193

  • Số trang: 56 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
uchihasasuke

Đã đăng 588 tài liệu

Mô tả:

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP 1 C Đ_TCQTKD LỜI NÓI ĐẦU Nền kinh tế thị trường ở nước ta đang phát triển dưới sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, xuất hiện ngày càng nhiều các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, cùng sản xuất, cạnh tranh và hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật. Các doanh nghiệp đều hoạt động vì mục tiêu quan trọng nhất là lợi nhuận, bởi đó là điều kiện cơ bản để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Nhà nước ta đã chủ trương phân chia nền kinh tế thành nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường có định hướng XHCN và có sự quản lý của nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt thì bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển phải có những phương án kinh doanh tối ưu nhất cho việc sản xuất. Nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo trong doanh nghiệp để nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm để đẩy nhanh quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Khi quyết định lựa chọn một phương án trước hết doanh nghiệp phải tính đến lượng chi phí bỏ ra để thực hiện sản xuất và kết qủa mang lại như thế nào để bù đắp những chi phí ấy. Mặt khác doanh nghiệp phải quản lý các chi phí sản xuất chặt chẽ, tính toán chính xác giá thành sản phẩm. Đây là một yêu cầu cần thiết và luôn là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của mỗi doanh nghiệp. Ở một đơn vị trực thuộc Công ty cơ khí và xây dựng Viglacera như nhà máy gốm xây dựng Phú Xuyên khi mới được thành lập và đi vào cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước như hiện nay thì việc kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cũng được coi là rất cần thiết. Nhận thức được vấn đề này trong chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình, em đã chọn để tìm hiểu quá trình tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm của nhà máy gốm xây dựng Phú Xuyên _Viglacera làm đề tài thực tập. Để em hiểu rõ thêm về quá trình lý thuyết đã được học trên lớp và thực tế của Nhà máy về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Qua sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của thầy giáo Trần Đức Hùng và các giảng viên bộ môn kế toán trường CĐ_ QTKD cùng với các cán bộ, nhân viên phòng Tài chính_ kế toán Nhà máy gốm xây dựng Phú Xuyên _Viglacera đã hướng cho em chọn đề tài " Tổ chức công tác tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất" Nội dung chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm: §ç ThÞ Chiªn 1 KT_36B1 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP 2 C Đ_TCQTKD PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KT TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT. PHẦN II: THỰC TẾ CỘNG TÁC KT TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở NHÀ MÁY GỐM XÂY DỰNG PHÚ XUYÊN_ VIGLACERA. PHẦN III: NHỮNG Ý KIẾN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI NHÀ MÁY GỐM XÂY DỰNG PHÚ XUYÊN _VIGLACERA . Với kiến thức, trình độ còn hạn chế và chưa có điều kiện tiếp xúc nhiều với thực tế nên báo cáo tốt nghiệp của em không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Kính mong sự thông cảm và đóng góp của các Thầy cô giáo, các anh chị Phòng Kế toán Nhà máy Gốm xây dựng Phú Xuyên_Viglacera để báo cáo của em được hoàn thiện hơn. Em xin trân thành cảm ơn sự hướng dẫn tân tình của thầy giáo và các anh chị phòng kế toán cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô khoa kế toán trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này. §ç ThÞ Chiªn 2 KT_36B1 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP 3 C Đ_TCQTKD PHẦN I LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT. I. Nguyên tắc kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở các doanh nghiệp sản xuất: Để đảm bảo kế toán đầy đủ, chính xác chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, cung cấp thông tin kịp thời cho quản trị doanh nghiệp, cần quán triệt các nguyên tắc sau: 1. Phải nắm vững nội dung và bản chất kinh tế của chi phí: Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định ( tháng, năm, quý). Nói cách khác, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một thời kỳ để thực hiện quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Thực chất chi phí là sự dịch chuyển vốn_ chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá ( sản phẩm, lao vụ, dịch vụ). 2. Phân loại chi phí sản xuất hợp lý theo yêu cầu của công tác quản lý và kế toán: Do chi phí sản xuất kinh doanh có rất nhiều loại nền cần thiết phải phân loại chi phí nhằm tạo thuận lợi cho công tác quản lý và kế toán chi phí. phân loại chi phí là việc sắp xếp các loại chi phí khác nhau vào từng nhóm theo những đặc trưng nhất định. Trên thực tế, có rất nhiều cách phân loại khác nhau, tuy nhiên, lựa chọn tiêu thức phần loại nào là phải dựa trên yêu cầu của công tác quản lý và kế toán. 3. Phải phân định chi phí với giá thành sản phẩm và nắm rõ mối quan hệ giữa chúng: Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành. Về thực chất, chi phí và giá thành là hai mặt khác nhau của quá trình sản xuất. Chi phí sản xuất phản ánh mặt hao phí sản xuất, còn giá thành sản phẩm phản ánh mặt kết qủa sản xuất. Tất cả những khoản chi phí phát sinh ( kỳ này hay kỳ trước chuyển sang) và các chi phí tính trước có liên quan đến khôí lượng sản phẩm, dịch vụ, đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu tượng bằng tiền toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra bất kể ở kỳ nào nhưng có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ. Sơ đồ mối quan hệ giữa chi phí và giá thành sản phẩm: Chi phí dở dang đầu kỳ Tổng giá thành sản phẩm §ç ThÞ Chiªn Chi phí phát sinh trong kỳ Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ 3 KT_36B1 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP 4 C Đ_TCQTKD Qua sơ đồ ta thấy: Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành = chi phí dở dang đầu kỳ + chi phí phát sinh trong kỳ ( đã trừ các khoản ghi giảm chi phí) - chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ. 