253633

  • Số trang: 75 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 18 |
  • Lượt tải: 0
thanhdoannguyen

Đã đăng 6184 tài liệu

Mô tả:

Sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp phần mềm Việt Nam LỜI MỞ ĐẦU Trong 5 năm qua kể từ khi Bộ Chính Trị ra chỉ thị 58/CT-TW về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, và Chính Phủ ra Nghị Quyết số 07/2000/NQ-CP về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm (CNPM) trong đó xác định “CNPM là ngành công nghệ được khuyến khích đầu tư, Nhà nước áp dụng mức ưu đãi cao nhất cho doanh nghiệp là CNPM” cho đến nay có thể nói CNPM đã đạt được nhiều thành tựu rất đáng khích lệ. Tuy nhiên, ngành công nghiệp non trẻ này cũng đang đối mặt với không ít những khó khăn. Nhờ những cơ chế chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước, cùng với sự nỗ lực của các doanh nghiệp, hiệp hội, trong 5 năm qua ngành CNPM của chúng ta đã có nhiều khởi sắc. Đi sâu vào tình hình phát triển của các DNPM, có thể thấy vài năm gần đây CNPM Việt Nam đang chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc về quy mô của nhiều DNPM, điển hình trong đó có các công ty lớn như FPT và TMA với mức tăng trưởng nhân lực 75-100%/năm. Số lao động phần mềm của các công ty này sắp đạt tới ngưỡng 1000 người. Cả nước cũng đã có khoảng 10 DNPM có số lập trình viên từ 300-500 người, và khoảng hơn 10 DNPM có số lập trình viên từ 100-300 người. Hiện nay, Việt Nam đã có 2 DNPM cao nhất về quy trình quản lý chất lượng sản xuất phần mềm quốc tế CMMI-S, 5 DNPM đạt CMM mức 3 hoặc 4, và trên 30 doanh nghiệp đạt ISO 9001. Ngoài ra có rất nhiều doanh nghiệp khác cũng đang cố gắng phấn đấu để lấy chứng chỉ CMM,CMMI hoặc ISO vào năm tới. Đây là những dấu hiệu rất đáng mừng về năng lực phát triển của các DNPM Việt Nam. Nhu cầu từ thị trường ngoài nước hiện đang tăng trưởng mạnh, và 1 DNPM quy mô lớn càng có cơ hội kiếm được nhiều khách hàng. Với các cơ sở kinh doanh được 5 năm qua, cộng thêm sự hỗ trợ của Nhà nước, chắc chắn giai đoạn tới sẽ có sự bùng nổ phát triển của các DNPM hàng đầu. Nhìn trên bình diện thực tế của Việt Nam, Vụ công nghiệp công nghệ thông tin (CNTT) cho rằng, mặc dù CNPM chưa thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, song hiện tại lại xuất hiện một số nhân tố thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của ngành CNPM nói chung và các DNPM nói riêng.Thứ nhất, Việt Nam đã là thành viên chính thức của tổ chức WTO, điều này mở ra những thách thức lớn, đồng thời lại cũng là cơ hội lớn. Thêm vào đó, Việt Nam lại nằm ở khu vực năng động nhất thế giới về CNTT, có vị trí địa lý thuận lợi, điều kiện kinh tế, chính trị ổn định, hội tụ tất cả các yếu tố cần thiết để hình thành và phát triển các DNPM trong bối cảnh bất ổn chính trị và nạn khủng bố đang xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới. 2 CHƯƠNG I NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHẦN MỀM Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm Công nghiệp phần mềm là một lĩnh vực mới được hình thành trên thế giới đầu những năm 80 