năng quan trọng của nhiên liệu đó là năng lượng có thể được giải phóng khi cần thiết và sự giải phóng năng lượng được kiểm soát để phục vụ mục đích của con người. Các dạng nhiên liệu phổ biến được dùng là dầu hỏa, xăng dầu, than đá, chất phóng xạ, v.v.. Năng lượng nhiên liệu là các nhiên liệu trong quá trình tương tác hoá học hoặc vật lí tạo ra năng lượng. Có các loại nhiên liệu năng luợng phổ biến như: Dầu mỏ, than đá, mặt trời, sức gió, v.v. b. Khái niệm về khủng hoảng năng lượng/ nhiên liệu: Khủng hoảng năng lượng là thời kì giá nhiên liệu tăng cao, gây áp lực cho mọi nền kinh tế trên thế giới. Nguyên nhân có thể bắt nguồn từ việc tích trữ đầu cơ các loại nhiên liệu hoá thạch phổ biến đặc biệt là dầu mỏ, sự hỗn loạn chính trị tại các nước cung cấp, các đường ống dẫn bị hỏng nặng nề, nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm .v.v. Trong lịch sử có một số cuộc khủng hoảng lớn: Cuộc khủng hoảng năm 1970. khủng hoảng dầu năm 1990. Bắc Mỹ khủng hoảng khí đốt tự nhiên năm 2004.v.v. c. Thế nào là an ninh năng lượng: Sự phân bố không đồng đều nguồn cung cấp năng lượng dẫn đến những bất ổn quốc gia. Mối đe doạ về ANNL bao gồm: bất ổn chính trị của các nước sản xuất năng lượng, sự cạnh tranh với các nguồn cung cấp năng lượng, các hạn chế nguồn cung cấp, chi phí tăng v.v. Các vấn đề trên đạt ra một nhu cầu về duy trì bên vững các nguồn năng lượng trong tuơng lai. Và ANNL trở thành vấn đề hàng đầu của TG 2. Các loại năng lượng chính: a. Nhiên liệu hóa thạch: Tài nguyên thiên nhiên như than đá, dầu, khí có được do thực vật và vi sinh vật sinh trưởng từ xa xưa, trải qua những biến động của vỏ trái đất trong một thời gian dài được gọi là nhiên liệu hoá thạch. Dầu mỏ là một dạng quan trọng của nhiên liệu hoá thạch, tập trung chủ yếu ở khu vực Trung Đông. Người ta dự báo rằng trong tương lai gần, dầu mỏ vốn được xem là một tài nguyên chiến lược về năng lượng sẽ trở nên khan hiếm. Do vậy chúng ta không nên sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên của nước mình mà nên giữ gìn và sử dụng một cách thận trọng.  Ưu điểm: Nhiên liệu hóa thạch là nhiên liệu chính của các ngành công nghiệp, rất hiệu quả. Nhiên liệu này được sử dụng dưới nhiều dạng khác nhau: vd như dầu mỏ đc sử dụng dưới dạng xăng, dầu diezen, dầu nhớt… Bên cạnh đó, nhiên liệu hóa thạch đơn giản quá trình đốt cháy trực tiếp hoặc tạo ra điện , là loại năng lượng rẻ tiền, dễ dàng phân phối.  Nhược điểm: Nhiên liệu hoá thạch như dầu, than, khí tự nhiên khi đốt cháy sẽ thải ra điôxít cácbon (CO2), ôxít sunphua (SOx), ôxít nitơ (NOx). Khi nồng độ của CO2 trong không khí tăng lên thì nhiệt độ Trái đất sẽ tăng lên. Người ta dự đoán rằng nếu nhân loại cứ tiếp tục đốt các nhiên liệu hoá thạch như thế này và khí CO2 vẫn tiếp tục tăng lên thì sau 100 năm, nhiệt độ trung bình của Trái đất sẽ tăng lên 2 độ và gây ảnh hưởng rất lớn đối với Trái đất. Ngoài ra, ôxít sunphua (SOx), ôxít nitơ (NOx) là nguyên nhân tạo ra hiện tượng mưa axít gây ra những tác hại to lớn đối với động thực vật trên Trái đất. b. Nhiên liệu sạch: Nhiên liệu sạch là các loại khí thiên nhiên nén hay hoá lỏng hoặc một hỗn hợp được sử dụng để thay thế cho nhiên liệu hoá thạch và khi sử dụng tạo ra ít khí ô nhiễm hơn các loại nhiên liệu khác. Các loại nhiên liệu sạch phổ biến hiện nay: Pin nhiên liệu, năng luợng mặt trời, năng lượng gió, sinh khối, khí bãi rác. Tác động hấp thuỷ.v.v  Ưu điểm: Về mặt môi trường, việc sử dụng nhiên liệu sạch giúp giảm lượng phát thải khí CO2, do đó giảm được lượng khí thải gây ra hiệu ứng nhà kính. Nhiên liệu sạch không có hoặc chứa rất ít các hợp chất của lưu huỳnh (<0,001% so với đến 0,2% trong dầu Diesel). Hàm lượng các hợp chất khác trong khói thải như: CO, SOX, HC chưa cháy, bồ hóng giảm đi đáng kể nên có lợi rất lớn đến môi trường và sức khoẻ con người. Nhiên liệu sạch có khả năng tự phân huỷ và không độc. Việc sử dụng loại nhiên liệu này giúp giảm ô nhiễm môi trường nước và đất. Ngoài ra còn đóng góp cho việc giảm sự tiêu dùng các sản phẩm dầu mỏ. Về mặt kinh tế, sử dụng nhiên liệu sạch ngoài vấn đề giải quyết ô nhiễm môi trường nó còn thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển, tận dụng tiềm năng sẵn có của ngành nông nghiệp như dầu phế thải, mỡ động vật, các loại dầu khác ít có giá trị sử dụng trong thực phẩm. Đồng thời đa dạng hoá nền nông nghiệp va tăng thu nhập ở vùng miền nông thôn. Nhiên liệu sạch hạn chế nhập khẩu nhiên liệu nhiên liệu hoá thạch, góp phần tiết kiệm cho quốc gia một khoảng ngoại tệ lớn.  