4. Phải nắm được các cách phân loại giá thành khác nhau phục vụ cho công tác quản lý và kế toán: Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, kế toán và kế hoạch hoá giá thành cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau. Mỗi một cách phân loại có một tác dụng khác nhau đối với công tác quản lý và kế toán. Gía thành có thể được phân theo phạm vi, theo thời điểm tính giá thành và theo nguồn số liệu. 5. Xác định đối tượng và phương pháp kế toán chi phí sản xuất, tính gía thành sản phẩm phù hợp: Để kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được chính xác, đòi hỏi công việc đầu tiên mà các nhà quản lý phải làm là xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm. Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất chính là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và chịu chi phí. Còn xác định đối tượng tính giá thành chính là việc xác định sản phẩm, bán thành phẩm, công việc, lao vụ có thể và cần thiết phải tính giá thành một đơn vị. Do có sự khác nhau cơ bản giữa đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành mà có sự phân biệt giữa phương pháp kế toán chi phí và phương pháp tính giá thành sản phẩm. Phương pháp kế toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ thống các phương pháp. Hệ thống phương pháp được sử dụng để tính giá thành sản phẩm và đơn vị sản phẩm, nó mang tính thuần tuý kỹ thuật tính toán chi phí cho từng đối tượng tính giá thành. 6. Xác định trình tự kế toán và tổng hợp chi phí sản xuất thích ứng: Bước 1: Tập hợp các chi phí cơ bản có liên quan trực tiếp cho từng đối tượng sử dụng. Bước 2: Tính toán và phân bổ giá trị dịch vụ của các ngành sản xuất kinh doanh phụ cho từng đối tượng sử dụng trên cơ sở khối lượng dịch vụ phục vụ và giá thành đơn vị dịch vụ. Bước 3: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho các đối tượng có liên quan. Bước 4: Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ. Tuỳ theo phương pháp kế toán hàng tồn kho áp dụng trong doanh nghiệp mà nội dung, cách thức kế toán chi phí sản xuất có những điểm khác nhau. II. Chi phí sản xuất: Chi phí sản xuất là biểu tượng bằng tiền của toàn bộ lao động sống và lao động vật hoá, cùng các chi phí khác mà doanh nghiệp đã chi ra để tiền hành hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định. Nói cách khác, chi phí sản xuất là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất bao gồm tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động của con người vào đối tượng tính giá thành. Sự tham gia của các yếu tố này vào quá trình sản xuất có sự khác nhau và do đó đã hình thành nên các khoản chi phí tương ứng như chi phí về nguyên vật liệu (NVL), chi phí về tiền công, tiền trích bảo hiểm xã hội (BHXH)…Các chi phí này phát sinh trong kỳ được tập hợp, tính toán và phân bổ cho từng đối tượng tính giá. 1. Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất: §ç ThÞ Chiªn 4 KT_36B1 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP 5 C Đ_TCQTKD Trong sự phát sinh và phát triển của loài người đã gắn liền với quá trình sản xuất. Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phương thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên qúa trình sản xuất. Nói cách khác, quá trình sản xuất hàng hoá là quá trình kết hợp giữa 3 yếu tố: tư liệu sản xuất, đối tượng lao động và sức lao động. Đồng thời, qúa trình sản xuất hàng hoá cũng chính là quá trình tiêu hao của chính bản thân các yếu tố trên. Như vậy, để tiến hành sản xuất hàng hoá, người sản xuất phải phân bổ chi phí về thù lao lao động, về tư liệu lao động và đối tượng lao động. Chính vì thế, sự hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý trí chủ quan của con người sản xuất. Ta cần phân biệt chi phí và chi tiêu. Chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cần thiết cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp phải chi ra trong một thời kỳ kinh doanh. Như vậy, chỉ được tính là chi phí của kỳ kế toán những hao phí về tài sản và lao động có liên quan đến khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ chứ không phải mọi khoản chi ra trong kỳ kế toán. Ngược lại, chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật tư, tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp, bất kể nó được dùng vào mục đích gì. Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau. Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có chi phí. Tổng số chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá trị tài sản hao phí hoặc tiêu dùng hết cho qúa trình sản xuất kinh doanh tính vào kỳ này. Chi phí và chi tiêu không những khác nhau về lượng mà còn khác nhau về thời gian, có những khoản chi tiêu kỳ này nhưng lại tính vào chi phí kỳ sau ( chi mua NVL về nhập kho nhưng chưa sử dụng) và có những khoản tính vào chi phí kỳ này nhưng thực tế chưa chi tiêu ( chi phí trích trước). Sự khác biệt giữa chi tiêu và chi phí trong các doanh nghiệp là do đặc điểm tính chất và phương thức chuyển dịch giá trị của từng loại tài sản vào quá trình sản xuất và yêu cầu kỹ thuật kế toán chúng. 2. Phân loại chi phí sản xuất: Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm nhiều khoản chi có nội dung công dụng và mục đích khác nhau trong quá trình sản xuất. Vì vậy, để phục vụ cho công tác quản lý sản xuất và kế toán tập hợp chi phí sản xuất, có thể phân loại chi phí sản xuất theo các tiêu thức khác nhau. Việc phân loại chi phí sản xuất trong một doanh nghiệp theo tiêu thức khoa học và hợp lý không chỉ có ý nghĩa đối với kế toán mà còn là tiền đề quan trọng của việc kế hoạch hoá chi phí, kiểm tra của toàn doanh nghiệp. 