của thế kỷ trước, được quan tâm nghiên cứu áp dụng tại Việt Nam từ đầu năm 2000. Mặc dù mới có quá trình hình thành và phát triển khá ngắn ngủi, CNPM vẫn nhanh chóng được khẳng định là một trong các lĩnh vực kinh tế có tiềm năng phát triển rất nhanh, đóng vai trò rất quan trọng trong Chiến lược phát triển Công nghệ Thông tin - Truyền thông (CNTT-TT) của Việt Nam. Khái niệm phần mềm (software) đã được sử dụng ở nước ta từ hơn 10 năm nay, để phân biệt với khái nhiệm phần cứng (hardware) là các thiết bị máy tính. Hiểu một cách nôm na thì phần mềm là những chương trình điều khiển, được cài đặt bên trong máy tính, giúp người sử dụng ra lệnh cho máy tính, bằng những tín hiệu tương thích để máy tính có thể hiểu được. Nhờ có phần mềm, máy tính có thể thực hiện được các nhiệm vụ mà người sử dụng yêu cầu. Không có phần mềm, máy tính sẽ mất giá trị sử dụng. Phần mềm do con người viết ra để phát huy hiệu quả máy tính, nên làm phần mềm đòi hỏi một hàm lượng chất xám cao, là một trong những lĩnh vực quan trọng của công nghệ cao. Nhận thức về phần mềm và giá trị của chúng ngày càng trở nên phổ biến trong đời sống xã hội nước ta. Tuy nhiên chỉ từ đầu năm 2000, khái niệm phần mềm mới được Luật hoá trong Nghị định 76/CP về hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự và Quyết định 128/QĐ-TTg về phát triển CNPM. Theo Khoản 1, Điều 2 c Quyết định 128, khái niệm phần mềm được hiểu là: Chương trình, tài liệu mô tả chương trình, tài liệu hỗ trợ, nội dung thông 3 tin số hoá: a) Chương trình là một tập hợp của các lệnh, câu lệnh được mô tả bằng bất kỳ ngôn ngữ, mã hay hệ thống ký hiệu nào và được thể hiện hoặc lưu trữ trong các vật mang tin (có hoặc không kèm theo các thông tin liên quan), được dùng trực tiếp hoặc dùng gián tiếp sau khi qua một hoặc cả hai khâu sau: - Chuyển đổi sang một ngôn ngữ, mã, hệ thống ký hiệu khác; - Tái tạo sang một vật mang tin khác; làm cho một dụng cụ có khả năng xử lý thông tin thực hiện một số chức năng nào đó b) Tài liệu mô tả chương trình và tài liệu hỗ trợ là tài liệu được thể hiện dưới bất kỳ dạng nào có nội dung mô tả chương trình, giới thiệu, hướng dẫn cách cài đặt, sử dụng, nâng cấp, sửa lỗi hoặc các hướng dẫn khác liên quan đến sử dụng và khai thác chương trình. c) Nội dung thông tin số hoá bao gồm: - Cơ sở dữ liệu là tập hợp dữ liệu được sắp xếp và lưu trữ dưới dạng điện tử số hoá; -Sưu tập tác phẩm số hoá là sưu tập tác phẩm được lưu trữ dưới dạng điện tử số hoá. CNPM là một ngành kinh tế thuộc lĩnh vực dịch vụ công nghệ cao. Phát triển CNPM là một bộ phận quan trọng trong phát triển Công nghiệp CNTT, là một lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu trong xây dựng chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển CNTT-TT ở quy mô quốc gia cũng tại nhiều địa phương, trong đó có Thành Phố Hồ Chí Minh. Theo Chiến lược Phát triển CNTT-TT của Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 vừa được Thủ tướng phê duyệt đầu tháng 10/2005, CNTT-TT dựa trên 4 trụ cột chính là Ứng dụng CNTT, Nhân lực CNTT, Hạ tầng Viễn thông-Internet và Công nghiệp CNTT. Phát triển CNPM, một bộ phận quan trọng của Công nghiệp CNTT, không thể tách rời việc phát triển ba trụ cột khác của CNTT-TT là ứng dụng (có liên quan đến thị trường), nguồn nhân lực (có liên quan đến con người), hạ tầng 4 viễn thông-Internet (có liên quan đến các cơ sở vật chất) và hệ thống các chính sách, cơ sở pháp lý (có liên quan đến chức năng quản lý của Nhà nước). 