Nhược điểm: Tuy vậy , nhiên liệu sạch còn tồn tại một số nhược điểm. Nhiên liệu sạch có nhiệt trị thấp hơn so với NL hoá thạch. Bên cạnh đó, chi phí sản suất cao. Do đó làm cho giá thành cao, (nhưng với sự leo thang giá cả nhiêu liệu như hiện nay thì vấn đề này không còn là rào cản nữa.). Nhiên liệu sạch đc sản xuất nhiều nhờ vào các sản phẩm nông nghiệp, vì thế là điều bất lợi vì năng suất thấp, khó ổn định được chât lượng sản phẩm cũng như các điều kiện của quá trình phản ứng. Một phương pháp có thể tránh hoặc tối thiểu khó khăn này là sử dụng quá trình sản xuất liên tục. B. Thực trạng các nguồn năng lượng 1. Dầu mỏ a. Các cuộc khủng hoảng lớn trong lịch sử ► Cuộc khủng hoảng dầu mỏ Trung Đông 1973 – 1975  Nguyên nhân: + Mỹ, Anh và các nước Tây Âu ủng hộ Israel trong cuộc xung đột với liên quân Ai Cập - Syria. + Ngày 17/10/1973: Các quốc gia Ả Rập thuộc Tổ chức Xuất khẩu Dầu mỏ OPEC ( cùng với Ai Cập và Syria) đã ngừng xuất khẩu dầu mỏ sang Mỹ, Anh, Tây Âu như một hành động trừng phạt.  Diễn biến: + Lượng dầu bị cắt giảm tương đương với 7% sản lượng của cả thế giới thời kỳ đó + Ngày 16/10/1973, giá dầu mỏ từ 3,01 USD nhảy lên 5,11USD một thùng, và tăng đến gần 12 USD vào giữa 1974. +Ngày hôm sau, các nước thành viên OPEC chính thức tuyên bố ngừng xuất khẩu dầu mỏ cho Mỹ và Hà Lan.  Hậu quả: +Sự kiện này đã khiến giá dầu thế giới tăng cao đột ngột và gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế 1973-1975 có quy mô toàn cầu. +Giá nhiên liệu đã tăng trung bình 86% chỉ trong vòng 1 năm từ 1973 đến 1974 + Trong suốt cuộc khủng hoảng, tại Mỹ, GDP giảm 3,2%, tỷ lệ thất nghiệp chạm mức 9%. + Suy thoái và lạm phát lan rộng gây ảnh hưởng tới kinh tế toàn cầu cho tới tận thập niên 1980. ►Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1979  Nguyên nhân: cuộc cách mạng Hồi giáo Iran Cách mạng Hồi giáo Iran được mệnh danh cuộc cách mạng lớn thứ 3 trong lịch sử nhân loại. Nhưng khi cách mạng Iran lật đổ chính quyền quân chủ của Shah, ngành công nghiệp vàng đen của nước này dưới chế độ mới đã giảm mạnh bởi sự tàn phá của các lực lượng đối lập.  Diến biến: + Trong nỗ lực kìm giá dầu, Ảrâp Xêút và các nước thuộc OPEC khác đã nhất loạt tăng sản lượng làm cho lượng khai thác chỉ giảm 4% so với trước Cách mạng Hồi giáo Iran. +Tuy nhiên, giá dầu vẫn bốc lên ngất ngưởng do nỗi sợ hãi của thị trường, chỉ trong vòng 12 tháng, mỗi thùng dầu nhảy vọt từ 15,85 USD lên 39,5 USD.  Hệ quả: +Giá năng lượng đi lên kéo theo lạm phát gia tăng, đạt đỉnh 13,5% trong năm 1980, buộc Cục Dự trữ Liên bang (FED) phải thực hiện hàng loạt chính sách thắt chặt tiền tệ. +Tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng một cách đáng lo ngại với từ mức 5,6% của tháng 5/1979 lên 7,5% một năm sau đó. Dù kinh tế bắt đầu hồi phục trong năm 1981, tỷ lệ thất nghiệp vẫn được duy trì ở mức cao 7,5% và đạt kỷ lục 10,8% vào 1982. +Các ngành công nghiệp xe hơi, nhà đất, và sản xuất thép đều liên tục sụt giảm trong 10 năm sau, cho tới tận khi cuộc khủng hoảng giá dầu tiếp theo kết thúc. ►Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1990  Nguyên nhân: Sau cuộc chiến tranh vùng Vịnh giữa Iraq và liên quân hơn 30 quốc gia do Mỹ lãnh đạo để giải phóng Kuwait, Liên Hợp Quốc áp dụng lệnh cấm xuất khẩu dầu toàn phần đối với Iraq và Kuwait. Chính lệnh cấm vận này đã lấy đi của thị trường dầu mỏ thế giới gần 5 triệu thùng mỗi ngày, khiến giá tăng cao.  Diễn biến: +Tại thời điểm đó, mỗi thùng dầu đắt gấp đôi chỉ trong vòng 2 tháng, từ 17 USD lên 36 USD mỗi thùng. + Khi lực lượng Liên quân do Mỹ lãnh đạo đưa quân vào giải phóng Kuwait, tình trạng thiếu nguồn cung mới chấm dứt và giá bắt đầu hạ.  