2.1. Phân loại chi phí theo yếu tố chi phí: Theo cách phân loại này, căn cứ vào nội dung, tính chất kinh tế của chi phí sản xuất khác nhau để đưa ra các yếu tố chi phí, mỗi yếu tố chi phí chỉ bao gồm những chi phí có cùng một nội dung kinh tế, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở lĩnh vực nào, ở đâu và mục đích tác dụng của chi phí như thế nào. Vì vậy cách phân loại này còn gọi là phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí. Toàn bộ chi phí được chia thành 7 yếu tố sau: _ Yếu tố NVL: bao gồm toàn bộ giá trị NVL chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ…sử dụng vào sản xuất kinh doanh ( loại trừ giá trị dụng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi cùng với nhiên liệu, động lực) _ Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào qúa trình sản xuất kinh doanh trong kỳ ( trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi). _ Yếu tố lương và các khoản phụ lương: phản ánh tổng số tiền lương và phụ cấp mang tính chất lượng phải trả cho công nhân viên chức. §ç ThÞ Chiªn 5 KT_36B1 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP 6 C Đ_TCQTKD _ Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ: phản ánh số trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả công nhân viên tính theo chi phí. _ Yếu tố khấu hao tài sản cố định (TSCĐ): phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải tính trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh. _ Yếu tố chi phí dịch vụ ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh. _ Yếu tố chi phí khác bằng tiền: bao gồm các chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí có tác dụng rất lớn trong quản lý chi phí sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, lập báo cáo chi phí sản xuất trong thuyết minh báo cáo tài chính và lập dự toán chi phí sản xuất cho kỳ sau. 2.2. Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm: Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việc tính giá thành sản phẩm, chi phí được phân theo khoản mục. Cách phân loại này dựa vào công cụ của chi phí và mức phân bố chi phí theo từng đối tượng. Theo quy định hiện hành, giá thành toàn bộ sản phẩm bao gồm 5 khoản mục chi phí sau: _ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm toàn bộ giá trị NVL liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ. _ Chi phí nhân công trực tiếp : gồm toàn bộ tiền lương ( tiền công) và các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương trả cho công nhân trực tiếp sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ cùng với các khoản trích theo tỷ lệ quy định cho các quỹ KPCĐ, BHXH, BHYT ( phần trích vào chi phí). _ Chi phí sản xuất chung: gồm toàn bộ các chi phí còn lại phát sinh trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất sau khi đã loại trừ chi phí NVLvà chi phí nhân công trực tiếp nói trên. _ Chi phí bán hàng: gồm toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ trong kỳ. _ Chi phí quản lý doanh nghiệp: bao gồm toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến quản trị kinh doanh và quản lý hành chính trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà không tách được cho bất kỳ hoạt động hay phân xưởng nào. 2.3. Phân loại chi phí theo cách thức kết chuyển chi phí: Theo cách thức kết chuyển toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ. Chi phí sản phẩm là chi phí gắn liền với các sản phẩm được sản xuất ra hoặc được mua, còn chi phí thời kỳ là những chi phí làm giảm lợi tức trong một kỳ nào đó, nó không phải là một phần giá trị sản phẩm được sản xuất ra hoặc được mua nên được xem là các phí tổn, cần được khấu trừ từ lợi nhuận của thời kỳ mà chúng phát sinh. 2.4. Phân loại chi phí sản xuất theo quan hệ của chi phí với khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành, chi phí được chia thành biến phí và định phí: _ Biến phí ( chi phí khả biến) là những chi phí thay đổi về tổng số, về tỷ lệ so với khối lượng công việc hoàn thành, chẳng hạn chi phí về nguyên liệu, nhân công trực tiếp. Cần lưu ý các chi phí biến đổi nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì lại có tính cố định. _ Định phí là những chi phí không đổi về tổng số so với khối lượng công việc hoàn thành, chẳng hạn các chi phí về khấu hao TSCĐ, chi phí thuê mặt bằng, phương §ç ThÞ Chiªn 6 KT_36B1 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP 7 C Đ_TCQTKD tiện kinh doanh…các chi phí này nếu tính cho đơn vị sản phẩm thì lại có tính biến đổi nếu số lượng sản phẩm thay đổi. Việc phân loại này có tác dụng rất lớn đối với quản trị doanh nghiệp, trong việc phân tích điểm hoà vốn và phục vụ cho việc ra các quyết định quản lý cần thiết để hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. 2.5. Phân loại chi phí theo phương thức tập hợp chi phí sản xuất và mối quan hệ đối với đối tượng chịu chi phí: Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất bao gồm: _ Chi phí trực tiếp. _ Chi phí gián tiếp. Nghiên cứu 2 loại chi phí này có ý nghĩa đối với việc xác định phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách đúng đắn, hợp lý. 2.6. Phân loại chi phí theo nội dung cấu thành của chi phí: _ Chi phí đơn nhất. _ Chi phí tổng hợp. Phân loại chi phí thành chi phí đơn nhất và chi phí tổng hợp có tác dụng giúp cho việc nhận thức vị trí của từng loại chi phí trong việc hình thành sản xuất nhằm tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất một cách thích hợp. 3. Đối tượng và phương pháp kế toán chi phí sản xuất: Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là công việc đầu tiên và quan trọng của tổ chức kế toán quá trình sản xuất. Tổ chức kế toán quá trình sản xuất bao gồm 2 giai đoạn kế tiếp nhau và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đó là giai đoan kế toán chi tiết chi phí sản xuất phát sinh theo từng sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng, giai đoạn công nghệ, phân xưởng…và giai đoạn tính giá thành sản phẩm. Việc phân chia này xuất phát từ yêu cầu quản lý, kiểm tra và phân tích chi phí. Có thể nói, việc phân chia quá trình kế toán thành 2 giai đoạn là do sự khác nhau cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí trong kế toán chi phí sản xuất. Như vậy, xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là việc xác định giới hạn tập hợp mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và chịu chi phí. trên cơ sở đối tượng kế toán chi phí, kế toán lựa chọn phương pháp kế toán ( tập hợp) chi phí tương ứng. Nội dung chủ yếu của các phương pháp kế toán chi phí sản xuất theo từng đối tượng đã xác định, phản ánh các chi phí phát sinh có liên quan đến đối tượng, hàng tháng tổng hợp chi phí theo từng đối tượng. Mỗi phương pháp kế toán chỉ thích ứng với một loại đối tượng kế toán cho nên tên gọi của các phương pháp này là biểu tượng mà nó cần tập hợp và phân loại chi phí. III. Giá thành sản phẩm: Giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một khối lượng hoặc một đơn vị sản phẩm ( công việc, lao vụ) do doanh nghiệp sản xuất đã hoàn thành. Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất, cụ thể là kết qủa sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn trong quá trình sản xuất. Đồng thời, giá thành còn là một căn cứ quan trọng để định giá bán và xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất. 1. Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm: Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá, phản ánh lượng giá trị của những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá đã thực sự chi ra cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, tiêu thụ phải được bồi hoàn để tái sản §ç ThÞ Chiªn 7 KT_36B1 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP 8 C Đ_TCQTKD xuất ở doanh nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất dùng cho sản xuất, tiêu thụ và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí lao động sống. Mọi cách tính toán chủ quan, không phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong gía thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng hoá tiền tệ, không xác định được hiệu quả kinh doanh và không thực hiện được tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. 2. Phân loại giá thành: Để giúp đỡ cho việc nghiên cứu và quản lý tốt giá thành sản phẩm cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, kế toán phân loại giá thành theo 2 cách chủ yếu sau: 2.1. Phân theo thời điểm và nguồn số liệu để tính toán giá thành: Theo cách phân loại này giá thành sản phẩm được chia làm 3 loại : _ Giá thành kế hoạch. _ Gía thành định mức. _ Giá thành thực tế Việc theo dõi và quản lý chặt chẽ các loại giá thành trên có ý nghĩa khác nhau ở từng góc độ quản lý, cũng như việc tính toán xác định chúng xuất phát từ cơ sở số liệu riêng và vào thời điểm khác nhau. Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, còn giá thành định mức là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp trong sản xuất, giúp cho việc đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật doanh nghiệp đã áp dụng, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. Song chỉ tiêu quan trọng nhất đòi hỏi phải có sự quan tâm đúng mức của doanh nghiệp đó là giá thành thực tế. Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế_ kỹ thuật trong quá trình sản xuất, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 2.2. Phân theo phạm vi phát sinh chi phí: Theo phạm vi phát sinh chi phí giá thành sản phẩm được chia làm 2 loại: _ Giá thành sản xuất ( còn gọi là giá thành công xưởng ) là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất như: chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho những sản phẩm là căn cứ để tính toán giá vốn hàng bán và lãi gộp ở các doanh nghiệp sản xuất. _ Giá thành tiêu thụ ( còn gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ) là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Giá thành tiêu thụ sản phẩm được tính theo công thức: Giá thành toàn bộ của sản phẩm = Giá thành sản xuất của sản phẩm + Chi phí bán hàng + Chi phí quản lý doanh nghiệp Giá thành toàn bộ của sản phẩm ( công việc, lao vụ) được tiêu thụ. giá thành toàn bộ của sản phẩm là căn cứ để tính toán, xác định lãi trước thuế của doanh nghiệp. Qua cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh doanh ( lãi, lỗ) của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh. Tuy nhiên, do những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý cho từng mặt hàng, từng loại dịch vụ nên cách phân loại này chỉ còn mang ý nghĩa học thuật, nghiên cứu. 3. Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm: §ç ThÞ Chiªn 8 KT_36B1 9 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP C Đ_TCQTKD 3.1. Xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm: Vì sự khác nhau cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí trong kế toán chi phí sản xuất và sản phẩm hoàn thành cần phải tính giá thành một đơn vị, việc kế toán quá trình sản xuất cần phải phân thành 2 giai đoạn: giai đoạn xác định đối tượng tập hợp chi phí và giai đoạn xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm. Về thực chất, xác định đối tượng tính giá thành chính là việc xác định sản phẩm, bán thành phẩm, công việc, lao vụ, nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị sản phẩm. Cần phân biệt được đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành ngay cả khi chúng đồng nhất là một, cần dựa vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất ( giản đơn hay phức tạp) vào loại hình sản xuất ( đơn chiếc, hàng loạt) vào yêu cầu trình độ quản lý tổ chức kinh doanh ( cao, thấp). 