2. Các yếu tố để phát triển CNPM Tại một hội thảo tại Bắc Kinh năm 2002, Bill Gates, Chủ tịch Công ty Microsoft, cho rằng để phát triển CNPM cần hội tụ 4 yếu tố : - Thị trường : vai trò của thị trường không chỉ đơn giản là nơi tiêu thụ sản phẩm phần mềm mà quan trọng hơn là nơi tạo ý tưởng cho các sản phẩm, giải pháp phần mềm mới. Câu hỏi của các DNPM không chỉ đơn thuần là “có thể tiêu thụ sản phẩm phần mềm ở đâu ?” mà phải là “sản phẩm phần mềm nào có thể tiêu thụ được ?”. - Nhân lực : với ngành công nghiệp có hàm lượng chất xám đậm đặc, vai trò của nguồn nhân lực với chất lượng cao và số lượng đủ lớn là rất quan trọng. Nhân lực ở đây bao gồm cả nhân lực kỹ thuật lẫn nhân lực quản lý. - Tài chính : giống như mọi ngành kinh tế khác, tài chính là nhiên liệu cho cỗ máy của CNPM và các DNPM vận hành. - Công nghệ : Phần mềm là ngành công nghệ cao, có tốc độ đổi mới rất nhanh. Công nghệ ở đây cũng được hiểu là cả công nghệ kỹ thuật lẫn công nghệ quản lý. Vai trò của công nghệ không chỉ là cho phép tạo ra các sản phẩm-dịch vụ mới mà chủ yếu là cho phép tăng năng suất lao động. Tăng năng suất lao động đồng nghĩa với tăng lợi nhuận và tạo ưu thế cạnh trạnh chủ yếu thực hiện thông qua nghiên cứu - triển khai và chuyển giao công nghệ. Mỗi một quốc gia, một địa phương hay một DNPM khi phát triển đều phải dựa trên 4 yếu tố mang tính chất nội lực nêu trên, tuy nhiên để có thể phát huy được, 4 yếu tố trên cần được đặt trong môi trường thuận lợi (về kinh tế, văn hoá, xã hội, pháp lý, cơ sở hạ tầng) mang tính chất nền tảng. Các chuyên gia trong lĩnh vực phát triển CNPM gọi đây Mô hình 4/1 5 Công nghệ Nhân lực NGHIỆP Tài chính Thị trường CÔNG PHẦN MỀM KINH TẾ , VĂN HOÁ,XÃ HỘI, PHÁP LÝ, CƠ SỞ HẠ TẦNG 3. Chính sách và các yếu tố liên quan đến chính sách phát triển CNPM Các chính sách quan trọng nhất của Việt Nam nhằm phát triển CNPM đã được ban hành khá chi tiết và cụ thể từ đầu năm 2000, bắt đầu bằng Nghị quyết 07/2000/NQ-CP ngày 05/06/2000 về xây dựng và phát triển CNPM giai đoạn 2000-2005, và sau đó là hàng loạt các văn kiện quan trọng khác của Đảng, Chính phủ, thông tư của các bộ ngành có liên quan: Chỉ Thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính Trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá giai đoạn 2001-2005, Quyết định 128/2000/QĐ-TTg ngày 20/11/2000 về một số chính sách và biện pháp khuyến khích đầu tư và phát triển CNPM, Quyết định 81/2001/QĐ-TTg ngày 24/05/2001 phê duyệt Chương trình hành động triển khai Chỉ Thị 58-CT/TW của Bộ Chính Trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá giai đoạn 2001-2005, Quyết định 95/2002/QĐ-TTg ngày 17/07/2002 phê duyệt Kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển CNTT ở Việt Nam đến năm 2005… Trên góc độ Mô hình 4/1, nhiều công việc đã được thực hiện để mỗi một trong 4 yếu tố và môi trường nền tảng đều có những cải thiện đáng kể-tuy 6 nhiên dường như ngành CNPM vẫn không tăng trưởng nhanh như mong muốn; các yếu tố khác trong Mô hình 4/1 vẫn chưa thực sự khởi sắc. Chúng ta hãy phân tích sâu hơn các yếu tố có liên quan đến môi trường hoạt động của các DNPM trong thời gian vừa qua. 3.1 Yếu tố hạ tầng Hạ tầng Viễn thông-Internet Điều 12 trong QĐ 128 (tháng 11/2000) nêu rõ: “cho phép các khu CNPM tập trung được kết nối cổng ra Internet riêng với hệ thống Internet quốc tế để tất cả các DNPM trong các khu vực này và các DNPM đăng ký dịch vụ Internet qua các khu này có thể sự dụng đầy đủ và dễ dàng các dịch vụ Internet theo giá cạnh tranh với các nước trong khu vực” Đọc điều này, các khu CNPM tập trung rất phấn khởi, các DNPM nằm trong và ngoài khu CNPM tập trung cũng phấn khởi. Tuy nhiên thực tế là quy định trên đã không được thực hiện. Vụ việc liên quan đến Saigon Software Park (SSP) kết nối trực tiếp Internet qua vệ tinh phải có sự can thiệp của chính phủ là một minh chứng. Đến nay cũng mới chỉ có SSP và Softech Đà Nẵng được quyền thử nghiệm kết nối Internet trực tiếp qua vệ tinh mà thôi, các DNPM nằm ngoài các khu CNPM tập trung vẫn chưa được kết nối Internet qua các khu này. Tuy nhiên cũng phải thấy rằng điều 12 trong QĐ 128 đã bị “bó hẹp” hơn trong QĐ 81 (tháng 5/2001), bằng việc “bảo đảm kỹ thuật kết nối trực tiếp với Internet quốc tế cho các khu CNPM tập trung” được giao về cho Tổng Công Ty Bưu Chính Viễn Thông. Xuất bản, xuất nhập khẩu phần mềm Điều 13 trong QĐ 128 nêu rõ : “Bộ Văn hoá-Thông tin chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan hướng dẫn, cải tiến thủ tục để việc xuất bản, xuất nhập khẩu phần mềm đặc biệt là chương trình, tài liệu mô tả chương trình và tài liệu hỗ trợ được thực hiện nhanh chóng không gây phiền hà, ách tắc, thiệt hại cho tổ chức, cá nhân có quyền, lợi ích liên quan”.QĐ 81 nhấn 7 mạnh lại một lần nữa : “Bộ Văn Hoá – Thông tin hướng dẫn, cải tiến những quy định có liên quan đến xuất bản, xuất, nhập khẩu phần mềm”. Thực tế thì đến nay các DNPM vẫn không được tự phát hành các sản phẩm phần mềm dưới dạng đĩa CD do chính mình sản xuất ra. Các đĩa CD phần mềm Made in Vietnam đều phải xin giấy phép thông qua một nhà xuất bản nào đó. Có lẽ có rất ít ngành kinh tế mà sản phẩm của doanh nghiệp làm ra khi đưa ra thị trường phải qua thủ tục nhiêu khê như vây. Phần nhập khẩu cũng vậy, nhập một đĩa CD phần mềm trị giá 1000 USD từ nước ngoài (ở thời điểm tháng 6/2003) vẫn có thề phải nộp thuế nhập khẩu 450 USD (45%) theo mã thuế nhập khẩu số 85243190 liên quan đến “CD để tái tạo hình tượng không phải âm thanh hoặc hình ảnh”. Sở hữu trí tuệ Nghị quyết 07 nêu rõ “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục trong toàn xã hội nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng và bảo vệ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm. Thực thi bảo vệ quyền tác giả trong lĩnh vực này”.Việc bảo vệ quyền tác giả là một cuộc chiến lâu dài nhằm từng bước giảm tỷ lệ vi phạm bản quyền của Việt Nam đang ở mức cao nhất thế giới. Việc thực thi không nghiêm luật bản quyền đối với sản phẩm phần mềm thực chất thể hiện việc không tôn trọng lao động chất xám đúng mức và tạo tâm lý thiết lập một định mức tính giá làm phần mềm dưới ngưỡng hoà vốn. Chúng ta vẫn biết không thể để tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm ở mức cao như vậy được, vẫn biết nếu tỷ lệ này cao thì không thể có ngành CNPM đúng nghĩa, tuy nhiên các năm qua Nhà nước chưa có biện pháp mạnh nào để cải thiện tình hình này. 8 3.2 Yếu tố thị trường Có 2 thị trường cơ bản cho các DNPM: thị trường gia công xuất khẩu ra nước ngoài và thị trường sản phẩm và dịch vụ phần mềm nội địa. Thị trường nước ngoài Các DNPM rất vui mừng với việc “Bộ Thương mại, Bộ Ngoại giao, Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và các Bộ, ngành có liên quan tổ chức xúc tiến thương mại và tạo điều kiện cho các DNPM trong nước mở chi nhánh và văn phòng đại diện ở trong nước và nước ngoài, đầu tư ra nước ngoài và xuất khẩu lao động phần mềm” (NQ 07). Tuy nhiên cạnh tranh với các nước khác không đơn giản. Thị trường nội địa Có thể chia thành 3 mảng: nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng cá nhân. Cần nghiên cứu tìm hiểu xem các chính sách ban hành trong thời gian qua đã góp phần phát triển các mảng thị trường này như thế nào ? Điều này sẽ được thực hiện chi tiết trong mục 5 của chương. Đối với thị trường trong nước, khởi sắc nhất có lẽ là thị trường phần mềm cho các cơ quan quản lý nhà nước, với QĐ 112/2001 về Dự án Tin học hoá quản lý hành chính Nhà nước đầy tham vọng và việc đưa chi tiêu cho CNTT nói chung và phần mềm nói riêng vào “mục lục ngân sách Nhà nước” (Chỉ Thị 58), cùng với hàng loạt quy định, thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn cách thức “tiêu tiền” cho các ứng dụng này. Tuy nhiên điều này gây ra thất vọng lớn cho các DNPM là các năm vừa qua tốc độ giải ngân thực hiện đề án này quá chậm chạp, thậm chí không giải ngân được. Những con số kế hoạch vài chục, vài trăm tỷ đồng mà Nhà nước đưa ra dần đần mất đi tính kế hoạch nghiêm túc. Việc nhà nước chậm giải ngân, không giải ngân nhiều cho CNTT được giải thích là nhằm hạn chế rủi ro, bảo vệ đồng tiền của Nhà nước, chưa hoặc không chỉ khi chưa có đủ các thủ tục cần thiết. Nhưng cũng cần thấy ở đây 9 căn bệnh chậm hoặc không giải ngân đã trở thành kinh niên, đang thu hẹp lại một mảng thị trường khá lớn cho các DNPM. Thực ra thì Chỉ thị 58 cũng đã lường trước việc này và quy định “Hình thành quỹ hỗ trợ, quỹ đầu tư khắc phục rủi ro cho ứng dụng và phát triển CNTT”. Tuy vậy điều này vẫn chưa được thực hiện cho đến thời điểm cuối năm 2005. Đối với hai mảng thị trường lớn khác cho CNPM là doanh nghiệp và người tiêu dùng cá nhân, thì ngoài quy định khuyến khích chi tiêu cho phần mềm bằng cơ chế “sản phẩm và dịch vụ phần mềm được sản xuất và cung cấp trong nước không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng” (QĐ 128), nhà nước vẫn chưa đưa