Hệ quả: +Khủng hoảng này phần nào là nguyên nhân dẫn tới cuộc suy thoái kinh tế ở Mỹ với sự sụp đổ của thị trường tín dụng. +Ảnh hưởng gián tiếp đến suy thoái ở một loạt cường quốc: Canada, Australia, Nhật, hay Anh. ►Cuộc khủng hoảng dầu mỏ nghiêm trọng 2007 – 2008  Nguyên nhân: Năm 2007, giá dầu leo thang tiến gần 100 USD. Trong bối cảnh đồng USD mất giá nghiêm trọng, nhiều nước có dự trữ đôla Mỹ lớn và khối OPEC đã phải tính đến khả năng chuyển dần sang sử dụng loại ngoại tệ mạnh khác để tính giá dầu cũng như cắt giảm sản lượng dầu.  Diễn biến: +Dầu đắt đỏ và nguy cơ cạn kiệt nguồn cung đã làm bùng lên cuộc tranh chấp giữa các cường quốc về chủ quyền đối với những giếng dầu lớn và đáy biển ở Bắc cực cũng như Nam cực.  Hệ quả: Tại Mỹ, cuộc khủng hoảng tài chính bùng phát vào giữa năm 2007. Sự đổ vỡ lên đến cực điểm vào tháng 10/2008, lan rộng và đẩy nền kinh thế giới vào cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng nhất kể từ cuộc Đại suy thoái 1929 - 1933. Tại thời điểm này, có lúc giá dầu lên đến mức kỷ lục 145 USD mỗi thùng. b. Tình trạng Cung hiện nay Cung dầu mỏ có nguy cơ bất ổn trong tình hình bạo loạn ở Trung Đông và Bắc Phi hiện nay ►Bạo loạn ở Libi  Tình trạng: + Bạo loạn cùng những cuộc biểu tình ở Libi thời gian gần đây đang gây sóng gió trên thị trường nhiên liệu. Hiện tại, các nước châu Âu (ví dụ Italy, Iceland và Áo) phụ thuộc khá nhiều vào dầu mỏ đến từ Libi. +Libi chỉ chiếm 2% sản lượng dầu thô toàn cầu và xuất khẩu rất ít dầu sang Mỹ, nhưng cuộc khủng hoảng chính trị ở quốc gia này vẫn đủ sức đẩy giá dầu thế giới tăng vọt. Sở dĩ tình hình ở Libi có tác động mạnh tới giá dầu quốc tế vì loại dầu thô “ngọt” của nước này không dễ thay thế trong việc sản xuất xăng, dầu diesel và xăng hàng không, đặc biệt tại những nhà máy lọc dầu ở châu Âu và châu Á vốn không được trang bị để lọc loại dầu “chua” có hàm lượng lưu huỳnh cao hơn.  Diễn biến: + Nguồn cung thị trường dầu lửa thế giới đã hao hụt khoảng 1 triệu thùng mỗi ngày vì các công ty dầu lửa cắt giảm hoạt động tại Libi. +23/2 tại New York, giá dầu thô ngọt nhẹ tại New York đã chạm mức 100 USD/thùng, cao nhất trong 28 tháng. Tại thị trường London, giá dầu thô Brent tăng 5,47 USD/thùng, lên 111,25 USD/thùng. +25/2 giá dầu ngọt nhẹ được bán ở mức 105,40 USD/thùng tại New York.  Hệ quả: +Các chuyên gia về dầu lửa cho rằng, nếu bất ổn ở Libi còn kéo dài thêm một vài tuần nữa, các nhà máy lọc dầu ở châu Âu sẽ buộc phải mua dầu thô ngọt từ Algeria và Nigeria, hai nguồn cung cấp dầu ngọt chính của nước Mỹ hiện nay. Điều này có thể đẩy giá xăng tại Mỹ tăng lên mức 3,5 USD/gallon trong thời gian tới, buộc người dân nước này phải cắt giảm chi tiêu. Tính ra, giá xăng tăng thêm 1 xu, thì người tiêu dùng Mỹ lại thiệt hại 1 tỷ USD mỗi năm. +Giới chuyên gia lo ngại, nếu giá dầu giữ ở mức cao trong năm nay, tiến trình phục hồi mong manh của kinh tế toàn cầu sẽ bị cản trở. Ước tính, giá dầu cứ tăng thêm 10 USD/thùng thì tốc độ tăng GDP toàn cầu sẽ bị cắt giảm 0,5 điểm phần trăm trong 2 năm. + Châu Âu là khu vực chịu ảnh hưởng tức thời nhiều nhất từ tình hình căng thẳng ở Libi. (Hơn 85% lượng xuất khẩu dầu của Libi là sang châu Âu, trong đó hơn 1/3 sang Italy) Tiếp theo là khu vực châu Á và cuối cùng là Mỹ (Phần lớn số dầu còn lại được xuất sang châu Á, chỉ 5% được xuất sang Mỹ) ►Tình hình cung dầu mỏ của Arập Xêút (Saudi Arabia)  Sản lượng: + Là nước sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới +Theo ước tính của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), Arập Xêút chiếm 11,6% sản lượng dầu thô của thế giới, và có công suất dự phòng 2,5-3 triệu thùng/ngày, tương đương khoảng 60% công suất dự dự phòng của toàn OPEC. + Gần đây sự gia tăng cung dầu mỏ từ nước này cũng đã bù đắp được sự giảm sút trong sản lượng của Libi +Sản lượng dôi dư: Nhà phân tích cấp cao Manouchehr Takin, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng Toàn cầu (CGES) có trụ sở tại London (Anh), cho rằng chỉ riêng Arập Xêút, nước xuất khẩu dầu thô lớn nhất thế giới, hiện dôi dư tới 5 triệu thùng/ngày. Với quy mô và khả năng tăng sản lượng, Arập Xêút có thể gây ảnh hưởng đối với phần còn lại trong OPEC.  