3.2. Xác định phương pháp tính gia thành sản phẩm: – Phương pháp trực tiếp (còn gọi là phương pháp giản đơn): phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn và chu kỳ sản xuất ngắn như các nhà máy điện, nước, các doanh nghiệp khai thác. Đối tượng kế toán là từng loại sản phẩm dịch vụ. Giá thành sản phẩm theo phương pháp này được tính bằng cách trực tiếp lấy tổng số chi phí sản xuất sản phẩm cộng hoặc trừ số chênh lệch giữa giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ so với cuối kỳ chia cho số lượng sản phẩm hoàn thành. – Phương pháp tổng cộng chi phí: áp dụng với các doanh nghiệp mà quá trình sản xuất sản phẩm được thực hiện ở nhiều bộ phận sản xuất, nhiều giai đoạn công nghệ. Giá thành sản phẩm được xác định bằng cách cộng chi phí sản xuất của các bộ phận, chi tiết sản phẩm hay tổng chi phí sản xuất của các giai đoạn, bộ phận sản xuất tạo nên thành phẩm: Giá thành sản phẩm = Z1 + Z2 + … + Zn – Phương pháp hệ số: phương pháp này được áp dụng trong những doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất cùng sử dụng cùng một thứ nguyên liệu và một lượng lao động nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm được mà phải tập hợp chung cho cả quá trình sản xuất. – Phương pháp tỷ lệ chi phí: trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm có quy cách, phẩm chất khác nhau như may mặc, dệt kim, đóng giầy, cơ khí chế tạo ( dụng cụ, phụ tùng)… để giảm bớt khối lượng kế toán, kế toán thường tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm cùng loại. Căn cứ cào tỷ lệ chi phí giữa chi phí sản xuất thực tế với chi phí sản xuất kế hoạch ( hoặc định mức) kế toán sẽ tính ra gía thành đơn vị và tổng giá thành sản phẩm của từng loại. Giá thành thực tế đơn vị sản phẩm từng loại Tỷ lệ chi phí = Giá thành kế hoạch ( hoặc định mức) đơn vị sản phẩm từng loại * Tỷ lệ chi phí Tổng giá thành thực tế của tất cả sản phẩm = Tổng giá thành kế hoạch ( hoặc định mức ) của tất cả sản phẩm §ç ThÞ Chiªn 9 * 100 KT_36B1 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP 10 C Đ_TCQTKD – Phương pháp loại từ giá trị sản phẩm phụ: đối với các doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất, bên cạnh các sản phẩm chính thu được còn có thể thu được những sản phẩm phụ, để tính giá trị sản phẩm chính kế toán phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ ra khỏi tổng chi phí sản xuất sản phẩm. Giá trị sản phẩm phụ có thể được xác định theo giá có thể sử dụng được, giá ước tính, giá kế hoạch, giá nguyên liệu ban đầu… 4. Phương pháp tính giá thành sản phẩm trong một số loại hình doanh nghiệp chủ yếu: 4.1. Doanh nghiệp sản xuất giản đơn: Thường là những doanh nghiệp sản xuất một hoặc một số ít mặt hàng với khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm dở dang không có hoặc không đáng kể như các doanh nghiệp khai thác than, quặng, hải sản…Do số lượng mặt hàng ít nên đối tượng kế toán chi phí sản xuất được tiến hành theo sản phẩm, mỗi mặt hàng sản xuất được mở 1 sổ ( hoặc thẻ) kế toán chi phí sản xuất. Việc tính giá thành thường được tiến hành vào cuối tháng theo phương pháp trực tiếp ( giản đơn) hoặc phương pháp liên hợp. 4.2. Doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng: Đối với doanh nghiệp này thì đối tượng kế toán chi phí sản xuất là từng đơn đặt hàng cụ thể. Đối tượng tính gía thành sản phẩm là sản phẩm của từng đơn đặt hàng. Đặc điểm của việc kế toán chi phí trong các doanh nghiệp này là toàn bộ chi phí phát sinh đều được tập hợp theo từng đơn đặt hàng , không kể số lượng sản phẩm của đơn đặt hàng đó nhiều hay ít, quy trình công nghệ giản đơn hay phức tạp. Việc tính giá thành ở trong các doanh nghiệp này chỉ tiến hành khi đơn đặt hàng hoàn thành nên kỳ tính giá thành thường không nhất trí với kỳ báo cáo. Đối với đơn đặt hàng đến kỳ báo cáo chưa hoàn thành thì toàn bộ chi phí đã tập hợp theo đơn đặt hàng đó đều coi là sản phẩm dở dang cuối kỳ chuyển kỳ sau. Đối với đơn đặt hàng đã hoàn thành thì tổng chi phí đã tập hợp được theo đơn đó chính là tổng giá thành sản phẩm của đơn đặt hàng và giá thành đơn vị sẽ tính bằng cách lấy tổng giá thành sản phẩm của đơn đặt hàng chia cho số lượng sản phẩm trong đơn. 4.3. Doanh nghiệp có tổ chức bộ phận sản xuất kinh doanh phụ: Sản xuất kinh doanh phụ là ngành được tổ chức ra để phục vụ cho sản xuất kinh doanh . sản phẩm , lao vụ của sản xuất kinh doanh phụ được sử dụng phục vụ cho các nhu cầu của sản xuất kinh doanh chính, phần còn lại có thể cung cấp cho bên ngoài. Phương pháp tính giá thành sản phẩm tuỳ thuộc vào đặc điểm công nghệ và mối quan hệ giữa các bộ phận sản xuất phụ trong doanh nghiệp. – Trường hợp không có sự phục vụ lẫn nhau giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh phụ hoặc giá trị và khối lượng phục vụ không đáng kể. Chi phí sản xuất được tập hợp riêng theo từng bộ phận, từng hoạt động sản xuất kinh doanh phụ. Giá thành sản phẩm của từng bộ phận được tính theo phương pháp trực tiếp. – Trường hợp có sự phục vụ lẫn nhau đáng kể giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh phụ. Với các doanh nghiệp có tổ chức nhiều bộ phận sản xuất phụ và giữa chúng có sự phục vụ lẫn nhau thì có thể áp dụng một trong các phương pháp giá thành sau : + Phương pháp đại số: là phương pháp xây dựng và giải các phương trình đại số để tính giá thành sản phẩm, lao vụ của sản xuất kinh doanh phụ phục vụ các đối tượng. + Phương pháp phân bổ lẫn nhau theo gía thành ban đầu: theo phương pháp này, trước hết tính giá thành đơn vị ban đầu của từng bộ phận sản xuất kinh doanh phụ và xác định giá trị phục vụ lẫn nhau giữa chúng. Xác định giá trị sản phẩm, lao vụ của sản xuất phụ phục vụ cho các bộ phận khác theo gía thành đơn vị mới: §ç ThÞ Chiªn 10 KT_36B1 11 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP Giá thành Tổng chi đơn vị mới = phí ban đầu + C Đ_TCQTKD Giá trị lao vụ nhận của bộ phận sản xuất phụ khác Giá trị lao vụ phục vụ cho bộ - phận sản xuất phục vụ khác Hoặc: = Sản lượng ban đầu - Sản lượng phục vụ bộ phận sản xuất phụ khác và sản lượng tiêu dùng nội bộ ( nếu có) + Phương pháp phân bổ lẫn nhau theo gía thành kế hoạch: trình tự tính gía thành tương tự như phương pháp trên, chỉ khác thay giá thành đơn vị ban đầu bằng giá thành đơn vị kế hoạch để tính gía trị phục vụ lẫn nhau giữa các phân xưởng sản xuất kinh doanh phụ. Tiếp theo xác định giá trị phục vụ cho các đối tượng khác theo giá thành đơn vị mới. 4.4. Doanh nghiệp áp dụng hệ thống kế toán định mức: Trên cơ sở hệ thống