ra quy định gì cụ thể hơn, và thị trường phần mềm cho doanh nghiệp và người dùng cá nhân vẫn đang phát triển một cách “tự giác” và “tự phát” thiếu các định hướng và đòn bẩy lớn từ phía nhà nước. 3.3 Yếu tố nhân lực Ngoài việc tăng cường tập trung đầu tư cho các Khoa CNTT tại các trường đại học, chính phủ cũng đã thầy rằng không thể chỉ dựa vào hệ thống đại học là có thể yên tâm về nguồn nhân lực cho ngành CNTT nói chung và ngành CNPM nói riêng. Trong các nghị quyết, chỉ thị ban hành hàng năm, điều này thường xuyên được nhấn mạnh: - “Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia đào tạo nguồn nhân lực cho CNTT nói chung và CNPM nói riêng” (NQ 07, năm 2000); - “Các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập các cơ sở đào tạo về CNTT. Các cơ sở này được hưởng các ưu đãi đối với các hoạt động đào tạo về CNTT như đối với DNPM” (QĐ 128, năm 2000); - “Xã hội hoá mạnh mẽ việc đào tạo CNTT” (CT 58, năm 2000); - “Xây dựng các biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, các chuyên gia về CNTT nước ngoài tham gia đào tạo nhân lực về CNTT” (QĐ 81, năm 2001); 10 - “Xã hội hoá công tác giáo dục đào tạo về CNTT, khuyến khích các tổ chức xã hội, các thành phần kinh tế và các cá nhân tham gia đầu tư phát triển nguồn nhân lực CNTT” (QĐ 95, năm 2000). Việc xã hội hoá công tác đào tạo nhân lực CNTT nằm trong chiến lược tổng thể “huy động mọi nguồn lực để tăng cường đầu tư cho ứng dụng và phát triển CNTT” (QĐ 81). Thời gian qua, nhiệm vụ tổ chức công việc này được chính phủ giao đích danh cho Bộ Giáo dục Đào Tạo (QĐ 81: Bộ Giáo dục Đào tạo xây dựng các biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, các chuyên gia về CNTT nước ngoài tham gia đào tạo nhân lực về CNTT), tiếc rằng Bộ Giáo dục Đào tạo đã không làm gì cả và để hệ thống đào tạo phi chính quy hình thành và phát triển tự giác. Ngay đến Chương trình phát triển nguồn nhân lực cho CNTT, được phê duyệt theo Quyết định số 131/2004/QĐ của Thủ tướng Chính phủ vào tháng 4 năm 2004, đến nay cũng chưa được Bộ Giáo dục và Đào tạo cụ thể hoá bằng kế hoạch và các biện pháp triển khai cụ thể nào. Để tạo điều kiện truy nhập Internet cho các cơ sở đào tạo, QĐ 128 cũng có chỉ đạo “Tổng cục Bưu điện chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ, ngành có liên quan ban hành chính sách để giảng viên, giáo viên, sinh viên và học sinh các trường học trong hệ thống giáo dục quốc dân được hưởng chế độ miễn,giảm phí truy nhập Internet tại các cơ sở đào tạo”. Nhưng đến nay, dường như vẫn chưa có một chính sách cụ thể nào cho việc miễn giảm này, và truy nhập Internet tại các quán Internet công cộng vẫn là hình thức sử dụng rẻ tiền nhất cho học sinh, sinh viên. Chương trình kết nối Internet cho 100% trường học cũng được báo cáo là đã hoàn thành, nhưng tác dụng khá là hạn chế và tình trạng “mù” Internet trong trường phổ thông vẫn là phổ biến. Mạng kết nối Internet phi lợi nhuận (Internet II) cho các trường đại học, các cơ sở nghiên cứu khoa học là chuẩn mực của hầu hết các quốc gia coi trọng phát triển giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách, vẫn chưa trở thành hiện thực tại Việt Nam. 11 3.4 Yếu tố tài chính Chính sách tài chính quan trọng nhất được ban hành và thực hiện trong các năm qua là quyết định miễn thuế thu nhập 4 năm cho các DNPM và áp dụng thuế thu nhập cá nhân ưu đãi cho người làm phần mềm. Đây chính là chính sách mang tính khen thưởng “không thu cái đáng lẽ phải thu”, cho phép các DNPM và nhân viên “giữ lại cái đáng lẽ phải nộp”. Chính sách này sẽ phát huy tác dụng rất tốt nếu các DNPM ăn nên làm ra, tuy nhiên khi đa số các DNPM đều lỗ hoặc lãi rất ít, thì chính sách trên không thể phát huy tác dụng. Chỉ dựa vào chính sách mang tính “khen thưởng” thì không thể giải quyết được vấn đề tài chính cho ngành CNPM. Với tính chất là một ngành công nghệ cao, nhiều rủi ro, đồng thời lại có tiềm năng sinh lợi lớn, việc tạo cơ chế để huy động các nguồn vốn xã hội cho DNPM dưới dạng các quỹ đầu tư mạo hiểm là rất cần thiết. Nghị quyết 07 năm 2000 cũng đã chỉ rõ điều này: “Bộ khoa học, Công nghệ và Môi trường chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành có liên quan thành lập và ban hành quy chế tổ chức, quản lý và hoạt động của Quỹ đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao, đặc biệt là CNPM”. Tiếc rằng điều này cho đến nay vẫn chưa được thực hiện. 3.5 Yếu tố công nghệ Vai trò của công nghệ như biện pháp nâng cao năng suất lao động và tạo ưu thế cạnh tranh của các DNPM chưa được quan tâm đúng mức trong các văn bản, nghị quyết. Trong QĐ95 có nhắc đến các hoạt động khoa học - công nghệ nhưng chưa đủ mạnh : “Nắm bắt được những tiến bộ công nghệ của thế giới để thực hiện có hiệu quả việc thích nghi hoá và chuyển giao công nghệ vào Việt Nam; từng bước giải quyết những vấn đề CNTT đặc thù của Việt Nam. Khuyến khích thành lập các vườn ươm công nghệ có tiềm năng thương mại nảy sinh từ các cơ sở nghiên cứu triển khai của các khu công viên phần mềm, các viện, trường đại học và khu vực sản xuất kinh doanh của các thành 12 phần kinh tế. Khuyến khích thành lập các cơ sở nghiên cứu - triển khai về CNTT trong các doanh nghiệp CNTT thuộc mọi thành phần kinh tế. Tăng cường một số cơ sở nghiên cứu chủ chốt về CNTT tại các viện và trường đại học thành lực lượng nòng cốt về nghiên cứu và triển khai”. Các công việc nêu trên chưa triển khai được bao nhiêu. Việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam là việc không thể không làm trong giai đoạn phát triển ban đầu của ngành CNPM. Tuy nhiên dù đã có gỡ bỏ các quy định về giá trần, nhưng những quy định về hợp đồng (phải bằng tiếng Việt), về thuế bản quyền (10%)…vẫn là yếu tố cản trở chuyển giao công nghệ tiên tiến từ nước ngoài vào Việt Nam. 4. Tình hình phát triển của CNPM trên thế giới và vị thế của CNPM Việt Nam. 4.1 Khái niệm và quy mô Gia công (outsourcing) là thoả thuận thương mại, qua đó một công ty giao trách nhiệm thực hiện một khâu trong quá trình kinh doanh (có thể bao gồm cả nguồn tài nguyên) cho một bên khác. Gia công gồm 2 loại: ITO (IT outsourcing – gia công các sản phẩm CNTT) và ITES-BPO (IT Enabled – Business Process Outsoursing – gia công các quy trình nghiệp vụ có sự hỗ trợ của CNTT). Việc gia công có thể thực hiện theo mô hình on-site (tại địa điểm nơi đặt hàng), off-site (tại địa điểm nơi nhận việc) hoặc near-shore (gần nơi đặt hàng). Theo đánh giá chung, công việc gia công được thực hiện cho phép giảm chi phí đến 30% - thậm chí đến 50%. 