Nguy cơ: Arập Xêút hiện nay vẫn nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của bạo động bất ổn chính trị và cũng đã chứng kiến nhiều cuộc biểu tình trong những ngày gần đây. Các chuyên gia cho rằng nếu tình hình ở Arập Xêút trở nên trầm trọng chắc chắn sẽ ảnh hưởng lớn tới nguồn cung dầu mỏ toàn cầu. ►Tình hình cung dầu mỏ của một vài quốc gia khác  Iraq: Các nhà phân tích dự đoán sản lượng dầu thô của Iraq, một thành viên được miễn tính hạn ngạch trong OPEC, sẽ tăng từ khoảng 2,5 triệu thùng/ngày hiện nay lên 2,8 triệu thùng ngày trong năm tới, trước khi tăng lên 4,6 triệu thùng/ngày vào năm 2015.  UAE: Các chuyên gia của hãng JBC Energy có trụ sở tại Vienna (Áo) dự đoán, công suất dôi dư của Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất (UAE) hiện ở mức 500.000 thùng/ngày, với Kuwait là 350.000 thùng/ngày.  Nigeria, Argentina, Libi, Qatar : Nhà phân tích Peter Wells, thuộc hãng tư vấn Neftex Petroleum Consultants (Anh) đưa ra mức công suất dôi dư của mỗi nước chỉ khoảng 150.000-300.000 thùng/ngày mỗi nước. ►Tình hình cung dầu mỏ nói chung +Sản lượng tăng: OPEC cho biết khối này đã gia tăng đáng kể sản lượng dầu thô, với tổng sản lượng của 12 nước thành viên trong tháng 2/2011 đã đạt mức cao nhất kể từ tháng 9/2008 +Sản lượng dôi dư: Bản thân OPEC cho hay họ hiện có công suất dôi dư hơn 6 triệu thùng/ngày. Trong báo cáo Triển vọng dầu mỏ thế giới mới công bố, OPEC nói rằng mức này sẽ không thay đổi cho tới năm 2014 c. Tình trạng Cầu hiện nay ►Tình hình cầu dầu mỏ của Trung Quốc +Là quốc gia nhập khẩu dầu thô lớn nhất thế giới +Tháng 12/2010, lượng nhập khẩu dầu thô đã tăng thêm 1,4%. Tổng khối lượng dầu thô nhập khẩu cả năm 2010 lên mức kỉ lục 239,3 triệu tấn, tăng 18% so với năm 2009. +Dự báo lượng dầu nhập khẩu trong năm 2011 của Trung Quốc là 5,1 triệu thùng/ngày, tăng 6,3% so với năm 2010 nhằm mục tiêu tăng công suất lọc dầu thêm 20% trong 5 năm tới để đáp ứng nhu cầu trong nước đang tăng nhanh. +Sử dụng cho nhu cầu của các ngành công nghiệp, khoáng sản, giao thông vận tải, ô tô, công xưởng gia công : Năm 2010, phát triển kinh tế của Trung Quốc về tổng thể giữ được mức độ tốt, sự phát triển với tốc độ nhanh của các ngành trên là sự hỗ trợ mạnh mẽ cho tăng trưởng nhu cầu sử dụng dầu mỏ, tốc độ tăng lượng dầu mỏ sử dụng thực tế nhanh hơn. Số liệu cho thấy, năm 2010 lượng dầu thô sử dụng thực tế là 439 triệu tấn, tăng 13,1% và đây là lần đầu tiên lượng dầu thô sử dụng thực tế vượt qua mốc 400 triệu tấn, tốc độ tăng lập kỷ lục mới kể từ năm 2005 đến nay. +Nguồn nhập khẩu: Trung Quốc đã vượt qua Mỹ trở thành nước nhập khẩu dầu mỏ Ả rập lớn nhất, dầu thô Ả rập lại trở thành nhân tố ngày càng quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trung Quốc. Theo Cục tình báo năng lượng Mỹ (EIA), bất chấp Trung Quốc đã nỗ lực hết sức để đa dạng hóa nguồn dầu thô, nhưng phần lớn số dầu thô nhập khẩu cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đều xuất phát từ Ả rập, mà các tỉnh phía đông phái Shiite – nơi có nguồn năng lượng dồi dào ở Ả rập lại đóng vai trò quan trọng trong sản xuất dầu thô của nước này. Trung Đông cung ứng khoảng 2,9 triệu thùng/ngày cho Trung Quốc, chiếm hơn một nửa tổng số lượng nhập khẩu dầu của Trung Quốc, trong đó lượng cung ứng của Ả rập đạt xấp xỉ 1,1 triệu thùng/ngày. ►Tình hình cầu dầu mỏ của Mỹ +Nhu cầu dầu mỏ tăng mạnh bởi kinh tế tăng trưởng thúc đẩy tiêu thụ nhiên liệu. +Theo Viện Dầu khí Mỹ (API), nhu cầu dầu thô và các sản phẩm dầu của nước này đã tăng 4,4% trong tháng 2 năm nay và là tháng có nhu cầu mạnh nhất trong 3 năm trở lại đây nhờ kinh tế tăng trưởng thúc đẩy tiêu thụ nhiên liệu. +Báo cáo cung cầu hàng tháng của API cho thấy, tổng khối lượng xăng dầu giao hàng trong tháng 2, bao gồm cả xuất khẩu, đạt bình quân 19,691 triệu thùng/ngày, tăng 831.000 thùng/ngày so với cùng tháng năm 2010. 