mức tiêu hao lao động, vật tư hiện hành và dự toán về chi phí sản xuất chung, kế toán sẽ xác định giá thành định mức của từng sản phẩm. Đồng thời, kế toán riêng các thay đổi, các chênh lệch so với định mức phát sinh trong qúa trình sản xuất sản phẩm và phân tích toàn bộ chi phí thực tế phát sinh trong kỳ thành 3 loại: theo định mức, theo chênh lệch do thay đổi định mức, theo chênh lệch so với định mức. Từ đó, tiến hành xác định giá thành thực tế của sản phẩm bằng cách: Giá thành thực tế = sản phẩm Giá thành định mức sản phẩm Chênh lệch do thay đổi định mức + - + - Chênh lệch so với định mức 4.5. Doanh nghiệp sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục: – Điều kiện áp dụng: áp dụng cho những đơn vị sản xuất theo quy trình phức tạp. Qúa trình sản xuất bao gồm nhiều khâu, nhiều bước, công việc được sắp xếp kế tiếp nhau theo một trình tự nhất định. Bán thành phẩm của khâu hay bước công việc trước sẽ là nguyên vật liệu chế biến ở các khâu hay bước công việc tiếp theo. – Đối tượng tập hợp chi phí: theo từng phân xưởng, khâu, bước công việc. – Đối tượng tính giá thành: là sản phẩm cuối cùng hoặc bán thành phẩm. – Nội dung: + Tính giá thành phân bước có tính giá bán thành phẩm: phương pháp này áp dụng trong những đơn vị mà bán thành phẩm có thể được bán ra ngoài hoặc yêu cầu về kế toán nội bộ đòi hỏi cao. Cách tính: Chi phí NVL chính bước 1 + §ç ThÞ Chiªn Chi phí chế biến bước 1 - Giá trị sản phẩm dở dang bước 1 11 = Giá trị bán thành phẩm bước 1 KT_36B1 12 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP Giá trị bán thành phẩm bước 1 - G = i á tr ị s ả n p h ẩ m + Chi phí chế biế n bư ớc 2 Giá trị bán thành phẩm bước n-1 Chi phí chế + biến bước n C Đ_TCQTKD Giá trị bán thàn h phẩ m bướ c2 d ở d a n g b ư ớ c 2 - Giá trị sản phẩm dở dang bước n = Giá trị bán thành phẩm bước n = Tổng giá thành + Phương pháp tính giá thành phân bước không tính giá bán thành phẩm: phương pháp này áp dụng trong các đơn vị kế toán nội bộ không cao và bán thành phẩm không được bán ra ngoài. Cách tính: §ç ThÞ Chiªn 12 KT_36B1 13 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP C h i p h í c h ế +..+ b i ế n b ư ớ c 1 Chi phí NVL chính bước 1 nằm trong sản phẩm hoàn thành + n ằ m t r o n g s ả n p h ẩ m h o à n t h à n §ç ThÞ Chiªn C Đ_TCQTKD + C h i p h í c h ế b i ế n b ư ớ c 2 n ằ m t r o n g s ả n p h ẩ m Chi phí chế biến bước n nằm trong sản phẩm hoàn thành = Gi á th àn h sả n ph ẩ m h o à n t h à n h 13 KT_36B1 14 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP C Đ_TCQTKD 5. Kết luận chung về công tác tập hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở các doanh nghiệp sản xuất: Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng luôn được các nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm vì chúng phản ánh hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là tiền đề tiến hành kế toán kinh doanh, xác định kết quả của hoạt động sản xuất sản phẩm ( công việc, lao vụ) trong doanh nghiệp. Việc tiết kiệm chi phí sản xuất trở thành mục tiêu phấn đấu và đồng thời cũng là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của doanh nghiệp. Đứng trên góc độ quản lý, muốn tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm, người quản lý cần biết nguồn gốc của chi phí, nội dung cấu thành của chi phí trong giá thành, tập hợp đầy đủ các yếu tố chi phí sản xuất và lựa chọn phương pháp tính giá thành hợp lý. Để đạt được mục đích có ý nghĩa to lớn như trên đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chức tốt công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, coi đó là khâu then chốt mà doanh nghiệp phải tập trung quản lý và không ngừng hoàn thiện. IV. Kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên: 1. Chi phí NVL trực tiếp: Chi phí NVL trực tiếp là những chi phí và NVL chính, vật liệu phụ, nửa thành phẩm mua ngoài…sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ, lao vụ của các ngành. Việc tổ chức quản lý chi phí NVL trực tiếp thường dựa vào định mức chi phí đã được xây dựng. Trong trường hợp NVL liên quan đến nhiều đối tượng thì phải lựa chon tiêu thức phân bổ chung cho các đối tượng liên quan theo công thức: Công thức: Chi phí vật liệu phân bổ cho từng đối tượng = Tổng tiêu thức phân bổ của từng đối tượng * tỷ lệ ( hệ số ) phân bổ Trong đó: Tỷ lệ ( hệ số) phân bổ = Tổng chi phí vật liệu cần phân bổ Tổng tiêu thức phân bổ của tất cả các đối tượng Để tính toán tập hợp chính xác chi phí NVL trực tiếp, kế toán cần chú ý kiểm tra xác định số NVL đã lĩnh nhưng cuối kỳ chưa sử dụng hết và giá trị của phế liệu thu hồi ( nếu có), để loại ra khỏi chi phí về NVL trực tiếp trong kỳ: Công thức: Chi phí NVL trực Giá trị NVL xuất Giá trị NVL còn lại Giá trị phế liệu = tiếp thực tế trong kỳ đưa vào sử dụng cuối kỳ chưa sử dụng thu hồi (nếu có) Để tập hợp và phân bổ chi phí NVL trực tiếp: kế toán sử dụng tài khoản 621 " chi phí NVL trực tiếp". Tài khoản này cuối kỳ không có số dư và được mở chi tiết theo từng đối tượng kế toán chi phí. 2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp: §ç ThÞ Chiªn 14 KT_36B1 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP 15 C Đ_TCQTKD Chi phí nhân công trực tiếp là khoản thù lao lao động phải trả, phải thanh toan cho lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ bao gồm tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản phụ cấp có tính chất lương, trích BHXH, BHYT, KPCĐ…theo thời gian phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất. Để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 622 " chi phí nhân công trực tiếp". Tài khoản này cuối kỳ không có số dư và được mở chi tiết theo từng đối tượng kế toán chi phí. 3. Kế toán các chi phí trả trước: Chi phí trả trước ( còn gọi là chi phí chờ phân bổ) là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng chưa tính hết vào chi phí sản xuất kinh doanh của kỳ này mà được tính cho 2 hay nhiều kỳ kế toán sau đó. Đây là những khoản chi phí phát sinh một lần