4.2 Công nghiệp Phần mềm Ấn độ Bức tranh toàn cảnh Từ cuối những năm 90, Ấn độ đã được đánh giá là siêu cường trong ngành phần mềm, và thực tiễn những năm gần đây tiếp tục chứng tỏ điều đó. Năm tài chính 2004-2005, doanh số ngành công nghiệp CNTT của Ấn độ là 28,2 tỷ USD, trong đó phần mềm và dịch vụ CNTT là 16,5 tỷ USD, xuất khẩu 13 phần mềm và dịch vụ CNTT 12,2 tỷ USD (trong đó 10 tỷ USD sang thị trường Mỹ). Nếu tính cả các dịch vụ khác dùng đến CNTT (IT Enabled Service – ITES và Business Process Outsourcing – BPO), giá trị xuất khẩu là 17,9 tỷ USD. Gía trị xuất khẩu phần mềm dịch vụ năm 2005-2006 của Ấn độ dự kiến là 15,3 tỷ USD. NASSCOM dự đoán giá trị dịch vụ phần mềm xuất khẩu của Ấn độ sẽ đạt con số 60 tỷ USD vào năm 2008. CNTT Ấn độ chiếm 4,1%GDP, trong đó phần mềm dịch vụ chiếm 3,2% GDP. Dự kiến đến năm 2008, CNTT Ấn độ sẽ chiếm 7% GDP. Trong ngành công nghiệp CNTT của Ấn độ, phần cứng chỉ chiếm 21,3%, còn lại là phần mềm/dịch vụ (58,6%) và ITES-BPO (20,1%). Tốc độ tăng trưởng phần mềm-dịch vụ của Ấn độ từ năm 1999 đến nay đều khoảng 35-40%/năm, đóng góp cho GDP ngày càng cao (năm 1997: 1.2%, năm 2005: 4.1%). Quá trình hình thành Giai đoạn 1: 10 năm 1985-1995, dựa vào giá rẻ, với sự ra đời của hàng loại các DNPM nhỏ, tập trung vào các nội dung phát triển sản phẩm/ bảo trì. Doanh số giai đoạn này không đáng kể, ở mức dưới 100 triệu USD/năm, giá 14 trị hợp đồng không vượt quá 500 ngàn USD Giai đoạn 2: 5 năm tiếp theo (1996-2000). Giai đoạn này phát triển dựa vào chất lượng và hiệu quả, tập trung vào các ứng dụng doanh nghiệp. Trong giai đoạn này 5 DNPM lớn tách tốp và chiếm thị phần lớn. Các DNPM nhỏ vừa tiếp tục phát triển. Đã hình thành các hợp đồng trị giá 5 triệu USD. Tổng giá trị xuất khẩu còn dưới con số 1 tỷ USD Giai đoạn 3: 2001-2004. Các công việc mang tính phức tạp cao (tích hợp hệ thống, BPO, quản trị mạng, phần mềm đóng gói, R&D…) đã có hợp đồng trị giá vài chục triệu USD, với thế mạnh là quản lý quá trình, bảo mật thông tin, dữ liệu. Các DNPM trong tốp đầu tăng trưởng mạnh. Tổng giá trị xuất khẩu đạt khoảng 5-6 tỷ USD Giai đoạn 4: 2005-2007, với doanh số trên 15 tỷ USD. Các công ty lớn chiếm vị trí quan trọng trên thị trường quốc tế, các công việc quan trọng của giai đoạn này là tư vấn, gia công, với giá trị gia tăng liên quan đến đổi mới hoạt động doanh nghiệp. Mô hình xuất khẩu không chỉ giới hạn ở on-site, offshore mà triển khai toàn cầu. Các hợp đồng có giá trị lên tới 100 triệu USD. Industry going through a transitionary phase Period Size of Industry Phase I 1985-1995 Phase II 1995-2000 Negligible US$ 1 billion Service Lines App dev & Maintenance + E-biz, ERP, Y2K Delivery Model Staff Aug., Onsite Industry Structure Large no. of Startups - Xem thêm -