2. Năng lượng nguyên tử, hạt nhân a. Thực trạng năng lượng hạt nhân hiện nay Ngày nay trên thế giới có khoảng 440 lò phản ứng hạt nhân sản xuất điện tại 31 quốc gia với tổng công suất 358.661MW, sản xuất ra 2.254,17 TWh (năm 2002) chiếm tỷ trọng 16%. Tại hơn 15 nước điện hạt nhân chiếm ít nhất 25% tổng sản lượng điện, tại Châu Âu và Nhật bản, điện hạt nhân chiếm hơn 30% lượng điện sản xuất, tại Hoa kỳ, điện hạt nhân tạo ra 20% sản lượng điện. Trên toàn thể giới, các nhà khoa học tại hơn 50 nước đang sử dụng gần 300 lò phản ứng phục vụ nghiên cứu để phát triển công nghệ hạt nhân, sản sinh ra các đồng vị phóng xạ phục vụ chẩn đoán y khoa và chữa trị ung thư… Trong khi đó, các lò phản ứng hạt nhân cũng đang được sử dụng làm nguồn cung cấp điện cho hơn 400 chiếc tàu vượt đại dương mà không hề gây ảnh hưởng tới thủy thủ đoàn và môi trường. Sau thời kỳ Chiến tranh lạnh, người ta đã gỡ bỏ những nguyên liệu hạt nhân ra khỏi vũ khí và chuyển chúng thành nhiên liệu cho những nhà máy điện hạt nhân dân dụng. Các nước cung cấp Uranium, nhiên liệu cho điện hạt nhân, chủ yếu là Canada, Austraylia, đều là những nước có tình hình chính trị ổn định và có thể cung cấp ổn định. Nhắc đến thực trạng năng lượng hạt nhân hiện nay, không thể không để cập tới cuộc khủng hoảng hạt nhân ở Nhật Bản trong những ngày gần đây. b. Khủng hoảng hạt nhân ở Nhật Bản Những ngày tháng ba vừa qua, cả thế giới đã phải chứng kiến nỗi đau của người dân đất nước mặt trời mọc trong thảm họa động đất, sóng thần ngày 11/3 – có thể được coi là một trong những thảm họa thiên nhiên khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại. Thiệt hại nghiêm trọng mà trận động đất sóng thần này gây ra là vô cùng to lớn, có khoảng 8.450 người chết, 12.931 người khác mất tích, ước tính sơ bộ thiệt hại về kinh tế lên tới 235 tỉ USD (tương đương 4% GDP của Nhật). Tuy nhiên, một trong những hậu quả chính của thảm họa động đất tại đất nước này – cuộc khủng hoảng hạt nhân - vẫn chưa thật sự kết thúc. Ngay sau ngày thảm họa động đất sóng thần xảy ra, hàng loạt các vụ nổ đã xảy ra ở các lò phản ứng hạt nhân tại Nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi nằm ở tỉnh Fukushima. Ngày 27/3/2011 Cơ quan an toàn hạt nhân Nhật cho biết lượng phóng xạ iot trong nước biển gần nhà máy đã tăng từ 1.250 lần vào ngày thứ bảy lên mức gấp 1.850 lần. Quan chức cấp cao hạt nhân của Nhật Hidehiko Nishiyama nhận định nguyên nhân khiến phóng xạ trong nước tích tại các tòa nhà tua-bin tăng cao có vẻ như là do phóng xạ bị rò rỉ từ một vết nứt hoặc thủng của vỏ lõi lò phản ứng. Nhiều chuyên gia tin rằng phóng xạ ở Fukushima I xuất phát từ một lò phản ứng, tuy nhiên cho đến nay, giới chức trách vẫn chưa xác định được rõ nguồn xuất phát đó. Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) cảnh báo cuộc khủng hoảng hạt nhân hiện nay ở Nhật có thể kéo dài nhiều tháng. IAEA đã cử thêm các nhóm chuyên gia tới nhà máy. 3. Năng lượng tương lai Con người không thể đi ngược lại lịch sử. Dân số thế giới tăng với tốc độ chóng mặt, đòi hỏi phải có một lượng năng lượng khổng lồ để con người duy trì sự sống và phát triển. Ðể đáp ứng được những nhu cầu này, con người cần huy động năng lượng từ mọi nguồn. Trong vòng 50 năm nữa, khi dân số thế giới tăng tới 9 tỷ người, những nhu cầu của con người mà ngày nay vẫn còn chưa được đáp ứng sẽ còn tăng lên bội phần. Phát triển kinh tế là điều không thể thiếu không chỉ để làm giảm những điều kiện sống khổ cực mà còn để tạo ra những điều kiện cần thiết nhằm ổn định dân số thế giới. Ngày nay, ở nhiều nước đang phát triển, để đảm bảo đáp ứng những nhu cầu này, người ta đã phải sử dụng thêm rất nhiều năng lượng. Tới năm 2050, phần năng lượng sử dụng trên toàn cầu sẽ tăng gấp đôi. Như vậy yêu cầu cần phải có các nguồn năng lượng tương lai là vô cùng cấp thiết. Xin được nêu một số loại năng lượng tương lai dưới đây a. Năng lượng điện mặt trời: Sinh vật trên Trái đất nhờ năng lượng mặt trời mà tiếp tục tiến hoá để trở thành trạng thái như bây giờ. Người ta đã phát minh ra thiết bị phát điện dựa trên nguyên tắc: ánh sáng mặt trời chiếu lên các tấm bán