quá lớn hoặc do bản thân chi phí phát sinh có tác động tới kết quả hoạt động của nhiều kỳ kế toán. Xu hướng của các nhà kế toán hiện nay là những chi phí trả trước nào chỉ liên quan đến một năm tài chính thì kết chuyển hết một lần vào chi phí kinh doanh mà không cần phân bổ ( trừ một số khoản như giá trị bao bì luân chuyển xuất dùng hay giá trị đồ dùng xuất cho thuê…), còn đối với những khoản chi phí trả trước liên quan đến từ 2 năm tài chính trở lên thì đưa vào chi phí trả trước dài hạn. Thuộc chi phí trả trước có thể gồm các khoản sau: _ Giá trị công cụ, dụng cụ, nhỏ xuất dụng thuộc loại phân bổ nhiều lần. _ Gía trị sửa chữa lớn TSCĐ ngoài kế hoạch. _ Tiền thuê TSCĐ, phương tiện kinh doanh…trả trước. _ Gía trị bao bì luân chuyển, đồ dùng cho thuê xuất dùng. _ Dịch vụ mua ngoài trả trước ( điện, diện thoại, vệ sinh…) _ Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp chờ kết chuyển ( với doanh nghiệp có kỳ kinh doanh dài) _ Chi phí mua bảo hiểm tài sản, bảo hiểm kinh doanh, lệ phí giao thông,bến bãi… _ Lãi tiền vay trả trước. _ Chi phí nghiên cứu, thí nghiệm, phát minh, sáng chế…( giá trị chưa tính vào TSCĐ vô hình)… Để tập hợp các khoản chi phí trả trước kế toán sử dụng các tài khoản sau: Tài khoản 142:" chi phí trả trước". tài khoản này dùng để phản ánh các chi phí trả trước, thực tế đã phát sinh chỉ liên quan đến 1 năm tài chính cần phải phân bổ dần. Tài khoản 242:" chi phí trả trước dài hạn". Chi phí trả trước dài hạn là những chi phí thực tế phát sinh nhưng có liên quan đến kết quả hoạt động kinh doanh của nhiều niên độ kế toán, do vậy cần phân bổ cho các niên độ có liên quan. 4. Kế toán chi phí phải trả: Chi phí phải trả ( còn gọi là chi phí trích trước) là những chi phí thực tế chưa phát sinh nhưng được ghi nhận là chi phí của kỳ kế toán. Đây là những khoản chi phí trong kế hoạch của đơn vị mà do tính chất hoặc yêu cầu quản lý nên được tính trước vào chi phí kinh doanh cho các đối tượng chịu chi phí nhằm đảm bảo cho giá thành sản phẩm, lao vụ, chi phí bán hàng, chi phí quản lý khỏi đột biến tăng khi những khoản chi phí này phát sinh. Xu hướng của các nhà kế toán là những khoản chi phí này phải trả nếu chỉ liên quan đến 1 niên độ kế toán thì không cần phải trích trước. Ngược lại những khoản chi phí trả trước có liên quan đến từ 2 niên độ kế toán trở lên sẽ được đưa vào dự toán để trích trước. Thuộc chi phí phải trả trong doanh nghiệp thường bao gồm: _ Chi phí sửa chữa TSCĐ trong kế hoạch. §ç ThÞ Chiªn 15 KT_36B1 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP 16 C Đ_TCQTKD _ Thiệt hại về ngừng sản xuất trong kế hoạch. _ Chi phí bảo hành sản phẩm trong kế hoạch. _ Lãi tiền vay chưa đến hạn trả. _ Tiền thuê TSCĐ, mặt hàng kinh doanh, dụng cụ, công cụ chưa trả. _ Các dịch vụ mua ngoài sẽ cung cấp. _ Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm. Các khoản chi phí phải trả được theo dõi, phản ánh trên tài khoản 335 " chi phí phải trả". 5. Kế toán các khoản thiệt hại trong sản xuất: 5.1. Kế toán thiệt hại về sản phẩm hỏng: Sản phẩm hỏng là sản phẩm không thoả mãn các tiêu chuẩn chất lượng và đặc điểm kỹ thuật của sản xuất về mầu sắc, kích cỡ, trọng lượng, cách thức lắp ráp…Tuỳ theo mức độ hư hỏng mà sản phẩm được chia làm 2 loại: _ Sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được: là những sản phẩm hỏng mà về mặt kỹ thuật có thể sửa chữa được và việc sửa chữa đó có lợi về mặt kinh tế. _ Sản phẩm hỏng không sửa chữa được: là những sản phẩm mà về mặt kỹ thuật không thể sửa chữa được hoặc có thể sửa chữa được nhưng không có lợi về mặt kinh tế. Cả 2 loại sản phẩm hỏng nói trên được chi tiết thành sản phẩm hỏng trong định mức và sản phẩm hỏng ngoài định mức. Những sản phẩm hỏng mà doanh nghiệp dự kiến sẽ xảy ra trong quá trình sản xuất được coi là hỏng trong định mức. Đây là những sản phẩm hỏng được coi là không tránh khỏi trong quá trình sản xuất nên phần chi phí trong những sản phẩm này được coi là chi phí sản xuất sản phẩm chính. 5.2. Kế toán thiệt hại về ngừng sản xuất: Trong thời gian ngừng sản xuất vì những nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan ( thiên tai, dịch họa, thiếu nguyên vật liệu…), các doanh nghiệp vẫn phải bỏ ra một số khoản chi phí để duy trì hoạt động như tiền công lao động, khấu hao TSCĐ, chi phí bảo dưỡng…Các khoản chi phí chi ra trong thời gian này được coi là thiệt hại về ngưng sản xuất. Với những khoản chi này theo kế hoạch dự kiến, kế toán đã theo dõi ở tài khoản 335 " chi phí phải trả". Trường hợp ngừng sản xuất bất thường, các chi phí bỏ ra trong thời gian này do không được chấp nhận nên phải theo dõi riêng trên tài khoản 1381 " chi tiết thiệt hại về ngừng sản xuất". Cuối kỳ, sau khi trừ phần thu hồi ( nếu có do bồi thường) gía trị thiệt hại thực tế sẽ được tính vào giá vốn hàng bán, vào chi phí khác hay trừ vào quỹ dự phòng tài chính… 6. Kế toán chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung là những chi phí quản lý, phục vụ sản xuất và những chi phí sản xuất ngoài 2 khoản NVL trực tiếp và NVL trực tiếp phát sinh ở các phân xưởng, đội sản xuất như chi phí nhân viên phân xưởng chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ, khấu hao TSCĐ… Chi phí sản xuất chung được tập hợp theo từng địa điểm phát sinh chi phí sau đó mới tiến hành phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí liên quan. Tiêu chuẩn sử dụng để phân bổ chi phí sản xuất chung có thể là: – Phân bổ theo chi phí tiền công trực tiếp. – Phân bổ theo chi phí vật liệu trực tiếp. – Phân bổ theo chi phí tiền công và chi phí vật liệu trực tiếp. – Phân bổ theo định mức chi phí sản xuất chung. Để tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng tài khoản 627 " chi phí sản xuất chung" và mở 6 tài khoản cấp 2. §ç ThÞ Chiªn 16 KT_36B1 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP 17 C Đ_TCQTKD 627.1: chi phí nhân viên phân xưởng. 627.2: chi phí vật liêu phân xưởng. 627.3: chi phí dụng cụ sản xuất. 627.4: chi phí khấu hao TSCĐ. 627.7: chi phí dịch vụ mua ngoài. 