dẫn, electron (điện tử) được sinh ra và tạo ra dòng điện. Nhưng năng lượng của ánh sáng mặt trời có mật độ rất thấp nên để thu được nguồn điện đủ, cần phải có một diện tích lớn. Năng lượng mặt trời được áp dụng thực tế vào hệ thống điện sử dụng cho nhà ở nhưng giá thành phát điện khá cao nên cần có sự hỗ trợ của nhà nước cho việc phổ cập nguồn năng lượng này. b. Năng lượng sinh khối (biomass) hay còn gọi là năng lượng vi sinh (biogas): Đây là một loại năng lượng tái tạo đặc biệt vì loại năng lượng này có thể sản xuất trực tiếp ra khí đốt, xăng dầu cho các hệ thống giao thông như xe cộ, xe lửa, thậm chí nguyên liệu cho máy bay. Có hai loại năng lượng sinh khối là rượu ethanol và dầu diesel sinh học (biodiesel). Tuy nhiên, hầu hết các nhà máy điện từ biomass trên thế giới đều áp dụng phương pháp đốt trực tiếp. Còn năng lượng sinh khối từ các phế thải động vật sản xuất ra hơi nóng sau khi đốt và hơi nóng sẽ chạy qua một turbine và máy phát điện để biến cải thành điện năng. C. Triển vọng tiêu dùng và khả năng xảy ra khủng hoảng 1. Triển vọng tiêu dùng a. Năng lượng dầu mỏ: Dầu mỏ vẫn là nguồn năng lượng chính được sử dụng trong các hoạt động sản xuất của thế giới. Trong báo cáo triển vọng Năng lượng Thế giới mới nhất, IEA dự báo nhu cầu dầu mỏ thế giới sẽ tăng 18% lên 99 triệu thùng/ngày vào năm 2035, tức tăng 15 triệu thùng/ngày so với năm 2009. Nhu cầu khí đốt toàn cầu dự báo tăng 44% lên 4.500 tỷ m3 IEA dự báo giá dầu thô sẽ tăng 88% trong thời gian từ nay đến năm 2035 lên 113 USD/thùng Báo cáo của IEA cũng nhấn mạnh vai trò ngày càng tăng của các nước đang phát triển trên thị trường năng lượng thế giới, đồng thời dự báo khối các nước này sẽ chiếm 93% mức tăng nhu cầu năng lượng toàn cầu trong 25 năm tới, trong đó riêng Trung Quốc dự báo sẽ chiếm 36% trong mức tăng này. Mức tiêu dùng năng lượng của Trung Quốc đã tăng hơn gấp đôi trong thời gian từ 2000 – 2008 b. Năng lượng hạt nhân: Hiện nay, thế giới có khoảng 400 lò hạt nhân đang hoạt động tại 33 quốc gia và rất nhiều dự án xây dựng mới đã và đang được triển khai. Các cơ sở hạt nhân trên liên tục sản xuất ra nguồn điện cung cấp cho gần nửa tỷ người. Một số lớn lò hạt nhân đã được vận hành từ nhiều thập niên qua. Tại Pháp, các nhà máy điện hạt nhân không những cung cấp gần 80% nguồn điện trong nước mà còn hòa vào mạng lưới điện toàn châu Âu để thắp sáng cho các nước láng giềng. Dự đoán trong tương lai nhu cầu năng lượng hạt nhân ngày càng tăng do nguồn năng lượng dầu mỏ sẽ ngày càng cạn kiệt. ( số liệu cụ thể). Bởi sự cạn kiệt nguôn dầu mỏ than đá, nguy cơ tiềm ẩn của năng lượng hạt nhân, các nhà khoa học thế giới đang tìm kiếm những nguồn năng lượng mới, gọi là năng lượng lựa chọn, năng lượng thay thế hay năng lượng xanh. Những nguồn năng lượng này có ưu điểm là sạch, có sẵn trong thiên nhiên, không gây ô nhiễm, không bị cạn kiệt. c. Năng lượng tương lai  Năng lượng mặt trời: +Tình hình khai thác nguồn năng lượng mặt trời: Tiến bộ khoa học kĩ thuật khiến nguồn năng lượng mặt trời có hiệu quả kinh tế cao hơn. Cùng sự phát triển khoa học kỹ thuật, giá thành sản xuất điện năng từ năng lượng mặt trời đang giảm xuống. Nếu như vào quãng năm 1970, để có 1 watt công suất điện mặt trời cần chi phí 50 USD, thì đến năm 2010 giá thành đã giảm xuống dưới 2 USD cho 1W, và trong năm 2011 sẽ chỉ còn khoảng 1,20 USD cho 1 W, và còn có khả năng giảm tiếp trong những năm tới. Mô hình nhà máy điện từ năng lượng mặt trời thành công tại nhiều nước trên thế giới. Hiện tại, nước Đức đang đi đầu thế giới về công suất điện mặt trời. Riêng năm 2009, nước Đức đã lắp khoảng 3,7 tỷ watt công suất điện mặt trời, chiếm đến một nửa toàn bộ thị trường thế giới, và năm 2010 đã lắp thêm khoảng 7 tỷ watt điện mặt trời nữa (tức là bằng 7 lần nhà máy nhiệt điện Phả Lại). Các nước lớn khác như Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Ý cũng có thị trường lắp lặt điện mặt trời trên 1 tỷ watt công suất mới một năm. +Triển vọng năng lượng mặt trời: Tổng tiêu thụ năng lượng của con người trên thế giới hiện tại (tính tổng cộng tất cả các loại năng lượng như dầu hỏa, than đá, thủy điện, v.v...) khoảng 15 nghìn tỷ watt. Trong đó nguồn dự trữ năng lượng mặt trời (có thể chuyển thành năng lượng hữu dụng) được ước tính tương đương với công suất khoảng 86 triệu tỷ watt, gấp hơn 5000 lần nhu cầu sử dụng của con người. Tổng cộng dự trữ của tất cả các nguồn khác(trong đó chủ yếu là gió) chỉ bằng khoảng 1 phần trăm nguồn dự trữ năng lượng mặt trời. Vì thế nếu khai thác được triệt để thì năng lượng mặt trời chính là nguồn năng lượng tương lai cho thế giới. Năng lượng mặt trời chính là nguồn năng lượng tương lai có khả năng thay thế các nguồn nguyên liệu truyền thống.  Năng lượng sinh khối: +Tình hình sử dụng và triển vọng tiêu dùng năng lượng sinh khối: Kỹ thuật đốt rác phát điện từng có lịch sử nghiên cứu phát triển hơn 30 năm trở lại đây, nhiều nhà máy ở Đức (32% lượng rác được xủ lý bằng đrpđ), Đan Mạch (70%), Bỉ (29%), Pháp (38%).. đã trở thành hình mẫu cho ngành công nghệ "năng lượng và bảo vệ môi trường" này. Ở châu Á, Singapore (100% lượng rác được xử lý bằng đốt rác phát điện) và Nhật Bản (72,8%) là hai nước đi đầu trong kỹ thuật đốt rác phát điện. +Triển vọng năng lượng sinh khối: Sinh khối bao gồm năng lượng hóa học, nguồn năng lượng từ mặt trời tích lũy trong thực vật qua quá trình quang hợp, các phế phẩm từ nông nghiệp (rơm rạ, bã mía, vỏ, xơ bắp v..v..), phế phẩm lâm nghiệp (lá khô, vụn gỗ v.v...), giấy vụn, mêtan từ các bãi chôn lấp, trạm xử lý nước thải, phân từ các trại chăn nuôi gia súc và gia cầm. Có thể thấy đây là nguồn năng lượng kinh tế và thân thiện môi trường bởi khả năng sử dụng các chất thải làm nhiên liệu. Nhiên liệu sinh khối có thể ở dạng rắn, lỏng, khí... được đốt để tạo ra năng lượng. Sinh khối cũng có thể chuyển thành dạng nhiên liệu lỏng như mêtanol, êtanol dùng trong các động cơ đốt trong; hay thành dạng khí sinh học (biogas) ứng dụng cho nhu cầu năng lượng ở quy mô gia đình. Như vậy năng lượng sinh khối có thể sản xuất năng lượng trong nhà máy điện hoặc nhiên liệu vận hành các máy móc thay thế dầu… Hơn nữa, đây còn là một loại năng lượng sạch. Nó không những tái tạo nguồn rác thải trong các ngành sản xuất mà quá trình tạo ra năng lượng cũng gây ít tổn hại đến môi trường. 2. Khả năng xảy ra khủng hoảng An ninh Năng lượng a. Năng lượng dầu mỏ trong tương lai: Đây là dạng năng lượng không thể tái sinh vì thế nguy cơ cạn kiệt hai nguồn nguyên liệu này là chắc chắn xảy ra. Tuy nhiên tương lai nào nguồn năng lượng này cạn kiệt vẫn còn nằm trong dự đoán của các nhà địa chất khoa học. Theo dự đoán của BP- nhà khai thác dầu lớn nhất thế giới dự đoán lượng dầu mỏ thế giới sẽ hết vào năm 2040. Viện khoa học quốc gia Mỹ nhận định rằng, đến năm 2015, I-ran có nguy cơ sẽ không còn dầu mỏ để xuất khẩu . Vấn đề cạn kiệt nguồn năng lượng dầu mỏ ngày càng rõ rệt khi nhu cầu sử dụng dầu mỏ ngày càng tăng. Năm 2010, OPEC đã bí mật nâng dự báo nhu cầu dầu toàn cầu lên gấp 3 lần. Bên cạnh vấn đề hạn chế của nguồn dầu mỏ, giá dầu cũng là yếu tố dễ tác động đến khủng hoảng năng lượng. Các quốc gia có lượng dự trữ dầu mỏ lớn tập trung ở khu vực Trung Đông, nơi thường xuyên xảy ra bạo động, khủng bố…Bất ổn chính trị là những yếu tố gây cản trở việc khai thác và cung cấp dầu mỏ cho thị trường, đẩy giá dầu ngày càng tăng cao. Những diễn biến tại tình hình Libi đang cho thấy nguy cơ ảnh hưởng sản lượng xuất khẩu dầu mỏ của thế giới. “Cuộc chiến tranh dân sự ở Libi đã làm cắt giảm nguồn cung dầu thô toàn cầu xuống khoảng 1,1 triệu thùng/ngày, làm suy giảm công suất dự phòng của OPEC xuống mức cực thấp là 2 triệu thùng/ngày” theo dự đoán của Goldman Sachs. Chất lượng dầu ở những vùng khác nhau là khác nhau (dầu của Libi là dầu ngọt nhẹ, có nồng độ lưu huỳnh thấp, còn dầu của các nước khác như Arập Xêút, các nước OPEC và Nga là dầu chua, có nồng độ lưu huỳnh cao). Việc xử lý dầu thô có nồng độ lưu huỳnh cao sẽ tốn kém hơn, do đó giá các sản phẩm như xăng, dầu điêzen, dầu sưởi và nhiên liệu máy bay sẽ tăng. Có thể nhận thấy, trong vòng 10 năm nữa, những nguy cơ dẫn đến một cuộc khủng hoảng dầu mỏ là