627.8: chi phí khác bằng tiền. 7. Tổng hợp chi phí sản xuất và đánh gía sản phẩm dở dang: 7.1. Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu chính: Theo phương pháp này, toàn bộ chi phí chế biến dở dang được tính hết cho thành phẩm. Do vậy, trong sản phẩm dở dang chỉ bao gồm giá trị vật liệu chính: Công thức: Số lượng SPDD cuối kỳ Giá trị vật liệu chính trong SPDD = Toàn bộ giá trị vật liệu chính xuất dùng * Số lượng thành Số lượng + phẩm SPDD 7.2. Đánh giá sản phẩm dở dang theo sản lượng ước tính tương đương: Theo mức độ hoàn thành và số lượng sản phẩm dở dang để quy đổi sản phẩm dở dang thành sản phẩm hoàn thành. Tiêu chuẩn quy đổi thường dựa vào giờ công hoặc tiền lương định mức. Để bảo đảm tính chính xác của việc đánh giá, phương pháp này chỉ nên áp dụng để tính các chi phí chế biến, còn các chi phí NVL chính phải xác định theo số thực tế đã dùng. Công thức: = §ç ThÞ Chiªn Số lượng SPDD cuối kỳ (không quy đổi) 17 * KT_36B1 18 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP Số lượng thành phẩm Giá trị vật liệu chính nằm trong SPDD Chi phí chế biến nằm trong SPDD(theo từng loại) C Đ_TCQTKD + S ố lư ợ n g sả n S P D D (k h ô n g q u y đ ổi ) Toàn bộ giá trị vật liệu chính xuất dùng Số lượng SPDD cuối kỳ quy đổi ra thành phẩm = * Sốlượng thành Số lượng SPDD quy đổi ra + phẩm thành phẩm Tổng chi phí chế biến từng loại 7.3. Đánh gía sản phẩm dở dang theo 50% chi phí chế biến: Đối với những loại sản phẩm mà chi phí chế biến chiếm tỷ trọng thấp trong tổng chi phí, kế toán thường sử dụng phương pháp này. Thực chất đây là một dạng của phương pháp ước tính theo sản lượng tương đương, trong đó giả định sản phẩm dở dang đã hoàn thành ở mức độ 50% so với thành phẩm. Công thức: Giá trị sản phẩm dở dang chưa hoàn thành = Giá trị NVL chính nằm trong sản phẩm dở dang + 50% chi phí chế biến 7.4. Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí NVL trực tiếp hoặc theo chi phí trực tiếp: §ç ThÞ Chiªn 18 KT_36B1 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP 19 C Đ_TCQTKD Theo phương pháp này, trong giá trị sản phẩm dở dang chỉ bao gồm chi phí NVL trực tiếp hoặc chi phí trực tiếp ( NVL và nhân công trực tiếp) mà không tính đến các chi phí khác. 7.5. Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí định mức hoặc kế hoạch: Căn cứ vào định mức tiêu hao ( hoặc chi phí kế hoạch) cho các khâu, các bước, các công việc trong qua trình chế tạo sản phẩm để xác định gía trị sản phẩm dở dang. Ngoài ra, người ta còn áp các phương pháp khác để xác định gía trị sản phẩm dở dang như phương pháp thống kê kinh nghiệm, phương pháp theo chi phí vật liệu chính… V. Đặc điểm kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ: 1. Kế toán chi phí NVL: Vì đặc điểm của phương pháp kiểm kê định kỳ nên chi phí vật liệu xuất dùng rất khó phân định được là xuất cho mục đích sản xuất, quản lý hay cho tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy để phục vụ cho việc tính toán giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, kế toán cần theo dõi chi tiết các chi phí phát sinh liên quan đến từng đối tượng. Để phản ánh các chi phí vật liệu đã xuất dùng cho sản xuất sản phẩm, kế toán sử dụng tài khoản 621 " chi phí NVL trực tiếp". 2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp: Chi phí nhân công trực tiếp, tài khoản sử dụng và cách tập hợp chi phí trong kỳ giống như phương pháp kê khai thường xuyên. Cuối kỳ để tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, kế toán tiến hành kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào tài khoản 631 theo từng đối tượng. 3. Kế toán chi phí sản xuất chung: Toàn bộ chi phí sản xuất chung tập hop vào tài khoản 627 và được chi tiết theo từng tiểu khoản tương ứng. 4. Tổng hợp chi phí sản xuất, đánh giá sản phẩm dở dang: Việc tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, kế toán sử dụng tài khoản 631 " giá thành sản xuất". Tài khoản này được kế toán chi tiết theo địa điểm phát sinh chi phí ( phân xưởng, bộ phận sản xuất…) và theo loại, nhóm sản phẩm, tương tự như tài khoản 154. Nội dung phản ánh của tài khoản 631 việc kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang theo phương pháp kiểm kê định kỳ cũng giống như phương pháp kê khai thường xuyên. VI. Các hình thức kế toán và hệ thống sơ đồ sổ sách kế toán: 1. Hình thức nhật ký chung: Phạm vi áp dụng là các doanh nghiệp đã được trang bị các phương tiện kỹ thuật tính toán và xử lý thông tin ở mức độ cao, áp dụng hình thức kế toán này kế toán mở các sổ như: sổ nhật ký chung, sổ chi tiết vật liệu, sổ chi tiết chi phí trả trước, sổ chi phí sản xuất, chi phí phải trả và các sổ chi tiết thanh toán… Sổ kế toán căn cứ căn bản dùng để ghi chép các nghiệp vụ phát sinh theo trình tự thời gian và quan hệ đối ứng tài khoản của các nghiệp vụ đó để làm căn cứ ghi vào sổ cái. Hàng ngày căn cứ vào chứng từ gốc ghi nhiệm vụ kinh tế phát sinh vào sổ nhật ký chung theo trình tự thời gian. §ç ThÞ Chiªn 19 KT_36B1 20 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP C Đ_TCQTKD Tr×nh tù h¹ch to¸n theo h×nh thøc nhËt ký chung Chứng từ gốc Sổ nhật ký đặc biệt Nhật ký chung Thẻ và sổ kế toán chi tiết Bảng tổng hợp chi tiết Sổ cái Bảng cân đối số phát sinh Báo cáo tài chính : Ghi hàng ngày : Ghi cuối tháng : Đối chiếu 2. Hình thức chứng từ ghi sổ: Hình thức này thích hợp với các doanh nghiệp vừa ( các HTX, công ty cổ phần…) có các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong kỳ tương đối lớn. Hình thức này rất dễ xử lý trong các đơn vị thực hiện điện toán hoá kế toán. Đặc điểm chủ yếu của hình thức kế toán chứng từ ghi sổ là các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh ở chứng từ gốc đều được phân loại theo các chứng từ cùng nội dung, tính chất nghiệp vụ để lập chứng từ ghi sổ trước khi ghi vào sổ kế toán tổng hợp. Tr×nh tù h¹ch to¸n theo h×nh thøc chøng tõ ghi sæ Chứng từ gốc Sổ quỹ §ç ThÞ Chiªn Bảng 20 tổng hợp chứng từ gốc Thẻ và sổ kế KT_36B1 toán chi tiết
- Xem thêm -