tiềm năng nhưng chưa đủ khả năng bùng phát. Tuy nhiên, trong tương lai 30 năm, đến năm 2040, và thậm chí trước đó một vài năm, những mối hiểm họa như: chiến tranh, hiểm họa tự nhiên, sự phát triển nóng nền kinh tế sản xuất nhằm bù đắp thua lỗ cho các ngành kinh tế quốc gia khác, và đặc biệt là sự khan hiếm trong nguồn cung dầu mỏ sẽ làm bùng phát một cuộc khủng hoảng dầu mỏ trên qui mô toàn cầu, đe dọa nghiêm trọng đến sự sống của thế giới. b. Năng lượng hạt nhân: Như đã nói, hạt nhân chứa nguồn năng lượng khổng lồ cho xã hội. Năng lượng hạt nhân khi sản xuất điện không gây hại cho môi trường như các nhà máy thủy điện, nhiệt điện khác. Nhưng năng lượng hạt nhân lại là con dao hai lưỡi, là hiểm họa môi trường và nhân loại nếu như các nhà máy điện hạt nhân gặp sự cố. Quá khứ đã xảy ra thảm họa Chernobyl và mới gần đây là sự cố hạt nhân tại Nhật Bản . Sự cố hạt nhân tại Nhật Bản đang có nguy cơ trở thành cuộc khủng hoảng hạt nhân thực sự khi các lò phản ứng hạt nhân số 1,2,3 tại nhà máy Fukushima đều đã nổ. Nhật Bản là một quốc gia nghèo tài nguyên và điện hạt nhân chiếm hơn 30% tổng công suất phát điện của Nhật Bản. Sự cố tại nhà máy điện hạt nhân đang thực sự đặt Nhật Bản trước nguy cơ thiếu năng lượng, đồng thời đe dọa môi trường hàng triệu người dân tại vùng biển Thái Bình Dương. 3. Hậu quả khủng hoảng năng lượng: Khi khủng hoảng năng lượng xảy ra thì nó sẽ gây ảnh hưởng lớn đến toàn bộ thế giới bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống của từng cá nhân và các doanh nghiệp. Ở các nước phát triển, ngành công nghiệp càng phát triển thì mức độ phụ thuộc vào nguồn năng lượng để phục vụ sản xuất đặc biệt là dầu mỏ ngày càng tăng. Khủng hoảng năng lượng xảy ra sẽ gây thiệt hại đến sản xuất. Hơn nữa, khủng hoảng năng lượng sẽ tạo nên hiệu ứng domino tác động tới thị trường chứng khoán, tài chính và đầu tư…hay nói cách khác là toàn bộ nền kinh tế. Ngành sản xuất và kinh tế của các quốc gia đang và kém phát triển cũng phụ thuộc vào năng lượng. Nhưng bởi quy mô sản xuất cũng như quy mô nền kinh tế, tỷ lệ tiêu thụ năng lượng/ đầu người của các quốc gia này, luôn thấp hơn các quốc gia công nghiệp phát triển nên ảnh hưởng sẽ thu hẹp hơn. Chính vì lí do này mà các quốc gia phát triển bị ảnh hưởng mạnh hơn khi khủng hoảng xảy ra. D. Giải pháp 1. Cấp độ quốc gia - Đưa ra chính sách phát triển nền kinh tế hợp lý. Phát triển cân bằng bền vững trên cơ sở so sánh, cân đối giữa cung cầu năng lượng. - Luôn có lượng tích trữ phù hợp (mỏ nhiên liệu – đối với nước sản xuất và hợp đồng dài hạn từ các nhà cung chính – đối với nước tiêu thụ). - Ổn định tình hình chính trị, xã hội, tránh tối đa có thể những khả năng dẫn đến nguy cơ bạo loạn, chiến tranh. - Tránh nguy cơ khai thác bừa bãi các nguồn tài nguyên, dẫn đến ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên - Hướng đến những nguồn năng lượng sạch, những nguồn năng lượng ổn định mà quốc gia không bị lệ thuộc - Phát triển năng lượng nguyên tử là một nhu cầu bức thiết, tuy nhiên cần xây dựng một định hướng hợp lý (từ xác định địa điểm xây dựng, đến những chiến lược dài hạn về an toàn nguyên tử, dân cư…) 2. Cấp độ tổ chức quốc tế - Đối với OPEC, nhà cung cấp, sản xuất chính yếu của thế giới, cần đưa ra những cam kết chiến lược nhằm duy trì, đảm bảo mức gia phù hợp, không có sự đột biến đáng kể nào. - Đối với các tổ chức giám sát (IEA, WTO,…) cần đưa ra những dự báo kịp thời, những kiến nghị hành động làm nền tảng cho các nước cung, cầu có điều chỉnh hợp lý trong sản lượng 3. Cấp độ thế giới - Phát huy vai trò chi phối của các nước lớn: A rập Saudi, Trung Quốc, Mỹ, Nga…không những trực tiếp thông qua chính sách năng lượng (tăng giảm lượng cung cầu – đặc biệt đối với các nước A rập) mà còn gián tiếp qua chính sách tiền tệ (điều chỉnh tỉ giá ngoại tệ - ví dụ như sự thay đổi tỉ giá tệ/usd), qua các chính sách kinh tế khác (tăng giảm lạm phát, kích thích tiêu dùng…- đặc biệt với nền kinh tế Mỹ)… - Phát huy vai trò của các diễn đàn, các nhóm nước (đặc biệt là G20) trong việc kêu gọi, áp đặt thị trường
- Xem thêm -